1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Đề thi Mac Lênin, có liên hệ thực tiễn, dùng để thi hết môn ( Phần 1)

30 1,5K 22

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 119,02 KB
File đính kèm mac le nin 1.docx.zip (106 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc ngườimột cách năng động, sáng tạo Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức được khẳng định ở các mặt sau: * Vật chất là tính thứ nhấ

Trang 1

ĐỀ THI CÓ ĐÁP ÁN MÔN TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN

nó đối với nhận thức và hoạt động thực tiễn.

Câu 05: Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập ?

Ý nghĩa phương pháp luận?

Câu 06: Quy luật phủ định của phủ định Ý nghĩa phương pháp luận.

Câu 07: Mối quan hệ giữa nguyên nhân - kết quả Ý nghĩa phương pháp luận Sự vận dụng của Đảng CSVN?

Trang 2

Câu 1: Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức Ý nghĩa phương pháp luận, sự vận dụng của Đảng CSVN

BÀI LÀM

Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quanđược đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng tachép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác

Ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc ngườimột cách năng động, sáng tạo

Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức được khẳng định ở các mặt sau:

* Vật chất là tính thứ nhất, ý thức là tính thứ hai, vật chất quyết định ý thức và vai trò quyết định đó thể hiện ở những điểm chủ yếu sau:

- Một là, xét về mặt thời gian, vật chất là cái có trước, là cái vô cùng

vô tận, không có điểm khởi đầu và cũng không có điểm kết thúc Còn ýthức là cái có sau, nó xuất hiện cùng với sự xuất hiện của con người, loàingười và nó là kết quả của sự tiến hóa lâu dài của giới tự nhiên cũng nhưcủa những hoạt động của con người Cái có sau không thể sinh ra cái cótrước nó được Vì vậy ý thức là cái không thể nào sinh ra vật chất

- Hai là, xét về mặt nguồn gốc hình thành: VC không do ai sáng tạo

ra và không thể bị mất đi, nó có nguồn gốc từ bản thân nó, còn ý thứcđược hình thành từ nguồn gốc tự nhiên và XH Những yếu tố ở hainguồn gốc đó đều liên quan mật thiết, trực tiếp đến thế giới vật chất, có

cơ sở từ vật chất tức là những tiền đề, nguồn gốc tạo thành YT đều xuấtphát từ VC và thuộc về thế giới VC

- Ba là, xét về mặt nội dung: ý thức chỉ là cái phản ánh, còn thế giớivật chất là cái được phản ánh Đương nhiên, nếu không có cái được phảnánh-tức là thế giới vật chất-thì sẽ chẳng có được một hình ảnh nào đó về

nó Nội dung của ý thức là những tri thức của con người về thế giới vậtchất ở xung quanh họ, những tri thức đó cũng được con người tích lũy từtrong hoạt động vật chất của chính họ

- Bốn là, xét về sự vận động, biến đổi và phát triển của ý thức: sựphát triển của tư duy, của ý thức con người phụ thuộc vào sự phát triểncủa hoạt động thực tiễn con người trong quá trình hoạt động cải tạo thếgiới vật chất Trình độ nhận thức của con người phụ thuộc vào trình độhoạt động chinh phục tự nhiên cải tạo XH của chính con người Khi thế

Trang 3

giới vật chất và cuộc sống XH có những biến đổi thì điều đó sớm muộncũng dẫn đến sự biến đổi, sự phát triển trong tư duy, ý thức con người.Như vậy, xét cả về mặt thời gian, nguồn gốc hình thành, về mặt nộidung cũng như về sự vận động biến đổi và phát triển của ý thức chothấy: vật chất luôn là tính thứ nhất, ý thức luôn là tính thứ hai, vật chấtbao giờ cũng quyết định ý thức.

* Trong khi nhấn mạnh vật chất quyết định ý thức thì triết học Lênin đồng thời cũng khẳng định ý thức cũng có tác động mạnh mẽ trở lại đối với vật chất, thể hiện:

Mác Sau khi được hình thành thì ý thức có tính độc lập tương đối củamình và nó tác động trở lại đối với thế giới vật chất theo cả hai chiềuhướng:

+ Những ý thức đúng đắn, khoa học và cách mạng phản ánh đúngbản chất, quy luật vận động của thế giới vật chất sẽ có tác động tích cựcthúc đẩy sự vận động, phát triển của thế giới vật chất

+ Những ý thức, tư tưởng phản khoa học, phản ánh xuyên tạc bảnchất, quy luật vận động thế giới khách quan sẽ có tác động tiêu cực, kìmhãm sự phát triển của thế giới vật chất

