Com Nhung diem moi cua cac TCTD nam 2010 tài liệu, giáo án, bài giảng , luận văn, luận án, đồ án, bài tập lớn về tất cả...
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Năm 2007, bong bóng nhà ở cùng với giám sát tài chính thiếu hoàn thiện tại Hoa
Kì đã đưa cường quốc về kinh tế này đối mặt với một cuộc khủng hoảng tài chính B ùngphát mạnh từ cuối năm 2008, thông qua quan hệ tài chính nói riêng và kinh tế nói chungmật thiết của Hoa Kỳ với nhiều nước Cuộc khủng hoảng từ Hoa Kỳ đã lan rộng ra nhiềunước trên thế giới, dẫn tới những đổ vỡ tài chính, suy thoái kinh tế , suy giảm tốc độ tăngtrưởng kinh tế ở nhiều nước trên thế giới
Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới lan rộng, đã ảnh hưởng trực tiếp tới nhiều quốcgia khác nhau , trong đó có Việt Nam Cuối năm 2008 Việt Nam phải đối mặt với mứclạm phát tăng cao chưa từng có tính từ thời điểm năm 1990, cùng với sự tuột dốc thêthảm của thị trường chứng khoán
Trước sức ép lạm phát, chính phủ đã đưa ra những chính sách thắt chặt tiền tệ mộtcách mạnh mẽ và đôt ngột, chính điều này đã làm lộ ra những vấn đề về quản lý cũng nhưrủi ro trong thanh khoản của các tổ chức tín dụng tại Việt Nam dứơi sự điều chỉnh các tổchức tín dụng 1997 Thêm vào đó, việc thị trường chứng khoán tuột dốc thê thảm, thịtrường bất động sản lại gần như bị đóng băng khiến cho những khoản đầu tư chính củacác tổ chức tín dụng đúng trên bờ vực thẳm
Ngay lập tức chính phủ đã đưa ra một số chính sách có tính chữa cháy như Chỉ thị
03 vào tháng 5/2007 khống chế dư nợ cho vay kinh doanh chứng khoán không vượt quá3%, tuy nhiên tổng dư nợ cho vay đã không những không có tác dụng, mà còn gây ranhững tác động tiêu cực khác
Trong bối cảnh như trên, việc ban hành một quy định mới về đảm bảo an toàntrong hoạt động của các tổ chức tín dụng với các yêu cầu cao hơn là điều tất yếu Năm
2010, quốc hội khoá XII đã thông qua luật các tổ chức tín dụng 2010, có hiệu lực thì hành
từ ngày 1/1/2011
Trang 2I SỰ CẦN THIẾT VÀ VAI TRÒ CỦA LUẬT TỔ CHỨC TÍN DỤNG NGÂN HÀNG NĂM 2010
1 Sự cần thiết ban hành luật các Tổ chức Tín dụng mới
Luật Các TCTD (Luật Các TCTD) được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủnghĩa Việt Nam thông qua ngày 12/12/1997, có hiệu lực thi hành từ 01/7/1998 và đượcsửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 20/2004/QH11 ngày 15/6/2004 quy định tổchức, hoạt động của các TCTD và hoạt động ngân hàng của các tổ chức khác ở nướcCộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Tổng kết, đánh giá qua hơn 10 năm thực hiện cácquy định của Luật các TCTD cho thấy Luật Các TCTD hiện hành đã có những đóng gópquan trọng trong việc tạo môi trường pháp lý lành mạnh cho tổ chức và hoạt động của hệthống các TCTD Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của nền kinh tế và yêu cầu của quátrình hội nhập kinh tế quốc tế, Luật Các TCTD và Luật sửa đổi một số điều của Luật CácTCTD cũng bộc lộ một số hạn chế, bất cập cản trở sự phát triển của hệ thống tổ chức tíndụng (TCTD) cần được sửa đổi, hoàn thiện Việc ban hành Luật Các TCTD mới là cầnthiết vì các lý do sau đây:
Thứ nhất, Luật được xây dựng trên quan điểm chỉ quy định những nội dung chủ
yếu, bao quát, những nội dung cụ thể do Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước hướng dẫnnên phát sinh nhiều văn bản hướng dẫn dưới Luật Việc ban hành văn bản hướng dẫndưới Luật lại gặp nhiều khó khăn do bị chi phối bởi một số Luật liên quan khác như Luậtdoanh nghiệp, Luật chứng khoán, Luật đầu tư, Luật phá sản… Các luật này được quyđịnh khá chi tiết, cụ thể, trong khi Luật Các tổ chức tín dụng là Luật chuyên ngành lạiquy định thiếu cụ thể, chi tiết Cho đến nay, việc ban hành các văn bản hướng dẫn Luậtcác tổ chức tín dụng vẫn chưa đầy đủ dẫn đến tình trạng có nhiều quy định trong Luậtchưa thực hiện được
Thứ hai, Luật các tổ chức tín dụng còn có sự phân biệt đối xử giữa các loại hình
tổ chức tín dụng, tạo ra sự cạnh tranh thiếu lành mạnh Quỹ tín dụng nhân dân là loại hình
Trang 3kinh tế hợp tác xã nên có quy mô, năng lực tài chính nhỏ, hoạt động ở cấp thấp nhưngvẫn bị điều chỉnh bởi hành lang pháp lý chung của các loại hình tổ chức tín dụng là chưaphù hợp.
