Quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 58 BLTTHS năm 2003 chính xác hơn quy định tại khoản 3 Điều 36 BLTTHS năm 1988 bởi lẽ người bào chữa không có quyền thu thập chứng cứ mà quyền này thuộc v
Trang 1
ThS NguyÔn ngäc Khanh *
rong Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS)
năm 2003, địa vị pháp lí của người bào
chữa, việc lựa chọn người bào chữa và các vấn
đề khác liên quan đến người bào chữa được quy
định tại các điều 56, 57 và 58 Về cơ bản, các
quy định trong những điều luật này kế thừa
những nội dung của các điều 35, 36 và 37
BLTTHS năm 1988, có sửa đổi, bổ sung một số
nội dung cho phù hợp với quy định tại các điều
luật khác có liên quan của Bộ luật và phù hợp
với tinh thần đổi mới của Đảng và Nhà nước ta,
đặc biệt là chủ trương cải cách tư pháp theo tinh
thần Nghị quyết số 08-NQ/TƯ ngày 02/1/2002
của Bộ chính trị “Về một số nhiệm vụ trọng
tâm công tác tư pháp trong thời gian tới” Trong
bài viết này chúng tôi xin trình bày những điểm
mới trong các quy định tại các điều 56, 57, 58
BLTTHS năm 2003 so với các quy định tại các
điều 35, 36, 37 BLTTHS năm 1988 Đó là
những quy định về đối tượng của việc bào
chữa; thời điểm tham gia tố tụng của người bào
chữa; quyền và nghĩa vụ của người bào chữa;
việc lựa chọn, thay đổi người bào chữa và việc
cấp, thu hồi giấy chứng nhận bào chữa
1 Về đối tượng của việc bào chữa
So với quy định của BLTTHS năm 1988,
BLTTHS năm 2003 quy định đối tượng của
việc bào chữa rộng hơn Theo quy định của
BLTTHS năm 1988 chỉ có bị can, bị cáo mới
có quyền bào chữa Điều 12 quy định nguyên
tắc “đảm bảo quyền bào chữa của bị can, bị cáo” trong đó ghi nhận: “Bị can, bị cáo có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa” Theo đó thì chỉ bị can, bị cáo mới có quyền bào chữa, người bị tạm giữ không phải là đối tượng được bào chữa Điều 38 BLTTHS năm 1988 quy định về quyền và nghĩa vụ của người bị tạm giữ cũng chỉ ghi nhận người bị tạm giữ có quyền trình bày lời khai, được đưa chứng cứ và yêu cầu mà không có quyền bào chữa Để phù hợp với các quy định trên, các quy định về người bào chữa không đề cập đối tượng được bào chữa là người bị tạm giữ Theo quy định của BLTTHS năm 2003, người bị tạm giữ “có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa” (quy định tại các điều 11 và 48) Theo đó, tại các điều 56, 57, 58 người bị tạm giữ được bổ sung vào nhóm đối tượng được bào chữa Sự sửa đổi, bổ sung này là hoàn toàn hợp lí và cần thiết bởi người bị tạm giữ là người
bị nghi thực hiện tội phạm (người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang) hoặc
là người đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình (người phạm tội tự thú, đầu thú) họ là đối tượng bị (hoặc sẽ bị) truy cứu trách nhiệm hình sự Việc ghi nhận họ có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa nhằm tạo điều
T
* Giảng viên Khoa luật hình sự Trường đại học luật Hà Nội
Trang 2đặc san về bLtThS năm 2003
kiện cho người bị tạm giữ bảo vệ quyền lợi cho
mỡnh Như vậy, theo quy định của BLTTHS
năm 2003, cỏc đối tượng được bào chữa bao
gồm: Người bị tạm giữ, bị can và bị cỏo
2 Về thời điểm tham gia tố tụng của
người bào chữa
Theo quy định tại khoản 1 Điều 38
BLTTHS năm 1988, người bào chữa được
tham gia tố tụng từ khi khởi tố bị can Trong
trường hợp cần phải giữ bớ mật điều tra với cỏc
tội xõm phạm an ninh quốc gia thỡ viện trưởng
viện kiểm sỏt nhõn dõn quyết định để người bào
chữa tham gia tố tụng từ khi kết thỳc điều tra
Khoản 1 Điều 58 BLTTHS năm 2003 cũng ghi
nhận người bào chữa cú quyền tham gia tố tụng
