1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Chuyên đề con người cá nhân trong văn học trung đại việt nam thế kỉ XVIII XIX qua một số tác giả và tác phẩm thơ tiêu biểu trong chương trình ngữ văn 11

34 580 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 1,3 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề 1: Cái tôi cá nhân thèm yêu, khát sống trong Tự tình 2 của Hồ Xuân Hương và Vội vàng của Xuân Diệu. Đề 2: Phân tích vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật trữ tình trong bài thơ “Tự tình” (II) của nữ sĩ Hồ Xuân Hương. Đề 3: Đừng nói: Trao cho tôi đề tài Hãy nói: Trao cho tôi đôi mắt ( Raxun Gamzatop) Anhchị hiểu lời khuyên đó như thế nào? Bằng hiểu biết về tác phẩm Tự tình 2 (Hồ Xuân Hương) và Thương vợ (Tú Xương), anhchị hãy chỉ ra những điểm tương đồng của hai tác phẩm và làm sáng tỏ “đôi mắt” riêng của mỗi nhà thơ. Đề 4:Bàn về thơ, Xuân Diệu có nói: “Thơ là hiện thực, thơ là cuộc đời, thơ còn là thơ nữa” Anhchị hiểu ý kiến trên như thế nào? Bằng việc phân tích bài thơ Tự tình 2 của Hồ Xuân Hương, anhchị hãy làm sáng tỏ ý kiến trên. Đề 5:Thơ nữ viết về tình yêu thường thể hiện sâu sắc bản lĩnh và ý thức về hạnh phúc của chính người phụ nữ. Hãy phân tích, so sánh bài thơ Tự tình (bài II) của Hồ Xuân Hương và Sóng của Xuân Quỳnh để làm rõ nét chung và nét riêng trong tâm sự tình yêu của hai nữ tác giả ở hai thời đại khác nhau. Đề 7:Nhà phê bình văn học nổi tiếng người Pháp Jean – Michel Maulpoix cho rằng: “Thơ là tự truyện của khát vọng”. AnhChị hiểu ý kiến trên như thế nào? Qua việc cảm nhận bài thơ “Tự Tình II” của Hồ Xuân Hương và liên hệ với một số bài ca dao than thân có mở đầu bằng “Thân em..”, hãy làm sáng tỏ ý kiến. Đề 8:Phân tích cái tôi ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ qua bài thơ “Bài ca ngất ngưởng”. Đề 9: Phân tích bức chân dung tự họa của Nguyễn Công Trứ trong “Bài ca ngất ngưởng”. Đề 10: Bản lĩnh cá nhân của Nguyễn Công Trứ trong “Bài ca ngất ngưởng”. Đề 11: Vẻ đẹp nhân cách của Nguyễn Công Trứ trong “Bài ca ngất ngưởng”. Đề 12: Có ý kiến cho rằng: “Bài ca ngất ngưởng” thể hiện tâm hồn tự do phóng khoáng cùng thái độ tự tin của Nguyễn Công Trứ giữa cuộc đời. Từ tác phẩm “Bài ca ngất ngưởng”, anhchị hãy làm sáng tỏ nhận định trên. Đề 13: Nhân cách nhà Nho chân chính trong hai bài thơ: Nhàn – Nguyễn Bỉnh Khiêm và Bài ca ngắn đi trên bãi cát (Sa hành đoản ca) – Cao Bá Quát. Đề 14: Có ý kiến cho rằng: “Sa hành đoản ca” (Bài ca ngắn đi trên bãi cát) là tiếng khóc cho cuộc đời dâu bể. Ý kiến khác khẳng định: Tác phẩm (“Sa hành đoản ca”) là tiếng thở than oán, oán trách của Cao Bá Quát về bi kịch của bản thân nhà thơ. Bằng cảm nhận về tác phẩm Sa hành đoản ca (“Bài ca ngắn đi trên bãi cát” – Cao Bá Quát), anhchị hãy trình bày suy nghĩ về các ý kiến trên. Đề 15: Nỗi niềm tâm sự của Cao Bá Quát trong bài thơ “Bài ca ngắn đi trên bãi cát”. Đề 16: Hình ảnh người lữ khách trong “Bài ca ngắn đi trên bãi cát” của Cao Bá Quát. Đề 17: Bài học nhân sinh rút ra từ Bài ca ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ và Bài ca ngắn đi trên bãi cát của Cao Bá Quát Đề 18: Nhà thơ nổi tiếng người Đức Bertold Brecht cho rằng: Cái đẹp của thơ không nên chỉ làm nên ánh sáng kỳ bí của ma trơi hay ánh sáng nhân tạo rực rỡ của pháo hoa, của đèn màu cầu kỳ nhuộm hàng trăm sắc. Ðẹp nhất là khi anh tạo nên được ánh sáng ban ngày, thứ ánh sáng tưởng như không màu, không sắc nhưng đó chính là ánh sáng mạnh mẽ và hữu ích nhất cho con người. AnhChị hiểu ý kiến trên như thế nào? Qua hai bài thơ Thương vợ của Tú Xương và Câu cá mùa thucủa Nguyễn Khuyến, hãy làm sáng tỏ. Đề 19: Nhận xét về thơ Nguyễn Khuyến, trong bài “Nguyễn Khuyến – thi hào dân tộc”, tác giả Vũ Thanh viết: “Buồn là âm hưởng rõ nét xuyên suốt đời thơ Nguyễn Khuyến”. Bằng hiểu biết của mình về thơ Nguyễn Khuyến, anhchị hãy làm sáng tỏ nhận định trên. Đề 20: Nhà văn I.X Tuốcghênhép nói: “Cái quan trọng trong tài năng văn học là tiếng nói của mình, là cái giọng riêng biệt của chính mình không thể tìm thấy trong cổ họng của bất kì người nào khác” (Dẫn theo Khrapchenco – Cá tính sáng tạo của nhà văn và sự phát triển văn học – Nhà xuất bản Tác phẩm mới 1978). Anhchị hãy bình luận ý kiến trên và làm sáng tỏ “cái giọng riêng biệt” của Nguyễn Khuyến và Trần Tế Xương qua hai bài thơ “Câu cá mùa thu” và “Thương vợ”.

Trang 1

Chuyên đề: Con người cá nhân trong Văn học trung đại Việt Nam thế

kỉ XVIII-XIX qua một số tác giả và tác phẩm thơ tiêu biểu trong chương trình Ngữ văn 11.

1 Con người cá nhân trong thơ Hồ Xuân Hương.

a Khái quát về tác giả Hồ Xuân Hương

Hồ Xuân Hương (1772 – 1822)

* Tiểu sử

- Hồ Xuân Hương chưa rõ năm sinh, năm mất

- Theo các tài liệu lưu truyền quê ở làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnhNghệ An nhưng sống chủ yếu ở kinh thành Thăng Long

- Cuộc đời Hồ Xuân Hương lận đận, nhiều nỗi éo le ngang trái: hai lần lấychồng nhưng đề là lẽ, để đến cuối cùng vẫn sống một mình, cô độc

- Hồ Xuân Hương xinh đẹp, thông minh đi niều nơi, giao thiệp với rộng(quen biết nhiều người nổi tiếng như Nguyễn Du)

- Con người bà phóng túng, tài hoa, có cá tính mạnh mẽ, sắc sảo

* Sự nghiệp văn học

Tác phẩm chính

- Sáng tác của Hồ Xuân Hương gồm cả chữ Nôm và chữ Hán

Trang 2

- Theo giới nghiên cứu hiện có khoảng trên dưới 40 bài thơ tương truyền làcủa Hồ Xuân Hương.