Thứ ba, một số quy định của Luật các tổ chức tín dụng chưa rõ ràng, minh bạch,
gây nhiều khó khăn, vướng mắc trong triển khai thực hiện Ví dụ, Luật không quy định rõnhững nghiệp vụ nào tổ chức tín dụng đương nhiên được làm, những nghiệp vụ nào phảixin phép, nghiệp vụ nào phải thành lập công ty; việc góp vốn đầu tư thành lập công tycon và các loại hình công ty khác để thực hiện hoạt động trong lĩnh vực tài chính, ngânhàng, bảo hiểm, chứng khoán và các lĩnh vực khác chưa được quy định rõ ràng, nhất làquan hệ tín dụng giữa ngân hàng mẹ và công ty con; nhiều thuật ngữ chưa thật chính xácdẫn đến hiểu không đồng nhất và vận dụng theo nhiều cách khác nhau; thiếu định nghĩamột số thuật ngữ cần thiết như dịch vụ ngân hàng, ngân hàng liên doanh, chi nhánh ngânhàng nước ngoài, ngân hàng con của ngân hàng nước ngoài, luật chống rửa tiền, mua bán
nợ, thư tín dụng, vốn đầu tư, các hoạt động đầu tư tài chính, hoạt động đầu tư tài chínhhải ngoại; một số vấn đề như cạnh tranh giữa các tổ chức tín dụng, độc quyền, điều chỉnhhoạt động của các ngân hàng thương mại trên thị trường chứng khoán…chưa được quyđịnh cụ thể
Thứ tư, Luật các tổ chức tín dụng hiện hành chưa cập nhật được những chuẩn
mực và thông lệ quốc tế tốt nhất nên hoạt động của các tổ chức tín dụng bị bó hẹp, khótiếp cận và hội nhập quốc tế Luật quy định về áp dụng các điều ước quốc tế nhưng chưatham khảo các cam kết tại Hiệp định thương mại Việt - Mỹ, những nguyên tắc cơ bản của
uỷ ban Basel… Một số nghiệp vụ mới chưa có quy định cụ thể
Thứ năm, một số điều khoản quy định trong Luật không phù hợp với hoạt động
của các tổ chức tín dụng hoặc chưa thống nhất với các Luật khác làm cản trở sự phát triểncủa các tổ chức tín dụng Hiệu lực thực thi pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng chưa caodẫn đến quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức tín dụng chưa được bảo vệ
* Một số v ướng mắc cụ thể như sau:
Trang 4(1)- Về cấp giấy phép thành lập và hoạt động (Điều 23,24): Việc yêu cầu tổ chứckhông phải là tổ chức tín dụng xin cấp phép hoạt động ngân hàng phải có tình hình tàichính 3 năm gần nhất là không thực tế Quy định thời hạn cấp phép 90 ngày kể từ ngàynhận đủ hồ sơ là quá dài so với Luật doanh nghiệp (30 ngày) Một số quy định không phùhợp với loại hình quỹ tín dụng nhân dân như phải được Ngân hàng Nhà nước chấp thuậnbằng văn bản khi thay đổi mức vốn điều lệ, phải đăng ký với cơ quan Nhà nước có thẩmquyền và đăng báo Trung ương, địa phương về những thay đổi phải được Ngân hàng Nhànước chấp thuận…
(2)- Điều kiện, thủ tục, hồ sơ mở Sở giao dịch, chi nhánh, Văn phòng đại diện, thànhlập công ty con (Điều 33) chưa rõ ràng, cụ thể, chưa có sự phân biệt biệt giữa Sở giaodịch và chi nhánh của tổ chức tín dụng, chưa nêu rõ từng điều kiện để mở Sở giao dịch,chi nhánh và thành lập công ty…
(3)- Các quy định về hành vi cạnh tranh (Khoản 3, Điều 16) và khoản tiền bất hợppháp (Điều 19) chưa thật phù hợp với Luật cạnh tranh năm 2004 và Nghị định về phòngchống rửa tiền năm 2005
(4)- Quy định về cổ đông, cổ phần, cổ phiếu chưa đề cập đến một số nội dung như sốlượng cổ đông tối thiểu khi thành lập tổ chức tín dụng, tỷ lệ sở hữu cổ phần tối đa đối với
1 cổ đông là pháp nhân hoặc thể nhân, giới hạn sở hữu cổ phần tối đa của một nhómngười có liên quan tại một tổ chức tín dụng cổ phần, tỷ lệ sở hữu cổ phần để được xácđịnh là cổ đông lớn