Sự tác động của ý thức đối với vật chất bao giờ cũng phải thông quahoạt động thực tiễn của con người Còn bản thân ý thức tự nó không trựctiếp làm thay đổi được gì trong hiện thực Vì vậy nói tới vai trò của ýthức về thực chất là nói đến vai trò của con người, ý thức chỉ đạo hànhđộng của con người hình thành mục tiêu kế hoạch, biện pháp cho hoạtđộng của con người (Hồ Chí Minh: “ chủ trương một, biện pháp mười,thực hiện hai mươi”)

Sự tác động trở lại của ý thức đối với vật chất bao giờ cũng diễn ratrên cơ sở vật chất là tính thứ nhất, ý thức là tính thứ hai Trong bất kỳtrường hợp nào ý thức cũng chỉ là sự phản ánh thế giới vật chất và sángtạo của ý thức là sự sáng tạo của phản ánh và sáng tạo trong khuôn khổcủa sự phản ánh

Ý nghĩa phương pháp luận:

- Trong nhận thức và hoạt động thực tiễn phải xuất phát từ thực tếkhách quan, tôn trọng thực tế khách quan và lấy nó làm căn cứ, cơ sởcho việc hoạch định mọi chủ trương, chính sách

Trang 4

Lênin đã nhấn mạnh: “Không được lấy ý muốn chủ quan của mình

là chính sách, không được lấy tình cảm làm điểm xuất phát cho chiến lược và sách lược của cách mạng Nếu chỉ xuất phát từ ý muốn chủ quan, lấy ý chí áp đặt cho thực tế, lấy ảo tưởng thay cho hiện thực thì sẽ mắc bệnh chủ quan duy ý chí”.

Thực tế ở Việt Nam trước thời lỳ đổi mới chúng ta cũng phạm phảisai lầm chủ quan duy ý chí Tại Đại hội Đảng CSVN đã rút ra bài học:

“Đảng đã phạm phải sai lầm duy ý chí, vi phạm quy luật khách quan” vàĐại hội VII rút ra bài học: “Mọi đường lối, chủ trương của Đảng phảixuất phát từ thực tế, tôn trọng quy luật khách quan”

Đến Đại hội IX, một trong những bài học rút ra sau 15 năm tiếnhành đổi mới là đổi mới phải phù hợp với thực tiễn và luôn luôn sángtạo

- Phát huy tính năng động sáng tạo của ý thức, tính tích cực, chủđộng trong hoạt động cải tạo thế giới khách quan của con người Vai tròtích cực của ý thức, tư tưởng không phải là ở chỗ nó trực tiếp tạo ra haylàm thay đổi thế giới vật chất mà là nhận thức đúng đắn thế giới kháchquan Từ đó hình thành ở con người mục đích, phương hướng, ý chí,phương pháp… Con người càng phản ánh chính xác, đầy đủ thế giớikhách quan thì hoạt động cải tạo thế giới khách quan của họ càng cóhiệu quả Vì vậy phát huy tính năng động, sáng tạo của ý thức, phát huyvai trò nhân tố con người là vấn đề có ý nghĩa quyết định đến sự thànhcông hay thất bại của sự nghiệp cách mạng

Tại Đại hội VIII, Đảng CSVN đã khẳng định: “Trong thời kỳ đổimới phải lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho

sự phát triển mạnh và bền vững”

Đến Đại hội IX, Đảng CSVN một lần nữa khẳng định: “Phát huynguồn lực trí tuệ và sức mạnh tinh thần của người Việt Nam, coi pháttriển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ là nền tảng và động lựccủa sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa Phát huy nguồn lực conngười là yếu tố cơ bản để phát triển XH, tăng trưởng kinh tế nhanh vàbền vững”

- Cần chống xu hướng coi thường thực tế khách quan để rơi vàoCNDT duy ý chí, mặt khác cần chống khuynh hướng giáo điều hay thụđộng chờ đợi rơi vào nhủ nghĩa bảo thủ

Trang 5

Câu 2: Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và ý nghĩa phương pháp luận của vấn đề này? Sự vận dụng của Đảng CSVN?

BÀI LÀM

a Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến:

- Liên hệ là một phạm trù của phép biện chứng duy vật dùng để chỉ

sự tác động ảnh hưởng lẫn nhau, ràng buộc, chế ước nhau, quy định vàchuyển hóa cho nhau của các sự vật hiện tượng hc giữa các mặt, các yếu

tố trong sự vật hiện tượng trong thế giới khách quan

Cơ sở của sự liên hệ qua lại giữa các sự vật là tính thống nhất vậtchất của thế giới, các sự vật hiện tượng dù khác nhau, đa dạng đến mấythì chúng cũng chỉ là những dạng tồn tại khác nhau của một thế giới duynhất là vật chất mà thôi

-Mối liên hệ giữa các sự vật hiện tượng mang tính phổ biến thể hiệnqua những điểm sau:

+ Nếu xét về mặt không gian: mỗi một sự vật, hiện tượng là mộtchỉnh thể riêng biệt, song chúng tồn tại không phải trong một trạng tháibiệt lập tách rời tuyệt đối với các sự vật khác Trong hiện thực kháchquan không có sự vật, hiện tượng nào tồn tại biệt lập, không nhận tácđộng và không tác động đến sự vật khác Ngược lại, các sự vật vừa táchbiệt nhau vừa phụ thuộc nhau,sự vật này lấy sự vật kia làm tiền đề cho

sự tồn tại của mình, chúng vừa tác động vừa nhận sự tác động, chúngvừa tách biệt vừa phụ thuộc vào nhau đó chính là hai mặt của một quátrình tồn tại, vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng

+ Nếu xét về mặt cấu tạo, cấu trúc bên trong của mỗi sự vật, hiệntượng: các yếu tố, các bộ phận cấu thành nên một sự vật nào đó đều tồntại trong một tổ chức nhất định, đều được sắp xếp theo một trật tự lôgic,một kiểu tổ chức nhất định Các bộ phận đó không thể tồn tại trong mộttrạng thái hỗn độn hoặc hoàn toàn tách rời nhau, không có liên hệ vớinhau Giữa các bộ phận, các yếu tố đó có mối liên hệ, trong đó mỗi bộphận, mỗi yếu tố vừa đảm trách phần việc của mình vừa tạo điều kiệncho những bộ phận khác Do vậy, sự biến đổi của một bộ phận nào đótrong cấu trúc của sự vật sẽ gây ảnh hưởng đến những bộ phận kháccũng như đối với toàn bộ chỉnh thể sự vật

+ Nếu xét về mặt thời gian: mỗi một sự vật, hiện tượng nói riêng và

cả thế giới nói chung trong quá trình tồn tại, phát triển của mình đều

Trang 6

phải trải qua những giai đoạn, những thời kỳ khác nhau, thể hiện rõ nhất

là giai đoạn phát sinh, giai đoạn phát triển, giai đoạn suy tàn và giai đoạnchuyển hóa thành cái khác Các giai đoạn, các thời kỳ đó có mối liên hệkhông tách rời nhau mà làm tiền đề cho nhau, sự kết thúc của giai đoạnnày lại là điểm mở đầu cho giai đoạn tiếp sau Như vậy giữa quá khứ,hiện tại và tương lai có mối liên hệ với nhau có sự chuẩn bị cho nhau.Như vậy, xét trên mọi phương diện từ vĩ mô đến vi mô, từ hiện tạitới quá khứ và tương lai ở đâu chúng ta cũng thấy sự hiện diện của cácMQH, sự vật hiện tượng tồn tại trong các MQH đó vì vậy: MLH là cótính phổ biến

- Mối liên hệ phổ biến giữa các sự vật, hiện tượng được thể hiện rấtphong phú, rất đa dạng, phức tạp và tuỳ theo tình chất của MLH, phạm

vi của MLH, vai trò cùa MLH đối với sự tồn tại và phát triển của sự vật.Khi nghiên cứu về hiện thực khách quan có thể phân chia chúng ra thànhtừng loại khác nhau tùy theo tính chất phức tạp hay đơn giản, phạm virộng hay hẹp, trình độ nông hay sâu… Khái quát lại có những mối liên

hệ chính phổ biến sau đây:

+ Mối liên hệ bên trong và liên hệ bên ngoài

+ Mối liên hệ chủ yếu và thứ yếu

+ Mối liên hệ chung và riêng

+ Mối liên hệ trực tiếp và gián tiếp

+ Mối liên hệ tất nhiên và ngẫu nhiên

+ Mối liên hệ bản chất và không bản chất

Trong đó, những mối liên hệ ở bên trong, trực tiếp, bản chất, tấtnhiên là những mối liên hệ quan trọng giữ vai trò quyết định đối với sựtồn tại và phát triển của sự vật

- Triết học Mác xít cũng đồng thời chỉ rõ rằng: các loại liên hệ khácnhau có khả năng chuyển hóa cho nhau, thay đổi vị trí cho nhau Điềunày tùy thuộc vào sự thay đổi phạm vi bao quát của việc nghiên cứuhoặc do kết quả vận động của chính bản thân sự vật đó

b Ý nghĩa phương pháp luận:

- Từ việc nghiên cứu nguyên lý về mối liên hệ phổ biến giữa các sựvật, hiện tượng ta rút ra quan điểm toàn diện trong nhận thức các sự vậtcũng như trong hoạt động thực tiễn Yêu cầu của quan điểm toàn diệnbao gồm:

Trang 7

+ Về mặt nhận thức: cần nghiên cứu sự vật, hiện tượng nào đó đặttrong mối quan hệ với các sự vật, hiện tương khác; Phát hiện ra nhữngmối liên hệ qua lại giữa các yếu tố, bộ phận, thuộc tính, các giai đoạnphát triển khác nhau của sự vật đó