- Nữ sĩ còn có tập thơ Lưu hương kí (phát hiện năm 1964) gồm 24 bài chữ

Hán và 26 bài chữ nôm

Phong cách nghệ thuật

- Trong lịch sử văn học Việt Nam, Hồ Xuân Hương là hiện tượng rất độcđáo: nhà thơ phụ nữ viết về phụ nữ, trào phúng mà trữ tình, đậm đà chất văn họcdân gian từ đề tài, cảm hứng đến ngôn ngữ, hình tượng

- Nổi bật trong sáng tác thơ của Hồ Xuân Hương là tiếng nói thương cảm đốivới người phụ nữ, là sự khẳng định, đề cao vẻ đẹp và khát vọng của họ

=> Hồ Xuân Hương được mệnh danh là “Bà chúa Thơ Nôm”

* Vị trí và tầm ảnh hưởng của tác giả

- Nét phóng túng và tiềm ẩn trong thơ của Hồ Xuân Hương luôn gây nguồncảm hứng vô tận cho hậu thế

b Con người cá nhân bản năng trong thơ Hồ Xuân Hương.

Con người cá nhân trong thơ Hồ Xuân Hương được thể hiện một cách toàndiện và sâu sắc

- Con người cá nhân trong thơ Hồ Xuân Hương là con người có cái “tôi” ýthức về mình, cá tính và đầy bản lĩnh

- Con người cá nhân bản năng đã trở thành hình tượng điển hình, xuất hiệnxuyên suốt trong các tác phẩm thơ Nôm của bà Một con người hội tụ đầy đủ vẻđẹp từ hình thể đến tâm hồn, và nhu cầu trần tục rất con người:

“Đôi gò Bồng Đảo hương còn ngậm,

Một lạch Đào Nguyên suối chửa thông.”

(Thiếu nữ ngủ ngày)

Vẻ đẹp thanh tân của người con gái thơ mộng như Bồng Đảo, nguyên sơ nhưĐào Nguyên đã dần hé lộ, người “quân tử” đứng trước “tòa thiên nhiên” khôngtránh khỏi động lòng, “dùng dằng” giữa bản năng và lí trí Bà chúa thơ Nôm khôngchỉ mạnh dạn đề cao vẻ đẹp đường nét, mà còn đề cập đến nhu cầu tự nhiên củacon người Xuân Hương đã vận dụng khéo léo nghệ thuật nói lái để nhấn mạnhquan hệ tình dục của con người là một nhu cầu bản năng trần thế:

“Thú vui quên cả niềm lo cũ,

Kìa cái diều ai nó lộn lèo.”

(Quán Khánh)

Mỗi câu thơ là cách nói ví von, so sánh hay ước lệ hình tượng để miêu tả bộphận trên cơ thể và quan hệ nam nữ Hồ Xuân Hương là nhà thơ nữ hiếm hoi dámnói thẳng, nói đúng với suy nghĩ của mình, nói hộ những ai chưa dám thổ lộ vìquan niệm đạo đức nho gia cho đó là điều cấm kị Thơ Hồ Xuân Hương tục mà

Trang 3

thanh, nhu cầu ân ái của thế gian không thể thiếu, đó là đòi hỏi bình thường để đạtđến sự hòa hợp tình yêu và sắc dục, cốt lõi là sự mong mỏi tình yêu chung thủy: “Thân em như quả mít trên cây,

“Quả cau nho nhỏ miếng trầu hôi,

Này của Xuân Hương mới quệt rồi

Có phải duyên nhau thì thắm lại,

Đừng xanh như lá, bạc như vôi.”

(Mời trầu)

Cách mời trầu độc đáo với “cau nho nhỏ”, “trầu hôi” là lời mời chân thành,trân trọng xuất phát từ một trái tim khao khát hạnh phúc lứa đôi Xuân Hươngkhông chỉ là người phụ nữ tài năng, mà còn là người chân thực luôn sống thật vớicảm xúc của mình Trước những bất công xã hội dành riêng cho người phụ nữ thìXuân Hương đã ý thức được nỗi đau và khát vọng thầm kín của chung một tầnglớp người Bà lên tiếng kêu gọi tìm tiếng nói chung và sự đồng cảm cho số phận,

tiếng nói đó trong chùm thơ Tự tình, Không chồng mà chửa, Dỗ người đàn bà khóc chồng, Làm lẽ,… Một tấm lòng bao la, người Cổ Nguyệt đau nỗi đau cùng

người, luôn mở lòng chia sẻ với chị, với em:

“Hỏi bao nhiêu tuổi hỡi cô mình?

Chị cũng xinh mà em cũng xinh

… Còn thú vui kia sao chẳng vẽ,

Trách người thợ vẽ khéo vô tình.”

=> Con người cá nhân trong thơ Hồ Xuân Hương là con người ý thức tàinăng bản thân và luôn khát khao hạnh phúc tình yêu, là con người giàu lòng nhân

ái, cảm thông với những cảnh đời bất hạnh trong xã hội bất công Những dòng thơNôm của bà là lời tâm tình, thổ lộ cảm xúc trần tục, mạnh mẽ hơn là tiếng nói đảkích quan niệm cố hữu để đòi quyền tự do cho con người trong đó có người phụnữ

Trang 4

c Con người cá nhân trong bài thơ Tự tình 2 của Hồ Xuân Hương

* Giới thiệu bài thơ

- Bài thơ Tự tình 2 nằm trong chùm thơ Tự tình gồm 3 bài của Hồ Xuân

Hương Chùm thơ “làm nên tiếng lòng chân thật của người đàn bà tự nói về tìnhcảm bản thân của đời mình trong văn học cổ điển Việt Nam” (Xuân Diệu)

* Con người cá nhân thể hiện ở nội dung.

Một Xuân Hương cô đơn, tủi hổ, bẽ bàng trước cuộc đời (trong hai câu đề):

– Đêm khuya: là khoảng thời gian con người đối diện với chính mình trongnhững suy tư, trăn trở về cuộc đời, số phận Đồng thời nó cũng gợi lên không gianvắng vẻ, yên tĩnh

- Từ láy “ văng vẳng”: càng làm cho không gian thêm quạnh hiu, gợi cảmgiác cô đơn, lẻ loi của nhân vật trữ tình

- Tiếng “trống canh dồn”: báo hiệu bước đi dồn dập, gấp gáp của thời gian.Bước đi ấy kéo theo tuổi trẻ, nhan sắc tàn phai mà tình duyên lỡ dở, khiến chonhân vật trữ tình rơi vào tâm trạng lo âu, rối bời

- “Trơ”: cô đơn, trơ trọi, tủi hổ, trơ lì, như thách thức cùng tạo hóa

- Cách dùng từ “cái hồng nhan”: cụ thể hóa, đồ vật hóa, rẻ rúng hóa cuộc đờicủa chính mình

- Nghệ thuật đối lập (cái hồng nhan >< nước non) và đảo ngữ (đặt từ “trơ”lên đầu câu): nhấn mạnh sự bẽ bàng, phẫn uất và sự bền gan thách đố cùng số phậncủa người nữ sĩ

