Phép lặp ngữ pháp trong thơ Tố Hữu (LV thạc sĩ)Phép lặp ngữ pháp trong thơ Tố Hữu (LV thạc sĩ)Phép lặp ngữ pháp trong thơ Tố Hữu (LV thạc sĩ)Phép lặp ngữ pháp trong thơ Tố Hữu (LV thạc sĩ)Phép lặp ngữ pháp trong thơ Tố Hữu (LV thạc sĩ)Phép lặp ngữ pháp trong thơ Tố Hữu (LV thạc sĩ)Phép lặp ngữ pháp trong thơ Tố Hữu (LV thạc sĩ)Phép lặp ngữ pháp trong thơ Tố Hữu (LV thạc sĩ)Phép lặp ngữ pháp trong thơ Tố Hữu (LV thạc sĩ)Phép lặp ngữ pháp trong thơ Tố Hữu (LV thạc sĩ)Phép lặp ngữ pháp trong thơ Tố Hữu (LV thạc sĩ)Phép lặp ngữ pháp trong thơ Tố Hữu (LV thạc sĩ)Phép lặp ngữ pháp trong thơ Tố Hữu (LV thạc sĩ)Phép lặp ngữ pháp trong thơ Tố Hữu (LV thạc sĩ)
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
–––––––––––––––––––––
VI PHƯƠNG THÙY
PHÉP LẶP NGỮ PHÁP TRONG THƠ TỐ HỮU
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ
VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
THÁI NGUYÊN - 2017
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
–––––––––––––––––––––
VI PHƯƠNG THÙY
PHÉP LẶP NGỮ PHÁP TRONG THƠ TỐ HỮU
Chuyên ngành: NGÔN NGỮ VIỆT NAM
Mã số: 60.22.01.02
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ
VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS ĐÀO THỊ VÂN
THÁI NGUYÊN - 2017
Trang 3i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi Các số liệu sử dụng phân tích trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng,
đã công bố theo đúng quy định Các kết quả nghiên cứu trong luận văn do tôi
tự tìm hiểu, phân tích một cách trung thực, khách quan và phù hợp với thực tiễn của Việt Nam Các kết quả này chưa từng được công bố trong bất kỳ nghiên cứu nào khác
Thái Nguyên, tháng 9 năm 2017
Học viên
Vi Phương Thùy
Trang 4ii
LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian nỗ lực học tập và nghiên cứu của bản thân, đề tài khóa luận đã được hoàn thành Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Phòng Đào tạo Sau đại học Trường Đại học Sư phạm – Đại học Thái Nguyên, tới các thầy cô giáo trong Khoa Ngữ Văn đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành đề tài luận văn của mình
Đặc biệt, tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn tới PGS TS Đào
Thị Vân đã trực tiếp hướng dẫn và chỉ bảo tận tình để tôi hoàn thành
tốt luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 9 năm 2017
Học viên
Vi Phương Thùy
Trang 5iii
MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các bảng iv
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
4 Đối tượng nghiên cứu 3
5 Phạm vi nghiên cứu của luận văn 3
6 Phương pháp nghiên cứu 3
7 Dự kiến đóng góp của luận văn 3
8 Bố cục luận văn 4
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN, THỰC TIỄN 5
1.1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu 5
1.1.1 Tình hình nghiên cứu về phép lặp và lặp ngữ pháp 5
1.1.2 Tình hình nghiên cứu về thơ Tố Hữu 8
1.2 Cơ sở lí luận và thực tiễn 9
1.2.1 Một vài nét khái quát về văn bản và ngữ pháp văn bản 9
1.2.2 Phép lặp và phép lặp ngữ pháp 13
1.2.3 Vài nét về Tố Hữu và thơ Tố Hữu 35
1.3 Tiểu kết chương 1 38
Chương 2: PHÉP LẶP NGỮ PHÁP TRONG THƠ TỐ HỮU VỀ MẶT HÌNH THỨC 39
2.1 Khái quát về số lượng và các kiểu lặp ngữ pháp trong thơ Tố Hữu 39
2.2 Lặp dòng thơ 45
2.2.1 Nhận xét chung 45
Trang 6iv
2.2.2 Các kiểu lặp dòng thơ xét theo cấu trúc của chủ ngôn và kết ngôn: Lặp đủ,
lặp thừa, lặp thiếu, lặp khác 47
2.2.3 Các kiểu lặp dòng thơ xét theo tính cân đối giữa chủ ngôn và kết ngôn: lặp cân và lặp lệch 60
2.2.4 Các kiểu lặp dòng thơ xét theo số lần lặp (số kết ngôn): lặp một lần (lặp đơn), lặp nhiều lần (lặp phức) 65
2.2.5 Các kiểu lặp dòng thơ xét theo vị trí của chủ ngôn và kết ngôn: lặp liền và lặp cách 69
2.3 Lặp nhiều dòng thơ (lặp bộ phận khổ thơ và lặp khổ thơ) 72
2.3.1 Lặp bộ phận của khổ thơ (lặp nửa khổ thơ) 72
2.3.2 Lặp khổ thơ 75
2.4 Tiểu kết chương 2 82
Chương 3: PHÉP LẶP NGỮ PHÁP TRONG THƠ TỐ HỮU XÉT THEO MẶT CHỨC NĂNG 84
3.1 Chức năng liên kết văn bản 84
3.2 Chức năng nghệ thuật thể hiện ý nhấn mạnh và triển khai nội dung thơ 86
3.2.1 Lặp ngữ pháp trong thơ Tố Hữu có tác dụng nhấn mạnh góp phần khắc sâu nội dung tư tưởng, tình cảm cần biểu thị 86
3.2.2 Lặp ngữ pháp trong thơ Tố Hữu góp phần làm phong phú hiện thực được phản ánh 93
3.2.3 Lặp ngữ pháp góp phần tạo nên sự hài hòa, cân đối về vần, nhịp, tiết tấu cho khổ thơ, bài thơ 95
3.3 Tiểu kết chương 3 96
KẾT LUẬN 98
TÀI LIỆU THAM KHẢO 100 PHỤ LỤC
Trang 7iv
DANH MỤC BẢNG
và kết ngôn 40
Bảng 2.2: Thống kê các kiểu lặp ngữ pháp theo khối lượng (độ lớn)của chủ ngôn và kết ngôn 41
Bảng 2.3: Thống kê các kiểu lặp xét theo sự có mặt/ vắng mặt của các từ ngữ trong chủ ngôn và kết ngôn 42
Bảng 2.4: Thống kê các kiểu lặp ngữ pháp theo tính chất của phương thức lặp 43
Bảng 2.5: Thống kê các kiểu lặp ngữ pháp theo số lần lặp 44
Bảng 2.6: Thống kê các kiểu lặp ngữ pháp theo vị trí của chủ ngôn và kết ngôn 45
Bảng 2.7: Lặp dòng thơ 46
Bảng 2.8: Lặp nhiều dòng thơ 72
Trang 8Phép lặp ngữ pháp là một biện pháp ngôn ngữ được sử dụng phổ biến trong các loại văn bản, trong đó có văn bản văn chương Nó xuất hiện nhiều trong các tác phẩm văn học dân gian, văn học trung đại và trong văn học hiện đại Phép lặp ngữ pháp đã góp một phần không nhỏ tạo nên những nét độc đáo trong nghệ thuật sử dụng ngôn từ, góp phần tạo nên nhiều giá trị: giá trị nhận thức, giá trị miêu tả, giá trị biểu cảm, giá trị kiên kết Đồng thời, phép lặp ngữ pháp còn tạo nên tính nhạc cho văn bản, đặc biệt là văn bản thơ
1.2 Tố Hữu là nhà thơ xuất sắc và tiêu biểu cho nền văn học Việt Nam thế kỷ
XX Đặng Thai Mai nhận xét: “Tố Hữu là nhà thơ chỉ viết để phục vụ cách mạng từ
trước đến sau” Đời thơ Tố Hữu từ “Từ ấy” đến “Ta với ta” là một chặng đường dài
trên 6 thập kỷ của một nhà thơ cách mạng tiêu biểu nhất Việt Nam Nhìn vào đó, ta thấy Tố Hữu xứng đáng được coi là nhà thơ trữ tình chính trị số một ở Việt Nam Con đường thơ của Tố Hữu bắt đầu cùng một lúc với con đường cách mạng Sáng
tác của Tố Hữu tràn đầy men say hứng khởi đối với lí tưởng cộng sản “Lịch trình tiến
triển về thơ của Tố Hữu đi song song với lịch trình tiến triển về tư tưởng và trình độ giác ngộ, về sức hoạt động của Tố Hữu Thơ Tố Hữu không phải là một trò tiêu khiển
mà là một khí cụ đấu tranh, một công tác vận động của người cách mạng.” (Lời giới
thiệu tập Thơ của Tố Hữu,Văn hóa Cứu quốc Việt Nam xuất bản, 1946) và “Tả tình hay
tả cảnh, kể chuyện mình hay kể chuyện người là để nói cho được cái lí tưởng cộng sản
ấy thôi” (Chế Lan Viên) Thơ Tố Hữu tập trung vào những chủ đề lớn, lẽ sống lớn, tình
cảm lớn, niềm vui lớn của người cách mạng, của Đảng, của dân tộc
Sức cuốn hút của thơ Tố Hữu là sự hòa quyện của nhiều yếu tố nội dung tư tưởng, nghệ thuật, chất dân tộc đậm đà, giọng điệu,… Trong đó, không thể không kể đến các biện pháp nghệ thuật như ẩn dụ, so sánh, đối, và đặc biệt là phép lặp được sử
Trang 92
