1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tiểu luận kinh tế đối ngoại

17 298 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 40,23 KB
File đính kèm Tiểu luận kinh tế đối ngoại.zip (38 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế quốc tế và tự do hoá thương mại đã và đang là xu thế nổi bật của kinh tế thế giới đương đại. Phù hợp với xu thế đó, từ năm 1986 đến nay, Việt Nam đã tiến hành công cuộc đổi mới và đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế với phương châm “đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ đối ngoại.

Trang 1

Việt Nam trong tiến trình hợp tác APEC

Lời mở đầu

Toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế quốc tế và tự do hoá thương mại đã và đang là xu thế nổi bật của kinh tế thế giới đương đại Phù hợp với xu thế đó, từ năm 1986 đến nay, Việt Nam đã tiến hành công cuộc đổi mới và đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế với phương châm “đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ đối ngoại Việt Nam sẵn sàng là bạn của tất

cả các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển” Việt Nam luôn thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hoà bình, hợp tác và phát triển; chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ quốc

tế, chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trên nhiều lĩnh vực Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, tham gia tích cực vào tiến trình hợp tác quốc tế và khu vực

Tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam được đẩy mạnh và đưa lên một tầm cao hơn bằng việc tham gia các tổ chức kinh tế, thương mại khu vực và thế giới, ký kết các hiệp định hợp tác kinh tế đa phương Tháng 7/1995 Việt Nam đã gia nhập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và chính thức tham gia Khu vực thương mại tự do ASEAN (AFTA) từ 1/1/1996 Đây được coi là một bước đột phá về hành động trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam Tiếp đó, năm 1996 Việt Nam tham gia sáng lập Diễn đàn hợp tác Á - Âu (ASEM) và đến năm 1998, Việt Nam được kết nạp vào Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (APEC)

Đối với Việt Nam, Diễn đàn APEC có ý nghĩa hết sức quan trọng APEC là khu vực dành viện trợ phát triển lớn nhất, chiếm tới 65% tổng số vốn đầu tư nước ngoài, 60% giá trị xuất khẩu, 80% giá trị nhập khẩu, và 75% tổng số khách du lịch quốc tế tới Việt Nam Hầu hết các đối tác chiến lược quan trọng và các đối tác kinh tế - thương mại hàng đầu của ta là các nền kinh tế thành viên của APEC

- Kể từ khi trở thành thành viên chính thức của Diễn đàn APEC năm 1998, Việt Nam đã thực hiện nghiêm túc các cam kết hợp tác của APEC như Báo cáo về Chương trình Hành động Quốc gia hàng năm, thực hiện Chương trình Hành động tập thể, các kế hoạch hợp tác về thuận lợi hoá thương mại, đầu tư Ta cũng đảm nhận vị trí Chủ tịch và điều hành nhiều Nhóm công tác quan trọng như Nhóm Công tác Y tế nhiệm kỳ 2009

-2010, Nhóm công tác về Đối phó với tình trạng khẩn cấp, Nhóm công tác về thương mại điện tử… Việt Nam đã triển khai thành công hơn 60 sáng kiến, đồng bảo trợ hàng trăm sáng kiến trên hầu hết các lĩnh vực thương mại, đầu tư, hợp tác kinh tế kỹ thuật, y tế, đối phó với thiên tai, chống khủng bố Việt Nam đã được đánh giá là một trong những thành viên năng động, đã có nhiều sự đóng góp tích cực cho Diễn đàn APEC Trong khuôn khổ giới hạn, bài Tiểu luận sẽ khái quát về tiến trình hợp tác Việt Nam – APEC

