1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

BÁO CÁO MÔN TÀI CHÍNH QUỐC TẾ

20 205 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 96,47 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BÁO CÁO MÔN TÀI CHÍNH QUỐC TẾ.CHƯƠNG 1. THE GREAT DEPRESSION 1929 19331.1. Nguyên nhânCăn nguyên của cuộc khủng hoảng này của Mỹ có nguyên nhân giống các cuộc khủng hoảng trong thế giới tư bản chủ nghĩa. Chủ yếu là do sức sản xuất phát triển quá mạnh, quá nóng trong khi nhu cầu của người dân không có mức tăng tương ứng. Tức do “cung vượt quá cầu”. Là cuộc khủng hoảng về cơ cấu, do sự phân chia thành quả lao động không công bằng: chủ nhiều, người lao động ít. Đây là thời kỳ công nghiệp hóa trong đó cơ giới hóa được đẩy mạnh. Các phương thức tổ chức quản lý sản xuất được cải biến dẫn đến khả năng sản xuất ra sản phẩm ngày càng nhiều trong lúc lượng lao động dư thừa bị đẩy ra xã hội ngày càng tăng. Họ không có điều kiện và khả năng mua hàng cũng là điều dễ hiểu1.2. Diễn biếnCuộc khủng hoảng 1929 1933 diễn ra đầu tiên ở Mỹ. Ngày 29. 10. 1929 thị trường chứng khoán của Mỹ rơi vào tình trạng khủng hoảng, cũng từ đó trở đi thị trường chứng khoán của Mỹ liên tục bị dời ra, các cổ phiếu của các cổ đông trở thành đống giấy lộn. Cuộc khủng hoảng bắt đầu từ nước Mĩ, là nước tư bản giàu nhất. Sản lượng công nghiệp ở Mĩ giảm 50%, trong đó gang, thép sụt xuống 75%, ô tô giảm 90%, 11500 xí nghiệp nhỏ và cả những xí nghiệp lớn bị phá sản. Nông thôn cũng bị tác động mạnh mẽ. Để nâng cao giá hàng hoá và thu nhiều lời, các nhà tư bản kếch sù đã tiêu huỷ hàng hoá : cà phê, sữa, lúa mì, thịt, ...v.v... bị đốt hay đổ xuống biển chứ không được bán hạ giá. Cuộc khủng hoảng lan rộng đến các nươc` tư bản chủ nghĩa khác. Ở Anh, sản lượng gang năm 1931 sụt mất 50% , thép cũng sụt gần 50% , thương nghiệp sụt 60%. Ở Pháp, cuộc khủng hoảng bắt đầu từ cuối năm 1930và kéo dài đến năm 1936, sản lượng công nghiệp giảm 30%, nông nghiệp 40%, ngoại thương 60%, thu nhập quốc dân 30%. Ở Đức, đến năm 193, sản lượng công nghiệp giảm 77%. Ở các nước Ba Lan, Ý, Rumani, Nhật, ... đều có khủng hoảng kinh tế. 1.3. Kết quảCuộc khủng hoảng này đã gây hậu quả nghiêm trọng và sâu sắc, với khoảng 13 triệu người thất nghiệp. Sản lượng công nghiệp giảm 45%. Số nhà máy xây mới giảm 80%. 5.000 ngân hàng phá sản. Trong 15 nước tư bản đã có tới 18.000 cuộc bãi công của công nhân với sự tham gia của 8,5 triệu người. Hàng triệu héc ta cây trồng bị phá. Cuộc khủng hoảng kinh tế đã đẩy nền kinh tế tư bản bước vào tình trạng tiêu điều. 1.4. Các hành động của các tổ chức kinh tế thế giới nhằm giúp đỡ các nước Để cứu vãn tình hình, chính phủ các nước tư bản thi hành một số chính sách như đánh thuế nhập cảng nặng để hạn chế hàng hoá nước ngoài vào, lấy tiền trong ngân quỹ nhà nước trợ cấp cho các nhà tư bản. Chính phủ Mĩ đã bỏ ra hàng chục triệu đô la trong việc trợ cấp này. 1.5. Việt Nam và các ảnh hưởngPháp là nước tư bản nên chịu chung tác động của cuộc khủng hoảng này. Khủng hoảng diễn ra ở Pháp rồi lan nhanh ra các thuộc địa và phụ thuộc của Pháp, trong đó có Việt Nam. Dưới tác động của cuộc khủng hoảng, nền kinh tế, xã hội Việt Nam bị khủng hoảng nặng nề :+ Nông nghiệp, công nghiệp bị suy sụp, xuất nhập khẩu bị đình đốn, hàng hóa khan hiếm (do nền kinh tế Việt Nam phụ thuộc hoàn toàn vào Pháp).+ Khủng hoảng kinh tế đã tác động tới tất cả các tầng lớp, giai cấp trong xã hội Việt Nam, làm cho đời sống của các tầng lớp nhân dân vô cùng cực khổ (nhà máy bị đóng cửa, công nhân không có việc làm hoặc có việc làm thì lương rất thấp ; sản xuất nông nghiệp sa sút do xuất khẩu lúa gạo bị đình trệ, nông dân bị bần cùng hoá...; đời sống của tư sản, tiểu tư sản bấp bênh...).