Để nhận thức đúng về sự vật còn đòi hỏi phải xem xét nó trong mốiliên hệ với nhu cầu thực tiễn của con người, ứng với mỗi thời kỳ, mỗithế hệ con người bao giờ cũng chỉ phản ánh được một số lượng hữu hạnmối liên hệ

+ Về mặt hoạt động thực tiễn: để cải tạo được sự vật cần phải làmbiến đổi những mối liên hệ của sự vật đó với các sự vật khác, đặc biệt làmối liên hệ bên trong, trực tiếp, bản chất Cần phải xây dựng kế hoạchtổng thể và phải sử dụng đồng bộ nhiều biện pháp, phương pháp,phương tiện khác nhau để tác động Mặt khác, quan điểm toàn diện cũngđòi hỏi cần phải kết hợp chặt chẽ chính sách dàn đều và chính sách cótrọng điểm, vừa chú ý giải quyết cái tổng thể vừa biết lựa chọn vấn đềtrung tâm, trọng tâm để giải quyết dứt điểm tạo đà cho việc giải quyếtcác vấn đề khác

Thực hiện quan điểm toàn diện góp phần khắc phục bệnh phiếndiện, một chiều siêu hình nghĩa là khi xem xét một SV, HT chỉ nhìn thấynhững sự vật cá biệt mà không nhìn thấy mối quan hệ qua lại giữa những

sự vật ấy, chỉ nhìn thấy sự tồn tại của sự vật ấy mà không nhìn thấy sựphát sinh và tiêu vong của SV ấy, chỉ nhìn thấy trạng thái tĩnh của sựviệc ấy mà quên mà sự vận động của SV ấy, không thấy được bản chấtcủa SV, chỉ thấy cây mà không thấy rừng

Quan điểm toàn diện cũng góp phần khắc phục lối suy nghĩ giảnđơn

- Nếu các mối liên hệ có tính đa dạng thì trong hoạt động của mìnhcon người phải tôn trọng quan điểm lịch sử – cụ thể nghĩa là khi nhậnthức một đối tượng nào đó phải đặt nó vào đúng mối liên hệ của nó,đúng không gian của nó và đúng thời gian của nó Tức là trả lời được:Mối liên hệ với cái gì? ở đâu? Vào lúc nào? Quan điểm hoàn cảnh lịch

sử cụ thể đòi hỏi khi vận dụng những nguyên tắc lý luận vào thực tiểnkhông được dừng lại ở những công thức chung, sơ đồ chung mà phảitính đến những điều kiện lịch sử – cụ thể của sự vận dụng

Trang 8

Cần chống bệnh giáo điều: tức từ bỏ lối nghiên cứu một cách kinhviện, thuần túy chỉ biết giải thích bằng kinh nghiệm, chứng minh lý luậnbằng lý luận cần chống đối lối tư duy bắt chước, sao chép rập khuôn,thoát ly thực tế, bất chấp những đặc điểm, truyền thống và điều kiện lịch

sử cụ thể của đất nước, của dân tộc tăng cường tổng kết thực tiễn bổsung phát triển lý luận

Trong hoạt động thực yiễn con người càng hiểu nhiều mối liên hệbao nhiêu thì sai lầm càng ít đi Muốn đánh giá đúng tình hình, nhậnthức đúng bản chất của sự vật và giải quyết tốt mọi công việc của mìnhchúng ta phải quán triệt quan điểm toàn diện, quan điểm lịch sử – cụ thể

Đó là phương pháp nhận hức khoa học

Liên hệ tình hình hiện nay: Đảng ta đã vận dụng khá thành công

nguyên lý về mối liên hệ phổ biến cũng như quan điểm toàn diện, quanđiểm lịch sử – cụ thể trong thời kỳ CM DTDCND về việc đề ra đườnglối kháng chiến đúng đắn Tuy nhiên thời kỳ trước đổi mới (1976 –1986) chúng ta đã phạm phải những sai lầm thiếu sót thể hiện: chỉ chú ýxây dựng QHSX mới mà không chú ý đến phát triển LLSX ( bệnh phiếndiện) Trong xây dựng QHSX chúng ta chỉ chú ý đến mối quan hệ sởhữu về TLSX mà không chú ý đến mối quan hệ tổ chức quản lý và quan

hệ phân phối sản phẩm đẫn đến quốc hữu hoá TLSX thực tế trình độquản lý của ta còn yếu kém, không khơi dậy tính năng động nơi ngườilao động Quan niện CNXH phải có CN nặng, qúa coi trọng việc xâydựng công nghiệp nặng, nông nghiệp không được quna tâm đúng mức

mà ưu thế của là là một nước nông nghiệp

Ngày nay, trong công cuộc đổi mới đất nước, Đảng ta chủ trươngđổi mới toàn diện, đồng bộ và triệt để Nội dung đổi mới bao gồm nhiềumặt, song trong mỗi bước đi phải xác định đúng khâu then chốt để tậptrung sức giải quyết làm cơ sở đổi mới các khâu khác, lĩnh vực khác Vìvậy trong mối quan hệ đội mới KT và đổi mới CT, Đảng ta chủ trươngtrước hết là đổi mới KT, coi đó là điều kiện để tiến hành đổi mới tronglĩnh vực CT

Trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam, Đảng CSVN xác định: Đổimới toàn diện mọi mặt đời sống XH trong đó trọng tâm là đổi mới kinh

tế Tại Đại hội Đảng lần thứ VIII, Đảng CSVN đã khẳng định: “Xét trêntổng thể Đảng ta đã bắt đầu công cuộc đổi mới từ đổi mới về tư duy

Trang 9

chính trị trong việc hoạch định đường lối đối nội và đối ngoại, không có

sự đối nội đó thì không có mọi sự đổi mới khác Song Đảng ta đã đúngkhi tập trung trước hết và việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ đổi mới kinh

tế, khắc phục khủng hoảng KT - XH, tạo tiền đề cần thiết về vật chất vàtinh thần để giữ vững ổn định chính trị, xây dựng và củng cố niềm tincủa nhân dân, tạo điều kiện để đổi mới các mặt khác của đời sống XH”

Câu 3: Nguyên lý về sự phát triển và ý nghĩa phương pháp luận.

Sự vận dụng của Đảng CSVN.

BÀI LÀM

a Nội dung nguyên lý phát triển:

* Khái niệm: Phát triển là một phạm trù của phép biện chứng duyvật dùng để khái quát quá trình vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơngiản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn

- Phát triển là một trường hợp đặc biệt của vận động, không phảimọi sự vận động đều là phát triển mà chỉ có quá trình vận động nào làmnảy sinh những tính quy định mới cao hơn về chất, qua đó làm tăngcường tính phức tạp của sự vật, làm cho cơ cấu tổ chức, phương thức tồntại của sự vật cùng những chức năng vốn có của nó ngày càng hoànthiện hơn mới gọi là phát triển

- Trong hiện thực khách quan, sự phát triển được thực hiện khácnhau tùy thuộc vào hình thức tồn tại cụ thể của các dạng vật chất Đốivới giới hữu cơ sự phát triển thể hiện ở khả năng thích nghi của cơ thể,khả năng tiến hóa của cơ thể, khả năng ngày càng hoàn thiện, quá trìnhtrao đổi chất giữa cơ thể với môi trường

- Đối với XH, sự phát triển thể hiện ở năng lực chinh phục giới tựnhiên cải tạo XH, nâng cao đời sống mọi mặt của con người, mức độ,trình độ giải phóng con người, những điều kiện để con người phát triểntoàn diện những phẩm chất, năng lực vốn có của mình

Đối với tư duy, sự phát triển thể hiện ở khả năng nhận thức ngàycàng sâu sắc hơn, đầy đủ hơn, chính xác hơn đối với thế giới xung quanh

và XH

- Sự phát triển được thực hiện theo con đường quanh co phức tạp,trong đó có thể bao hàm cả những bước thục lùi tương đối chúng ta có

Trang 10

thể hình dung con đường cho sự phát triển không phải theo đường thẳngtấp mà theo đường xoắn ốc.

Sai lầm của quan điểm siêu hình về vấn đề này là ở chỗ đã xem sựphát triển chỉ là sự tăng lên hay giảm đi thuần túy về mặt lượng màkhông có sự thay đổi về chất Sự phát triển đơn giản chỉ diễn ra như mộtquá trình thẳng tấp không có những bước quanh co, thụt lùi

- Nguồn gốc của sự phát triển nằm ngay trong bản thân sự vật, donhững mâu thuẫn giữa các mặt đối lập ở bên trong sự vật quy định; Pháttriển là kết quả của quá trình tích lũy về lượng dẫn tới sự thay đổi vềchất của cuộc đấu tranh giữa các mặt đối lập của sự phủ định của cáimới đối với cái cũ Triết học Mácxít nhấn mạnh: phát triển là quá trình

tự thân phát triển, nó mang tính khách quan, mang tính độc lập với ýthức con người

Sai lầm của chủ nghĩa duy tâm về vấn đề này là ở chỗ đã đi tìmnguồn gốc của sự phát triển ở những lực lượng siêu tự nhiên hay ở trong

ý thức con người Còn quan điểm của chủ nghĩa duy vật siêu hình lạicho rằng nguồn gốc của sự phát triển là do sự tác động từ bên ngoài vào