từ khi khởi tố bị can Bờn cạnh đú, do ghi nhận
quyền bào chữa của người bị tạm giữ, khoản 1
Điều 58 bổ sung thờm quy định: “Trong trường
h ợp bắt người theo quy định tại Điều 81 và
Điều 82 của Bộ luật này thỡ người bào chữa
tham gia t ố tụng từ khi cú quyết định tạm giữ”
Theo quy định này, kể từ thời điểm người bị
tạm giữ nhận được quyết định tạm giữ họ đó cú
quyền “tự bào chữa hoặc nhờ người khỏc bào
chữa” Nếu người bị tạm giữ nhờ luật sư, bào
chữa viờn nhõn dõn hoặc người đại diện hợp
phỏp của mỡnh bào chữa cho mỡnh thỡ cơ quan
điều tra phải tạo điều kiện để người bào chữa
tham gia tố tụng, thực hiện việc bào chữa, trừ
trường hợp cần phải giữ bớ mật điều tra với cỏc
tội xõm phạm an ninh quốc gia thỡ viện trưởng
viện kiểm sỏt nhõn dõn quyết định để người bào
chữa tham gia tố tụng từ khi kết thỳc điều tra
Như vậy, BLTTHS năm 2003 quy định
thời điểm người bào chữa cú thể tham gia tố
tụng sớm hơn (kể từ khi cú quyết định tạm giữ)
so với quy định trong BLTTHS năm 1988 Quy
định này nhằm bảo đảm quyền tự do, dõn chủ của cụng dõn, nõng cao trỏch nhiệm của cỏc cơ quan tiến hành tố tụng, gúp phần chống oan, sai trong tố tụng hỡnh sự
3 Về quyền và nghĩa vụ của người bào chữa
Trong BLTTHS năm 1988, cỏc quyền và nghĩa vụ của người bào chữa được quy định tại Điều 36 Điều 58 BLTTHS năm 2003 đó kế thừa những nội dung của Điều 36 BLTTHS năm 1988, cú sửa đổi và bổ sung một số quyền
và nghĩa vụ của người bào chữa như sau:
3.1 Cỏc quy ền của người bào chữa được
s ửa đổi, bổ sung
- Bổ sung quyền cú mặt khi lấy lời khai của người bị tạm giữ Đõy là quy định nhằm đảm bảo cho người bào chữa thực hiện việc bào chữa, bảo vệ cỏc quyền và lợi ớch hợp phỏp của người bị tạm giữ Theo quy định của BLTTHS năm 2003, người bị tạm giữ cú quyền “tự bào chữa hoặc nhờ người khỏc bào chữa” Quy định người bào chữa cú quyền “cú mặt khi lấy lời khai của người bị tạm giữ” là một trong những đảm bảo thực hiện nguyờn tắc đảm bảo quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cỏo Khi cú mặt trong cuộc lấy lời khai người bị tạm giữ, nếu điều tra viờn đồng ý thỡ người bào chữa được hỏi người bị tạm giữ Đõy là một trong những biện phỏp để người bào chữa thực hiện nhiệm vụ của mỡnh;
- Bổ sung quyền được xem cỏc biờn bản về hoạt động tố tụng cú sự tham gia của mỡnh và cỏc quyết định tố tụng cú liờn quan đến người
mà mỡnh bào chữa So với Điều 36 BLTTHS năm 1988, đõy là điểm mới quan trọng của Điều 58 BLTTHS năm 2003 về quyền của người bào chữa Theo quy định tại Điều 36 BLTTHS năm 1988, người bào chữa chỉ cú
Trang 3quyền có mặt trong cuộc hỏi cung bị can, nếu
được điều tra viên đồng ý thì được đặt câu hỏi
và có mặt trong những hoạt động điều tra khác
Tại điểm a, khoản 2 Điều 58 BLTTHS năm
2003 bổ sung quyền này nhằm tạo điều kiện
thuận lợi cho người bào chữa thực hiện tốt
nhiệm vụ của mình đồng thời đảm bảo tính
khách quan, chính xác của các hoạt động điều
tra và các biên bản hoạt động điều tra của cơ
quan điều tra;
- Bổ sung quyền đề nghị cơ quan điều tra
báo trước về thời gian và địa điểm hỏi cung bị
can để có mặt khi hỏi cung bị can
Mặc dù tại khoản 2 Điều 36 BLTTHS năm
1988 đã quy định người bào chữa có quyền “có
mặt khi hỏi cung bị can” nhưng do không có
quy định để đảm bảo cho người bào chữa thực
hiện quyền này nên trong thực tế người bào
chữa gặp không ít trở ngại từ phía cơ quan điều
tra như do không được báo trước nên người bào
chữa không biết thời gian, địa điểm hỏi cung để
thu xếp công việc tham dự cuộc hỏi cung Khi
người bào chữa có thời gian để tham dự cuộc
hỏi cung thì lại không đúng “lịch” của cơ quan