+ Thực dân Pháp còn tăng cường chính sách thuế khóa, làm cho đời sống của nhân dân càng thêm cùng cực.CHƯƠNG 2. MEXICAN PESO CRISIS 19942.1. Nguyên nhânKhủng hoảng tiền tệ ở Mexico bắt nguồn từ sự tác động lẫn nhau của các yếu tố kinh tế và chính trị. Trong suốt thời gian nắm quyền, chính phủ Salinas đã thực hiện việc cải tổ mở cửa nền kinh tế. Cùng với việc neo tỷ giá với đồng đôla Mỹ, Mexico đã thu hút lượng vốn đầu tư nước ngoài khổng lồ, và chính nguồn vốn này đã tài trợ cho việc nhập khẩu, làm cho tình hình thâm hụt cán cân vãng lai của Mexico càng trở nên tồi tệ hơn. Đến đầu năm 1994, khi một loạt các vụ scandal chính trị diễn ra (cuộc nổi loạn Chiapas, vụ ám sát ứng cử viên tổng thống của đảng cầm quyền Colosio…) đã làm cho các nhà đầu tư mất niềm tin vào sự ổn định của nền kinh tế nước này. Thời điểm đó, chính phủ Mexico đã nỗ lực hết sức để ngăn chặn sự suy giảm nghiêm trọng của dự trữ ngoại hối. Tuy nhiên, những chính sách kinh tế vĩ mô được áp dụng trong thời gian trước thềm cuộc bầu cử tổng thống lại không tương thích với chính sách tỷ giá và hơn thế nữa làm cho tình hình thâm hụt cán cân thương mại ngày càng xấu đi. Sau khi cuộc bầu cử diễn ra, một loạt các cú sốc về chính trị đã khiến cho các nhà đầu tư nước ngoài ồ ạt rút vốn, dự trữ ngoại hối rơi xuống mức mà NHNN Mexico không đủ để can thiệp nhằm bình ổn tỷ giá. Việc Mỹ nâng lãi suất đã khiến đồng Peso của Mexico mất giá nhanh chóng và châm ngòi cho dòng thoái vốn tại khắp khu vực Mỹ Latinh. Việc quốc hữu hóa cũng khiến cho hệ thống ngân hàng của Mexico trở nên mong manh, tạo sự hạn chế cho quá trình sử dụng chính sách tiền tệ để hỗ trợ đồng Peso.2.2. Diễn biếnNgày 111994, sự nổi dậy của lực lượng vũ trang Zapatistas. Đến cuối tháng 21994, tỷ giá hối đoái giữa peso và USD tăng đến trần biên độ dao động. Tuy vậy, dòng vốn nước ngoài vẫn tiếp tục đổ vào vì các nhà đầu tư vẫn lạc quan về tình hình kinh tế ở Mexico.Tháng 31994, sự kiện Luis Donaldo Colosio ứng cử viên tổng thống bị ám sát đã làm dâng lên những căng thẳng chính trị ở Mexico. Các nhà đầu tư nước ngoài không còn cảm thấy an toàn và bắt đầu lo lắng cho tài sản của mình ở Mexico. Trước những lo ngại về tình hình chính trị và kinh tế ở Mexico, các nhà đầu tư trong và ngoài nước đã giảm nhu cầu về chứng khoán của Mexico. Đồng peso chịu sức ép mất giá và chính phủ quyết định tung ra thị trường khoảng 10 tỷ đô la từ dự trữ ngoại hối nhà nước để bảo vệ tỷ giá danh nghĩa.Tháng 41994, lãi suất trái phiếu chính phủ định danh bằng peso có xu hướng tăng. Lo ngại điều này sẽ gây tổn thương cho khu vực ngân hàng còn non trẻ của đất nước cũng như lãi suất cao có thể gây ra suy thoái kinh tế vào một năm diễn ra cuộc bầu cử tổng thống, chính phủ Mexico một mặt dùng dự trữ ngoại hối để chống lại xu hướng tăng lãi suất, một mặt tiến hành chuyển đổi các trái phiếu chính phủ sang định danh bằng USD thay cho định danh bằng peso để phần nào bình ổn thị trường.Việc đồng peso được định giá quá cao so với đồng đô la đã sớm được cảnh báo bởi một số học giả kinh tế. Bên cạnh đó, cũng có không ít ý kiến trái chiều phản đối việc điều chỉnh tỷ giá vì lý do niềm tin của các nhà đầu tư vẫn chưa đủ chắc chắn để có thể không bị hoảng loạn khi tỷ giá thay đổi mạnh một cách đột ngột. Do vậy, chính phủ Mexico chọn biện pháp vừa dùng dữ trữ ngoại hối để giữ ổn định tỷ giá, vừa từng bước nhỏ điều chỉnh tỷ giá cho phù hợp với thực tế.Tháng 81994, tổng thống Ernesto Zedillo vừa nhậm chức đã phải đối mặt với nhiều khó khăn trong lĩnh vực kinh tế. Tuy nhiên, ông vẫn cố gắng duy trì các chính sách tài chính, tiền tệ như trước.Cuối tháng 91994, Tổng thư ký của đảng Institutional Revolution, José Francisco Ruiz Massieu cũng bị ám sát. Cộng đồng thế giới cho rằng sự việc này càng chứng tỏ tình hình chính trị tại Mexico đang rất bất ổn. Các nhà đầu tư lại càng thêm bất an. Một số nhà đầu tư nước ngoài cùng các quỹ đã bắt đầu rút vốn khỏi Mexico.Tháng 101994, Cục dữ trữ Liên bang Mỹ (FED) tuyên bố mặc dù lo ngại về mức dự trữ ngoại hối còn khá ít ỏi của Mexico, song Mexico không nên hy vọng nhiều vào viện trợ từ phía nước ngoài. Điều này khiến cho tâm lý các nhà đầu tư càng trở nên rối loạn và bất ổn. Cũng trong thời gian đó, sau khi một số công ty lớn ở Mexico công khai lợi nhuận của mình đã giảm sút, thị trường chứng khoán Mexico chao đảo. Áp lực mất giá đồng peso càng tăng lên.Tổng thống mới nhậm chức không muốn phá