- Sự phát triển là hiện tượng diễn ra không ngừng trong tự nhiên,

XH và tư duy Xét trong phạm vi hẹp và ở trong trường hợp cá biệt thì

có những vận động đi lên, đi xuống, vòng tròn, nhưng xét trong tổng thểkhông gian rộng lớn thì vận động đi lên là khuynh hường chủ đạo Kháiquát tình hình đó triết học Mác-Lênin đã khẳng định: Phát triển làkhuynh hướng chung của mọi sự vận động của các sự vật, hiện tượng

b Ý nghĩa phương pháp luận:

- Nghiên cứu nguyên lý về sự phát triển giúp chúng ta nhận thứcđược rằng muốn thật sự nắm bắt được bản chất sự vật hiện tượng, nắmbắt được khuynh hướng vận động của chúng thì cần phải xây dựng quanđiểm vận động và phát triển, khắc phục tư tưởng bảo thủ trì trệ Yêu cầu

cơ bản của quan điểm đó là: khi xem xét sự vật hiện tượng phải đặt nó

trong trạng thái vận động và phát triển Lênin đã khẳng định:” Lôgic biện chứng đòi hỏi phải xem xét sự vật trong sự phát triển, trong sự tự vận động, trong sự biến đổi của nó”

- Nghiên cứu sự vật, hiện tượng không chỉ với tư cách là cái đangtồn tại mà cần phải nắm được khuynh hướng phát triển trong tương lai

Trang 11

của nó, dự báo sự xuất hiện của nhân tố mới, cái mới, chuẩn bị nhữngđiều kiện thuận lợi cho sự ra đời của cái mới.

- Cần có thái độ lạc quan, tin tưởng vào sự chiến thắng tất yếu củacái mới đồng thời phải có nhận thức rõ quá trình phát triển là quá trìnhbiện chứng đầy mâu thuẫn Chiến thắng của cái mới đối với cái cũ là rấtkhó khăn, phức tạp thậm chí còn có những thất bại tạm thời

- Để có một sự phát triển trong hiện thực cần có quá trình tích lũy vềlượng, một sự chuẩn bị cho những bước nhảy vọt nhằm thay đổi về chấtqua những lần phủ định Mặt khác, cần biết phát hiện ra mâu thuẫn và tổchức để các mâu thuẫn đó được giải quyết

- Cần đấu tranh khắc phục và chống lại mọi biểu hiện của trì trệ, bảothủ, không dám đổi mới để phát triển đồng thời phải chống thái độ nóngvội, chủ quan muốn đốt cháy giai đoạn

* Nghiên cứu về MLH phổ biến và sử phát triển đồi hỏi phải xây dựng và quán triệt quan điểm lịch sử – cụ thể trong hoạt động nhận thức và thực tiễn:

- Khi nhận thức và tác động vào sự vật cần chú ý điều kiện hoàncảnh cụ thể, môi trường cụ thể và trong đó sự vật được sinh ra tồn tại vàphát triển

- Đối với mỗi sự vật, hiện tượng, vấn đề khác nhau cần có nhữngbiện pháp, giải pháp khác nhau để giải quyết chúng

- Trong mỗi thời kỳ lịch sử khác nhau, điều kiện lịch sử đã thay đổiphải kịp thởi điều chỉnh bổ sung giải pháp, biện pháp cho phù hợp

- Cần nhận thức sâu sắc bản chất, linh hồn sống của chủ nghĩa Mác

đó là “phân tích cụ thể mỗi tình hình cụ thể để đề ra chủ trương, chínhsách cụ thể cho mỗi lĩnh vực cụ thể” từ đó vận dụng vào công tác củabản thân

- Liên hệ với công cuộc đổi mới trong tình hình hiện nay (tình hìnhthế giới, trong nước thuận lợi, khó khăn…)

Đòi hỏi trong hoạt động của mình con nguời phải tôn trọng quanđiểm phát triển Tức là khi con người nhận thức 1 đối tượng nào đó thìphải nhận thức nó ở trạng thái động (biến đổi) nằm trong khuynh hướngchung là phát triển Phải tìm ra được nguồn gốc, cách thức của sự pháttriển Biết phát hiện mâu thuẩn để giải quyết mâu thuẩn nhằm tạo điềukiện cho SV phát triển

Trang 12

Trong nhận thức: để nhìn thấy bản chất của SV, HT đòi hỏi chủ thểphải xem xét nó trong trạng thái vận động và dự đoán được các xuhướng biến đổi chuyển hóa của chúng.