dụng rất nhiều và hiệu quả trong các bài thơ của Tố Hữu Phép lặp góp phần thể hiện phong phú và linh hoạt những hình tượng, cảm xúc thẩm mỹ , phản ánh mọi mặt của đời sống sinh hoạt, chính trị, những suy tư và diễn biến tình cảm của nhà thơ cách mạng số một của Việt Nam - Tố Hữu
1.3 Các nhà ngôn ngữ học đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về thơ Tố Hữu
ở nhiều phương diện Từ những công trình nghiên cứu đó, ta có thể thấy các biện pháp nghệ thuật đóng một vai trò rất quan trọng trong việc thể hiện nội dung tư tưởng của tác phẩm Tuy nhiên, trong các công trình nghiên cứu về thơ Tố Hữu tính đến thời điểm hiện nay thì chưa có một công trình nào đi sâu nghiên cứu về đặc điểm, giá trị của phép lặp ngữ pháp trong thơ Tố Hữu một cách hệ thống, đầy đủ và chuyên sâu từ góc độ ngôn ngữ học Vì vậy, việc nghiên cứu phương thức lặp ngữ pháp trong thơ Tố Hữu có ý nghĩa về mặt lí luận và thực tiễn
Về mặt lí luận, với việc triển khai đề tài này, lần đầu tiên có một công trình nghiên
cứu tương đối đầy đủ, sâu sắc và có hệ thống về phép lặp trong thơ Tố Hữu theo hướng tiếp cận của ngành ngôn ngữ học Việc nghiên cứu đề tài này góp phần làm sáng tỏ các giá trị của phép lặp trong thơ hiện đại nói chung và trong thơ Tố Hữu nói riêng
Về mặt thực tiễn, luận văn góp phần làm rõ và thể hiện đầy đủ các giá trị của
phép lặp trong thơ Tố Hữu, giúp người đọc hiểu rõ hơn về các sáng tác cũng như quan điểm nghệ thuật của tác giả Thông qua đó, tác giả luận văn cũng hi vọng công trình có thể đưa lại những kết quả mang tính ứng dụng cho việc nghiên cứu và dạy học Ngữ văn trong nhà trường
Với những lí do trên, chúng tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài “ Phép lặp ngữ pháp
trong thơ Tố Hữu”
2 Mục đích nghiên cứu
Mục đích cơ bản của việc nghiên cứu đề tài này là trên cơ sở xác định những vấn
đề lí luận về phép lặp, lặp ngữ pháp; phân tích, miêu tả làm rõ đặc điểm của phép lặp ngữ pháp trong thơ của Tố Hữu về các mặt cấu tạo, chức năng, ngữ nghĩa và ngữ dụng; qua đó, góp phần làm sáng rõ phong cách nghệ thuật thơ Tố Hữu
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, luận văn tập trung giải quyết các vấn đề chính là:
- Tìm hiểu những cơ sở lí luận về phép lặp, phép lặp ngữ pháp và những lí thuyết khác có liên quan đến đề tài Tham khảo những thành quả nghiên cứu của những người
đi trước để tìm hiểu về hiện tượng lặp trong thơ Tố Hữu
Trang 103
- Tiến hành khảo sát, thống kê, phân loại phép lặp trong thơ Tố Hữu
- Miêu tả, làm rõ đặc điểm cấu tạo và chức năng ngữ nghĩa của các kiểu lặp ngữ pháp thể hiện trong thơ Tố Hữu
- Đánh giá nét đặc sắc và giá trị nghệ thuật của phép lặp ngữ pháp trong thơ Tố Hữu
4 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là thủ pháp lặp ngữ pháp trong thơ Tố Hữu
5 Phạm vi nghiên cứu của luận văn
Phạm vi của luận văn là đặc điểm và giá trị của biện pháp lặp ngữ pháp trong các
bài thơ của Tố Hữu ở bảy tập thơ Từ ấy (1937-1946), Việt Bắc (1947-1954), Gió lộng (1955-1961), Ra trận (1962-1971), Máu và Hoa (1972-1977), Một tiếng đờn (1979- 1992),Ta với ta (1992-1999)
6 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng một số phương pháp chủ yếu sau:
6.1 Phương pháp kha ̉ o sát, thống kê, phân loại
Phương pháp này được sử dụng để khảo sát, thống kê hiện tượng lặp ngữ pháp ở những câu thơ, đoạn thơ, bài thơ trong bảy tập thơ của Tố Hữu
Trên cơ sở kết quả khảo sát, thống kê, sẽ tiến hành xử lí tư liệu, tạo tiền đề cần thiết cho các bước tiếp theo
Ngoài ra, luận văn còn sử dụng một số thủ pháp bổ trợ khác như mô hình hóa…
7 Dự kiến đóng góp của luận văn
7.1 Đóng góp về mặt lí luận
Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể góp phần củng cố thêm lí luận về phép
Trang 114
lặp, lặp ngữ pháp, bổ sung tư liệu và có thêm luận chứng để đi sâu hơn vào việc nghiên cứu có hệ thống ngôn ngữ thơ nói chung và ngôn ngữ thơ Tố Hữu nói riêng ở
(phép lặp) trong thơ Tố Hữu, chúng tôi hy vọng sẽ góp phần làm sáng tỏ thế giới nghệ thuật và nội dung tư tưởng trong thơ Tố Hữu Đồng thời, luận văn cũng cung cấp thêm một cái nhìn mới về phong cách nghệ thuật của nhà thơ trữ tình chính trị theo hướng tiếp cận của ngành ngôn ngữ học
7.2 Đóng góp về mặt thực tiễn
Các kết quả nghiên cứu của đề tài này có thể được sử dụng như một tài liệu tham khảo hữu ích trong việc biên soạn các chuyên đề, bài giảng về thơ ca nói chung và thơ Tố Hữu nói riêng Qua đó, góp phần định hướng cảm thụ và nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy học Ngữ văn trong nhà trường
8 Bố cục luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận văn được triển khai trong 3 chương
Chương 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu và cơ sở lí luận, thực tiễn
Ở chương này, luận văn trình bày tổng quan về tình hình nghiên cứu và những vấn đề lí thuyết cơ bản liên quan trực tiếp đến đề tài như khái quát về ngữ pháp văn bản, khái niệm văn bản, khái niệm liên kết văn bản, hiện tượng lặp, đặc điểm và vai trò của phép lặp ngữ pháp trong liên kết văn bản thơ Ngoài ra, luận văn cũng phân biệt lặp ngữ pháp với các phương thức liên kết và biện pháp nghệ thuật khác và trình bày một số nét cơ bản về nhà thơ và đặc điểm thơ Tố Hữu
Chương 2: Đặc điểm của phép lặp ngữ pháp trong thơ Tố Hữu xét theo mặt hình thức
trong thơ Tố Hữu xét theo mặt hình thức
Chương 3: Lặp ngữ pháp trong thơ Tố Hữu xét theo mặt chức năng
Ở chương này, luận văn trình bày kết quả nghiên cứu chức năng của phép lặp ngữ pháp trong thơ Tố Hữu Cụ thể trong việc góp phần tăng cường sự liên kết giữa các dòng thơ, khổ thơ trong bài; thể hiện ý nhấn mạnh và triển khai nội dung thơ
Trang 125
Chương 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN, THỰC TIỄN 1.1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu
1.1.1 Tình hình nghiên cứu về phép lặp và lặp ngữ pháp
Theo đề xuất của Beaugrande i Dressler (1990) thì một văn bản cần hội tụ đủ các đặc
trưng sau: tính liên kết (kohezja), tính mạch lạc (koherencja), tính chủ định (intencjonalnos’c’),
tính chấp nhận được (akceptowalnos’c’), tính thông tin (informacyjnos’c’), tính tình huống
(sytuacyjnos’c’), tính liên văn bản (intertekstualnos’c’) Chính vì vậy, văn bản được định nghĩa
là “ một sự kiện giao tiếp đáp ứng được bảy tiêu chuẩn về tính văn bản” nói trên [ 40 ] Văn
bản tiếng Việt hiện nay cũng được xem xét trên các bình diện đó Khi các câu (phát ngôn) trong văn bản sử dụng các yêu tố ngữ âm (âm tiết, vần, phụ âm đầu, thanh điệu), các đơn vị
từ vựng và yếu tố ngữ pháp (hư từ, cấu trúc ngữ pháp) để tạo tính liên kết, ta sẽ có phép lặp ngữ pháp Vậy lặp là phương thức sử dụng các yếu tố nói trên lặp lại chúng trong những phát ngôn khác nhau nhằm tạo ra sự liên kết
Phép lặp là một trong các phương thức liên kết văn bản Ở đây, người ta lặp lại một cách có ý thức hai hay nhiều lần những đơn vị ngữ âm, từ, ngữ và cấu trúc nhất
định “Phép lặp có cơ sở là quy luật tâm lí, một vật kích thích nhiều lần sẽ làm cho
người ta chú ý” [25, tr 93], một sự lặp lại nghệ thuật sẽ đem đến cho tác phẩm những