giá đồng peso trong suốt nhiệm kỳ của mình trừ khi việc phá giá này là không thể tránh khỏi. Sự cố gắng duy trì đồng peso được định giá cao đã gây ra nhiều vấn đề cho nền kinh tế Mexico. Nó đã không khuyến khích người nước ngoài tiêu dùng hàng hóa của Mexico, trong khi người Mexico lại thích tiêu dùng các sản phẩm của nước ngoài. Điều này dẫn đến thâm hụt cán cân thương mại ngày càng trầm trọng.Mặt khác, các nhà đầu tư và các quỹ đầu tư ở Mexico cũng dần nhận ra sự mất giá của đồng peso nên đã bắt đầu chuyển sang nắm giữ các tài sản bằng đồng đô la thay vì nắm giữ các tài sản bằng đồng peso như trước. Một trong những cách để giữ tỷ giá của đồng nội tệ đó là dùng tiền nước ngoài để mua lại đồng nội tệ. Và hàng tỷ đô la trong quỹ dự trữ ngoại hối của Mexico đã được tung ra nhằm giữ giá cho đồng peso nhưng đã không thành công.Cuối tháng 101994, thống đốc ngân hàng trung ương Mexico công khai rằng dự trữ ngoại hối của Mexico chỉ còn 17,12 tỷ đô la.Ngày 20121994, , tổng thống Mexicon Ernesto Zedillo đã phải phá giá đồng peso thêm 15% trước áp lực phá giá đồng peso lúc bấy giờ. Chính phủ Mexico cũng đã nhanh tay can thiệp nhằm giảm tốc độ mất giá, song không có hiệu quả mà trái lại làm cho quỹ dự trữ ngoại hối của Mexico ngày càng cạn kiệt. Đến ngày 22121994, chính phủ Mexico quyết định tuyên bố thả nổi đồng peso. Quyết định này đã làm các nhà đầu tư mất hết lòng tin vào khả năng trả các khoản nợ ngắn hạn của Mexico (các khoản nợ nước ngoài nếu tính theo peso sẽ lớn hơn gấp nhiều lần khi tỷ giá giữa peso và đô la tăng lên). Vì thế, các nhà đầu tư đành bán tháo các tài sản bằng đồng peso. Điều này làm cho đồng peso càng mất giá hơn nữa.Bên cạnh đó, việc các khoản nợ nước ngoài đột nhiên tăng lên đã khiến cho bảng cân đối tài sản của các xí nghiệp và ngân hàng ở Mexico trở nên xấu đi. Hậu quả là nền kinh tế Mexico rơi vào khủng hoảng thực sự, kéo theo đó là cuộc suy thoái kinh tế được đánh giá là cuộc khủng hoảng tồi tệ nhất thế giới kể từ những năm 1930. 2.3. Kết quảThế giới đã chứng kiến cuộc khủng hoảng tài chính ở Mexico bắt đầu vào ngày 20121994 khi nước này tuyên bố phá giá đồng Peso 40% so với USD. Chỉ trong vòng 3 tháng, đồng nội tệ Mexico giảm 53% so với USD. Nếu trước ngày phá giá 1 USD bằng 3,46 Peso thì sau ngày phá giá 1 USD bằng 6 Peso, thậm chí có lúc 1 USD bằng 8 Peso. Nợ nước ngoài của Mexico vượt quá 200 tỷ USD, lạm phát ít nhất lên tới 60%, thất nghiệp từ 3,6% tăng lên xấp xỉ 10%. Tốc độ tăng trưởng của Mexico năm 1995 là âm 6,2%. Khi đó, chính quyền Mexico phải kêu gọi cộng đồng quốc tế giúp đỡ Mexico thoát khỏi cuộc khủng hoảng.2.4. Hành động từ các tổ chức kinh tế quốc tếChính phủ Mỹ, Chính phủ Canada, Quỹ Tiền tệ Quốc tế và Ngân hàng Thanh toán Quốc tế đã phối hợp cấp cho Mexico các khoản tín dụng lên tới 50 tỷ Dollar Mỹ để ngăn chặn sự phát triển và khắc phục hậu quả của khủng hoảng.Nguồn lực của gói tài chính cứu trợ khẩn cấp này gồm 20 tỷ USD của chính phủ Mỹ thông qua các hình thức trao đổi hoặc tín dụng trung và dài hạn được đảm bảo bởi quỹ Ổn định ngoại hối, 17,8 tỷ USD của IMF. Phần còn lại được cung cấp bởi chính phủ Canada, Ngân hàng thế giớiCùng với việc chấp nhận gói tài chính cứu trợ khẩn cấp có điều kiện của IMF Quỹ tiền tệ quốc tế và áp dụng các biện pháp giảm chi tiêu ngân sách, thắt chặt chính sách tiền tệ và đẩy nhanh cải cách cơ cấu kinh tế, từ giữa năm 1996 nền kinh tế Mêxicô đã thoát ra khỏi cuộc khủng hoảng và bắt đầu phục hồi.2.5. Liên hệ tới Việt NamThực trạng nền kinh tế Việt Nam hiện nay cũng có nhiều nét tương đồng với Mexico vào những năm xảy ra khủng hoảng. Kể từ 2002, ở Việt Nam đã xuất hiện thâm hụt thương mại gia tăng mang tính chất hệ thống. Thâm hụt thương mại mang tính cơ cấu là gánh nặng lớn đối với cán cân thanh toán (BOP) của quốc gia, và kết quả là cán cân vãng lai đã rơi vào tình trạng thâm hụt trong những năm gần đây. Bên cạnh thâm hụt thương mại, thâm hụt ngân sách Nhà nước kéo dài trong nhiều năm cũng làm tăng thêm những rủi ro cho nền kinh tế, cả rủi ro tăng trưởng và mất ổn định kinh tế vĩ mô