=> Hai câu thơ đầu là cảm giác cô đơn trống vắng trước vũ trụ, tủi hổ bẽbàng trước cuộc đời, đồng thời thể hiện ý thức cá nhân cao độ của nhân vật trữtình

Một Xuân Hương xót xa cho duyên phận dở dang,lỡ làng (trong hai câu thực):

- “ say lại tỉnh “ -> vòng quẩn quanh: Nhân vật trữ tình mượn rượu để giảisầu nhưng càng uống nỗi buồn càng thấm đẫm, càng uống càng thấm thía hơnnghịch cảnh mà mình đang phải gánh chịu

– Trăng khuyết - chưa tròn: Tuổi xuân dần đi qua mà tình duyên vẫn chưatrọn vẹn

=> Hai câu thơ là nỗi xót xa cay đắng cho duyên phận dở dang, lỡ làng của

Trang 5

– Động từ mạnh: xiên ngang, đâm toạc-> Tả cảnh thiên nhiên kì lạ phi

thường, muốn phá phách, tung hoành

– Phép đảo ngữ (đưa động từ xiên ngang, đâm toạc lên đầu câu) và nghệ

thuật đối-> nhấn mạnh sự bứt phá của thiên nhiên, phản kháng của tâm trạng nhânvật trữ tình

=> Hai câu thơ thể hiện thái độ không chấp nhận hoàn cảnh, số phận, hàm chứakhát vọng muốn quậy phá, muốn xóa bỏ những ràng buộc khắt khe của lễ giáophong kiến Từ đó người đọc thấy được cá tính và bản lĩnh vô cùng mạnh mẽ của

Hồ Xuân Hương

Một Xuân Hương dù bản lĩnh nhưng cuối cùng vẫn đắng cay chấp nhận thua cuộc (hai câu kết):

- Hai câu kết khép lại lời tự tình

- Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại: Nỗi đau về thân phận lẽ mọn, ngán ngẩm về

tuổi xuân qua đi không trở lại, nhưng mùa xuân của đất trời vẫn cứ tuần hoàn

- Mảnh tình san sẻ tí con con : Đó là nỗi lòng của người phụ nữ ngày xưa

khi với họ hạnh phúc chỉ là chiếc chăn quá hẹp

- Câu thơ nát vụn ra, vật vã đến nhức nhối vì cái duyên tình hẩm hiu, lận đậncủa nhà thơ Càng gắng gượng vươn lên càng rơi vào bi kịch

=> Hai câu thơ thể hiện tâm trạng ngán ngẩm, buông xuôi, Xuân Hương nỗlực kiếm tìm hạnh phúc nhưng cuối cùng vẫn đắng cay chấp nhận thua cuộc

* Con người cá nhân thể hiện ở nghệ thuật.

- Thơ đường luật đã được Việt hóa bằng thứ ngôn ngữ bình dân, tự nhiên, đanghĩa

+ Sử dụng các từ thuần Việt giàu hình ảnh, màu sắc, đường nét với sắc tháiđặc tả mạnh: những động từ chỉ tình thái (dồn, trơ, xế, xiên ngang, đâm toạc,…),những tính từ chỉ trạng thái (say, tỉnh, khuyết, tròn,…)

+ Phối hợp, tổ chức ngôn ngữ một cách sáng tạo: nghệ thuật đối, đảo ngữ,cách ngắt nhịp,…

=> Bằng cách sử dụng, tổ chức ngôn ngữ sáng tạo, tài tình, Hồ Xuân Hương

đã bộc lộ được tâm trạng bất mãn với cuộc đời, số phận và niềm khát khao hạnhphúc lứa đôi

- Hình ảnh giàu sức gợi (trăng, rêu, đá…) có khả năng diễn đạt những biểuhiện phong phú, tinh tế của tâm trạng

- Giọng điệu với đầy đủ các sắc thái tình cảm: ngậm ngùi, ai oán, tủi hổ,phiền muộn, bực dọc, phản kháng và cuối cùng là chua chát, chán chường

d Đánh giá

- Từ ngôn ngữ đến hình tượng nghệ thuật trong thơ, Hồ Xuân Hương đã thểhiện cái tôi cá nhân hết sức độc đáo, mới mẻ, đầy bản lĩnh

Trang 6

- Xuân Hương đã đi từ nghịch cảnh riêng để nói hộ tâm tư, nỗi lòng củanhững người phụ nữ trong xã hội phong kiến bất công Vì vậy, tiếng thơ của bàvừa là lời than thân trách phận, vừa là tiếng nói tố cáo phản kháng đòi quyền hạnhphúc cho người phụ nữ, vừa là lời trân trọng vẻ đẹp của họ.

- Đằng sau những tiếng nói đả kích với giọng điệu mỉa mai là một tâm hồn thiết tha với đời, muốn yêu và được yêu nhưng lại bị cuộc đời từ chối khôngthương tiếc Chính điều này đã góp phần tạo nên một “Bà chúa thơ Nôm” giàu nữtính nhưng cũng rất cá tính, cùng với một ngòi bút mang đậm tính nhân văn khiviết về con người Chủ nghĩa nhân văn trong thơ của nữ sĩ Hồ Xuân Hương có giátrị rất lớn, góp phần làm phong phú thêm sự phát triển rực rỡ của văn học giai đoạnnửa cuối thế kỉ XVIII - nửa đầu thế kỉ XIX

2 Con người cá nhân trong thơ Nguyễn công trứ

a Khái quát về tác giả

- Nguyễn Công Trứ là người thích lối sống tự do, phóng khoáng Ông cũng

là người có tài, ham học, có chí và rất hăm hở trong việc lập danh Ông đi thi rất

Trang 7

nhiều lần, trượt vẫn không nản, 41 tuổi mới đậu giải nguyên, 42 tuổi mới ra làmquan (chức hành tẩu ở Sứ quán).

- Con đường làm quan của ông dưới triều Nguyễn có nhiều thăng trầm, cólúc làm tướng, làm tôíng đốc Hải An nhưng có lúc phải làm một anh lính ở biêncương Trong thời gian 28 năm làm quan thì ông bị đến năm lần giáng chức vàcách chức

- Trong cuộc đời làm quan của Nguyễn Công Trứ có hai điểm đáng chú ý:

- Ông là người kiên quyết bảo vệ trật tự xã hội phong kiến vì thế ông cónhiều công trạng đối với nhà Nguyễn trong việc đàn áp các cuộc khởi nghĩa (chủyếu là của nông dân) chống lại triều đình

- Ngược lại trong thời gian làm Dinh điền sứ ở Thái Bình và Ninh Bình ông

đã chiêu mộ nông dân lưu vong ở các nơi đến để khai khẩn đất hoang ở hai tỉnhnày và đã lập nên hai huyện Kim Sơn (Ninh Bình) và Tiền Hải (Thái Bình)

Hai việc làm này mới nhìn vào có vẻ trái ngược nhau nhưng trong thâm tâm,trong nhận thức bao giờ Nguyễn công Trứ cũng đinh ninh rằng việc làm của ông làtrên vì vua, dưới vì dân

* Sự nghiệp sáng tác

- Sáng tác của Nguyễn Công Trứ hầu hết bằng chữ Nôm và bị thất lạc nhiều.Hiện nay sưu tầm được khoảng 150 bài gồm thơ, ca trù, phú