(5)- Quy định về quản trị, kiểm soát, điều hành có một số vấn đề, cần nghiên cứu,xem xét, như: vừa có quy định việc thay đổi các chức danh Chủ tịch và các thành viênHội đồng quản trị, Trưởng ban và các thành viên Ban kiểm soát, Tổng giám đốc phảiđược Ngân hàng Nhà nước chấp thuận, vừa có quy định những chức danh này phải đượcThống đốc Ngân hàng Nhà nước chuẩn y; quy định Tổng giám đốc phải cư trú tại ViệtNam chưa thật phù hợp trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu và công nghệ thông tinhiện đại; quyền hạn, nhiệm vụ của Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị; tiêu chuẩn,
Trang 5điều kiện đối với Chủ tịch và các thành viên Hội đồng quản trị, Trưởng ban và các thànhviên Ban kiểm soát, Tổng giám đốc và Phó Tổng giám đốc… chưa được quy định rõ.(6)- Thời hiệu khởi kiện đối với các hợp đồng tín dụng áp dụng như thời hiệu khởikiện đối với hợp đồng nói chung là không phù hợp (Điều 54), cần phải có quy định riêngphù hợp với đặc thù của loại hợp đồng tín dụng Quy định quyền khởi kiện việc tổ chứctín dụng từ chối cho vay không có căn cứ (Điều 56) là không phù hợp vì hợp đồng tíndụng là sự thảo thuận tự nguyện, quy định này chỉ phù hợp với loại hình ngân hàng chínhsách.
(7)- Khái niệm về tài sản thuê (Điều 20, 61) chưa rõ, các quy định về hoạt động củacông ty tài chính, công ty cho thuê tài chính còn chặt chẽ, bó hẹp không tạo điều kiện choloại hình tổ chức tín dụng này phát triển Quy định về hoạt động ngân hàng của các tổchức khác không rõ ràng nên khó hướng dẫn thực hiện
(8)- Một số nội dung quy định về quyền góp vốn, mua cổ phần (Điều 69), Quy định
về đối tượng không được cho vay, chấp nhận bảo lãnh (Điều 77), hạn chế cho vay (Điều78) và các quy định về kiểm soát đặc biệt, giải thể, phá sản, thanh lý tổ chức tín dụng(Điều 92) chưa rõ ràng hoặc không còn phù hợp trong điều kiện phát triển mới
(9)- Luật quy định tổ chức tín dụng không được trực tiếp kinh doanh bất động sản(Điều 73) nhưng không quy định thế nào là trực tiếp kinh doanh bất động sản, mức độ tổchức tín dụng được kinh doanh gián tiếp bất động sản và quy định này có chi phối việcmua bán tài sản bảo đảm là bất động sản hay không
(10)- Điều 476 Bộ Luật dân sự năm 2005 quy định lãi suất cho vay do các bên thoảthuận nhưng không vượt quá 150% lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đốivới loại cho vay tương đương, trong khi, theo hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước, lãisuất cho vay của các tổ chức tín dụng đối với khách hàng là lãi suất thoả thuận, lãi suất
cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố chỉ là cơ sở để tổ chức tín dụng tham chiếu.(11)- Luật quy định về chế tài xử phạt đối với các sai phạm trong hoạt động tiền tệ,ngân hàng chưa đủ mạnh
Trang 62 Quan điểm chỉ đạo và yêu cầu đối với việc xây dựng Luật các TCTD mới
2.1 Về định hướng của Đảng và Nhà nước về hoàn thiện pháp luật ngân hàng
a) Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX về phương hướng,nhiệm vụ kinh tế xã hội 5 năm (2006-2010) xác định định hướng chính sách tiền tệ và tíndụng là:
" phát triển hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam đa dạng về sở hữu và loại hình tổ chức, áp dụng đầy đủ các thiết chế và chuẩn mực quốc tế về quản trị ngân hàng Đẩy nhanh tiến độ cổ phần hoá các ngân hàng thương mại nhà nước Nâng cao chất lượng tín dụng, khả năng sinh lời, xử lý nhanh nợ đọng, giảm tỷ lệ nợ xấu xuống mức an toàn; tăng vốn tự có của các ngân hàng thương mại đạt chuẩn mực quốc tế Tạo điều kiện thuận lợi cho dân cư và doanh nghiệp tiếp cận với các sản phẩm và tiện ích ngân hàng." và "Thực hiện chính sách lãi suất thoả thuận theo nguyên tắc thị trường và đi tới loại bỏ hoàn toàn quy định hành chính đối với lãi suất ngoại tệ." và " Thực hiện mở cửa thị trường dịch vụ ngân hàng theo lộ trình hội nhập quốc tế, bảo đảm quyền kinh doanh của các ngân hàng và tổ chức tài chính nước ngoài trong lĩnh vực ngân hàng phù hợp với các cam kết quốc tế của nước ta.