Trang 1

TỔNG LIÊN ĐOÀN LAO ĐỘNG VIỆT NAM TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÔN ĐỨC THẮNG KHOA TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG

BÁO CÁO MÔN TÀI CHÍNH QUỐC TẾ

THE GREAT DEPRESSION 1929 -1933

MEXICAN PESO CRISIS 1994

ASIAN CURRENCY CRISIS 1997

Giảng viên hướng dẫn: ThS Nguyễn Thị Minh Thủy Nhóm thực hiện: Nhóm 1

Nhóm 6 – Thứ 3 – Ca 1

TPHCM, THÁNG 1 NĂM 2017

Trang 2

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN

Trang 3

M c l c ụ ụ

Trang 4

CHƯƠNG 1 THE GREAT DEPRESSION 1929 -1933

1.1. Nguyên nhân

Căn nguyên của cuộc khủng hoảng này của Mỹ có nguyên nhân giống các cuộc khủng hoảng trong thế giới tư bản chủ nghĩa Chủ yếu là do sức sản xuất phát triển quá mạnh, quá nóng trong khi nhu cầu của người dân không có mức tăng tương ứng Tức do “cung vượt quá cầu” Là cuộc khủng hoảng về cơ cấu, do sự phân chia thành quả lao động không công bằng: chủ nhiều, người lao động ít Đây là thời kỳ công nghiệp hóa trong đó

cơ giới hóa được đẩy mạnh Các phương thức tổ chức quản lý sản xuất được cải biến dẫn đến khả năng sản xuất ra sản phẩm ngày càng nhiều trong lúc lượng lao động dư thừa bị đẩy ra xã hội ngày càng tăng Họ không có điều kiện và khả năng mua hàng cũng là điều

dễ hiểu

1.2 Diễn biến

Cuộc khủng hoảng 1929 -1933 diễn ra đầu tiên ở Mỹ Ngày 29 10 1929 thị trường chứng khoán của Mỹ rơi vào tình trạng khủng hoảng, cũng từ đó trở đi thị trường chứng khoán của Mỹ liên tục bị dời ra, các cổ phiếu của các cổ đông trở thành đống giấy lộn Cuộc khủng hoảng bắt đầu từ nước Mĩ, là nước tư bản giàu nhất Sản lượng công nghiệp

ở Mĩ giảm 50%, trong đó gang, thép sụt xuống 75%, ô tô giảm 90%, 11500 xí nghiệp nhỏ

và cả những xí nghiệp lớn bị phá sản Nông thôn cũng bị tác động mạnh mẽ

Để nâng cao giá hàng hoá và thu nhiều lời, các nhà tư bản kếch sù đã tiêu huỷ hàng hoá :

cà phê, sữa, lúa mì, thịt, v.v bị đốt hay đổ xuống biển chứ không được bán hạ giá Cuộc khủng hoảng lan rộng đến các nươc` tư bản chủ nghĩa khác Ở Anh, sản lượng gang năm 1931 sụt mất 50% , thép cũng sụt gần 50% , thương nghiệp sụt 60% Ở Pháp, cuộc khủng hoảng bắt đầu từ cuối năm 1930và kéo dài đến năm 1936, sản lượng công nghiệp giảm 30%, nông nghiệp 40%, ngoại thương 60%, thu nhập quốc dân 30% Ở Đức, đến năm 193, sản lượng công nghiệp giảm 77% Ở các nước Ba Lan, Ý, Ru-ma-ni, Nhật, đều có khủng hoảng kinh tế