hiệu quả nghệ thuật độc đáo Mặc dù là sự lặp lại những yếu tố nhất định nhưng theo diễn tiến thời gian, phép lặp đem đến cho người đọc những ấn tượng mới mẻ, có tính chất tăng tiến Phép lặp có tác dụng làm nổi bật và phát triển ý muốn trình bày, tình cảm muốn biểu hiện hoặc đối tượng muốn nói đến
Dưới góc độ nghiên cứu khác nhau hiện tượng lặp được gọi tên, phân loại, và
có sự khác biệt ở từng tác giả Ở Việt Nam, có thể nêu khái quát những tác giả tiêu biểu đã đề cập đến hiện tượng lặp trong các công trình nghiên cứu của mình như sau:
Trong cuốn “Phong cách học tiếng Việt”, các tác giả Đinh Trọng Lạc,
Nguyễn Thái Hòa khi xem xét hiện tượng lă ̣p như một dạng của phương tiện tu từ
cú pháp đã gọi phép lă ̣p là phép điệp Các ông đã lần lượt tìm hiểu phép điệp ở các cấp độ ngôn ngữ và nhấn mạnh phép điệp không chỉ dựa vào một số phương tiện tu
Trang 136
từ cố định, tiếng Việt còn mở rộng cách nhấn nghĩa, tạo nghĩa mới bất ngờ, giàu màu sắc
tu từ học Về phép điệp, ở phương diện tu từ các tác giả nghiên cứu phần điệp ngữ Khi trình bày các biện pháp tu từ cú pháp, các tác giả đề cập đến phép dùng cú pháp sóng đôi (điệp cú pháp) Ở cấp độ ngữ âm, các tác giả chỉ ra biện pháp điệp âm (điệp phụ âm đầu, điệp vần, điệp thanh) Ở mọi dạng thức, các tác giả đã tìm hiểu, trình bày cụ thể, hệ thống và làm sáng tỏ về phép điệp ở các cấp độ Đặc biệt, tác giả đã đề cập đến trường
hợp “điệp khúc là một phương thức ở cấp độ văn bản” [27, tr 275]
Trong cuốn “99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt”, tác giả Đinh Trọng
Lạc tìm hiểu và chia điệp ngữ thành một số kiểu (điệp ngữ nối tiếp, điệp ngữ cách quãng, điệp ngữ vòng tròn) Ở cấp độ “trên ngữ”, tác giả trình bày về sóng đôi cú pháp Còn ở cấp độ tu từ cú pháp thì tác giả nghiên cứu thêm phần lặp đầu, lặp cuối Tác giả
đã đi sâu vào việc phân tích cụ thể, chi tiết về phép điệp cũng như phạm vi sử dụng, giá trị của chúng trong hệ thống ngôn ngữ nghệ thuật [25, tr 93-94]
Trong cuốn “Phong cách học và các phong cách chức năng tiếng Việt”, tác
giả Hữu Đạt đã tìm hiểu giá trị phong cách của một số kiểu điệp từ, ngữ trong tiếng Việt Tác giả không đi vào khảo sát phép điệp ở cấp độ ngữ âm mà chỉ dừng lại ở cấp
độ từ (điệp từ) và ngữ (điệp ngữ) Tác giả cũng đề cập đến phép lặp cú pháp với hai dạng thức: lặp lại một thành phần cú pháp trong câu (lặp lại thành phần chủ ngữ, lặp lại thành phần vị ngữ) và lặp mô hình câu [9, tr 320]
Trong cuốn “Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt”, tác giả Cù Đình
Tú đề cập đến các cách tu từ được cấu tạo theo quan hệ tổ hợp trong đó có phép điệp Tác giả chỉ khảo sát phép điệp ở cấp độ từ, ngữ, kiểu câu với tên gọi chung là “điệp
từ ngữ” Tác giả đã đưa ra các dạng thức của điệp từ ngữ bao gồm: điệp từ ngữ nối tiếp, điệp từ ngữ cách quãng, và điệp kiểu câu Nhưng trong phần khảo sát đặc điểm
tu từ tiếng Việt, tác giả không tách “điệp cú pháp” ra tìm hiểu riêng như các tác giả
khác Trong phần nghiên cứu, tác giả còn chỉ ra cách “ điệp phô diễn” được hiểu “Là
sự mở rộng của điệp kiểu câu, trong đó sự diễn đạt được trình bày tuy dưới những dạng thức khác nhau nhưng điều xoay quanh một chủ đề” [38, tr 199] và chức năng,
phạm vi sử dụng và cơ sở tâm lý của phép điệp
Trang 147
Trong cuốn “Giáo trình cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt”, tác giả Bùi
Tất Tươm cũng tìm hiểu phép điệp một cách cụ thể ở một số khía cạnh Tác giả đã đưa ra khái niệm và phân tích giá trị tu từ của phép điệp Dựa vào qui mô của yếu tố lặp, tác giả chia phép điệp thành hai loại: điệp ngữ, điệp cấu trúc và sóng đôi cú pháp
Ở hình thức điệp ngữ, tác giả phân loại theo hai hướng khác nhau: dựa vào vị trí của các yếu tố lặp (điệp ngữ đầu câu, điệp ngữ giữa câu, điệp ngữ cuối câu), dựa theo chức năng của yếu tố điệp (điệp chủ ngữ, điệp vị ngữ, điệp bổ ngữ) Còn ở các biện pháp tu từ cấu tạo theo quan hệ tổ hợp ngữ âm, tác giả đề cập đến điệp âm bao gồm điệp phụ âm đầu, điệp vần, điệp thanh [41, tr 248-255]
Trong “Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt” của Trần Ngọc Thêm định nghĩa
“phép lặp là một phương thức liên kết thể hiện ở việc lặp lại trong kết ngôn những yếu
tố đã có ở chủ ngôn” [43, tr 87] Định nghĩa này được nhiều tác giả đồng tình Từ góc
độ ngữ pháp văn bản, tác giả phân loại phép lặp thành ba dạng: lặp từ vựng, lặp ngữ
âm, lặp ngữ pháp Ở mỗi dạng, tác giả đi sâu vào phân tích, khái quát các hình thức, phạm vi sử dụng và giá trị của chúng Đồng thời, giữa các dạng thức, tác giả đã có sự lồng ghép đối chiếu, so sánh để thấy được sự khác biệt và các giá trị khu biệt của chúng Đề cập đến phép lặp ngữ pháp (một kiểu lặp liên kết), Trần Ngọc Thêm quan
niệm “phép lặp ngữ pháp là một dạng của phương thức lặp thể hiện ở việc lặp lại
trong kết ngôn cấu trúc của chủ ngôn và có thể lạp lại một số hư từ mà chủ ngôn sử dụng” [43, tr 93] Theo tác giả, lặp ngữ pháp gồm có hai mức độ: lặp cú pháp ( lặp cấu
trúc phát ngôn) và lặp từ cú pháp (các hư từ) trong đó lặp cú pháp là cơ bản [43, tr 94]
Trong cuốn “Văn bản và liên kết văn bản”, khi tìm hiểu phép lặp với tư cách là
một phương tiện liên kết, Diệp Quang Ban đưa ra ba dạng: lặp từ vựng, lặp ngữ pháp và lặp ngữ âm Xét ở mức độ gần nghĩa đến xa nghĩa, phép lặp chia thành các dạng: nhắc lại, đồng nghĩa và gần đồng nghĩa, từ ngữ trên bậc, từ ngữ khái quát Tuy nhiên, tác giả cũng chỉ điểm sơ qua chứ chưa đi vào phân tích cụ thể, chi tiết [1, tr 123]
Qua khảo sát những tài liệu nói trên, chúng tôi nhận thấy các tác giả đã chú trọng đến việc xác định khái niệm, phân loại và tìm ra giá trị của các phép liên kết nói chung và phép lặp trong đó có lặp ngữ pháp nói riêng Theo đó, khái niệm lặp và lặp ngữ pháp được hiểu khá rộng với nhiều ý kiến, quan niệm khác nhau Đây là cơ sở lý luận vô cùng quan trọng để luận văn có thể tham khảo trước khi đi vào nghiên cứu về phương thức lặp trong thơ Tố Hữu
Trang 158
1.1.2 Tình hình nghiên cứu về thơ Tố Hữu
Trong suốt mấy chục năm qua, thơ Tố Hữu đã trở thành một hiện tượng, một đối tượng nghiên cứu lớn của giới học thuật, thu hút hầu hết các nhà nghiên cứu, phê bình tên tuổi trong cả nước như: Hoài Thanh, Hà Minh Đức, Trần Đình Sử, Lê Đình Kỵ và các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng như: Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Nguyễn Đình Thi Rất nhiều công trình nghiên cứu về thơ Tố Hữu ở các phương diện văn học, thi pháp, phong cách, thể tài, ngôn ngữ Do đó, giá trị thơ của Tố Hữu ngày càng được khẳng định Thơ Tố Hữu cũng là đề tài nghiên cứu của nhiều học viên, sinh viên chuyên ngành ngôn ngữ học Có thể kể đến một số nghiên cứu về thơ Tố Hữu:
+ Lê Anh Hiền (1976), "Về cách dùng tính từ chỉ màu sắc của Tố Hữu", Ngôn
ngữ, (4), tr 13-20
+ Xuân Nguyên (1991), "Từ địa phương miền Trung trong thơ Tố Hữu", Sông
Hương, (10), tr.6-9
+ Nguyễn Thị Bích Thúy (2005), Tổ chức lời thơ trong thơ Tố Hữu ( So sánh
với đồng hiện tượng trong thơ Huy Cận) Luận án Tiến sĩ ngữ văn, Viện KHXH vùng
Trang 169
phương diện liên kết chưa được chú ý nhiều Đặc biệt là chưa có nghiên cứu về phép lặp ngữ pháp.