- Ngoài ra ông còn có một số tác phẩm thơ văn chữ Hán

- Thơ văn ông bao hàm nội dung khá phức tạp, kết tinh trạng thái ý thức củamột thế hệ nhà nho như Nguyễn Công Trứ Nhưng tổng quát, thơ ông tập trung vào

ít chú trọng gia công về nghệ thuật nên thơ ông có cái mộc mạc, nôm na

+ Ông rất kiên trì sáng tác chữ Nôm

+ Nhà thơ thành công nhất với thể ca trù (là loại bài hát phổ nhịp cho các côđào hát trong các hành viện), ông nâng nó thành một thể thơ dân tộc độc đáo

- Ðiều giá trị nhất trong thơ văn Nguyễn Công Trứ là nhà thơ đã tuyêndương một lý tưởng sống tích cực

- Con người Nguyễn Công Trứ là con người hành động, ý thức được tàinăng, phẩm chất của mình

Trang 8

b Con người cá nhân công danh, hưởng lạc ngoài khuôn khổ Nho giáo trong thơ văn Nguyễn Công Trứ.

Nguyễn Công Trứ là trí thức thành danh vào thời nhà Nguyễn bởi tân triều làthời vận thi thố tài năng của ông Là nhà nho, Nguyễn Công Trứ biết rõ vị trí và

con đường tiến thân của mình (Luận về kẻ sĩ), ý thức rõ sứ mệnh làm trai trong xã hội phong kiến (Vũ trụ chi gian giai phận sự – Nợ công danh,…) Nhưng ông đã

không còn ý thức khắc kỷ phục lễ, an bần, lạc đạo, trên kính dưới nhường, nóinăng thận trọng, nghiêm túc, mà coi xã hội như một môi trường để mình thi thố tàinăng, tự khẳng định mình Ông ngâm đi ngâm lại câu “Nhân sinh quý thích chí”,nghĩa là đời người quý ở chỗ sống phù hợp với ý muốn, lý tưởng của mình Chícủa ông là muốn lập công để thành danh rồi được nhàn hạ, phú quý Có thể nói ông

có bao nhiêu chí – chí lập công danh, thi thố tài năng cá nhân và chí hưởng thụ thúphong lưu tao nhã

Cần lưu ý là dưới những danh từ truyền thống như chí, công danh, phận sự,

… Nguyễn Công Trứ đã lồng vào đó những nội dung của ý thức cá nhân, ngược

với thánh hiền Khổng Tử nói : “Kẻ sĩ chí ở đạo, nếu xấu hổ về nỗi áo xấu cơm

thô thì không thể cùng bàn bạc về đạo” (Lý nhân) Khổng Tử lại nói : “Người quân

tử làm việc đời, không có gì là thích hay không thích, hợp với nghĩa thì làm”(Lý nhân) Nguyễn Công Trứ đề cao hai chữ thích chí, và chí của ông là chí được thi

thố tài năng cá nhân, “Làm nên đấng anh hùng đâu đấy tỏ”, lấy việc nghèo khổ làm

điều xấu xa, nhục nhã (Hàn nho phong vị phú) Khổng Tử đối lập quân tử và tiểu

nhân ở chỗ người quân tử chỉ chăm lo đạo đức cao thượng còn tiểu nhân chỉ chăm

lo ăn sung mặc sướng Nguyễn Công Trứ coi trọng cả hai : “Thú vui thú ném

ngang vành tráng sĩ”, “Càng tài tử càng nhiều tình ái”,… Khổng Tử chủ trương

sống khổ hạnh, xử thế nghiêm trang Nguyễn Công Trứ xem đời là một cuộc chơi :

“Đem ngàn vàng mua lấy tiếng cười – Phong lưu cho bõ kiếp người” Có thể nói,dưới hình thức ngôn ngữ nhà nho, Nguyễn Công Trứ đã diễn đạt một ý thức cánhân mới – thích chí, hành lạc

Trong bài Chí khí anh hùng, cái nổi lên hàng đầu là một vũ trụ dọc ngang,

ngang dọc, tự do, không quân thần, cương thường, đối diện với trang nam nhi hùngtâm tráng chí Hầu như ngoài cái ta của nhà thơ và vũ trụ ra không còn có gì khácnữa Những nợ tang bồng, chí nam nhi, khát vọng như cánh buồm giữa trận cuồngphong, xẻ núi lấp sông,… không còn mang ý vị của câu thơ Phạm Ngũ Lão (1255– 1320) : “Nam nhi vị liễu công danh trái – Tu thính nhân gian thuyết Vũ

hầu” (Thuật hoài), mà chỉ là ý vị cá nhân : lập công danh cho mình, tự khẳng định

mình trong vận hội chung – “Cho phỉ sức vẫy vùng trong bốn bể” Đây quả là một

tư tưởng mới mẻ của con người thời đại

Công danh là một phạm trù lưỡng tính, vừa mang nội dung quốc gia xã hội,vừa mang nội dung cá nhân Từ xưa đã nhiều trang anh hùng hào kiệt sát thân đểthành danh Lưu danh là in dấu của mình vào lịch sử, vào nơi bất tử : “Nhân sinhthế thượng thuỳ vô tử – Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh” (Người ở trên đời ai là

không chết – Để lại tấm lòng son soi vào sách sử – Chí nam nhi) Lưu danh là hình

thức tự khẳng định cao nhất của cá nhân, trước hết là cá nhân lỗi lạc Nguyễn CôngTrứ đã ý thức rõ rệt : “Đã mang tiếng ở trong trời đất – Phải có danh gì với núi

Trang 9

sông”, “Không công danh thì nát với cỏ cây” Ông còn nói thích công danh cũng làđặc tính của con người, hoạ may chỉ có hoá công mới không có ý thức công danh.

Nguyễn Du trước đó cũng đã nói “Công danh ai dứt lối này cho qua…“.

Chí công danh có thể tầm thường, mà có thể không tầm thường “Danh bấtphù thực” là tầm thường, đốt đền để thành danh là tầm thường, nhưng lập nên côngnghiệp là cái danh cao cả, chính đáng Nguyễn Công Trứ muốn nên danh trong sựnghiệp dân giàu, nước yên nên ông hăng hái theo đuổi, không trốn tránh, ẩn dật

Nhưng điều thú vị là Nguyễn Công Trứ không chỉ có chí công danh Hẳnông biết rõ công danh là đường vinh nhục Nguyễn Trãi xưa đã nói : “Dưới côngdanh đeo khổ nhục” Đó là điều không ai tránh khỏi Nguyễn Công Trứ cũng nói :

“Làm tài trai chỉ sợ áng công danh” Nhưng ông xem vinh nhục là sự thường : “Cáivinh nhục, nhục vinh là đắp đổi” Và xử thế ở đời như một cuộc chơi Do vậyngoài công danh, ông chủ trương hưởng lạc Nếu công danh là cái tự khẳng địnhbằng “hướng ngoại”, thì hưởng lạc là sự khẳng định bản thể của cá nhân Nếu côngdanh là cách tự khẳng định cá nhân trong bất hủ với vô hạn thời gian thì hưởng lạc

là việc tự khẳng định mình trong thời gian hữu hạn của đời người Nguyễn CôngTrứ khi nói đến đời người không dùng cụm từ “trăm năm” như mọi người mà nói

“ba vạn sáu nghìn ngày” là rất thâm thuý : Sự hưởng lạc phải tính từng ngày, “lúc

thái bình hà nhật bất xuân phong” ý này trong bài Trong trần mấy mặt làng chơi càng thấy rõ :

Trăm năm trong cõi người ta, Xóc sổ tính ngày chơi đà được mấy.