1.3 Kết quả

Cuộc khủng hoảng này đã gây hậu quả nghiêm trọng và sâu sắc, với khoảng 13 triệu người thất nghiệp Sản lượng công nghiệp giảm 45% Số nhà máy xây mới giảm 80% 5.000 ngân hàng phá sản Trong 15 nước tư bản đã có tới 18.000 cuộc bãi công của công

Trang 5

nhân với sự tham gia của 8,5 triệu người Hàng triệu héc ta cây trồng bị phá Cuộc khủng hoảng kinh tế đã đẩy nền kinh tế tư bản bước vào tình trạng tiêu điều

1.4 Các hành động của các tổ chức kinh tế thế giới nhằm giúp đỡ các nước

Để cứu vãn tình hình, chính phủ các nước tư bản thi hành một số chính sách như đánh thuế nhập cảng nặng để hạn chế hàng hoá nước ngoài vào, lấy tiền trong ngân quỹ nhà nước trợ cấp cho các nhà tư bản Chính phủ Mĩ đã bỏ ra hàng chục triệu đô la trong việc trợ cấp này

1.5 Việt Nam và các ảnh hưởng

Pháp là nước tư bản nên chịu chung tác động của cuộc khủng hoảng này Khủng hoảng diễn ra ở Pháp rồi lan nhanh ra các thuộc địa và phụ thuộc của Pháp, trong đó có Việt Nam

- Dưới tác động của cuộc khủng hoảng, nền kinh tế, xã hội Việt Nam bị khủng hoảng nặng nề :

+ Nông nghiệp, công nghiệp bị suy sụp, xuất nhập khẩu bị đình đốn, hàng hóa khan hiếm (do nền kinh tế Việt Nam phụ thuộc hoàn toàn vào Pháp)

+ Khủng hoảng kinh tế đã tác động tới tất cả các tầng lớp, giai cấp trong xã hội Việt Nam, làm cho đời sống của các tầng lớp nhân dân vô cùng cực khổ (nhà máy bị đóng cửa, công nhân không có việc làm hoặc có việc làm thì lương rất thấp ; sản xuất nông nghiệp sa sút

do xuất khẩu lúa gạo bị đình trệ, nông dân bị bần cùng hoá ; đời sống của tư sản, tiểu tư sản bấp bênh )

+ Thực dân Pháp còn tăng cường chính sách thuế khóa, làm cho đời sống của nhân dân càng thêm cùng cực

Trang 6

CHƯƠNG 2 MEXICAN PESO CRISIS 1994

2.1 Nguyên nhân

Khủng hoảng tiền tệ ở Mexico bắt nguồn từ sự tác động lẫn nhau của các yếu tố kinh tế

và chính trị Trong suốt thời gian nắm quyền, chính phủ Salinas đã thực hiện việc cải tổ

mở cửa nền kinh tế Cùng với việc neo tỷ giá với đồng đôla Mỹ, Mexico đã thu hút lượng vốn đầu tư nước ngoài khổng lồ, và chính nguồn vốn này đã tài trợ cho việc nhập khẩu, làm cho tình hình thâm hụt cán cân vãng lai của Mexico càng trở nên tồi tệ hơn Đến đầu năm 1994, khi một loạt các vụ scandal chính trị diễn ra (cuộc nổi loạn Chiapas, vụ ám sát ứng cử viên tổng thống của đảng cầm quyền Colosio…) đã làm cho các nhà đầu tư mất niềm tin vào sự ổn định của nền kinh tế nước này Thời điểm đó, chính phủ Mexico đã nỗ lực hết sức để ngăn chặn sự suy giảm nghiêm trọng của dự trữ ngoại hối Tuy nhiên, những chính sách kinh tế vĩ mô được áp dụng trong thời gian trước thềm cuộc bầu cử tổng thống lại không tương thích với chính sách tỷ giá và hơn thế nữa làm cho tình hình thâm hụt cán cân thương mại ngày càng xấu đi Sau khi cuộc bầu cử diễn ra, một loạt các

cú sốc về chính trị đã khiến cho các nhà đầu tư nước ngoài ồ ạt rút vốn, dự trữ ngoại hối rơi xuống mức mà NHNN Mexico không đủ để can thiệp nhằm bình ổn tỷ giá Việc Mỹ nâng lãi suất đã khiến đồng Peso của Mexico mất giá nhanh chóng và châm ngòi cho dòng thoái vốn tại khắp khu vực Mỹ Latinh Việc quốc hữu hóa cũng khiến cho hệ thống ngân hàng của Mexico trở nên mong manh, tạo sự hạn chế cho quá trình sử dụng chính sách tiền tệ để hỗ trợ đồng Peso