Mong muốn được học tập và trau dồi kiến thức về thơ Tố Hữu, muốn tiếp cận thơ
Tố Hữu theo nhiều hướng khác nhau, người viết đã quyết định lựa chọn đề tài “Phép
lặp ngữ pháp trong thơ Tố Hữu”
Với đề tài này, chúng tôi muốn tìm ra được những dấu hiệu thuộc về mặt hình thức của phép lặp, và những giá trị mà phép lặp mang lại trong thơ Tố Hữu Chúng tôi cũng mong muốn khi nghiên cứu đề tài sẽ thấy được những sáng tạo độc đáo của nhà thơ đồng thời góp phần khẳng định tài năng nghệ thuật của Tố Hữu
1.2 Cơ sở lí luận và thực tiễn
1.2.1 Một vài nét khái quát về văn bản và ngữ pháp văn bản
1.2.1.1 Khái niệm văn bản
Văn bản là một thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu khác nhau Do vậy, cách hiểu văn bản có rất nhiều định nhghĩa Sự đa dạng, phức tạp của
văn bản khiến nhà ngôn ngữ học Nga Z Vêginxev ngạc nhiên: “Các nhà khoa học bắt tay
vào nghiên cứu văn bản cũng không ngờ rằng họ phải làm việc với một đối tượng mà về mặt tầm cỡ không thua kém gì vũ trụ Thực chất đó chính là vũ trụ ngôn ngữ học”
Theo các nhà ngôn ngữ học nước ngoài, văn bản là “tổng của những quan hệ cấu
trúc tìm được sự thể hiện ngôn ngữ học” (dẫn theo M.Lôtman), “ là một chuỗi nào đó các câu kết hợp với nhau trong khuôn khổ ý đồ chung của tác giả” (dẫn theo M.Nicolaeva)
Một định nghĩa khác được xem là trọn vẹn hơn, được trích dẫn nhiều hơn trong các bài
nghiên cứu: “Văn bản đó là tác phẩm của quá trình tạo lời, mang tính cách hoàn chỉnh,
được khách quan hóa dưới dạng tài liệu viết, được trau chuốt văn chương trong các tài liệu viết, được trau chuốt văn chương theo loại hình tài liệu ấy, là tác phẩm gồm tên gọi (đầu đề) và có một loại đơn vị riêng (những thể thống nhất trên câu) hợp nhất lại bằng những loại hình liên hệ khác nhau bằng từ vựng, ngữ pháp, logic, tu từ có một hướng đích nhất định và một mục tiêu thực dụng” (dẫn theo I.R.Gaperin)
Định nghĩa về văn bản cũng được rất nhiều nhà nghiên cứu khoa học của Việt Nam quan tâm:
Trang 1710
Đinh Trọng Lạc quan niệm: “Văn bản … là một thể thống nhất toàn vẹn được
xây dựng theo những quy tắc nhất định” [27, tr7]
Hữu Đạt thì cho rằng: Văn bản là một tập hợp các câu (hay phát ngôn) được kết hợp với nhau theo một phương thức nhất định đảm bảo cho việc truyền đạt thông tin
có hiệu quả và chính xác
Bùi Minh Toán - Lê A - Đỗ Việt Hùng (1997), quan niệm: Văn bản vừa là phương tiện, vừa là sản phẩm của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ Từ đó, các tác giả khẳng định: Văn bản cũng đảm nhận hai chức năng chính: là phương tiện giao tiếp và là công cụ tư duy của con người
Định nghĩa của Trần Ngọc Thêm có phần đơn giản hơn: Văn bản là chỉnh thể thống
nhất và trọn vẹn về nội dung và hình thức Nhưng ông cũng khẳng định thêm: “Văn bản là
một hệ thống mà trong đó các câu mới chỉ là các phần tử Ngoài các câu - phần tử, trong
hệ thống văn bản còn có cấu trúc Cấu trúc của văn bản chỉ ra vị trí của mỗi câu và những mối quan hệ, liên hệ của nó với những câu xung quanh nói riêng và với toàn văn bản nói chung Sự liên kết là mạng lưới của những quan hệ và liên hệ ấy.” [43, tr 22]
Hiện nay, trong tiếng Việt, văn bản được quan niệm là đơn vị cao nhất của ngôn
ngữ, là sản phẩm ngôn ngữ hoàn chỉnh ở cả ba bình diện: hình thức, cấu trúc và nội dung Đó là một chỉnh thể gồm một hay nhiều đoạn văn được liên kết chặt chẽ với
nhau để thể hiện một nội dung hoàn chỉnh
Trong luận văn, văn bản được hiểu theo cách hiểu vừa nêu trên dây
1.2.1.2 Khái niệm liên kê ́t và các kiểu liên kết văn bản
Trong mỗi văn bản, các hiện tượng, sự kiện được viết ra thường có mối liên hệ với nhau để cùng phản ánh một hiện thực khách quan chung; các tình cảm, thái độ của tác giả được biểu lộ đi kèm mỗi hiện tượng, sự kiện cũng thường có mối liên hệ với nhau và cùng thể hiện một tư tưởng, tình cảm chung; các đơn vị và kết cấu văn bản thường được sắp xếp theo một trình tự nào đấy nhằm phản ánh, thể hiện đúng quan hệ logic giữa các hiện tượng, sự kiện được phản ánh với nghĩ suy, cảm xúc của tác giả
Trang 1811
con người có vẻ đẹp cao quý, bản lĩnh (4)Do đó, từ lâu sen đã đi vào cuộc sống và nghệ thuật của người Việt (5)Sen được dùng khá phổ biến trong nghệ thuật tạo hình, cách điệu trong trang trí kiến trúc và đồ dùng sinh hoạt, đồ thờ, đồ ngự trong cung đình
( “Sen, biểu tượng tinh tế và đa dạng”, Ngữ Thiên, Báo Nhân Dân cuối tuần số
Mối liên hệ về nội dung giữa các câu trong đoạn văn trên đây được thể hiện bằng các phương tiện liên kết hình thức mà tiêu biểu ở đây là phép lặp từ vựng (lặp lại từ “Sen”)
Có thể thấy, liên kết văn bản là mạng lưới các mối quan hệ nội dung, hình thức giữa các đơn vị trong nội bộ văn bản và các mối quan hệ giữa văn bản với các yếu tố ngoài văn bản
Theo Trần Ngọc Thêm, liên kết văn bản là “ Những mối quan hệ qua lại phức tạp… tạo
nên một mạng lưới” nhờ đó mà “ các câu gắn bó lại với nhau tạo thành văn bản” [43, tr 18]
“ Tính liên kết có khả năng rất lớn Nó có thể làm cho một chuỗi câu không liên quan gì với nhau trở thành một bộ phận của văn bản bằng cách thêm một câu thứ n+1 cho nó Khi đó, lập tức cả chuỗi câu hỗn độn kia bỗng nhiên cựa quậy và trở nên một
bộ phận hợp pháp của văn bản.” [43, tr 19]