Muốn thực hiện chí công danh thì phải đợi thời, sớm muộn tuỳ số phận, cònhưởng lạc thì tuỳ mình :

Cuộc hành lạc chơi bao là lãi bấy, Nếu không chơi thiệt ấy ai bù.

Hơn nữa, muốn công danh thì phải “vào lồng” (Bài ca ngất ngưởng), còn

hưởng lạc thì tự do tự tại : “Chen chúc lợi danh đà chán ngắt  Cúc tùng phongnguyệt mới vui sao”

Hưởng lạc là phạm vi thể hiện tài tình : cầm, kỳ, thi, tửu, tùng, cúc, phong,nguyệt,…

Để tự khẳng định nguyên tắc “quý thích chí” của mình, Nguyễn Công Trứcũng đứng trên lẽ được mất, khen chê, bất cần đàm luận :

Được mất dương dương người thái thượng, Khen chê phơi phới ngọn đông phong.

Cái cách về làng cưỡi trên lưng bò vàng, cổ đeo lục lạc, sau lưng theo mộtđôi cô gái trẻ là hành động chướng tai gai mắt đối với thói tục, là một sự tháchthức, buộc người đời phải thừa nhận cái “ngất ngưởng” của cá nhân Cái ý nghĩađời người của cá nhân, chỉ có cá nhân biết :

Thú yên hà trời đất để riêng ta,

Trang 10

Nào ai ai biết chăng là.

c.Con người cá nhân Nguyễn Công Trứ trong Bài ca ngất ngưởng:

*Giới thiệu bài thơ

Bài ca ngất ngưởng thuộc thể hát nói, được sáng tác sau 1848, khi ông đã

cáo quan về hưu và sống cuộc đời tự do nhàn tản Bài thơ thể hiện rất rõ thái độsống của Nguyễn Công Trứ giai đoạn cuối đời, sau những trải nghiệm đắng caycủa cuộc sống quan trường Bài thơ là sự ý thức rất rõ tài năng và nhân cách sốngcủa một nhà nho có tài, có nhân cách

* Biểu hiện của con người cá nhân Nguyễn Công Trứ trong bài thơ.

Con người cá nhân với lối sống Ngất ngưởng

–Từ ngất ngưởng xuất hiện 4 lần: câu 4,8,12 và câu cuối.

–Tư thế: một con người, một sự vật có chiều cao hơn con người hoặc sự vật khácnhưng ngả nghiêng trực đổ nhưng ko đổ Gây cảm giác khó chịu cho người xungquanh, như trêu chọc, trêu ngươi

–Thái độ sống:

+ Khác người, xem mình cao hơn người khác

+ Thoải mái, tự do, phóng túng, ko theo một khuôn khổ nào hết

+ Trêu ngươi, chọc tức người khác

Con người cá nhâncủa Nguyễn Công Trứ được thể hiện rõ nét trong cách ông

tự khoe tài, khoe danh vị của mình với một thái độ tự tôn và đầy hào hứng.

–2 câu đầu: quan niệm về cuộc sống, công danh

+ Tự đề cao vai trò của mình trong cõi trời đất: không có việc gì ko phải phận sựcủa ta => tuyên ngôn trang trọng về lẽ sống nhập thế

+ Coi việc nhập thế làm quan như một sự bó buộc, giam hãm trong lồng

-> Chỉ có thể được viết ra khi tác giả đã trải qua những năm tháng thăng trầm lợm mùi giáng chức với thăng quan.

Trang 11

– Khoe tài năng hơn người: giỏi văn chương (thủ khoa); tài dùng binh (thaolược) => văn võ song toàn.

– Khoe danh vị xã hội hơn người: tham tán, tổng đốc, đại tướng, phủ doãn ThừaThiên

– Thay đổi chức vụ liên tục, ko chịu ở yên một vị trí công việc nào quá lâu.– Sử dụng nhiều từ Hán Việt mang màu sắc trang trọng

– Thủ pháp NT: điệp từ kết hợp liệt kê vừa có tác dụng khoe tài, vừa nhấn mạnhcác chức danh đã từng trải qua

-> Thể hiện một ý thức rõ nét, trang trọng về tài năng và địa vị của bản thân

– Giọng điệu: lúc khoe khoang, phô trương; lúc tự cao tự đại, khinh đời

NCT muốn chơi ngông với thiên hạ dựa trên tài năng và sự nghiệp của bảnthân Khoe khoang chỉ là cái vỏ để dấu bên trong một cái tôi ý thức về tài năng vàdanh vị của bản thân

- Nguyễn Công Trứ đã khoe hết, phô diễn hết những cái danh vị của bảnthân mình, khoe hết cả cái tài văn võ song toàn của bản thân với một thái độ đầy tựhào của một con người ý thức rõ tài năng, danh vị của mình Những cái tài mà ôngkhoe ra với mọi người mang một nội hàm ý nghĩa khá rộng, xét đến cùng nó gắnvới chuyện kinh bang tế thế Những gì ông kể, từ chức "Hi Văn tài bộ" rồi "Thủkhoa", "Tham tán", "Tổng Đốc đông", đều là những danh tước, những địa vị,những chiến tích mà ông đã từng tham gia và để lại những tiếng vọng lớn cho đờisau Những gì mà ông khoe không phải là cách nói sáo rỗng mà nó đều là sự thậtbởi lẽ ông là một người thực tài, thực danh trong suốt cuộc đời của mình Và nhưvậy, việc ông thị tài khoe tài không chỉ là cách ông thể hiện cái ngông, cái ngấtngưởng của mình mà hơn thế nữa đấy còn là cách thị tài, khoa tài của một conngười tự ý thức một cách rõ nét về tài năng và những cống hiến, nỗ lực của bảnthân mình

Cái tôi ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ còn thể hiện ở phong cách sống khác đời, khác người khi ông "gác gươm rửa kiếm" để tìm về với lối sống khác giữa cuộc đời - lối sống trần tục nhưng tự do, phóng túng.

– Ko yến tiệc linh đình, tặng phẩm vua ban mà thay vào đó là: cưỡi bò cái vềhưu, đeo đạc ngựa cho bò, đi chùa lại mang theo một vài cô đầu khiến Bụt cũngphải cười => làm việc trái khoáy, khác người, như muốn trêu ngươi người khác

– Khi ca, khi tửu, khi cắc, khi tùng: thủ pháp liệt kê khiến mạch thơ trở nên dồn

dập, liền mạch gợi về những thú vui bất tận

-> thái độ hành lạc thỏa thích, phóng túng, tự do, thích gì làm nấy, sống theo cáchcủa mình, sống cho thích chí

– Được – mất (ở đời): vẫn vui như tái ông thất mã.

– Khen chê: mặc như gió thổi, bỏ ngoài tai

-> Thái độ coi thường sự được mất, khen chê ở đời

– Không Phật, không Tiên, không tục

Trang 12

->Thái độ ko giống ai, nhập tục mà ko vướng tục.