điều tra Thậm chí có khi người bào chữa có
mặt tại nơi hỏi cung đúng “lịch” hỏi cung, điều
tra viên viện đủ lí do để hoãn cuộc hỏi cung,
đến khi người bào chữa không có mặt ở đó mới
tiến hành hỏi cung Người bào chữa không thể
lúc nào cũng trực ở cơ quan điều tra để tham dự
cuộc hỏi cung được Khắc phục tình trạng đó,
điểm b khoản 2 Điều 58 BLTTHS năm 2003
quy định cho người bào chữa có quyền đề nghị
cơ quan điều tra báo trước về thời gian và địa
điểm hỏi cung để người bào chữa thu xếp công
việc có mặt khi điều tra viên hỏi cung bị can
Theo tinh thần đó, nếu điều tra viên hoãn cuộc
hỏi cung hoặc thay đổi địa điểm hỏi cung thì cũng phải báo cho người bào chữa biết
- Bổ sung quyền thu thập tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan đến việc bào chữa từ người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người thân thích của những người này hoặc từ cơ quan, tổ chức, cá nhân theo yêu cầu của người bị tạm giữ, bị can,
bị cáo nếu không thuộc bí mật Nhà nước, bí mật công tác
Người bào chữa có quyền độc lập thu thập tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan đến vụ án để chuẩn bị luận cứ cho bài bào chữa của mình Đây không phải là hoạt động tố tụng mà đơn thuần là biện pháp để người bào chữa thực hiện nhiệm vụ của mình Người bào chữa có thể thu thập tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan đến việc bào chữa thông qua việc tiếp xúc với người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người thân thích của những người này hoặc thu thập từ cơ quan, tổ chức, cá nhân theo yêu cầu của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo nếu không thuộc bí mật nhà nước, bí mật công tác
- Sửa quyền “được đưa ra chứng cứ và những yêu cầu” (tại khoản 2 Điều 36 BLTTHS năm 1988) thành quyền “được đưa ra tài liệu,
đồ vật, yêu cầu” (điểm đ khoản 2 Điều 58 BLTTHS năm 2003) Quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 58 BLTTHS năm 2003 chính xác hơn quy định tại khoản 3 Điều 36 BLTTHS năm 1988 bởi lẽ người bào chữa không có quyền thu thập chứng cứ mà quyền này thuộc
về các cơ quan tiến hành tố tụng, người bào chữa chỉ được thu thập các tài liệu, đồ vật và đưa ra cho các cơ quan tiến hành tố tụng để chứng minh sự vô tội của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo hoặc chứng minh các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của những người này
Trang 4đặc san về bLtThS năm 2003
Việc những tài liệu, đồ vật đú cú thể trở thành
chứng cứ trong vụ ỏn hay khụng là do những
người tiến hành tố tụng cú thẩm quyền quyết
định trờn cơ sở xem xột cỏc thuộc tớnh của
chứng cứ Ở thời điểm người bào chữa đưa ra
những đồ vật, tài liệu, mặc dự chỳng cú thể cú
liờn quan đến vụ ỏn nhưng những đồ vật, tài
liệu đú chưa thể được gọi là chứng cứ Bởi vậy,
chỉ cú thể quy định người bào chữa cú quyền
“đưa ra đồ vật, tài liệu” chứ khụng thể quy định
người bào chữa cú quyền “đưa ra chứng cứ";
- Bổ sung quyền được gặp người đang bị
tạm giữ Đõy là một quy định nhằm đảm bảo
cho việc thực hiện quyền thu thập tài liệu, đồ
vật, tỡnh tiết liờn quan đến việc bào chữa đó
được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 58
BLTTHS năm 2003 Để thu thập được tài liệu,
đồ vật, tỡnh tiết liờn quan đến vụ ỏn, nếu đối
tượng được bào chữa là người bị tạm giữ, người
bào chữa cú quyền được gặp người bị tạm giữ
Qua việc gặp người đang bị tạm giữ người bào
chữa cũn cú thể giỳp người bào chữa về mặt
phỏp lớ, bảo vệ cỏc quyền và lợi ớch hợp phỏp
của người bị tạm giữ Khi gặp người bị tạm giữ
người bào chữa phải tuõn thủ cỏc quy định của