Liên kết văn bản được chia thành hai loại chính là liên kết hình thức và liên kết nội dung [43, tr 19] Liên kết hình thức được hiểu là liên kết được xác định dựa đơn thuần vào một quan hệ, một hệ thống các hình thức giữa các câu (phát ngôn) và được liên kết bằng các phương tiện ngôn ngữ cụ thể, còn liên kết nội dung là liên kết theo
đó, tất cả các câu trong đoạn văn hay văn bản “ đều phối hợp với nhau một cách hài hòa, bổ sung cho nhau để cùng thể hiện mộ nội dung” [ 43, tr 20]
Mặc dù về nguyên tắc, có thể và cần phân biệt liên kết nội dung và liên kết hình thức như chỉ ra trên đây nhưng cần thấy rằng giữa hai mặt liên kết nội dung và liên kết
Trang 1912
hình thức có mối liên hệ biện chứng, chặt chẽ theo đó liên kết nội dung được thể hiện bẳng một hệ thống các phương tiện kiên kết hình thức và liên kết hình thức chủ yếu dùng để diễn đạt sự liên kết nội dung [43, tr 21] Tất nhiên, sự tương ứng giữa hai mặt liên kết nội dung và hình thức không phải luôn luôn là một đối một
Do liên kết nội dung và liên kết hình thức là hai mặt gắn bó mật thiết, hữu cơ với nhau nên mỗi văn bản đích thực (điển hình) đều phải có đủ cả hai mặt liên kết này và đây cũng là dấu hiệu cho phép phân biệt văn bản với phi văn bản, văn bản điển hình và văn bản không điển hình
Trong liên kết văn bản, đơn vị liên kết là câu hay phát ngôn Theo Trần Ngọc
Thêm “phát ngôn là một bộ phận của đoạn văn, với một cấu trúc và nội dung nhất định
nào đó (đầy đủ hoặc không đầy đủ) được tách ra một cách hoàn chỉnh về hình thức Ở dạng viết, nó bắt đầu bằng chữ cái hoa và kết thúc bằng dấu ngắt phát ngôn, ở dạng nói
nó được phát ra theo một kiểu ngữ điệu nhất định và kết thúc bằng một quãng ngắt hơi
Về mặt lượng, nó có thể được kết thúc bằng một ngữ khí từ” [ 43, tr 42]
Phát ngôn như cách hiểu trên đây về cơ bản tương ứng với “câu” theo cách hiểu truyền thống Tuy nhiên, cách hiểu trên đây về phát ngôn có lẽ chỉ thực sự phù hợp với văn bản văn xuôi Đối với văn bản thơ, việc áp dụng định nghĩa trên đây về phát ngôn gặp những khó khăn nhất định (vì các dòng thơ đều bắt đầu bằng chữ cái viết hoa nhưng trong nhiều trường hợp lại không được kết thúc bằng dấu ngắt phát ngôn) Như vậy, khi phân tích sự liên kết trong văn bản thơ, cần có sự xem xét cụ thể đơn vị liên kết (cụ thể: Đó là dòng thơ hay “câu ngữ pháp” có dấu hiệu hình thức là dấu ngắt câu?) Theo chúng tôi, đối với văn bản thơ, đơn vị liên kết nên được xác định là dòng thơ vì hai lẽ:
a) Thứ nhất: Nếu lấy đơn vị liên kết trong văn bản thơ là “câu ngữ pháp” thì sẽ gặp rất nhiều khó khăn vì trên thực tế, có khi sau cả một khổ, thậm chí mười dòng thơ tác giả mới sử dụng một dấu ngắt câu (dấu chấm, dấu hỏi, dấu chấm than)
b) Thứ hai: Các dòng thơ mặc dù không được kết thúc bằng dấu ngắt câu nhưng đều được bắt đầu bằng chữ cái hoa và do đó giữa chúng luôn có một ranh giới hình thức rõ ràng để xác định
Mỗi loại liên kết (liên kết nội dung và liên kết hình thức) nêu trên đây đều bao gồm một số kiểu liên kết cụ thể
Trang 201.2.2.1 Khái niệm về phương thức lặp
"Lặp là nhắc lại giống y như cái đã có trước" [12, tr 547]
Hiện tượng lặp thường được sử dụng nhiều trong các văn bản nghệ thuật nhằm tạo nên những giá trị nhất định về mặt liên kết và mặt tu từ như nhấn mạnh, gây cảm xúc, gây ấn tượng v v
"Phương thức lặp là phương thức liên kết thể hiện ở việc lặp lại trong kết ngôn những yếu tố đã có ở chủ ngôn" [ 14, tr 87]
Phương thức lặp có cả hai yếu tố liên kết (chủ tố và kết tố) Kết tố ở đây được gọi là lặp
tố Tuỳ thuộc vào tính chất của lặp tố mà phương thức lặp có thể chia thành ba dạng thức:
- Lặp ngữ âm ( vần, nhịp)
- Lặp từ vựng (gọi là lặp từ ngữ)
- Lặp ngữ pháp
1.2.2.2 Lặp ngữ âm
* Khái niệm: Phép lặp ngữ âm là một dạng thức của phương thức lặp thể hiện ở
việc lặp lại trong kết ngôn những yếu tố ngữ âm đã có ở chủ ngôn [43, tr 102]
Lặp tố là các yếu tố ngữ âm (như âm tiết, số lượng âm tiết, khuôn vần, phụ âm đầu, thanh điệu, )
Trang 2114
Ví dụ:
Muôn ngàn đời biết ơn chiếc gậy tầm vông đã dựng lên thành đồng Tổ quốc! Và
sông Hồng bất khuất có cái chông tre
(Thép Mới)
- Lặp thanh điệu: sử dụng các tiếng cùng mang một thanh điệu để tạo ra sự trùng lặp về âm vực (độ cao), tức là để tạo ra một yếu tố làm nên tính nhạc cho câu, tăng tính tạo hình và biểu cảm
Lặp thanh bằng có tác dụng biểu đạt sự êm đềm, nhẹ nhàng với tiết tấu chậm, buồn
Lặp thanh trắc thường biểu đạt sự đột ngột, dứt khoát, mạnh mẽ với tiết tấu dồn dập
Trang 2215
Lặp ngữ âm rất phổ biến trong thơ, phú và văn vần Có trường hợp văn bản tồn tại chủ yếu bằng liên kết vần nhịp, không có liên kết ở mặt ý nghĩa như các bài đồng
dao: Nu na nu nống, Thả đỉa ba ba, … Những văn bản như vậy có sức sống lâu bền
trong dân gian bởi dễ thuộc, dễ nhớ và giàu tính nhạc
đề của văn bản
Ví dụ:
Ta đi giữa ban ngày
Trên đường cái, ung dung ta bước
(Ta đi tới, Tố Hữu)
"Chiều, chiều rồi Một buổi chiều êm ả như ru , văng vẳng tiếng ếch nhái kêu ra
ngoài đồng ruộng theo gió nhẹ đưa vào
( Hai đứa trẻ, Thạch Lam )
+ Lặp cụm từ:
Lặp hoàn toàn:
Trang 23Buổi sáng, Bé dậy sớm ngồi học bài Dậy sớm học bài là một thói quen tốt
Nhưng phải cố gắng lắm mới có được thói quen ấy Rét ghê Thế mà Bé vùng dậy, chui
ra được khỏi cái chăn ấm Bé ngồi học bài
( Em bé và Chích Bông, Tô Hoài)