Hình thành môi trường pháp luật về tiền tệ, tín dụng minh bạch và công khai Loại
bỏ các hình thức bảo hộ, bao cấp, ưu đãi và phân biệt đối xử giữa các TCTD Nâng cao hiệu lực thi hành pháp luật và ngăn chặn việc hình sự hoá các quan hệ dân sự, kinh tế trong lĩnh vực ngân hàng."
b) Đề án phát triển ngành Ngân hàng Việt Nam đến năm 2010 và định hướng đếnnăm 2020 kèm theo Quyết định số 112/2006/QĐ-TTg ngày 24/05/2006 đã xác định địnhhướng hoàn thiện hệ thống pháp luật về tiền tệ và hoạt động ngân hàng đến năm 2010
như sau: "Hình thành đồng bộ khuôn khổ pháp lý, áp dụng đầy đủ hơn các thiết chế và chuẩn mực quốc tế về an toàn kinh doanh tiền tệ - ngân hàng Xây dựng môi trường pháp luật trong lĩnh vực tiền tệ, hoạt động ngân hàng minh bạch và công bằng nhằm thúc đẩy cạnh tranh và bảo đảm an toàn hệ thống tiền tệ, ngân hàng Các chính sách và quy định
Trang 7pháp luật về tiền tệ, hoạt động ngân hàng góp phần tạo môi trường lành mạnh và động lực cho các TCTD, doanh nghiệp và người dân phát triển sản xuất kinh doanh Loại bỏ các hình thức bảo hộ, bao cấp, ưu đãi trong lĩnh vực ngân hàng và phân biệt đối xử giữa các TCTD Ban hành Luật NHNN mới thay thế Luật NHNN (năm 1997), Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật NHNN (năm 2003); Luật các TCTD mới thay thế Luật các TCTD (năm 1997), Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật các TCTD (năm 2004) để tạo cơ sở thúc đẩy quá trình cải cách, phát triển hệ thống tiền tệ, ngân hàng an toàn, hiện đại và hội nhập quốc tế có hiệu quả Luật NHNN và Luật các TCTD hướng tới điều chỉnh mọi hoạt động tiền tệ, ngân hàng, không phân biệt đối tượng tiến hành hoạt động ngân hàng Nâng cao hiệu lực thi hành pháp luật trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng Tăng cường hiệu lực những chế tài pháp lý, kinh tế và hành chính bảo đảm thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ của người đi vay và bảo vệ quyền lợi chính đáng của các TCTD Hạn chế và tiến tới xoá bỏ việc hình sự hóa các quan hệ kinh tế trong lĩnh vực ngân hàng."