Trong thực tiễn: cần thấy được tính quanh co phức tạp của quá trìnhphát triển, cần thấy được cái mới, cái tiến bộ và tạo điều kiện cho nóchiến thắng cái cũ lạc hậu

Trên cơ sở hiểu rõ về quan điểm phát triển, giúp chúng ta có đượcniềm tin và thái độ lạc quan của người CM, từ đó kiên quyết chống lạibệnh bảo thủ trì trệ gây cản trở cho sự phát triển,

Bảo thủ trì trệ là tư tưởng níu kéo cái củ, dễ bằng lòng với hiện tại,trước những thất bại thường đổ lỗi do diểu kiện khách quan, bó tay đầuhàng trước những khó khăn tạm thời, không dám đấu tranh bảo vệ cáimới… dẫn đến kết quả kìm hãm, cản trở sự phát triển của SV, HT

Tuân theo những đòi hỏi đó của quan điểm phát triển sẽ góp phầnkhắc phục tư tưởng chủ quan, nóng vội, duy ý chí, sớm xóa cái cũ trongkhi chưa có điều kiện chín muồi, chống bệnh bảo thủ trì trệ trong tư duycũng như trong hành động thực tiễn, góp phần khắc phục sự lạc hậu về

lý luận

Gắn với công cuốc đổi mới hiện nay, đảng ta đã nghiêm túc đánhgiá tình hình trong nước, quốc tế theo quan điểm phát triển để xoá bỏ cơchế quản lý cũ tập trung, quna liêu bao cấp, xây dựng nền kinh tế nhiềuthành phần vận hành theo cơ chế thị trường, thay đổi phương thức phânphối… tạo sự năng động, dộng lực cho sự phát triển

Nghiên cứu nguyên lý về sự phát trểin giúp chúng ta có cái nhìnđúng đắn về sự vận động và phát triển của các SV, HT, về thế giới, XH

mà chúng ta đang sống, qua đó chúng ta kết luận khẳng định rằng CNCS

sẽ là đích đến của nhân loại và của dân tộc VN

Câu 04: Quy luật chuyển hoá từ những thay đổi về lượng thành những thay đổi về chất và ngược lại, ý nghĩa phương pháp luận của

nó đối với nhận thức và hoạt động thực tiễn.

BÀI LÀM

Là một trong 3 quy luật cơ bản của phép biện chứng, quy luật từnhững thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về chất và ngược lạitiếp tục làm rõ quá trình phát triển của sự vật, hiện tượng nó trả lời câuhỏi: cách thức của sự phát triển như thế nào?

Trang 13

Chất là 1 phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định vốn có củacác sự vật hiện tượng, là sự thống nhất hữu cơ của các thuộc tính làmcho nó là nó và phân biệt nó với cái khác.

KN chất trong triết học không phải lúc nào cũng đồng nhất với kháiniệm chất được sử dụng rộng rãi trong đời thường, nhất là khi nói về cácvấn đề trong XH Mặt khác, cũng không nên đồng nhất khái niệm chấtvới khái niệm thuộc tính

Mỗi sự vật hiện tượng có nhiều thuộc tính nhưng chỉ có thuộc tính

cơ bản mới quy định chất của sự vật Vì chỉ khi nào thuộc tính cơ bảnthay đổi thì chất của sự vật mới thay đổi

Tuy nhiên, việc phân biệt thuộc tính cơ bản và không cơ bản, chất

và thuộc tính cũng chỉ là tương đối Nó còn phụ thuộc vào những mốiquan hệ cụ thể của nó với những cái khác và mỗi thuộc tính có thể coi làmột chất trong một quan hệ khác

Chất biểu hiện tính tương đối ổn định của sự vật và là cái vốn cókhông tách rời sự vật Không thể có chất tồn tại “thuần túy”, bên ngoàihoặc phụ thuộc vào cảm giác chủ quan như các nhà duy tâm chủ quanquan niệm

Lượng: là một phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định vốn cócủa sự vật về quy mô, trình độ phát triển, tốc độ vận động, biểu thị sốlượng các thuộc tính, các yếu tố cấu thành sự vật

Lượng có thể được biểu hiện thành con số, đại lượng hoặc mức độ cũng giống như chất, lượng là cái khách quan vốn có của sự vật Sựphân biệt giữa chất và lượng cũng là tương đối, nghĩa là có cái ở trongquan hệ khác lại là lượng và ngược lại Không thể tuyệt đối hóa ranhgiới giữa chất và lượng

Mối quan hệ biện chứng giữa chất và lượng:

Sự vật nào cũng là thể thống nhất giữa chất và lượng, chất nàolượng ấy và lượng nào chất ấy Chất tương đối ổn định còn lượngthường xuyên biến đổi Song 2 mặt đó không tách rời nhau một cáchbiện chứng Sự biến đổi về lượng dẫn đến sự biến đổi về chất Có trườnghợp sự biến đổi về lượng đưa ngay đến sự thay đổi về chất Tuy nhiên,trong nhiều trường hợp, sự biến đổi về lượng đến một giới hạn nhấtđịnh nào đó mới xảy ra sự biến đổi về chất Khoảng giới hạn mà ở đó sựbiến đổi về lượng chưa tạo ra sự thay đổi căn bản về chất gọi là độ điểm

Trang 14

giới hạn mà khí lượng đạt tới sẽ làm thay đổi chất của sự vật gọi là điểmnút.