2.2 Diễn biến

Ngày 1/1/1994, sự nổi dậy của lực lượng vũ trang Zapatistas

Đến cuối tháng 2/1994, tỷ giá hối đoái giữa peso và USD tăng đến trần biên độ dao động Tuy vậy, dòng vốn nước ngoài vẫn tiếp tục đổ vào vì các nhà đầu tư vẫn lạc quan về tình hình kinh tế ở Mexico

Tháng 3/1994, sự kiện Luis Donaldo Colosio - ứng cử viên tổng thống bị ám sát đã làm dâng lên những căng thẳng chính trị ở Mexico Các nhà đầu tư nước ngoài không còn cảm thấy an toàn và bắt đầu lo lắng cho tài sản của mình ở Mexico

Trang 7

Trước những lo ngại về tình hình chính trị và kinh tế ở Mexico, các nhà đầu tư trong và ngoài nước đã giảm nhu cầu về chứng khoán của Mexico Đồng peso chịu sức ép mất giá

và chính phủ quyết định tung ra thị trường khoảng 10 tỷ đô la từ dự trữ ngoại hối nhà nước để bảo vệ tỷ giá danh nghĩa

Tháng 4/1994, lãi suất trái phiếu chính phủ định danh bằng peso có xu hướng tăng Lo ngại điều này sẽ gây tổn thương cho khu vực ngân hàng còn non trẻ của đất nước cũng như lãi suất cao có thể gây ra suy thoái kinh tế vào một năm diễn ra cuộc bầu cử tổng thống, chính phủ Mexico một mặt dùng dự trữ ngoại hối để chống lại xu hướng tăng lãi suất, một mặt tiến hành chuyển đổi các trái phiếu chính phủ sang định danh bằng USD thay cho định danh bằng peso để phần nào bình ổn thị trường

Việc đồng peso được định giá quá cao so với đồng đô la đã sớm được cảnh báo bởi một

số học giả kinh tế Bên cạnh đó, cũng có không ít ý kiến trái chiều phản đối việc điều chỉnh tỷ giá vì lý do niềm tin của các nhà đầu tư vẫn chưa đủ chắc chắn để có thể không

bị hoảng loạn khi tỷ giá thay đổi mạnh một cách đột ngột Do vậy, chính phủ Mexico chọn biện pháp vừa dùng dữ trữ ngoại hối để giữ ổn định tỷ giá, vừa từng bước nhỏ điều chỉnh tỷ giá cho phù hợp với thực tế

Tháng 8/1994, tổng thống Ernesto Zedillo vừa nhậm chức đã phải đối mặt với nhiều khó khăn trong lĩnh vực kinh tế Tuy nhiên, ông vẫn cố gắng duy trì các chính sách tài chính, tiền tệ như trước

Cuối tháng 9/1994, Tổng thư ký của đảng Institutional Revolution, José Francisco Ruiz Massieu cũng bị ám sát Cộng đồng thế giới cho rằng sự việc này càng chứng tỏ tình hình chính trị tại Mexico đang rất bất ổn Các nhà đầu tư lại càng thêm bất an Một số nhà đầu

tư nước ngoài cùng các quỹ đã bắt đầu rút vốn khỏi Mexico

Tháng 10/1994, Cục dữ trữ Liên bang Mỹ (FED) tuyên bố mặc dù lo ngại về mức dự trữ ngoại hối còn khá ít ỏi của Mexico, song Mexico không nên hy vọng nhiều vào viện trợ

từ phía nước ngoài Điều này khiến cho tâm lý các nhà đầu tư càng trở nên rối loạn và bất

ổn

Trang 8

Cũng trong thời gian đó, sau khi một số công ty lớn ở Mexico công khai lợi nhuận của mình đã giảm sút, thị trường chứng khoán Mexico chao đảo Áp lực mất giá đồng peso càng tăng lên

Tổng thống mới nhậm chức không muốn phá giá đồng peso trong suốt nhiệm kỳ của mình trừ khi việc phá giá này là không thể tránh khỏi Sự cố gắng duy trì đồng peso được định giá cao đã gây ra nhiều vấn đề cho nền kinh tế Mexico Nó đã không khuyến khích người nước ngoài tiêu dùng hàng hóa của Mexico, trong khi người Mexico lại thích tiêu dùng các sản phẩm của nước ngoài Điều này dẫn đến thâm hụt cán cân thương mại ngày càng trầm trọng

Mặt khác, các nhà đầu tư và các quỹ đầu tư ở Mexico cũng dần nhận ra sự mất giá của đồng peso nên đã bắt đầu chuyển sang nắm giữ các tài sản bằng đồng đô la thay vì nắm giữ các tài sản bằng đồng peso như trước

Một trong những cách để giữ tỷ giá của đồng nội tệ đó là dùng tiền nước ngoài để mua lại đồng nội tệ Và hàng tỷ đô la trong quỹ dự trữ ngoại hối của Mexico đã được tung ra nhằm giữ giá cho đồng peso nhưng đã không thành công