phỏp luật về tạm giữ (Nghị định số 89/NĐ-CP
ngày 07/11/1998 ban hành quy chế về tạm giữ,
tạm giam);
- Bổ sung quyền được sao chụp những tài
liệu trong hồ sơ vụ ỏn liờn quan đến việc bào
chữa sau khi kết thỳc điều tra theo quy định của
phỏp luật
Theo quy định tại khoản 2 Điều 36
BLTTHS năm 1988, người bào chữa “được đọc
hồ sơ vụ ỏn và ghi chộp những điều cần thiết
sau khi kết thỳc điều tra” Quy định này cũn cú
những hạn chế nhất định Phỏp luật cho phộp
người bào chữa được đọc hồ sơ và được ghi chộp những điều mà mỡnh cho rằng cần thiết sau khi cơ quan điều tra đó kết thỳc điều tra Đối với những vụ ỏn đơn giản, ớt hồ sơ, tài liệu cần đọc, ớt tỡnh tiết cần ghi chộp thỡ người bào chữa cú thể đọc hồ sơ, ghi chộp tại chỗ những
gỡ mỡnh cho là cần thiết Thực tế cú những vụ
ỏn hồ sơ vụ ỏn bao gồm quỏ nhiều bỳt lục, quỏ nhiều vấn đề cần nghiờn cứu, trong những khoảng thời gian cú hạn, người bào chữa khụng thể đọc được hết và càng khụng thể ghi chộp hết những gỡ cần thiết Điểm g khoản 2 Điều 58 BLTTHS năm 2003 bổ sung cho người bào chữa cú quyền được “sao chụp những tài liệu
cú trong hồ sơ vụ ỏn liờn quan đến việc bào chữa” Quy định này tạo điều kiện cho người bào chữa thu thập tài liệu, tỡnh tiết chuẩn bị cho việc bào chữa của mỡnh Tuy nhiờn, người bào chữa chỉ cú thể sao chụp những tài liệu nào cú liờn quan đến việc bào chữa của họ chứ khụng được sao chụp những tài liệu khỏc trong vụ ỏn khụng liờn quan đến việc bào chữa Cũn theo quy định tại khoản 2 Điều 36 BLTTHS năm
1988 thỡ người bào chữa cú thể ghi chộp (nhưng khụng được sao chụp) tất cả những gỡ mỡnh cho
là cần thiết Quy định như vậy chưa thực sự rừ ràng, rất cú thể dẫn đến tỡnh trạng người bào chữa vỡ mục đớch cỏ nhõn lợi dụng quy định này để đọc, ghi chộp cả những vấn đề khụng liờn quan đến việc bào chữa;
- Sửa đổi quyền “khiếu nại cỏc quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng” thành quyền
“khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người cú thẩm quyền tiến hành tố tụng” Quy định tại điểm i khoản 2 Điều 58 BLTTHS năm 2003 mở rộng đối tượng cú thể bị người bào chữa khiếu nại Bờn cạnh cỏc quyết định
Trang 5của các cơ quan tiến hành tố tụng thì cả những
hành vi tố tụng của những người có thẩm quyền
tiến hành tố tụng cũng có thể bị người bào chữa
khiếu nại Ví dụ: Khi hỏi cung bị can điều tra
viên đã cố ý cản trở việc người bào chữa tham
dự cuộc hỏi cung mà không có lí do chính
đáng, người bào chữa có quyền khiếu nại với
hành vi đó của điều tra viên;
- Tại điểm k khoản 2 BLTTHS năm 2003,
cụm từ “nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần”
trong khoản 2 Điều 36 BLTTHS 1988 được đổi
lại là “nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất”
Ngoài những quyền trên, tại khoản 2
Điều 58 BLTTHS năm 2003 cũng ghi nhận
một số quyền khác của người bào chữa giống
như quy định tại khoản 2 Điều 36 BLTTHS
năm 1988 như quyền được đề nghị thay đổi
người tiến hành tố tụng, người giám định,
người phiên dịch khi có căn cứ luật định;
quyền tham gia hỏi (Điều 36 BLTTHS năm
1988 quy định là quyền “tham gia xét hỏi”),
tranh luận tại phiên toà; quyền kháng cáo bản
án, quyết định của toà án nếu bị cáo là người
chưa thành niên hoặc người có nhược điểm
về tâm thần hoặc thể chất
3.2 Các ngh ĩa vụ của người bào chữa
được sửa đổi, bổ sung
Theo quy định tại khoản 3 Điều 36
BLTTHS năm 1988, người bào chữa có
những nghĩa vụ sau:
- Sử dụng mọi biện pháp do pháp luật quy
định để làm sáng tỏ những tình tiết xác định bị
can, bị cáo vô tội, những tình tiết giảm nhẹ
trách nhiệm của bị can, bị cáo;