- Nguyễn Công Trứ đã lựa chọn cho mình một lối sống ngược đời, tráikhoáy, trái với những chuẩn mực thông thường của người đời Đã từng là một vịđại thần, một danh tướng, một vị đại thần được biết đến là "tay kiếm cung" thế mànay, Nguyễn Công Trứ lại lựa chọn sống cuộc đời bình dị, thậm chí là "nên dạng

từ bi" Dù đi vãn cảnh chùa, đi thăm thú những danh lam thắng cảnh mà ông vẫnmang đi cùng mình "một đôi dì" , đó là những nàng hầu xinh đẹp với "gót tiênđủng đỉnh" - một cảnh tượng xưa nay chưa từng có, một việc làm khác người khiếnđến ngay cả ông bụt cũng phải "nực cười ông ngất ngưởng" Một hành động tráikhoáy, ngược với những chuẩn mực đạo đức thông thường ấy vậy mà với NguyễnCông Trứ điều đó chẳng có vấn đề gì, cũng khiến bụt phải mỉm cười cho qua Phảichăng, đó chính là cách Nguyễn Công Trứ thể hiện chất tài hoa, tài tử ở trong mình

và để rồi nó khiến Bụt "nếu không đồng lõa thì cũng phải bỏ qua cho ông bằng mộtcái cười xòa."

Thêm vào đó, cái tôi ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ còn được thể hiện rõ nét

ở bản lĩnh sống của một con người tài năng, không để ý, quan tâm tới việc được mất, khen - chê

-Được mất dương dương người thái thượng

Khen chê phơi phới ngọn đông phong

-Với hai câu thơ, nhưng dường như Nguyễn Công Trứ đã thể hiện một cách rõ néttrước mắt bạn đọc bản lĩnh sống của mình Dẫu ông có một phong cách sống, mộtlối sống khác người, khác đời nhưng ông chưa một lần quan tâm, để ý tới việcngười đời sẽ khen chê mình như thế nào và mình có thể dành được hay mất đinhững gì Thái độ sống ấy của Nguyễn Công Trứ cho thấy một bản lĩnh sống vữngvàng, không màng danh lợi của ông Hơn nữa, Nguyễn Công Trứ là một nhà nhochân chính bởi vậy tư tưởng nhà Nho vẫn luôn sống mãi trong ông, đó chính là tưtưởng trung quân ái quốc như ông đã từng nói:

Chẳng Trái, Nhạc cũng vào phường Hàn, Phú,

Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung.

Và để rồi, đến cuối cùng ông tổng kết lại cuộc đời mình, tổng kết lại cái ngông củamình bằng một câu thơ chắc nịch đầy vẻ ngông nghênh, ngạo nghễ, đầy thách thức

Trong triều ai ngất ngưởng được như ông

Thái độ tự khẳng định mình là bề tôi trung thành, tài năng như Trái Tuân, NhạcPhi….giữ trọn vẹn lòng trung, hết lòng với dân với nước Cái ngất ngưởng thể hiện

ở cách sống tự do của bậc tài tử phong lưu,không ngần ngại khẳng định cá tính củamình.Nguyễn Công Trứ ý thức về bản lĩnh và phẩm chất giá trị của bản thân Cáitôi ngất ngưởng đáng trọng

Nguyễn Công Trứ khẳng định bản lĩnh, cá tính của đấng trung quân vượt ra ngoài khuôn khổ.

Khẳng định mình là một đại thần ngất ngưởng trong triều, ko ai trong triều như

ông, bằng ông

Trang 13

– Nêu bật sự khác biệt của mình với tập đoàn phong kiến đương thời Đó là mộtcái tôi riêng đứng bên ngoài đám quan lại nhợt nhạt.

– Thể hiện ý hướng vượt ra khỏi lễ giáo Nho gia

– Thể hiện tấm lòng son sắt trước sau như một đối với đất nước

- Bài thơ có sự kết hợp hài hòa giữa hệ thống từ ngữ Hán Việt vớ từ ngữ Nômthông dụng trong đời sống hàng ngày

d Đánh giá

Con người Nguyễn Công Trứ thể hiện trong hình ảnh “ ông ngất ngưởng”: từng

làm nên sự nghiệp lớn, tâm hồn phóng khoáng, bản lĩnh sống mạnh mẽ, ít nhiều có

sự phá cách về quan niệm sống, vượt qua khuôn sáo khắt khe của lễ giáo phong kiến Nguyễn Công Trứ thông qua bài thơ "Bài ca ngất ngưởng" đã thể hiện một thái độ, một cách sống, một lối ứng xử có phần khác biệt, thậm chí thách thức với các chuẩn mực thông thường nhưng nó vẫn được người đời chấp nhận

3 Con người cá nhân trong thơ Cao Bá Quát

a Khái quát về tác giả.

Cao Bá Quát (1809 – 1854)

Trang 14

*Thân thế

- Cao Bá Quát là một nhà thơ lỗi lạc đồng thời là một lãnh tụ của phong tràonông dân khởi nghĩa ở giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVIII, nửa đầu thế kỷ XIX

- Cao Bá Quát sinh vào khoảng 1808-1810 và mất năm 1855

- Cao Bá Quát tự là Chu Thần (bậc thần tử của nhà họ Chu), hiệu là CúcÐường, Mẫn Hiên Ông người làng Phú Thọ, huyện Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh

- Cao Bá Quát xuất thân trong một gia đình nhà nho nghèo Thân sinh củaông sống vào thời kỳ Lê mạt, xã hội loạn lạc nên ông không đi thi để ra làm quan

mà chỉ sống bằng nghề dạy học Nhưng dòng họ Cao là một dòng họ có truyềnthống về thi phú và khoa bảng

- Ngay từ nhỏ, ông đã là một người thông minh, học giỏi và bản lĩnh Tươngtruyền năm 14 tuổi ông đã lều chõng đi thi nhưng không đỗ, chín năm sau (1831)ông mới đỗ thứ hai kỳ thi hương (đỗ á nguyên, sau giải nguyên, đỗ cử nhân thứ hainhưng sau bộ Lễ xếp lại đánh tuộtt xuống cuối bảng) Sauđó nhiều lần Cao BáQuát đi thi hội ở kinh đô nhưng không đậu, trượt mãi (chắc không phải vì bất tài

mà vì ông là người cương trực nên bị bọn quan lại ghen ghét) Mặt khác ông vốn làngười tự do, phóng túng nên không chịu viết văn theo khuôn phép trường thi

- Ðậu cử nhân từ năm 1831 nhưng mãi đến năm 1841 ông mới được bổ làmmột chức quan nhỏ mọn: chức hành tẩu bộ Lễ (bộ Lễ: nơi làm việc của quan văn

có nhiều chức, chức hành tẩu là nhỏ nhất chỉ là chân thư ký) Thời gian này ôngđược cử làm sơ khảo kỳ thi hương ở trường thi Thừa Thiên Thấy một số bài thixuất sắc nhưng phạm húy, ông đã cùng một người bạn chữa lỗi cho những bài thi

đó để lấy đậu nhưng bị phát giác Ông bị khép vào tội chết, sau triều đình xét lạichỉcách chức và đày vào Ðà Nẵng.Sau ba năm bị giam, ông được cử đi phục dịch mộtđoàn sứ bộ của triều đình đi công cán ở Xinhgapo để lập công chuộc tội (gọi là đidương trình hiệu lực)