Cuối tháng 10/1994, thống đốc ngân hàng trung ương Mexico công khai rằng dự trữ ngoại hối của Mexico chỉ còn 17,12 tỷ đô la

Ngày 20/12/1994, , tổng thống Mexicon Ernesto Zedillo đã phải phá giá đồng peso thêm 15% trước áp lực phá giá đồng peso lúc bấy giờ Chính phủ Mexico cũng đã nhanh tay can thiệp nhằm giảm tốc độ mất giá, song không có hiệu quả mà trái lại làm cho quỹ dự trữ ngoại hối của Mexico ngày càng cạn kiệt

Đến ngày 22/12/1994, chính phủ Mexico quyết định tuyên bố thả nổi đồng peso Quyết định này đã làm các nhà đầu tư mất hết lòng tin vào khả năng trả các khoản nợ ngắn hạn của Mexico (các khoản nợ nước ngoài nếu tính theo peso sẽ lớn hơn gấp nhiều lần khi tỷ giá giữa peso và đô la tăng lên) Vì thế, các nhà đầu tư đành bán tháo các tài sản bằng đồng peso Điều này làm cho đồng peso càng mất giá hơn nữa

Bên cạnh đó, việc các khoản nợ nước ngoài đột nhiên tăng lên đã khiến cho bảng cân đối tài sản của các xí nghiệp và ngân hàng ở Mexico trở nên xấu đi Hậu quả là nền kinh tế

Trang 9

Mexico rơi vào khủng hoảng thực sự, kéo theo đó là cuộc suy thoái kinh tế được đánh giá

là cuộc khủng hoảng tồi tệ nhất thế giới kể từ những năm 1930

2.3 Kết quả

Thế giới đã chứng kiến cuộc khủng hoảng tài chính ở Mexico bắt đầu vào ngày 20/12/1994 khi nước này tuyên bố phá giá đồng Peso 40% so với USD Chỉ trong vòng 3 tháng, đồng nội tệ Mexico giảm 53% so với USD Nếu trước ngày phá giá 1 USD bằng 3,46 Peso thì sau ngày phá giá 1 USD bằng 6 Peso, thậm chí có lúc 1 USD bằng 8 Peso

Nợ nước ngoài của Mexico vượt quá 200 tỷ USD, lạm phát ít nhất lên tới 60%, thất nghiệp từ 3,6% tăng lên xấp xỉ 10% Tốc độ tăng trưởng của Mexico năm 1995 là âm 6,2% Khi đó, chính quyền Mexico phải kêu gọi cộng đồng quốc tế giúp đỡ Mexico thoát khỏi cuộc khủng hoảng

2.4 Hành động từ các tổ chức kinh tế quốc tế

Chính phủ Mỹ, Chính phủ Canada, Quỹ Tiền tệ Quốc tế và Ngân hàng Thanh toán Quốc

tế đã phối hợp cấp cho Mexico các khoản tín dụng lên tới 50 tỷ Dollar Mỹ để ngăn chặn

sự phát triển và khắc phục hậu quả của khủng hoảng

Nguồn lực của gói tài chính cứu trợ khẩn cấp này gồm 20 tỷ USD của chính phủ Mỹ thông qua các hình thức trao đổi hoặc tín dụng trung và dài hạn được đảm bảo bởi quỹ

Ổn định ngoại hối, 17,8 tỷ USD của IMF Phần còn lại được cung cấp bởi chính phủ Canada, Ngân hàng thế giới

Cùng với việc chấp nhận gói tài chính cứu trợ khẩn cấp có điều kiện của IMF - Quỹ tiền

tệ quốc tế và áp dụng các biện pháp giảm chi tiêu ngân sách, thắt chặt chính sách tiền tệ

và đẩy nhanh cải cách cơ cấu kinh tế, từ giữa năm 1996 nền kinh tế Mêxicô đã thoát ra khỏi cuộc khủng hoảng và bắt đầu phục hồi

2.5 Liên hệ tới Việt Nam

Thực trạng nền kinh tế Việt Nam hiện nay cũng có nhiều nét tương đồng với Mexico vào những năm xảy ra khủng hoảng Kể từ 2002, ở Việt Nam đã xuất hiện thâm hụt thương mại gia tăng mang tính chất hệ thống Thâm hụt thương mại mang tính cơ cấu là gánh nặng lớn đối với cán cân thanh toán (BOP) của quốc gia, và kết quả là cán cân vãng lai đã rơi vào tình trạng thâm hụt trong những năm gần đây Bên cạnh thâm hụt thương mại,

Trang 10

thâm hụt ngân sách Nhà nước kéo dài trong nhiều năm cũng làm tăng thêm những rủi ro cho nền kinh tế, cả rủi ro tăng trưởng và mất ổn định kinh tế vĩ mô