- Giúp bị can, bị cáo về mặt pháp lí nhằm
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ;
- Không được từ chối bào chữa cho bị can,
bị cáo mà mình đã đảm nhận nếu không có lí do chính đáng;
- Không được tiết lộ bí mật mà mình biết được trong khi làm nhiệm vụ
Đối với các nghĩa vụ thứ nhất, thứ hai và thứ ba của người bào chữa, tại khoản 3 Điều 58 BLTTHS năm 2003 bổ sung thêm cụm từ
“người bị tạm giữ” vào trước cụm từ “bị can, bị cáo” vì theo quy định của BLTTHS năm 2003, như phần trên đã phân tích, người bị tạm giữ cũng là đối tượng của việc bào chữa Đối với nghĩa vụ thứ tư của người bào chữa, tại khoản 3 Điều 58 BLTTHS năm 2003, nghĩa vụ này được quy định cụ thể hơn Khoản 3 Điều 58 BLTTHS năm 2003 cũng bổ sung thêm một số nghĩa vụ cho người bào chữa Theo đó, người bào chữa có những nghĩa vụ sau:
- Sử dụng mọi biện pháp do pháp luật quy định để làm sáng tỏ những tình tiết xác định người bị tạm giữ, bị can, bị cáo vô tội, những tình tiết làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của
bị can, bị cáo
Các biện pháp pháp luật quy định cho người bào chữa để thực hiện nhiệm vụ của mình là tham gia các cuộc hỏi cung, tham gia vào các hoạt động điều tra khác, gặp gỡ người
bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người thân thích của những người này để thu thập các tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan đến việc bào chữa hoặc thu thập tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan đến việc bào chữa từ cơ quan, tổ chức, cá nhân theo yêu cầu của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo nếu không thuộc bí mật nhà nước, bí mật công tác Người bào chữa không được sử dụng các biện pháp bào chữa trái pháp luật như mua chuộc, dụ
dỗ người làm chứng, người bị hại, người tiến hành tố tụng
Trang 6đặc san về bLtThS năm 2003
Tuỳ theo mỗi giai đoạn tố tụng, khi thu
thập được tài liệu, đồ vật liờn quan đến vụ ỏn
thỡ người bào chữa cú trỏch nhiệm giao cho
cơ quan điều tra, viện kiểm sỏt, toà ỏn Việc
giao nhận cỏc tài liệu, đồ vật đú giữa người
bào chữa và cơ quan tiến hành tố tụng phải
được lập biờn bản theo quy định tại Điều 95
của BLTTHS năm 2003
Việc giao tài liệu, đồ vật liờn quan đến việc
bào chữa cho cơ quan điều tra, viện kiểm sỏt,
toà ỏn là trỏch nhiệm của người bào chữa Phỏp
luật ghi nhận người bào chữa cú quyền thu thập
cỏc đồ vật, tài liệu liờn quan đến việc bào chữa
nhằm tạo điều kiện cho người bào chữa hoàn
thành nhiệm vụ của mỡnh là bào chữa, bảo vệ
cỏc quyền và lợi ớch hợp phỏp của người bị tạm
giữ, bị can, bị cỏo chứ khụng phải thu thập cỏc
tài liệu, đồ vật liờn quan đến vụ ỏn nhằm mục
đớch riờng nào khỏc của người bào chữa, bởi
vậy, khi thu thập được cỏc tài liệu, đồ vật liờn
quan đến vụ ỏn người bào chữa cú trỏch nhiệm
giao cho cỏc cơ quan tiến hành tố tụng Tuỳ
từng giai đoạn tố tụng, những tài liệu, đồ vật đú
sẽ được giao cho cơ quan điều tra, viện kiểm sỏt
hoặc toà ỏn Việc giao nhận cỏc tài liệu, đồ vật
đú giữa người bào chữa và cơ quan tiến hành tố
tụng phải được lập biờn bản theo quy định tại
Điều 95 của BLTTHS năm 2003
- Giỳp người bị tạm giữ, bị can, bị cỏo về
mặt phỏp lớ nhằm bảo vệ quyền lợi và lợi ớch
hợp phỏp của họ
Nghĩa vụ của người bào chữa trong tố tụng
hỡnh sự khụng chỉ nhằm bào chữa cho người bị
tạm giữ, bị can, bị cỏo mà với tư cỏch là người
hiểu biết phỏp luật họ cũn phải giỳp người bị
tạm giữ, bị can, bị cỏo về mặt phỏp lớ nhằm bảo
vệ quyền lợi và lợi ớch hợp phỏp của họ như tư
vấn cho người bị tạm giữ, bị can, bị cỏo để họ thực hiện tốt nhất cỏc quyền của mỡnh trong tố tụng để bảo vệ cỏc quyền và lợi ớch hợp phỏp