Như vậy, việc xây dựng và ban hành Luật Các TCTD mới là phù hợp với định hướng
và cũng nhằm thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về hoàn thiện phápluật ngân hàng đáp ứng yêu cầu thực tiễn của cuộc sống
2.2 Các yêu cầu đối với Luật các TCTD mới: Việc ban hành Luật Các TCTD mới
phải đảm bảo được các yêu cầu sau đây:
Một là, việc ban hành Luật Các TCTD mới phải góp phần lành mạnh hoá tổ chức
và hoạt động của các TCTD, góp phần thúc đẩy hoạt động cung ứng các dịch vụ ngânhàng đáp ứng được yêu cầu của nền kinh tế;
Hai là, kế thừa được những nội dung tốt, đã được trải nghiệm qua thực tiễn 10 năm
thi hành Luật Các TCTD hiện hành, bảo đảm tính liên tục trong quản lý;
Ba là, đưa ra được những quy định phù hợp hơn với thông lệ quốc tế trong hoạt
động ngân hàng, đặc biệt lưu ý đến những cam kết hội nhập quốc tế của Việt nam trongnhững năm vừa qua;
Trang 8Bốn là, tạo ra được một cơ sở pháp lý bảo đảm sự tự chủ trong kinh doanh của các
TCTD, đồng thời bảo đảm sự chặt chẽ, thận trọng trong hoạt động ngân hàng, đặc biệt lànâng cao được khả năng kiểm soát, giám sát của NHNN đối với hoạt động của từngTCTD và sự ổn định, an toàn của hệ thống ngân hàng
Năm là, khắc phục bất cập đã nảy sinh trong quá trình thực hiện Luật các TCTD
hiện hành như quy định về phạm vi điều chỉnh, tổ chức, quản trị, điều hành, hình thức sởhữu, tỷ lệ an toàn…; đồng thời, khắc phục bất cập do xung đột với Luật Doanh nghiệp,
Bộ luật Dân sự, Luật Chứng khoán…
Sáu là, Luật các TCTD mới cần quy định chi tiết, cụ thể, rõ ràng về tổ chức, hoạt
động và công tác quản trị, điều hành của từng loại hình TCTD; những nghiệp vụ TCTDđương nhiên được kinh doanh; những nghiệp vụ phải được phép của NHNN, nhữngnghiệp vụ phải thành lập công ty trực thuộc, những nghiệp vụ không được thực hiện
Bảy là, Luật các TCTD cần hướng đến việc xoá bỏ sự phân biệt để tạo sự bình
đẳng giữa các TCTD thuộc các hình thức sở hữu khác nhau theo nguyên tắc tạo lập mộtmôi trường kinh doanh minh bạch, lành mạnh và bình đẳng trong hoạt động tiền tệ - ngânhàng
II NHỮNG ĐIỂM MỚI TRONG LUẬT CÁC TCTD 2010
Trang 9chức tín dụng năm 1997 quy định thì hoạt động ngân hàng phải được hiểu phải bao gồm
cả hoạt động huy động vốn, sử dụng vốn huy động để cấp tín dụng và làm dịch vụ thanh toán Luật tổ chức tín dụng 2010 tại khoản 12 Điều 4 đã quy định lại hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau: a) Nhận tiền gửi; b) Cấp tín dụng; c) Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản
Phạm vi điều chỉnh cũa Luật tổ chức tín dụng 2010 đã bỏ đi các quy định về “các
tổ chức khác có hoạt động ngân hàng” Điều này có nghĩa là nếu không phải là tổ chức tín dụng thì không được phép thực hiện các hoạt động ngân hàng Để được cấp phép hoạt động ngân hàng thì các tổ chức phải được thành lập như một tổ chức tín dụng Những tổ chức không phải là tổ chức tín dụng mà kinh doanh , cung ứng dịch vụ ngân hàng đều phải tổ chức lại dưới hình thức là một tổ chức tín dụng hoặc là chấm dứt hoạt động
2 Về phân biệt các loại hình TCTD
2.1 Phân biệt ngân hàng và TCTD phi ngân hàng
Tiêu chí phân biệt: dựa trên cơ sở phạm vi hoạt động của hai loại hình này Theo
đó,
- Các TCTD phi ngân hàng không được phép nhận tiền gửi của cá nhân, không được cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản của khách hàng
Quy định này không chỉ làm giảm bớt rủi ro cho hệ thống TCTD, phù hợp với thông
lệ áp dụng hầu hết các nước trên thế giới mà còn cho phép các TCTD phi ngân hàngđược mở rộng phạm vi cung ứng các dịch vụ ngân hàng khác do của mình Bởi lẽ, cácquy định về an toàn sẽ được áp dụng ở mức độ thấp hơn so với các ngân hàng thương mại
là những tổ chức nhận tiền gửi của dân cư và tham gia vào hệ thống thanh toán
2.2 Phân biệt giữa TCTD hoạt động kinh doanh và TCTD hoạt động chính sách
Dự thảo luật TCTD (sửa đổi 6/2010), về ngân hàng chính sách Thấy rằng, có 2loại ý kiến được đưa ra:
Trang 10+ Loại ý kiến thứ nhất cho rằng không nên đưa loại hình ngân hàng chính sách (NHCS)vào phạm vi điều chỉnh của Luật TCTD vì hiện tại các vấn đề liên quan đến thành lập, tổchức và hoạt động của các ngân hàng chính sách đều thực hiện theo văn bản riêng củaChính phủ, Thủ tướng Chính phủ
+ Loại ý kiến thứ hai cho rằng Luật Các TCTD mới nên đưa loại hình NHCS vào phạm
vi điều chỉnh của Luật TCTD để bảo đảm tất cả các loại hình TCTD đều chịu sự điềuchỉnh chung của Luật Các TCTD
Tuy nhiên, điều 17 của Luật các TCTD 2010 quy định:
- Trao cho Chính phủ thẩm quyền hướng dẫn cụ thể về tổ chức và hoạt động của nhữngđối tượng này
- Ngân hàng chính sách phải thực hiện kiểm soát nội bộ, kiểm toán nội bộ; xây dựng, banhành quy trình nội bộ về các hoạt động nghiệp vụ; thực hiện chế độ báo cáo thống kê, báocáo hoạt động và hoạt động thanh toán theo quy định của Ngân hàng Nhà nước nhằmđảm bảo việc sử dụng vốn của nhà nước được minh bạch, công khai, an toàn
Như vậy, về cơ bản các quy định của Luật sẽ chỉ áp dụng đối với các loại hình tổ chứchoạt động trên cơ sở thị trường, không có sự hỗ trợ từ Chính phủ và các cơ quan khác
Theo đó các NHTM được thực hiện các hoạt động ngân hàng truyền thống như nhận tiền
gửi, cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán Và tùy theo mức độ rủi ro thịtrường của từng nghiệp vụ ngân hàng đầu tư, các ngân hàng thương mại được phép trựctiếp (Điều 107) hoặc gián tiếp (thông qua công ty con, công ty liên kết) thực hiện cácnghiệp vụ ngân hàng đầu tư (Điều 103)
2.3 Về hình thức pháp lý và loại hình hoạt động
Về hình thức pháp lý, tại điều 6 Luật các TCTD 2010 quy định TCTD được tổchức theo các hình thức pháp lý của Luật Doanh nghiệp 2005 (hoặc Luật Hợp tác xã), cụthể:
Trang 11”Ngân hàng thương mại trong nước được thành lập, tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần (trừ ngân hàng thương mại nhà nước được thành lập dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ);
TCTD phi ngân hàng trong nước được thành lập, tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn;
TCTD 100% vốn nước ngoài, TCTD liên doanh được thành lập, tổ chức dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn;
Ngân hàng hợp tác xã, quỹ tín dụng nhân dân được thành lập, tổ chức dưới hình thức hợp tác xã;
Tổ chức tài chính vi mô được thành lập, tổ chức dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn.”
Như vậy, các quy định về quản trị, điều hành, kiểm soát được phân loại theo hìnhthức pháp lý của TCTD (công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, hợp tác xã)
Loại hình hoạt động, Luật các TCTD 2010 quy định phạm vi hoạt động của từngTCTD phụ thuộc vào loại hình hoạt động của chính TCTD như ngân hàng thương mại,ngân hàng hợp tác xã, công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính, tổ chức tài chính vi
mô, quỹ tín dụng nhân dân
3 Về quản trị, điều hành
Hoạt động quản trị suy cho cùng cũng là quản trị con người, nhưng có sự ảnhhưởng lớn của quyền lực Vì vậy, trong mọi tổ chức sự phân bổ quản lý, điều hành một
bộ máy vận hành đóng vai trò vô cùng quan trọng
Thực tiễn quản lý hoạt động của các TCTD cho thấy, TCTD là những đối tượngcần được quản lý chặt chẽ, vì đây là những doanh nghiệp có các hoạt động ảnh hưởng lớnđến sự ổn định xã hội, kinh tế đất nước và là những tổ chức có được quyền lực rất lớntrong việc sử dụng, phân bổ nguồn vốn huy động từ xã hội Việc quản lý thiếu chặt chẽ,
sự lạm dụng quyền lực trong nội bộ của một TCTD thường là những nguyên nhân dẫnđến khủng hoảng, gây ra sự mất lòng tin trong dân cư và đe doạ sự mất ổn định của cả hệ