Bên cạnh đó, hệ thống giám sát tài chính ở Việt Nam còn yếu kém Đó là sự thiếu phối hợp điều tiết giữa các cơ quan chức năng trong việc xử lý các vấn đề tài chính Sự yếu kém trong việc quản lý các công ty tài chính có vốn nước ngoài và giám sát dòng vốn đầu

tư trực tiếp Ngoài ra đó còn là sự yếu kém trong quá trình theo dõi và giám sát, bao gồm tính thiếu minh bạch và chất lượng các báo cáo Sự phát triển, đổi mới của hệ thống tài chính tạo ra những sản phẩm lai ghép, làm cho công tác giám sát cũng gặp khó khăn hơn

Sự không tương thích giữa các tiêu chuẩn Việt Nam và tiêu chuẩn thế giới trong việc giám sát dựa trên rủi ro đã góp phần làm bộc lộ tính yếu kém của công tác điều tiết và giám sát Điều này khiến cho các nhà đầu tư gặp khó khăn khi tìm kiếm cơ hội đầu tư, và gây tâm lý hoang mang, không tin tưởng, dễ dẫn đến tình trạng rút vốn ào ạt ra khỏi thị trường như trường hợp của Mexico

Tại Mexico, việc đánh giá tỷ giá thực, tốc độ phát triển của nợ ngắn hạn bên ngoài và việc thâm hụt tài khoản vãng lai cùng với sự yếu kém của hệ thống tài chính đã tạo áp lực mạnh mẽ lên thị trường ngoại hối Áp lực này đã khiến cho Mexico phải bỏ tỷ giá cố định

và chấp nhận tỷ giá thả nổi Tương tự như vậy, khi thị trường bắt đầu đặt câu hỏi về tính bền vững của tỷ giá hối đoái ở Việt Nam, áp lực đầu cơ tăng lên khi nhận thấy nợ nước ngoài tăng, thâm hụt cán cân vãng lai lớn

Trang 11

CHƯƠNG 3 ASIAN CURRENCY CRISIS 1997

Khủng hoảng tài chính châu Á là cuộc khủng hoảng tài chính bắt đầu từ tháng 7 năm

1997 ở Thái Lan rồi ảnh hưởng đến các thị trường chứng khoán, trung tâm tiền tệ lớn, và giá cả của những tài sản khác ở vài nước châu Á, nhiều quốc gia trong đó được coi như là

"những con Hổ Đông Á" Cuộc khủng hoảng này còn thường được gọi là Khủng hoảng tiền tệ châu Á

Indonesia, Hàn Quốc và Thái Lan là những nước bị ảnh hưởng mạnh nhất bởi cuộc khủng hoảng này Hồng Kông, Malaysia, Lào, Philippines cũng bị ảnh hưởng bởi sự sụt giá bất thình lình Còn Đại lục Trung Hoa, Đài Loan, Singapore và Việt Nam không bị ảnh hưởng Nhật Bản cũng không bị ảnh hưởng nhiều bởi sự khủng hoảng, song nền kinh

tế Nhật phải kinh qua những khó khăn kinh tế dài hạn của chính bản thân mình

Mặc dù được gọi là cơn khủng hoảng "Đông Á" bởi vì nó bắt nguồn từ Đông Á, nhưng ảnh hưởng của nó lại lan truyền toàn cầu và gây nên sự khủng hoảng tài chính trên toàn cầu, với những tác động lớn lan rộng đến cả các nước như Nga, Brasil và Hoa Kỳ

3.1 Nguyên nhân

3.1.1 Nền tảng kinh tế vĩ mô yếu kém

Thái Lan và một số nước Đông Nam Á đã cố gắng thực hiện cái mà các nhà kinh tế gọi là

Bộ ba chính sách không thể đồng thời Họ vừa cố định giá trị đồng tiền của mình vào Dollar Mỹ, vừa cho phép tự do lưu chuyển vốn (tự do hóa tài khoản vốn) Kinh tế Đông Nam Á tăng trưởng nhanh trong thập niên 1980 và nửa đầu thập niên 1990 đã tạo ra sức

ép tăng giá nội tệ Để bảo vệ tỷ giá cố định, các ngân hàng trung ương Đông Nam Á đã thực hiện chính sách tiền tệ nới lỏng Kết quả là cung tiền tăng gây ra sức ép lạm phát Chính sách vô hiệu hóa (sterilization policy) đã được áp dụng để chống lạm phát vô hình chung đẩy mạnh các dòng vốn chảy vào nền kinh tế

Vào giữa thập niên 1990, Hàn Quốc có nền tảng kinh tế vĩ mô tương đối tốt ngoại trừ việc đồng Won Hàn Quốc không ngừng lên giá với Dollar Mỹ trong thời kỳ từ sau năm

1987 Điều này làm cho tài khoản vãng lai của Hàn Quốc suy yếu vì giá hàng xuất khẩu của Hàn Quốc trên thị trường hàng hóa quốc tế tăng Trong hoàn cảnh đó, Hàn Quốc lại theo đuổi một chế độ tỷ giá hối đoái neo lỏng lẻo và chính sách tự do hóa tài khoản vốn

Ngày đăng: 26/01/2018, 22:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w