của họ Vớ dụ, khi điều tra viờn cú những hành
vi xõm hại một cỏch trỏi phỏp luật tới quyền và lợi ớch hợp phỏp của bị can, người bào chữa cú thể giỳp bị can khiếu nại với hành vi trỏi phỏp luật đú của điều tra viờn
- Khụng được từ chối bào chữa cho người
bị tạm giữ, bị can, bị cỏo mà mỡnh đó đảm nhận bào chữa nếu khụng cú lớ do chớnh đỏng;
- Tụn trọng sự thật và phỏp luật; khụng được mua chuộc, cưỡng ộp hoặc xỳi giục người khỏc khai bỏo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật
Khi tham gia tố tụng để bảo vệ cỏc quyền
và lợi ớch hợp phỏp của người bị tạm giữ, bị can, bị cỏo người bào chữa cú nghĩa vụ tụn trọng sự thật và phỏp luật Họ chỉ được sử dụng cỏc biện phỏp hợp phỏp để thực hiện việc bào chữa, khụng được búp mộo sự thật của vụ ỏn, biến khụng thành cú, biến cú thành khụng; họ phải tụn trọng và triệt để tuõn thủ cỏc quy định của phỏp luật và khụng được mua chuộc, cưỡng
ộp hoặc xỳi giục người khỏc khai bỏo gian dối, cung cấp cỏc tài liệu sai sự thật cho cỏc cơ quan tiến hành tố tụng
- Cú mặt theo giấy triệu tập của toà ỏn Thụng thường, người bào chữa tham gia phiờn toà sơ thẩm để bảo vệ quyền và lợi ớch hợp phỏp của bị cỏo Nếu vụ ỏn được xột xử ở cấp phỳc thẩm mà cú liờn quan đến bị cỏo họ nhận bào chữa, toà ỏn xột xử phỳc thẩm sẽ triệu tập người bào chữa tham gia phiờn toà Đối với thủ tục giỏm đốc thẩm và tỏi thẩm, chỉ trong những trường hợp cần thiết thỡ toà ỏn mới triệu tập người bào chữa Khi được triệu tập ở bất cứ
Trang 7cấp xét xử nào người bào chữa có nghĩa vụ có
mặt theo giấy triệu tập Việc có mặt tại toà án
theo giấy triệu tập của toà án vừa là nghĩa vụ,
vừa là quyền của người bào chữa Họ phải có
mặt theo giấy triệu tập của toà án để thực hiện
nhiệm vụ bào chữa của mình và đồng thời họ
cũng được có mặt tại phiên toà để thực hiện
quyền tham gia xét hỏi, tranh luận tại phiên toà
theo quy định tại điểm h khoản 2 Điều 58
BLTTHS năm 2003
- Không được tiết lộ bí mật điều tra mà
mình biết được khi thực hiện việc bào chữa;
không được sử dụng tài liệu đã ghi chép, sao
chụp trong hồ sơ vụ án vào mục đích xâm
phạm lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích hợp
pháp của cơ quan, tổ chức và cá nhân
BLTTHS ghi nhận người bào chữa có
quyền có mặt khi lấy lời khai người bị tạm giữ,
hỏi cung bị can, có mặt trong các hoạt động
điều tra khác để thu thập các thông tin cần thiết
cho việc bào chữa của mình Trong quá trình
tham dự các hoạt động điều tra, người bào chữa
có thể biết được những bí mật điều tra, theo quy
định tại khoản 3 Điều 58 BLTTHS năm 2003,
người bào chữa không được tiết lộ những bí
mật điều tra mà mình biết Sau khi kết thúc điều
tra, người bào chữa có quyền đọc, ghi chép và
sao chụp những tài liệu trong hồ sơ vụ án liên
quan đến việc bào chữa, họ chỉ được phép sử
dụng những tài liệu, tình tiết đó cho mục đích
bào chữa cho bị can, bị cáo mà không được sử
dụng vào mục đích xâm phạm lợi ích của Nhà
nước, quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ
chức và cá nhân
Ngoài việc quy định nghĩa vụ của người
bào chữa, tại khoản 4 Điều 58 BLTTHS năm
2003 còn quy định quyền, trách nhiệm của
người bào chữa khi “làm trái pháp luật”, cụ thể
là: “Người bào chữa làm trái pháp luật thì tuỳ
theo tính ch ất, mức độ vi phạm mà bị thu hồi
gi ấy chứng nhận người bào chữa, xử lí kỉ luật,
x ử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách
nhi ệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi
th ường theo quy định của pháp luật"
4 Việc lựa chọn, thay đổi người bào chữa