- Căn cứ vào bản chất từ loại của chủ tố và lặp tố, có thể chia ra lặp cùng từ loại
và lặp chuyển từ loại
+ Lặp cùng từ loại:
Ví dụ:
Hồ Chủ tịch và Đảng ta thật là nhà chiến lược thiên tài Thiên tài là ở chỗ “biết
địch, biết ta, trăm trận, trăm thắng”(…)
Thiên tài là ở chỗ biết vận dụng quy luật của cuộc dấu tranh cách mạng
(Chủ tịch Hồ Chí Minh - Nhà chiến lược thiên tài - Người tổ chức mọi thắng lợi của nhân dân ta, Phạm Văn Đồng)
Ở ví dụ trên thì từ “xuân” (1) là danh từ, từ “xuân” (2) là tính từ
- Căn cứ vào chức năng làm thành phần phát ngôn của chủ tố và lặp tố, có thể chia ra lặp cùng chức năng và lặp chuyển chức năng
+ Lặp cùng chức năng:
Trang 2417
Ví dụ:
Đất Tổ quốc khi chập chờn bóng giặc,
Các con nằm thao thức phía Trường Sơn
Biển Tổ quốc chưa một ngày yên ả, Biển cần lao như áo mẹ bạc sờn
( Tổ quốc nhìn từ biển, Nguyễn Việt Chiến)
Ở ví dụ trên lặp định ngữ “Tổ quốc” và chủ ngữ “Biển”
“Phép lặp ngữ pháp là một dạng thức của phương thức lặp thể hiện ở việc lặp lại
trong kết ngôn cấu trúc của chủ ngôn và có thể lặp cả một số hư từ mà chủ ngôn đã sử dụng”[ 40; tr 93] Đó là dạng thức lặp mà chủ tố và lặp tố là một mô hình cấu trúc của
phát ngôn và các hư từ
Lặp ngữ pháp bao gồm hai mức độ: lặp cú pháp (cấu trúc phát ngôn) và lặp từ pháp (các hư từ) trong đó lặp cú pháp là cơ bản [43, tr 93]
“Dấu hiệu để nhận biết phép lặp cú pháp là ở chỗ, ngoài phần có chung một kết
cấu, còn có chung một chủ đề và láy lại một số từ nhất định” [37, Tr 247]
- Lặp cú pháp là dùng nhiều lần một kiểu cấu tạo cú pháp nào đó (có thể nguyên vẹn hoặc biến đổi chút ít) nhằm tạo ra tính liên kết ở những phần văn bản chứa chúng Lặp những cấu tạo cú pháp đơn giản và ngắn gọn để gây hiệu quả và nhịp điệu, nhờ đó gia tăng được tính liên kết
Trang 25( Thơ tình cuối mùa thu, Xuân Quỳnh)
- Lặp từ pháp là kết ngôn lặp lại các hư từ có ở chủ ngôn Các hư từ kết hợp với lặp cú pháp tạo thành các mệnh đề có tính chất tăng tiến, hoặc tăng tính chặt chẽ cho lập luận
Ví dụ:
Nếu không có nhân dân thì không đủ lực lượng Nếu không có chính phủ thì không ai dẫn đường
(Thư gửi các Ủy ban nhân dân các kì, tỉnh, huyện và làng, Hồ Chí Minh)
Trong trường hợp trên đây, vừa có lặp cú pháp (lặp cấu trúc có dạng “có + N”), vừa có sự lặp lại cặp hư từ (Nếu… thì) Sự kết hợp lặp cú pháp và lặp từ pháp ở trường hợp vừa dẫn đã giúp cho sự liên kết giữa hai phát ngôn chặt chẽ hơn
Mô hình: A-B-C A-B-C
Lặp đủ thuộc nhóm lặp cân và lặp hoàn toàn Có lặp toàn phần một cấu trúc và nhiều cấu trúc
Ví dụ:
Chỉ có đầu của làng nó rơi xuống đất thì đầu con ma làng mình mới chắp lại
được Chỉ khi nào ngọn mác này dính máu làng nó thì cái nợ này mới trả xong Mày
là con trai, mày cầm mác Mày là con gái, mày nhắc lũ đàn ông Mày còn nhỏ, mày để bụng Mày lớn lên, mày phải đi rình
( Bức thư làng Mực, Nguyễn Chí Trung)
Trang 2619
Lâu rồi, khao khát lắm, xuân ơi
Nhân loại vươn lên ánh mặt trời
CN VN BN
Nhân loại trườn lên trên biển máu
CN VN BN
Đang nghe xuân tới mở môi cười
(Xuân nhân loại, Tố Hữu)
Mỗi người thêm một con mắt Mỗi người thêm nhiều cảm rung Trời cũng thêm nhiều màu sắc Đất cũng thêm chiều mênh mông
( Bạn, Trần Lê Văn)
- Lặp thừa:
+ Lặp thừa là ngoài cấu trúc của chủ ngôn, trong kết ngôn còn chứa thêm một
Mô hình: A-B-C.A-B-C-D
Lặp thừa thuộc nhóm lặp lệch và lặp hoàn toàn
Ví dụ:
Vui từ Ðồng Tháp, An Khê Vui lên Việt Bắc, đèo De, núi Hồng
(Việt Bắc, Tố Hữu)
Dành cho củ sắn miếng cơm Dành cho tấm chiếu, ổ rơm ấm cùng
(Làng Thượng, Tố Hữu) + Tùy theo đặc điểm của phần thêm vào ( phần “thừa”) mà có thể chia thành ba trường hợp:
Phần thêm vào là những phụ tố của các thành phần phát ngôn hoặc những yếu tố đồng loại của chúng
Ví dụ:
Kế hoạch Taylo đã tiêu tan Kế hoạch Mắc Namara cũng phá sản Kế hoạch
Trang 27“Tôi đã là con của vạn nhà
La ̀ em của va ̣n kiếp phôi pha
La ̀ anh của va ̣n đầu em nhỏ Không áo cơm cù bất cù bơ”
+ Tùy theo đặc điểm của phần không lặp ( phần “thiếu”) mà lặp thiếu có thể chia ra làm ba trường hợp:
Phần không lặp là một hoặc một số thành phần phát ngôn
Ví dụ:
Vẫn vui như lúc nãy, vợ đi trước thổi sáo Chồng đằng sau hát theo
(Vợ chồng A Phủ, Tô Hoài) Phần không lặp là một vế của phát ngôn ghép
Ví dụ:
Trang 2821
Họ đòi ưu đãi, họ đòi danh dự và địa vị Họ đòi hưởng thụ
( Đạo đức cách mạng, Hồ Chí Minh) Phần không lặp được tách ra thành một phát ngôn riêng Nghĩa là phát ngôn thứ nhất liên kết lặp thiếu với từng phát ngôn thứ hai và thứ ba, nhưng lại có liên kết
“lặp đủ” với cả chuỗi hai phát ngôn này
Ví dụ:
Bom hất Viễn ngã xuống, Viễn lập tức đứng dậy Một quả bom nữa lại hất Viễn ngã xuống Viễn lại đứng dậy
(Tuổi hai mươi, Nguyễn Thành Long)
- Lặp khác là cấu trúc của chủ ngôn chỉ có một bộ phận được lặp lại trong kế t ngôn Ngược lại, cấu trúc của kết ngôn cũng chỉ có một bộ phận là lặp lại chủ ngôn Mỗi phát ngôn có một phần khác nhau riêng
Mô hình: A-B-C.A-B-D
Lặp khác thuộc nhóm lặp cân và lặp bộ phận
Chúng không cho các nhà tư sản của ta ngóc đầu lên Chúng bóc lột công nhân
ta một cách vô cùng tàn nhẫn
( Tuyên ngôn độc lập, Hồ Chí Minh)
Ở ví dụ trên, phần khác ở chủ ngôn là vị ngữ phụ, phần khác ỏ kết ngôn là trạng
tố ở vị ngữ
Lại đây anh lính đêm ơi
Can chi mà để sầu rơi một mình?