- Ở nước ngoài về, ông được giữ chức cũ một thời gian rồi lại bị thải, ông trở

về sống với vợ con ở Thăng Long

- 1847, ông lại nhận được chiếu chỉ của nhà vua bổ vào làm việc ở Viện HànLâm (sưu tầm, sắp xếp các bài thơ cho nhà vua ngâm vịnh) Nhưng vốn là một conngười có tài.và cương trực cho nên Cao Bá Quát trở thành cái gai trong mắt bọnquan lại ở triều đình, vì thế chúng đã tìm cách đẩy ông đi xa

- 1852, ông bị đẩy đi làm Giáo thụ ở phủ Quốc Oai, Sơn Tây (chức quantrông coi việc học hành ở một vùng) Nơi này là một vùng hẻo lánh, ít người đihọc Ðối với ông, đó là một việc đày ải thực sự nên càng làm cho ông bất bình.Năm ấy mùa màng lại bị châu chấu tàn phá, nhân dân vô cùng đói khổ, nhất là ởvùng Sơn Tây Bị đẩy đến bước đường cùng, họ đã đứng lên chống bọn địa chủ,quan lại để giành sự sống Cao Bá Quát liên lạc đượcvới các lãnh tụ khởi nghĩa bènvứt bỏ chức Giáo thụ quèn Ông mượn cớ phò Lê, tôn Lê Duy Cự làm minh chủ,mình làm quốc sư đứng lên kêu gọi nhân dân vùng này khởi nghĩa đánh đổ triềuNguyễn Ðáng tiếc là cuộc khởi nghĩa lại sớm thất bại Cao Bá Quát hi sinh trong

Trang 15

một cuộc chiến với quân triều đình Sau khi ông mất, nhà Nguyễn đã trả thù dòng

họ này một cách dã man bằng cách thi hành lệnh tru di tam tộc cả dòng họ

* Sự nghiệp sáng tác

- Sáng tác của Cao Bá Quát chủ yếu bằng chữ Hán, chữ Nôm cũng có nhưng

ít Khác với Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát sống vào thời kỳ chính sách đề caochữ Hán của nhà Nguyễn đã có ảnh hưởng sâu rộng trong giới nho sĩ Có lẽ Cao

Bá Quát chịu ảnh hưởng của chủ trương này

- Về tác phẩm chữ Hán ông có hai tập thơ: Chu Thần thi tập và Cúc Ðườngthi thảo Cả hai tập thơ này có tên chung là Cao Bá Quát thi tập Số bài thơ của haitập thơ này chưa rõ là bao nhiêu nhưng chắc chắn nhiều hơn số hiện nay chúng tasưu tập được: 1353 bài thơ và 21 bài văn xuôi Sau khi nhà thơ qua đời, tác phẩmcủa ông cũng phải chịu sự bạc đãi của triều đình nhà Nguyễn

- Về mặt chữ Nôm: ông có bài phú nổi tiếng Tài tử đa cùng (Người tài giỏi

có nhiều điều cùng khổ).Ngoài ra ông còn có một số bài thơ Ðường luật và ca trù

- Một số nét đặc sắc trong thơ Cao Bá Quát:

+ Thơ ông chứa đựng một nội dung hiện thực phong phú

+ Lòng yêu nước và tự hào dân tộc Lòng yêu thương con người nghèo khổ,bất hạnh.Ðây là nét đặc sắc nổi bật nhất, phân cách giữa Cao Bá Quát và các nhàthơ đương thời Cao Bá Quát có một ý thức vì dân thực sự, ông đã đứng về phíaquần chúng lao động để thông cảm với những nỗi khổ đói cơm, rách áo của họ

+ Bài Cô gái từ trên cầu trở về lúc buổi tối (Mộ kiều qui nữ) tả cảnh buổichiều tối, trời rét, một cô gái phải đi bán áo để mua cám cho gia đình, khi trở vềqua cầu gió hun hút thổi mà cô gái vẫn thản nhiên bước đi bởi lòng cô như ấm lênkhi nghĩ tới người nhà đang tựa cửa chờ mình

+ Thơ ông chứa đựng nhiều tình cảm đậm đà, chung thủy trong quan hệ bèbạn, gia đình, làng xóm.Thời kỳ bị giam, nhà thơ đã viết nhiều bài thơ thể hiệnlòng thương vợ, nhớ con, nhớ quê hương, bạn bè da diết

+ Thơ ông còn chứa đựng nhiều tư tưởng tiếnbộ

+ Cao Bá Quát là một con người phóng túng, có nhân cách cứng cỏi, có tâmhồn, có trái tim giàu cảm xúc Những điều đó đã in đậm vào sáng tác và trở thànhphong cách riêng của nhà thơ, phong cách đó tạm quy vào mấy nét sau:

Kết luận: Cao Bá Quát là nhà thơ lớn nhất trong khuynh hướng phê phán hiện

thực của văn học nửa đầu thế kỷ XIX Ðóng góp của thơ văn Cao Bá Quát trướchết là ở nội dung, cáihơn người của ông là nội dung tư tưởng, là lòng dũng cảm, là

sự sáng suốt cả về chính trị lẫn văn hóa Cuộc đời của ông vẫn là một bài học quí,khi cần thiết ông biết ném cây bút để nắm lấy Long tuyền

b Con người cá nhân trong thơ Cao Bá Quát.

- Cao Bá Quát lớn lên vào thời nhà Nguyễn phục hưng Hán học Khác vớiNguyễn Công Trứ chủ yếu sáng tác bằng quốc âm, Cao Bá Quát lại chủ yếu sángtác bằng chữ Hán Có tài liệu cho biết ông sáng tác 1353 bài thơ và 21 bài văn chữHán Thơ phú Nôm của Cao Bá Quát chủ yếu là hát nói (nhiều bài chép lẫn lộn

Trang 16

với thơ của Dương Khuê), ít câu đối ghi trong các giai thoại (có người nghi ngờ làcủa người khác gán cho ông) Song nhiều sách vẫn ghi là của họ Cao, bởi có nhiềuđiểm cũng nhất trí với thơ chữ Hán của ông.

Nhìn chung thơ Cao Bá Quát thể hiện con người của ông, một cá nhân mạnh

mẽ, ngang tàng, sống ngoài thói tục Ông tài cao nhưng chí không ở công danh,dám làm điều cấm kỵ Khác với Nguyễn Công Trứ, ông thấy mình lạc lõng Ôngkhông thấy “trời đất dọc ngang ngang dọc” mà thấy “Bãi cát, bãi cát dài – Một

bước lại giật lùi… Đường phẳng mờ mịt – Đường hiểm vô cùng” (Bài ca ngắn đi trên bãi cát) Ông thấy đời vô vị : “Sống kiếp gân gà, đời lạt lẽo”, “Bước tới

trường danh chẳng cúi đầu” Ông xuất hiện như một con người không chịu vàokhuôn phép và trở thành một con người bi kịch dưới chế độ chuyên chế Ông tự vímình với những người sống tự do như Trang Tử, Tô Tử, Khuất Nguyên, v.v Ôngkhao khát được “Chắp thêm đôi cánh – Bay lên tận tầng mây tía” để “thoát khỏilưới trần” Được đi hiệu lực ở nước ngoài, ông tự thấy : “Vũ trụ bao la, chuyện vănchương trước đây thực là trò con trẻ”, và khi về quê ông nuôi chí giải thoát, bỏ

không theo dấu xưa vết cũ Trong bài Nhàn vịnh, ông viết :

Được cái hơn người: tính khí thô, Mưu sinh trăm kế chẳng ra trò.