Trang 2

Chương 1 Khái quát về APEC

1.1 Quá trình thành lập và các nước thành viên

Vào những năm 80 của thế kỷ trước, châu Á mà trọng tâm là Đông Á nổi lên thành một trong những khu vực năng động trên thế giới khi tốc độ tăng trưởng bình quân lên tới 9-10% mỗi năm, dù vậy khu vực lại thiếu một hình thức hợp tác hiệu quả để thúc đẩy phát triển kinh tế, hội nhập với nhiều quốc gia Trước thực tế trên, tại Hội nghị Bộ trưởng Kinh tế Thương mại và Ngoại giao tổ chức vào tháng 11/1989 tại thủ đô Can-bê-ra, Ốt-xtrây-li-a và theo đề xuất của nước chủ nhà, các Bộ trưởng của 12 nước Khu vực châu Á

và Thái Bình Dương gồm Ốt-xtrây-li-a, Hoa Kỳ, Ca-na-đa, Nhật Bản, Hàn Quốc, Bru-nây, In-đô-nê-xi-a, Xing-ga-po, Ma-lai-xi-a, Phi-líp-pin, Thái Lan, và Niu Di-lân đã quyết định thông qua việc thành lập diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (Asia – Pacific Economic Cooperation - gọi tắt là APEC) Tháng 11/1991, APEC kết nạp thêm Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan, tháng 11/1994 kết nạp thêm Chi-lê, Mê-xi-cô và Pa-pua Niu Ghi-nê

Tháng 6/1996, Việt Nam đã chính thức nộp đơn xin gia nhập APEC và Hội nghị Thượng đỉnh thường niên APEC tại Van-cu-vơ – Ca-na-đa tháng 11/1997 đã quyết định kết nạp Việt Nam, Nga và Pêru là thành viên chính thức của APEC vào tháng 11/1998, nâng

tổng số thành viên lên 21 nền kinh tế Tại Hội nghị Bộ trưởng APEC lần thứ 10 tổ chức

tại Kua-la Lăm-pơ, Ma-lai-xi-a, ngày 14/11/1998, Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên APEC

1.2 Mục tiêu hoạt động

APEC được thành lập nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và sự thịnh vượng trong khu vực đồng thời thắt chặt các mối quan hệ trong cộng đồng châu Á – Thái Bình Dương Mục tiêu dài hạn của APEC được nêu rõ trong Tuyên bố Bô-gô 1994 của các nhà lãnh

đạo: “thương mại và đầu tư tự do và thông thoáng trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương vào năm 2010 đối với thành viên APEC phát triển và năm 2020 đối với các thành viên APEC đang phát triển” Để thực hiện mục tiêu đó, các hoạt động của APEC dựa trên

cơ sở 3 trụ cột: (i) Tự do hoá thương mại và đầu tư; (ii) Thuận lợi hoá kinh doanh; và (iii) Hợp tác kinh tế và kỹ thuật

* Tự do hoá thương mại và đầu tư

Tự do hoá thương mại và đầu tư mang lại nhiều lợi ích cho hoạt động hợp tác kinh tế trong APEC và các nền kinh tế thành viên thông qua việc giảm và xóa bỏ dần các hàng rào thuế quan và phi quan thuế cản trở hoạt động thương mại và đầu tư Để thực hiện tự

Trang 3

do hoá thương mại và đầu tư theo lộ trình và mục tiêu vạch ra trong Tuyên bố Bô-gô, các nền kinh tế thành viên cùng nhau tiến hành thực hiện các Kế hoạch Hành động Quốc gia (IAP) của mỗi nước, theo đó, các quốc gia sẽ đưa ra các cam kết một cách tự nguyện về

tự do hoá về thuế quan, phi thuế quan, dịch vụ và đầu tư Trong IAP, các nền kinh tế cần làm rõ chính sách thuế quan, phi thuế quan và đưa ra cam kết về lộ trình liên tục cắt giảm thuế quan hoặc loại bỏ các biện pháp và hàng rào phi quan thuế phù hợp với xu thế và nguyên tắc của WTO Các nền kinh tế đồng thời đưa ra các cam kết mở cửa thị trường dịch vụ, nới lỏng các quy định và hạn chế tiếp cận thị trường dịch vụ, đồng thời xem xét tiến hành tự do hoá đầu tư