Sự thay đổi về chất qua điểm nút gọi là bước nhảy Đó là bướcngoặt căn bản kết thúc một giai đoạn trong sự biến đổi về lượng làmthay đổi chất, là sự gián đoạn trong quá trình biến đổi liên tục của các sựvật, không có bước nhảy tức là không có sự thay đổi về chất Khi sự vậtmới ra đời với chất mới lại có một lượng mới phù hợp, tạo nên sự thốngnhất giữa chất và lượng ở một độ nhất định; sự vật tồn tại trong sự thốngnhất ấy, cứ thế một quá trình tác động mới với quy mô độ mới lại bắtđầu Do đó có thể nói, phát triển là sự đứt đoạn trong liên tục, thông quahình thức những bước nhảy là trạng thái liên hợp của các diểm nút Cáchthức của sự phát triển chính là những quá trình biến đổi đó

Thế giới sự vật, hiện tượng là đa dạng, phong phú cho nên các bướcnhảy cũng vậy Có bước nhảy đột biến hoặc dần dần, toàn bộ hoặc cục

bộ, tức là diễn ra với khoảng thời gian khác nhau, quy mô khác nhau,nhưng dù với hình thức nào mỗi bước nhảy cũng là một sự thay đổi vềchất

Ý nghĩa phương pháp luận:

- Trong nhận thức và hành động thực tiễn phải chú ý tích lũy dầnnhững thay đổi về lượng đồng thời phải biết thực hiện kịp thời nhữngbước nhảy khi có điều kiện chín muồi

- Trong cuộc sống của con người muốn có sự phát triển thì:

+ Phải tự giác tích cực làm thay đồi về lượng

+ Phải tạo điều kiện để bước nhảy được thực hiện

- Cần phải chống lại tư tưởng “tả khuynh”, chủ quan nóng vộng duy

ý chí, đốt cháy gai đọan khi lượng chưa biến đổi đến độ nhất định đã tiếnhành bước nhảy

- Cần chống tư tưởng “hữu khuynh”, bảo thủ, trì trệ, khi lượng đãbiến đổi đến độ nhất định nhưng không dám thực hiện bước nhảy

- Phải thấy được tính đa dạng của các bước nhảy, nhận thức đượctừng hình thức bước nhảy, tạo mọi điều kiện cho bước nhảy được thựchiện một cách kịp thời

- Phải có thái độ khách quan và quyết tâm thực hiện những bướcnhảy khi hội đủ các điều kiện chín muồi

Trang 15

- Trong quá trình vận động và phát triển của sự vật, lượng và chất cóthể chuyển hóa cho nhau, do đó phải có sách lược phù hợp.

Câu 05: Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập ?

Ý nghĩa phương pháp luận, sự vận dụng của đảng CSVN ?

BÀI LÀM

a Vị trí, ý nghĩa của quy luật:

- Đây là một trong 3 quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật

- Quy luật này được đánh giá là hạt nhân của phép biện chứng bởi lẽ

nó vạch ra nguồn gốc, động lực bên trong của sự vận động, phát triểncủa các sự vật, hiện tượng

- Việc nắm vững nội dung của quy luật này là cơ sở, điều kiện để cóthể nhận thức được tất cả những phạm trù, nguyên lý và những quy luậtkhác của phép biện chứng

Lênin khẳng định: ”Có thể định nghĩa vắn tắt phép biện chứng là học thuyết về sự thống nhất của các mặt đối lập Như thế là nắm được hạt nhân của phép biện chứng”.

b Nội dung chủ yếu của quy luật:

- Mặt đối lập là một phạm trù của phép biện chứng dùng để chỉnhững mặt có những đặc điểm, những thuộc tính, những tính quy định

có khuynh hướng vận động biến đổi trái ngược nhau, tồn tại một cáchkhách quan trong tự nhiên, xh và tư duy

* Chú ý: Mặt đối lập đương nhiên bao hàm trong đó sự khác nhausong không phải mọi sự khác nhau đều có thể trở thành mặt đối lập màchỉ có sự khác nhau nào có khuynh hướng vận động, phát triển trái chiềunhau thì mới trở thành những mặt đối lập

Các mặt đối lập nằm trong sự liên hệ tác động qua lại với nhau, tạothành mâu thuẫn biện chứng và mâu thuẫn này tồn tại một cách kháchquan và phổ biến trong tự nhiên xã hội và tư duy

- Sự thống nhất của các mặt đối lập là sự nương tựa vào nhau, đồihỏi có nhau của các mặt đối lập tồn tại không tách rời nhau giữa các mặtđối lập, sự tồn tại của mặt này lấy sự tồn tại của mặt kia làm tiền đề chomình Sự thống nhất của các mặt đối lập được thể hiện:

Ngày đăng: 11/01/2018, 15:19

w