Giống như Điều 37 BLTTHS năm 1988, Điều 57 BLTTHS năm 2003 quy định quyền lựa chọn, thay đổi người bào chữa thuộc về người có quyền bào chữa (đó là bị can, bị cáo
và bổ sung thêm người bị tạm giữ) hoặc người đại diện hợp pháp của họ Trong những trường hợp bị can, bị cáo bị truy cứu về tội theo khung hình phạt có mức cao nhất là tử hình được quy định tại BLHS hoặc bị can, bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất, nếu bị can, bị cáo hoặc người đại diện hợp pháp của họ không mời người bào chữa thì theo quy định tại khoản 2 Điều 37 BLTTHS năm 1988, cơ quan điều tra, viện kiểm sát hoặc toà án phải yêu cầu đoàn luật sư
cử người bào chữa cho họ Quy định này tại Điều 57 BLTTHS năm 2003 được sửa đổi lại là trong những trường hợp kể trên, nếu bị can, bị cáo hoặc người đại diện hợp pháp của họ không mời người bào chữa thì cơ quan điều tra, viện kiểm sát hoặc toà án phải yêu cầu đoàn luật sư phân công văn phòng luật sư cử người bào chữa cho họ hoặc đề nghị Uỷ ban Mặt trận tổ quốc Việt Nam, tổ chức thành viên của Mặt trận cử người bào chữa cho thành viên của tổ chức mình Quy định này cụ thể hơn so với quy định tại Điều 37 BLTTHS năm 1988 và phù hợp với quy định tại Pháp lệnh luật sư năm 2002
Đối với việc lựa chọn người bào chữa cho
Trang 8đặc san về bLtThS năm 2003
người bị tạm giữ, bị can, bị cỏo là người chưa
thành niờn được quy định tại Điều 305
BLTTHS năm 2003 như sau:
Người đại diện hợp phỏp của người bị
tạm giữ, bị can, bị cỏo là người chưa thành
niờn cú thể lựa chọn người bào chữa hoặc tự
mỡnh bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can,
bị cỏo Trong trường hợp bị can, bị cỏo là
người chưa thành niờn hoặc người đại diện
hợp phỏp của họ khụng lựa chọn được người
bào chữa thỡ cơ quan điều tra, viện kiểm sỏt
hoặc toà ỏn phải yờu cầu đoàn luật sư phõn
cụng văn phũng luật sư cử người bào chữa
cho họ hoặc đề nghị Uỷ ban Mặt trận tổ quốc
Việt Nam, tổ chức thành viờn của Mặt trận
cử người bào chữa cho thành viờn của tổ
chức mỡnh
So với quy định tại Điều 275 BLTTHS
năm 1988, quy định tại Điều 305 BLTTHS
năm 2003 quy định cụ thể hơn về thủ tục cử
người bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can,
bị cỏo là người chưa thành niờn theo tinh
thần Phỏp lệnh luật sư năm 2002
5 Về việc cấp, thu hồi giấy chứng
nhận người bào chữa
Trong BLTTHS năm 1988 việc cấp giấy
chứng nhận cho người bào chữa được quy
định tại khoản 4 Điều 35 Theo đú, thủ
trưởng cơ quan điều tra, viện trưởng viện
kiểm sỏt, chỏnh ỏn toà ỏn hoặc hội đồng xột
xử cấp giấy chứng nhận người bào chữa
trong vụ ỏn để họ thực hiện nhiệm vụ của
mỡnh Điều 35 chỉ quy định về thẩm quyền
cấp giấy chứng nhận người bào chữa mà
khụng quy định trỏch nhiệm của những
người cú thẩm quyền cấp giấy chứng nhận
người bào chữa, thời hạn cấp giấy chứng
nhận người bào chữa Bởi vậy, trong thực tế, nhiều trường hợp người bào chữa gặp rất nhiều khú khăn trong việc xin cấp giấy chứng nhận người bào chữa Khắc phục hạn chế đú, khoản 4 Điều 56 BLTTHS năm 2003 quy định về việc cấp giấy chứng nhận người bào chữa như sau:
“Trong th ời hạn 3 ngày, kể từ ngày nhận được đề nghị của người bào chữa kốm theo
gi ấy tờ liờn quan đến việc bào chữa, cơ quan điều tra, viện kiểm sỏt, toà ỏn phải xem xột,
c ấp giấy chứng nhận người bào chữa để họ
th ực hiện việc bào chữa Nếu từ chối cấp
gi ấy chứng nhận thỡ phải nờu rừ lớ do
Đối với trường hợp tạm giữ người thỡ
trong th ời hạn 24 giờ, kể từ khi nhận được
đề nghị của người bào chữa kốm theo giấy tờ
liờn quan đến việc bào chữa, cơ quan điều
tra ph ải xem xột, cấp giấy chứng nhận người
bào ch ữa để họ thực hiện việc bào chữa