* Thuận lợi hóa kinh doanh

Thuận lợi hóa kinh doanh tập trung vào việc giảm chi phí giao dịch trong kinh doanh, tăng cường trao đổi thông tin và tự do thương mại Điều cốt yếu là thuận lợi hoá thương mại giúp các nhà xuất khẩu ở châu Á - Thái Bình Dương gặp gỡ và tiến hành kinh doanh hiệu quả hơn, do vậy làm giảm chi phí sản xuất và dẫn tới tăng cường trao đổi thương mại, hàng hoá và dịch vụ rẻ hơn, tốt hơn và cơ hội việc làm nhiều hơn

Để giúp tạo thuận lợi thương mại và đầu tư, các nền kinh tế thành viên cùng nhau tiến hành thực hiện các Kế hoạch Hành động Tập thể (CAP) trên cơ sở 9 nguyên tắc hoạt động của APEC (được đề cập dưới đây) CAP được thực hiện trên 15 lĩnh vực được lựa

chọn là: Thuế quan, Phi thuế quan, Dịch vụ, Đầu tư, Tiêu chuẩn và hợp chuẩn, Thủ tục hải quan, Quyền sở hữu trí tuệ, Chính sách cạnh tranh, Mua sắm Chính phủ, Nới lỏng cơ chế chính sách, Quy tắc xuất xứ, Cơ chế giải quyết tranh chấp, Đi lại của doanh nhân, Thực hiện kết quả Vòng U-ru-guay, Cơ chế tập hợp và đánh giá thông tin.

* Hợp tác kinh tế và kỹ thuật

APEC đưa ra Chương trình Hợp tác kinh tế kỹ thuật (ECOTECH) nhằm hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực, nâng cao năng lực của các thành viên APEC hướng tới sự phát triển kinh

tế bình đẳng, cân bằng và bền vững trong khu vực, tạo điều kiện thuận lợi nhất để triển khai các chương trình hành động thực hiện mục tiêu Bô-gô Chương trình ECOTECH được thực hiện chủ yếu dưới dạng các dự án, chương trình hợp tác trên các lĩnh vực cụ thể, trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến đào tạo và nâng cao năng lực cán bộ, trợ giúp kỹ thuật đối với các nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam trên khía cạnh xây dựng và thực hiện chính sách

1.3 Nguyên tắc hoạt động

Hoạt động của APEC được điều tiết bởi những nguyên tắc cơ bản sau:

(1) Toàn diện: Thực hiện tự do hoá và thuận lợi hoá toàn diện ở các lĩnh vực nhằm tháo

gỡ những cản trở trong quá trình thực hiện mục tiêu lâu dài về tự do hoá và thuận lợi hoá thương mại và đầu tư;

Trang 4

(2) Phù hợp với GATT/ WTO: Các biện pháp và chương trình hành động áp dụng thực

hiện mục tiêu tự do hoá và thuận lợi hoá thương mại và đầu tư phải phù hợp với quy tắc, luật lệ và thoả thuận trong khuôn khổ của GATT/WTO;

(3) Đảm bảo mối tương đồng: giữa các thành viên trong việc thực hiện tự do hoá, thuận

lợi hoá thương mại và đầu tư Các nền kinh tế thành viên tuy có sự khác biệt về trình độ phát triển nhưng đều phải tiến hành một cách thích đáng các biện pháp tự do hoá và thuận lợi hóa đối với thương mại và đầu tư;

(4) Không phân biệt đối xử: Các thành viên APEC sẽ áp dụng hoặc cố gắng áp dụng

nguyên tắc không phân biệt đối xử giữa các thành viên Kết quả thực hiện tự do hoá thương mại và đầu tư không phải chỉ áp dụng cho các thành viên mà cả với các nước không phải là thành viên;

(5) Đảm bảo công khai: minh bạch hóa mọi luật lệ chính sách hiện hành tại các thành

viên APEC;