Trang 12thống TCTD Do đó, một số các quy định về tổ chức quản lý đối với các TCTD thườngđược thiết kế chặt chẽ hơn so với các doanh nghiệp khác trong nền kinh tế Đây cũng làmột thông lệ chung được thừa nhận rộng rãi trên bình diện quốc tế So với Luật cácTCTD 1997, Luật các TCTD 2010 đã bổ sung nhiều quy định đặc thù liên quan đến quảntrị, điều hành của TCTD (60 điều so với 6 điều trong Luật các TCTD 1997) Các quyđịnh này chủ yếu là các quy định được luật hóa từ các quy định của Nghị định số59/2009/NĐ-CP, Quyết định số 24/2007/QĐ-NHNN và các văn bản quy phạm pháp luậtkhác do NHNN ban hành, có tham khảo “25 nguyên tắc cơ bản về giám sát ngân hànghiệu quả của Ủy ban Basel” nhằm bảo đảm hoạt động của TCTD được an toàn, hiệu quả.Những thay đổi chủ yếu về quản trị, điều hành của TCTD so với Luật các TCTD 1997bao gồm:
3.1 Giảm bớt các thủ tục hành chính:
Luật các TCTD 2010 bỏ quy định chuẩn y sau các chức danh quản lý, điều hành,kiểm soát Thay vào đó, NHNN sẽ chấp thuận trước danh sách dự kiến bầu, bổ nhiệm cácchức danh thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Ban kiểm soát, Tổng Giám đốc Quyđịnh này ngoài việc đáp ứng được yêu cầu về cải cách hành chính còn xóa được bất cập
về khoảng trống pháp lý hiện nay khi các chức danh nói trên đã được Đại hội đồng cổđông bầu nhưng chưa có hiệu lực pháp lý vì chưa được NHNN chuẩn y
Đồng thời, Luật các TCTD 2010 cũng bỏ thủ tục chuẩn y Điều lệ của TCTD(nghĩa là TCTD chỉ phải đăng ký Điều lệ với NHNN sau khi được cơ quan có thẩmquyền của TCTD thông qua); giảm bớt các thay đổi cần phải chấp thuận trước củaNHNN so với quy định của Luật các TCTD 1997
3.2 Nâng cao yêu cầu đối với người quản lý, điều hành của TCTD:
Bổ sung một số quy định về tiêu chuẩn, điều kiện đối với người quản lý, ngườiđiều hành, thành viên Ban kiểm soát (Điều 50 luật các TCTD 2010) Đồng thời, bổ sungcác quy định về tiêu chuẩn đối với thành viên độc lập của Hội đồng quản trị Theo đó:
Trang 13- Hội đồng quản trị của TCTD là công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn phải
có ít nhất một thành viên độc lập Thành viên độc lập này phải bảo đảm tính độc lập tứckhông là nhân viên, người quản lý, thành viên Ban kiểm soát, không nhận lợi ích khác,bản thân không sở hữu quá 1% vốn điều lệ hoặc vốn cổ phần có quyền biểu quyết củaTCTD, bản thân và người có liên quan không sở hữu quá 5% vốn điều lệ hoặc vốn cổphần có quyền biểu quyết của TCTD, không có người liên quan tham gia quản trị, điềuhành TCTD)
- Hội đồng quản trị của TCTD tối thiểu phải có ½ tổng số thành viên Hội đồng quảntrị là thành viên độc lập và thành viên không phải là người điều hành TCTD Đồng thờiLuật 2010 bổ sung quy định về các trường hợp không cùng đảm nhiệm chức vụ (Điều 34)nhằm tránh xung đột lợi ích, lạm dụng quyền ảnh hưởng của mình để ra những quyếtđịnh xung đột với lợi ích của tổ chức tín dụng Ngoài ra, Luật 2010 cũng bổ sung quyđịnh cụ thể về quyền, nghĩa vụ của người quản lý, điều hành TCTD, trách nhiệm côngkhai các lợi ích liên quan (Điều 38, 39)
3.3 Khẳng định chính sách đại chúng hóa các NHTM cổ phần:
Luật các TCTD 2010 thay đổi mức giới hạn sở hữu cổ phần (Điều 55): Đối với
- Cổ đông là cá nhân: từ 10% xuống 5%
- Cổ đông là pháp nhân: từ 20% xuống 15% (trừ trường hợp sở hữu cổ phần theoquyết định của Ngân hàng Nhà nước để xử lý tổ chức tín dụng gặp khó khăn, bảo đảm antoàn hệ thống tổ chức tín dụng; sở hữu cổ phần nhà nước tại các tổ chức tín dụng cổ phầnhóa; sở hữu cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài)
- Cổ đông và những người có liên quan của cổ đông đó không được sở hữu vượtquá 20% vốn điều lệ của một tổ chức tín dụng
Lưu ý: Các tỷ lệ sở hữu nêu trên bao gồm cả phần vốn uỷ thác cho các tổ chức, cánhân khác mua cổ phần Theo định hướng này, Nhà nước không cho phép thành lập ngânhàng thương mại tư nhân tại Việt Nam
3.4 Các quy định đặc thù về quản trị, điều hành được xây dựng theo hình thức pháp lý của TCTD