Lại đây đi chút, nghe anh Lại đây với bạn tâm tình một đêm
Trang 292 Lặp khác P1 ∩ P2 A-B-C A-B-D
Lặp lệch
3 Lặp thừa P1 P2 A-B-C A-B-C-D
Mặc dù lặp từ vựng hay lặp từ ngữ cũng là một phương thức liên kết văn bản nhưng khác với lặp ngữ pháp, ở lặp từ vựng, đơn vị được lặp lại là các đơn vị từ vựng (chủ yếu là thực từ) còn ở lặp ngữ pháp các đơn vị được lặp lại là các cấu trúc cú pháp (các mô hình
cú pháp) và các hư từ Chẳng hạn, ở trường hợp dưới đây chỉ có phương thức lặp từ vựng chứ không có lặp ngữ pháp (vì cấu trúc của chủ ngôn và kết ngôn rất khác nhau)
Ví dụ:
Lực lượng giai cấp công nhân và nhân dân lao động rất to lớn Nhưng lực lượng ấy cần có Đảng lãnh đạo mới chắc chắn thắng lợi
(Hồ Chí Minh) Trái lại, ở hai ví dụ dưới đây chỉ có hiện tượng lặp ngữ pháp mà không có hiện tượng lặp từ vựng (vì không có thực từ nào được lặp lại):
Trang 3023
Ví dụ:
Việt Bắc đã gọi Hà Nội đã cho đà Huế đã xông lên
Bảo Đại đã nộp ấn kiếm, xin tự hạ bệ
Ví dụ:
Mặc dù giặc Tây độc ác, chúng quyết không thể ngăn trở trăng thu vừa đẹp, vừa tròn Mặc dù giặc Tây hung tàn, chúng quyết không thể ngăn trở các cháu vui tươi, hăng hái Mặc dù giặc Tây bạo ngược, chúng không thể ngăn trở chúng ta kháng chiến thắng lợi, thống nhất và độc lập thành công
(Hồ Chí Minh) Trong trường hợp trên đây, ở các phát ngôn (câu) thứ hai và thứ ba vừa có sự lặp
lại cấu trúc của phát ngôn thứ nhất và lặp lại một số hư từ “ Mặc dù…”, đồng thời có
sự lặp lại một số đơn vị từ vựng (giặc Tây , chúng , quyết không thể…)
Lặp ngữ pháp cũng cần được phân biệt với phép đối với tư cách là một phương
tức liên kết [43, tr 113] Theo Trần Ngọc Thêm “phép đối là phương thức liên kết thể
hiện ở việc sử dụng trong kết ngôn một ngữ đoạn (từ hoặc cùm từ ) có ý nghĩa đối lập với một ngữ đoạn nào đó có ở chủ ngôn” [43, tr 104] Phép đối (với tư cách là một
phương thức liên kết văn bản) theo định nghĩa trên đây rõ ràng về bản chất, khác với đối (đối ngẫu) với tư cách là một thủ pháp nghệ thuật chủ yếu dùng trong văn thơ Phép đối liên kết theo cách hiểu trên đây cũng khác về bản chất với phép lặp ngữ pháp
ở chỗ: ở phép đối, giữa chủ ngôn và kết ngôn không nhất thiết phải có sự lặp lại (sự giống nhau) về cấu trúc trong khi ở lặp ngữ pháp, yêu cầu này là bắt buộc
So sánh:
- Phép đối:
Trang 3124
Ví dụ:
Những người yếu đuối vẫn hay hiền lành Muốn ác phải là kẻ mạnh
(Nam Cao)
Ở ví dụ này, chỉ có sự xuất hiện trong chủ ngôn và kết ngôn các từ trái nghĩa: yếu
đuối/ mạnh; hiền lành/ ác chứ không có sự giống nhau về cấu trúc
trái nghĩa (lâm thời) với nhau (bướm và tằm) ở ví dụ sau đây:
Tôi không muốn là bướm Tôi chỉ muốn là tằm
(Lưu Quý Kỳ) Như đã thấy, ví dụ trên đây vừa có thể dùng làm dẫn chứng về phép lặp ngữ pháp (với sự lặp lại cấu trúc của chủ ngôn ở kết ngôn) vừa có thể dùng làm dẫn chứng về phép đối liên kết (với việc sử dụng các từ trái nghĩa ở chủ ngôn và kết ngôn)
Khi xác định phép lặp ngữ pháp với tư cách là một phương thức liên kết văn bản, cũng cần phân biệt phương thức này với biện pháp đối (đối ngẫu) với tư cách là một biện pháp nghệ thuật thường được dùng trong văn thơ Để làm rõ vấn dề này , cần đề cập đến cách hiểu về khái niệm đối (đối ngẫu)
Theo Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (Từ điển thuật ngữ văn học)
“Đối, còn gọi là đối ngẫu (đối: sóng nhau; ngẫu: chẵn, đôi) là một phương thức tổ
chức lời văn bằng cách điệp cú pháp nhằm tạo ra hai vế, mỗi vế là một câu tương đối hoàn chỉnh, được viết thành hai dòng cân đối, sóng đôi với nhau”[15, tr 122]
Trong cuốn “Thơ ca Việt nam, hình thức và thể loại” Bùi Văn Nguyên, Hà Minh Đức cho rằng “đối nghĩa là thành đôi và tương xứng với nhau” [11, tr 139] Các tác
Trang 3225
giả cho rằng đối luôn phải có hai vế (thành đôi) và phải có sự cân xứng nhau về thanh,
về số lượng âm tiết, về từ loại) Ngoài ra, các tác giả còn phân biệt đối thanh và đối ý
Theo “Từ điển tiếng Việt” (Hoàng Phê chủ biên), “đối là hai từ hoặc hai vế câu
cân xứng với nhau về nội dung, giống nhau về từ loại, trái nhau về thanh điệu bằng trắc và được đặt trong thế tương ứng với nhau thành từng cặp (ở một số điểm đã quy định) để tạo nên giá trị tu từ nhất định” [31, tr 446]
Qua các cách hiểu dẫn ra trên đây, có thể thấy đối nói chung được hiểu là một biện pháp nghệ thuật theo đó, có sự sử dụng sóng đôi các cấu trúc cân xứng với nhau (về từ loại, về số lượng âm tiết, về thanh, về ý) Với cách hiểu này thì ở biện pháp đối luôn có hai vế và hai vế này luôn có sự cân xứng nhau về các mặt Khái niệm đối có
thể được hiểu theo nghĩa hẹp và nghĩa rộng Theo cách hiểu hẹp thì “đối chỉ gồm hai
vế, mỗi vế là một câu tương đối hoàn chỉnh, được viết thành hai dòng cân đối, sóng đôi với nhau” [15,tr 122] Nói cách khác, cách hiểu hẹp về đối cho rằng mỗi vế đối
phải là “ một câu” hay một dòng thơ Khác với cách hiểu này, cách hiểu rộng về đối cho rằng đối không chỉ gồm các vế có cấu tạo là “một câu” hay một dòng thơ mà còn gồm các vế có cấu tạo là một vế câu hay một bộ phận , một thành phần câu hay dòng thơ nhất định Kiểu đối mà mỗi vế đối chỉ là một vế câu hay một bộ phận của câu (dòng thơ) thường được gọi là tiểu đối
Kiểu đối mà mỗi vế là một câu văn hay một dòng thơ được dùng phổ biến trong lối làm câu đối, trong văn thơ cổ (văn biền ngẫu), trong thơ trung đại và cũng được sử dụng cả trong văn thơ cận hiện đại
Bề tôi chọn kẻ vuốt nanh
(Đại cáo bình Ngô – Nguyễn Trãi)
Trang 3326
Cậy sức cây đu nhiều chị nhún Tham tiền cột mỡ lắm anh leo
(Nguyễn Khuyến) Kiểu đối mà mỗi vế đối là một bộ phận của câu hay dòng thơ thường được dùng
trong thơ văn nói chung nhưng phổ biến nhất là trong thơ Chẳng hạn, trong “Truyện
Kiều” của Nguyễn Du, có thể gặp khá nhiều các kiểu dạng tiểu đối
Ví dụ:
- Rằng năm Gia Tĩnh triều Minh Bốn phương phẳng lặng/ hai kinh vững vàng
- Người lên ngựa/ kẻ chia bào
- Người nách thước/ kẻ tay đao
- Quạt nông/ ấp lạnh những ai đó giờ
(Bà mẹ Việt Bắc)
Than Phấn Mễ/ thiếc Cao Bằng Chiếu Nga Sơn/ gạch Bát Tràng Vải tơ NamĐịnh/ luạ hàng Hà Đông
(Việt Bắc)
Không ham mái ngói/ chẳng cầu tường vôi
(Trường tôi)
Trẻ làm đuốc sống/ già xây lửa đồn
(Ba mươi năm đời ta có Đảng) Qua cách hiểu cũng như qua các ví dụ vừa dẫn về đối (đối ngẫu) với tư cách là một biện pháp tu từ, có thể nhận thấy những nét tương đồng hay gần gũi và những nét khác biệt giữa biện pháp lặp ngữ pháp (với tư cách là một phương thức liên kết văn bản) Cụ thể:
Trang 3427
- Nét giống nhau:
+ Ở đối (đối ngẫu) và lặp ngữ pháp đều có sự lặp lại cấu trúc
+ Kiểu đối mà vế đối có cấu trúc là câu hay dòng thơ cũng có tác dụng liên kết văn bản nhất định giống như lặp ngữ pháp
- Khác nhau:
+ Ở đối luôn phải có sự “sóng đôi” cấu trúc, tức là luôn phải có hai vế, còn ở lặp ngữ pháp, yêu cầu này không có tính bắt buộc (số lượng) đơn vị tham gia lặp ngữ pháp
có thể là hai hoặc hơn hai như đã chỉ ra