N ếu từ chối cấp giấy chứng nhận thỡ phải
nờu rừ lớ do”
So với quy định tại Điều 35 BLTTHS năm 1988, quy định tại Điều 56 BLTTHS năm 2003 cú một số điểm sửa đổi, bổ sung là:
- Chỉ quy định chung thẩm quyền cấp, thu hồi giấy chứng nhận người bào chữa thuộc về cơ quan điều tra, viện kiểm sỏt, toà
ỏn mà khụng quy định cụ thể thuộc về thủ trưởng cơ quan điều tra, viện trưởng viện kiểm sỏt, chỏnh ỏn toà ỏn và hội đồng xột xử như khoản 4 Điều 35 BLTTHS năm 1988 Ở
cơ quan điều tra, viện kiểm sỏt, toà ỏn, thẩm quyền cấp giấy chứng nhận người bào chữa
cụ thể được quy định tại cỏc điều luật khỏc của Bộ luật như Điều 36, Điều 37 và Điều 38
Trang 9BLTTHS năm 2003 Cụ thể là ở cơ quan
điều tra, thẩm quyền cấp giấy chứng nhận
thuộc về thủ trưởng và phó thủ trưởng cơ
quan điều tra khi được phân công điều tra vụ
án hình sự (các khoản 2, 3 Điều 36); ở viện
kiểm sát, thẩm quyền thuộc về viện trưởng và
phó viện trưởng viện kiểm sát khi được phân
công thực hành quyền công tố và kiểm sát việc
tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng đối
với vụ án hình sự (các khoản 2, 3 Điều 37); ở
toà án, thẩm quyền thuộc về chánh án và phó
chánh án toà án khi được phân công giải
quyết, xét xử vụ án hình sự (các khoản 2, 3
Điều 38) và thẩm phán giữ chức vụ chánh toà,
phó chánh toà toà phúc thẩm Toà án nhân dân
tối cao (khoản 3 Điều 39);
- Khoản 4 Điều 56 BLTTHS năm 2003
quy định rõ trách nhiệm của cơ quan điều
tra, viện kiểm sát và toà án là trong thời
hạn 03 ngày, kể từ ngày nhận được đề nghị
của người bào chữa kèm theo giấy tờ liên
quan đến việc bào chữa phải xem xét, cấp
giấy chứng nhận cho họ Trong trường hợp
từ chối cấp giấy chứng nhận thì phải nêu rõ
lí do;
- Khoản 4 Điều 56 bổ sung trường hợp
cấp giấy chứng nhận người bào chữa trong
trường hợp tạm giữ người Theo đó, đối với
trường hợp tạm giữ người, nếu người bị tạm
giữ mời người bào chữa thì trong thời hạn 24
giờ, kể từ khi nhận được đề nghị của người
bào chữa kèm theo giấy tờ liên quan đến
việc bào chữa, cơ quan điều tra phải xem
xét, cấp giấy chứng nhận người bào chữa để
họ thực hiện việc bào chữa Nếu từ chối cấp
giấy chứng nhận thì phải nêu rõ lí do Đối
với trường hợp tạm giữ người, BLTTHS quy
định thời hạn cấp giấy chứng nhận người bào chữa ngắn hơn những trường hợp bình thường để tạo điều kiện cho người bào chữa sớm được tham gia tố tụng, kịp thời bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ;
Qua phân tích trên, có thể đưa ra một số kết luận sau:
+ Các quy định về người bào chữa trong BLTTHS năm 2003 là sự kế thừa có chọn lọc các quy định của BLTTHS năm 1988 về vấn đề này;
+ Các quy định về người bào chữa được sửa đổi, bổ sung theo hướng ghi nhận thời điểm tham gia tố tụng của người bào chữa sớm hơn, mở rộng thêm quyền cho người bào chữa (như quyền có mặt khi lấy lời khai người bị tạm giữ, quyền được thu thập tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan đến việc bào chữa từ người bị tạm giữ ) và quy định cụ thể hơn trách nhiệm của người bào chữa khi tham gia tố tụng hình sự BLTTHS năm
2003 cũng quy định rõ hơn trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc tạo điều kiện cho người bào chữa tham gia tố tụng, góp phần bảo đảm thực hiện nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo;
+ Các quy định của BLTTHS về người bào chữa được sửa đổi, bổ sung phù hợp với các quy định khác có liên quan của BLTTHS, của Pháp lệnh luật sư năm 2002
và phù hợp với tinh thần Nghị quyết số 08-NQ/TƯ ngày 02/1/2002 của Bộ chính trị
“Về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới”./