Trang 14Luật chỉ quy định các vấn đề đặc thù về quản trị điều hành của TCTD Tức là, cácnội dung khác về quản trị, điều hành không được quy định trong Luật này sẽ được thựchiện theo quy định chung của Luật Doanh nghiệp, Luật Hợp tác xã Về kết cấu, các quyđịnh về quản trị, điều hành của Luật 2010 được chia thành các quy định chung áp dụngchung cho tất cả các TCTD và các quy định riêng áp dụng cho TCTD theo từng hình thứcpháp lý
3.5 Yêu cầu cao hơn đối với hoạt động kiểm toán độc lập
Các quy định khác về kiểm toán nội bộ, kiểm soát nội bộ, kiểm toán độc lập cũngđược quy định cụ thể tại Luật 2010, trong đó đáng chú ý là quy định về việc lựa chọnkiểm toán độc lập phải được thực hiện trước khi năm tài chính được kiểm toán bắt đầu vìtheo thông lệ quốc tế và yêu cầu của chuẩn mực kiểm toán, tổ chức kiểm toán phải tham
dự các cuộc họp của Hội đồng quản trị, Ban Kiểm soát để nắm bắt tình hình kinh doanhcủa TCTD suốt năm tài chính Ngoài ra, để bảo đảm đánh giá trung thực, chính xác tìnhhình hoạt động của TCTD, Luật 2010 yêu cầu báo cáo kiểm toán không được có ý kiếnngoại trừ (qualified opinion); trường hợp có ý kiến ngoại trừ, TCTD phải thực hiện kiểmtoán lại để đảm bảo báo cáo kiểm toán không có ý kiến ngoại trừ
4 Về phạm vi hoạt động kinh doanh của TCTD
Như ta đã biết, hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh có điều kiện được quy định rất chặt chẽ, theo đó các tổ chức khác không phải là TCTD đều không đáp ứng được, phạm vi hoạt động bị bó hẹp Khi luật TCTD 2010 được xây dựng đã gần như thay đổi một cách cơ bản về vấn đề phạm vi hoạt động của các TCTD Cụ thể là:
4.1 Về Giấy phép và phạm vi hoạt động kinh doanh:
* Về Giấy phép
Theo điều 20 Luật TCTD 2010 quy định rõ mỗi TCTD sẽ được cấp duy nhất một Giấy phép thành lập và hoạt động, trong đó xác định rõ phạm vi hoạt động của từng TCTD trên cơ sở nhu cầu và khả năng đáp ứng các điều kiện của từng TCTD Liệt kê mộtcách đầy đủ các loại hình TCTD cũng như việc cấp phép khi đáp ứng được các điều kiện
Trang 15luật định : Tổ chức tín dụng (khoản 1) ; Tổ chức tín dụng liên doanh, tổ chức tín dụng 100% vốn nước ngoài (khoản 2) ; Chi nhánh ngân hàng nước ngoài (khoản 3) ; Văn phòng đại diện của tổ chức tín dụng nước ngoài, tổ chức nước ngoài khác có hoạt động ngân hàng (khoản 4) ; ngân hàng hợp tác xã, quỹ tín dụng nhân dân, tổ chức tài chính vi
mô do Ngân hàng Nhà nước quy định (khoản 5)
Có thể thấy, so với luật TCTD 1997 thì luật TCTD 2010 đã co nhiều điểm tiến bộhơn về các quy định và đối tượng được cấp giấy phép Từ đây các tỏ chức, trong quátrình hoạt động có thể mở rộng hoặc thu hẹp phạm vi hoạt động và sẽ được NHNN chấpthuận bằng Quyết định sửa đổi, bổ sung Giấy phép Quyết định này sẽ là một bộ phậnkhông tách rời của Giấy phép thành lập và hoạt động
* Về phạm vi hoạt động kinh doanh:
Theo điều 90 luật TCTD 2010 cũng đã quy định rõ phạm vi hoạt động kinh doanhcủa từng loại hình tổ chức tín dụng và không chỉ giới hạn trong khuôn khổ các hoạt độngngân hàng mà còn bao gồm các hoạt động kinh doanh khác Các hoạt động kinh doanhkhác của các TCTD ở đây là các hoạt động không chỉ TCTD mà các tổ chức khác cũng
có thể được thực hiện Theo cách tiếp cận này, các nghiệp vụ tư vấn tài chính, môi giớitiền tệ, lưu ký chứng khoán, kinh doanh vàng là những nghiệp vụ mà TCTD được phépthực hiện nhưng không phải là “hoạt động ngân hàng” Để tăng quyền chủ động kinhdoanh cho các TCTD, Luật đã có bước cải cách quan trọng giảm đáng kể yêu cầu xinchấp thuận, xin giấy phép con
4.2 Về cơ chế xác định phí, lãi suất của TCTD (Điều 91):
Điểm mới nhất ở quy định này là việc quy định cácTCTD và khách hàng có quyềnthỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của TCTD theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp cần thiết, để bảo đảm an toàn của hệ thống TCTD (khoản 1) Ngân hàng Nhà nước có quyền quy định cơ chế xác định phí, lãi suất trong hoạt động kinh doanh của TCTD (khoản 3)
4.3 Về yêu cầu ban hành quy định nội bộ (Điều 93):