+ Ở đối, giữa các vế luôn phải có sự cân xứng (về số lượng, về từ loại, thậm chí
cả về thanh điệu, về ý), còn ở lặp ngữ pháp yêu cầu này cũng không phải là bắt buộc (vì vậy, ở lặp ngữ pháp, ngoài lặp đủ, còn có lặp khác, lặp thừa, lặp thiếu)
+ Ở đối, yêu cầu “đối xứng” đòi hỏi giữa các yếu tố bộ phận trong cấu trúc vừa
phải giống nhau, vừa phải khác nhau (chẳng hạn, ở các thành ngữ đối như: “ khôn nhà
dại chợ”, “ đục nước béo cò”); Ở lặp ngữ pháp, yêu cầu này cũng không phải là bắt
buộc Chính điều này giải thích vì sao ở cấu trúc đối (điển hình) nói chung không có hiện tượng lặp từ vựng Trong khi đó, ở lặp ngữ pháp hiện tượng lặp từ vựng (kiểu
như: “Đã nghe nước chảy lên non, Đã nghe đất chuyển thành con sông dài”) lại là
hiện tượng phổ biến
+ Ở đối, đơn vị tham gia (các vế đối) có thể là câu (dòng thơ) hoặc là vế câu (bộ phận của dòng thơ), còn ở lặp ngữ pháp (với tư cách là một phương tiện liên kết văn bản), các đơn vị tham gia vào quan hệ lặp phải là câu văn hay dòng thơ (khổ thơ), tức
là những đơn vị liên kết văn bản
Mặc dù có những điểm khác nhau cơ bản như chỉ ra trên đây nhưng cũng cần thấy rằng giữa đối (đối ngẫu) và lặp ngữ pháp cũng có sự giao nhau ở một bộ phận, tức
là có những trường hợp vừa là đối, vừa là lặp ngữ pháp Đó chính là những trường hợp của những cấu trúc đối mà mỗi vế là một câu hay một dòng thơ
Trang 35Như vậy, có thể thấy một bộ phận của đối hay đối ngẫu đồng thời là lặp ngữ pháp Sự không trùng nhau giữa đối và lặp ngữ pháp chính là ở chỗ:
- Một bộ phận của đối (cụ thể là tiểu đối, tức là kiểu đối mà mỗi vế là một bộ phận của câu hay của dòng thơ) không thuộc về lặp ngữ pháp (vì kiểu đối này không
có chức năng liên kết văn bản)
- Mặt khác, trong nhiều trường hợp, lặp ngữ pháp hoàn toàn không phải là đối;
đó là những trường hợp ở lặp ngữ pháp đồng thời lặp từ vựng và trường hợp ở lặp ngữ pháp có sự lặp lại hơn hai lần chủ ngôn
Sự phân tích trên đây cho thấy rõ mối quan hệ, sự gần gũi, sự giao nhau giữa lặp ngữ pháp với lặp từ vựng và phép đối liên kết cũng như biện pháp đối với tư cách là một biện pháp nghệ thuật thường dùng trong văn thơ, đặc biệt là văn thơ cổ và trung đại Trên cơ sở xác định khái niệm lặp ngữ pháp như trên, dưới đây, chúng ta sẽ xem xét vấn đề phân loại lặp ngữ pháp và các kiểu lặp ngữ pháp cụ thể, trong đó, sẽ đặc biệt chú ý đến hiện tượng lặp ngữ pháp trong thơ là nội dung sẽ được khảo sát trong luận văn này Như dã chỉ ra ở mục 1.1 (Tổng quan về tình hình nghiên cứu), khi phân loại lặp ngữ pháp, căn cứ vào đặc điểm cấu trúc của chủ ngôn và kết ngôn, người ta thường chia lặp ngữ pháp thành: lặp đủ, lặp khác, lặp thừa và lặp thiếu Cách hiểu và ví dụ về mỗi kiểu lặp này trong văn bản văn xuôi đã được chỉ ở mục “Tổng quan” Ở đây, chúng tôi xin nêu thêm một số ví dụ về các kiểu lặp này trên cứ liệu văn bản thơ
- Lặp đủ: Đây là kiểu lặp toàn bộ cấu trúc của dòng thơ đứng trước ( chủ ngôn)
Ví dụ:
Con chim non không tổ Trẻ mồ côi không nhà
( Mồ côi )
Trang 3629
Đây thành lao, cửa ngục Đây xiềng xích, gông cùm Đây mũi súng, làn gươm
( Ba tiếng)
- Lặp khác: Ở kiểu lặp này cấu trúc của dòng thơ trước (chủ ngôn) được lặp lại ở một bộ phận (quan trọng) của các dòng sau (kết ngôn) (bộ phận còn lại có vai trò, chức năng khác nhau)
Ví dụ:
Sống đã vì cách mạng anh em ta Chết cũng vì cách mạng chẳng phiền hà
(Trăng trối)
Ở ví dụ trên đây, bộ phận đuợc lặp lại (có cấu trúc giống nhau) là “Đây ba
tiếng”, “Đây là lời”, còn bộ phận khác nhau là bộ phận còn lại ở mỗi dòng thơ
- Lặp thiếu: Đây là kiểu lặp mà các thành phần thuộc cấu trúc của dòng thơ trước (chủ ngôn) không được lặp lại đầy đủ ở dòng thơ sau (kết ngôn)
Ví dụ:
Tôi đã là con của vạn nhà
Là em của vạn kiếp phôi pha
Là anh của vạn đầu em nhỏ
( Từ ấy)
Cùng ngây thơ, khờ dại như chim non Cùng trinh tiết như hai tờ giấy trắng
(Hai đứa trẻ)
Trang 3730
Ở ví dụ thứ nhất, yếu tố không được lặp lại là chủ ngữ (tôi) Ở ví dự thứ hai, yếu
tố không được lặp lại là thành phần đồng loại ở dòng thứ nhất (khờ dại)
- Lặp thừa:
Ở kiều lặp này, ngoài sự lặp lại các thành phần của cấu trúc trong dòng thơ thứ nhất (chủ ngôn) ở dòng thơ sau (kết ngôn) còn có sự xuất hiện của một hay một số thành phần nào đó không có ở dòng thứ nhất
Cách phân chia lặp ngữ pháp thành 4 kiểu như trên đây có tính khái quát cao và phản ánh sự đối lập thực tế giữa các kiểu lặp ngữ pháp trong các loại văn bản nói chung Tuy nhiên, khi áp dụng vào văn bản thơ, có thể nhận thấy sự không đầy đủ của
sự phân chia này Do đó, theo chúng tôi , đối với văn bản thơ, cần có sự bổ sung một
số tiêu chí Cụ thể:
- Theo sự có mặt của các từ ngữ trong chủ ngôn (dòng thơ trước) và kết ngôn (dòng thơ lặp lại) có thể phân biệt: lặp hoàn toàn (lặp nguyên vẹn hay nguyên văn) và lặp không hoàn toàn (lặp có thay đổi từ ngữ cụ thể)
Ví dụ:
+ Lặp hoàn toàn ( nguyên văn)
Hỡi những con khôn của giống nòi
… Hỡi những con khôn của giống nòi
(Dậy lên thanh niên)
Trang 38Có lành đâu vết thương đầy oán hận
Có tan đâu khi uất tự bao giờ
(Tháp đổ)
Có gì đâu ta cầu khẩn van lơn?
Có gì đâu ta ôm mối căm hờn?
(Hãy đứng dậy)
- Theo đặc điểm cấu trúc và khối lượng của chủ ngôn và kết ngôn, có thể phân biệt: lặp dòng thơ và lặp khổ thơ (gồm nhiều dòng thơ) Kiểu lặp dòng thơ rất phổ biến như có thể thấy qua các ví dụ đã dẫn ở trên Dưới đây là ví dụ về lặp khổ thơ:
Ví dụ:
Nhật Hoàng! Nhật Hoàng Trên ngai vàng chễm chệ Uất hận của Phù Tang
Đã vang cùng sóng bể!
… Nhật Hoàng! Nhật Hoàng Trên ngai vàng chễm chệ Uất hận của Phù Tang
Đã vang cùng sóng bể!
( Đông Kinh nhuộm máu) Mặc dù việc lặp khổ thơ không phổ biến bằng việc lặp dòng thơ nhưng cũng không phải là hiện tượng ít gặp, đặc biệt trong thơ Tố Hữu Trong thơ ca nước ngoài, hiện tượng lặp khổ thơ cũng khá phổ biến mà dưới đây là một ví dụ về hiện tượng lặp khổ thơ thể hiện qua một bài thơ dịch
Trang 3932
Trong mơ anh đã khóc Thấy em trong áo quan, Đến khi anh tỉnh giấc Nước mắt cứ tuôn tràn
Trong mơ anh đã khóc, Thấy em không trung thành, Tỉnh dậy, anh, đôi mắt
( Thơ của H Hainơ)
Một ví dụ khác về hiện tượng lặp khổ thơ trong thơ ca nước ngoài là bài “Bài ca
người du kích” được Tố Hữu chuyển dịch từ dân ca Nam Tư, trong đó có đến 5 khổ
thơ có cùng dạng cấu trúc (khuôn hình) được lặp lại
-Theo số lần lặp lại (số dòng thơ hay khổ thơ được lặp lại) có thể phân biệt các dạng: lặp một lần (lặp đơn) và lặp nhiều lần (hay lặp kép, lặp phức)
+ Lặp đơn:
Ai đâu giam cấm được hồn ta
Ai đâu giam cấm được lời ca
( 14 tháng 7) + Lặp kép (lặp phức)
Lặp hai lần:
Nghe chim reo trong gió mạnh lên triều Nghe vội vã tiếng dơi chiều đập cánh Nghe lạc ngựa rùng chân bên giếng lạnh
(Tâm tư trong tù)
Trang 4033
Lặp ba lần
Đâu gió cồn thơm đất nhả mùi Đâu ruồng che mát thở yên vui Đâu từng ô mạ xanh mơn mởn Đâu những nương khoai ngọt sắn bùi?
( Nhớ đồng) Lặp bốn lần