Vạch thuyền tìm kiếm cho thêm mệt, Đợi thỏ ôm cây cũng thật khờ.

Bởi ngán phong trần ưa đạm bạc,

Há ham danh lợi chịu ngây ngô.

Bạn bè có hỏi đường bay nhảy, Cười trỏ tầng xanh mây lửng lơ.

Từ khao khát tháo cũi sổ lồng, bay lên trời cao đến hành động nổi dậy ở Mỹ

Lương chắc là không xa Thơ chữ Hán Cao Bá Quát thể hiện một con người tàicao, chí lớn, thâm trầm, đôn hậu, không màng danh lợi, hưởng lạc Ông tự khẳngđịnh mình cũng kín đáo, không lộ liễu như các giai thoại cho biết về ông Đối vớicác bậc anh hùng hào kiệt, các bậc danh nho, ông đều một lòng ngưỡng vọng

Thơ phú Nôm Cao Bá Quát lại thể hiện một mặt khác của con người Cao Bá

Quát Tài tử đa cùng phú vừa tự khẳng định mình, đề cao mình sánh với các bậc

danh nho, danh tướng trong lịch sử, vừa cảm thấy đời chật chội : “trần ai khôngđếch chỗ”, tầm thường : “mũ cánh chuồn đội trên mái tóc, nghiêng mình đứngchực chốn hầu môn”, cùng khổ : “quyết ném cùng thần ra đến đất Côn Lôn, để tagánh vác giang sơn, quyết ném thanh khâm sang cẩm tú”, vừa muốn hưởng lạc thú.Ông muốn hưởng phú quý nhưng không muốn lập công danh trong khuôn khổ nhưNguyễn Công Trứ, mà muốn xoay lại cơn khí số

Trong thơ ca trù, Cao Bá Quát khi thì tỏ chí chán đời, khinh đời, muốn quênhết mọi sự đời để đạt đến cõi tự do tinh thần, được giải thoát khỏi mọi ràng buộccủa xã hội, hoà nhập với thiên nhiên :

Bóng thiều quang thấp thoáng dưới Nam Sơn, Ngoảnh mặt lại cửu hoàn coi cũng nhỏ.

Khoảng trời đất cổ kim, kim cổ, Mảnh hình hài không có, có không,

Trang 17

Lọ là thiên tứ vạn chung.

Có lúc ông lại tự an ủi với chữ mệnh, chữ thì để được thanh thản :

Ngất ngưởng thay con tạo khéo cơ cầu, Muốn đại thụ hãy ghìm cho lúng túng…

Hẵng bền lòng chớ chút oán vưu, Thời chí hỹ, ngư long biến hoá.

Thôi đã biết cùng thông là mệnh cả, Cũng đừng đem hình dịch lại cầu chi, Hơn nhau cũng một chữ thì.

Rút cục lại, ý thức cá nhân thể hiện trong một thái độ khinh đời, bất cần đời,dùng thái độ ấy để tự khẳng định mình đứng ngoài ràng buộc

c Biểu hiện của con người cá nhân Cao Bá Quát trong Bài ca ngắn đi trên bãi

cát

*Giới thiệu bài thơ

- Hoàn cảnh sáng tác: Cao Bá Quát đi thi Hội Trên đường vào kinh đô Huế,qua các tỉnh miền Trung đầy cát trắng (Quảng Bình, Quảng Trị) (hình ảnh bãi cátdài, sóng biển, núi là những hình ảnh có thực gợi cảm hứng cho nhà thơ sáng tácbài thơ này)

- Thể thơ: thể ca hành (thơ cổ Trung Quốc được tiếp thu vào Việt Nam)

*Con người cá nhân biểu hiện ở nội dung

Ta vẫn thường nghe: "Tài cao phận thấp, chí khí uất" Dường như cái tàinăng vẫn chưa đủ để con người ta tỏa sáng những còn bởi một chữ "phận" Đócũng chính là bi kịch cuộc đời của một con người tài hoa bậc nhất Cao Bá Quát.Ông hiện ra là một nhà nho giỏi, đức độ với một tâm hồn văn chương và cốt cáchthanh cao Được nhân dân tôn lên hàng thánh – thánh Quát Vậy nhưng đương thờiChu Thẩn lại phải trải qua biết bao khổ ải, gian truân của một chế độ phong kiếnthối nát suy tàn Những nỗi niềm xót xa, phẫn uất của một đấng nam nhi đã đượcông gửi gắm kín đáo trong tác phẩm Sa hành đoản ca

-Cao Bá Quát bộc lộ thái độ chán chường, mệt mỏi trên con đường danh lợi

vô nghĩa.

Là một nhà nho chân chính, Cao Bá Quát vốn chịu ảnh hưởng rất lớn củaquan niệm "chí làm trai" Cũng như Nguyễn Công Trứ và bao bậc trượng phuđương thời, ông luôn tâm niệm va khao khát lập nên công danh sự nghiệp vẻ vanghiển hách cho đời, coi đó là lý tưởng sống, là trách nhiệm trọn đời và là món nợphải trả - "nợ tang bồng" Ông vố đã sớm được coi như một tài năng xuất chúngkhi mới chỉ ít tuổi và càng trưởng thành, ông lại càng chứng tỏ rõ khí phách hiênngang và hoài bão lớn lao của mình Tuy nhiên đứng trước một xã hội phong kiếnbảo thủ, trì trệ và khủng hoảng, con người ấy đã không thể thỏa mãn khát vọng củamình

Bãi cát dài lại bãi cát dài,

Đi một bước như lùi một bước.

Ngày đăng: 09/10/2020, 11:57

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

- Hình tượng nổi bật trong con người cá nhân là hình tượng người phụ nữ cá tính và nữ tính của tác giả: - Chuyên đề con người cá nhân trong văn học trung đại việt nam thế kỉ XVIII XIX qua một số tác giả và tác phẩm thơ tiêu biểu trong chương trình ngữ văn 11
Hình t ượng nổi bật trong con người cá nhân là hình tượng người phụ nữ cá tính và nữ tính của tác giả: (Trang 3)
- Hình ảnh giàu sức gợi (trăng, rêu, đá…) có khả năng diễn đạt những biểu hiện phong phú, tinh tế của tâm trạng. - Chuyên đề con người cá nhân trong văn học trung đại việt nam thế kỉ XVIII XIX qua một số tác giả và tác phẩm thơ tiêu biểu trong chương trình ngữ văn 11
nh ảnh giàu sức gợi (trăng, rêu, đá…) có khả năng diễn đạt những biểu hiện phong phú, tinh tế của tâm trạng (Trang 6)
– Đây là một bài hát nói viết theo lối tự thuật, có hình thức tự do, đặc biệt là tự do về vần nhịp. - Chuyên đề con người cá nhân trong văn học trung đại việt nam thế kỉ XVIII XIX qua một số tác giả và tác phẩm thơ tiêu biểu trong chương trình ngữ văn 11
y là một bài hát nói viết theo lối tự thuật, có hình thức tự do, đặc biệt là tự do về vần nhịp (Trang 13)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w