(6) Lấy mức bảo hộ hiện tại làm mốc: Các thành viên chỉ có giảm dần các biện pháp bảo

hộ chứ không được tăng thêm;

(7) Cùng bắt đầu, quá trình liên tục và thời gian biểu khác nhau: trình độ và điều kiện

phát triển kinh tế khác nhau, khi thực hiện mục tiêu tự do hoá và thuận lợi hoá thương mại và đầu tư, các nền kinh tế thành viên có các thời gian biểu khác nhau với ưu tiên về thời gian đối với nền kinh tế đang phát triển là 10 năm so với nền kinh tế phát triển;

(8) Tính linh hoạt: có sự linh hoạt trong việc thực hiện các vấn đề về tự do hoá thương

mại và đầu tư vì trình độ phát triển kinh tế của các thành viên APEC khác nhau;

(9) Hợp tác kỹ thuật: APEC chủ trương hợp tác kinh tế, kỹ thuật để thúc đẩy thực hiện tự

do hoá, thuận lợi hóa, thương mại và đầu tư

1.4 Cơ cấu tổ chức và cơ chế hoạt động của APEC

APEC hoạt động như một diễn đàn hợp tác kinh tế và thương mại đa phương theo nguyên tắc đồng thuận, tự nguyện và không ràng buộc Đây là diễn đàn duy nhất cam kết cắt giảm các rào cản thương mại và tăng cường đầu tư mà không đòi hỏi sự ràng buộc pháp

lý về mặt thực thi đối với các thành viên Thành công của diễn đàn đạt được thông qua việc tăng cường đối thoại chính sách và tôn trọng ý kiến của các thành viên Các quyết định trong APEC đều dựa trên cơ sở cùng có lợi, đồng thuận, tự nguyện và phù hợp với các quy định của GATT/WTO với mục tiêu tăng cường hệ thống thương mại đa biên, ủng

hộ tự do hoá thương mại và thuận lợi hoá thương mại và đầu tư Các nền kinh tế thành viên thực hiện Kế hoạch Hành động Quốc gia (IAP) và Kế hoạch Hành động Tập thể (CAP) nhằm mở cửa thị trường và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

Cơ chế hoạt động gồm Hội nghị Cấp cao thường niên, Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao -Kinh tế thường niên, các Hội nghị Bộ trưởng chuyên ngành và các Hội nghị Quan chức

Trang 5

cao cấp (SOM) Ngân sách hoạt động của APEC do các thành viên đóng góp và đóng góp

tự nguyện của một số thành viên phát triển

Tuy hình thức là một diễn đàn hợp tác kinh tế khu vực mở, nhưng APEC có một cơ chế tổ chức và hoạt động khá chặt chẽ.APEC có trụ sở Ban thư ký, có Giám đốc điều hành Ban thư ký, cùng các Uỷ Ban, Tiểu ban và các Nhóm công tác chuyên môn được thành lập trong từng lĩnh vực hoạt động cụ thể

(1) Hội nghị các Nhà lãnh đạo kinh tế APEC (APEC Economic Leaders Meeting)

Đây là cơ quan có quyết định cao nhất của APEC, nơi định ra các định hướng chiến lược

và tầm nhìn dài hạn cho APEC.Hội nghị thường được tổ chức vào tháng 11 hàng năm, để phê duyệt các kế hoạch, kiến nghị do Hội nghị Bộ trưởng đệ trình và vạch ra phương hướng, nhiệm vụ cho năm kế tiếp

(2) Hội nghị Bộ trưởng (Ministerial Meeting)

Các Hội nghị Bộ trưởng được tổ chức định kỳ hàng năm, trước Hội nghị các nhà Lãnh đạo Kinh tế APEC, bao gồm Hội nghị Bộ trưởng Thương mại, các Hội nghị Bộ trưởng chuyên ngành như Vận tải, Hàng không, Bưu chính viễn thông, Ngoại giao-Thương mại, Tài chính Chức năng chủ yếu của các Hội nghị Bộ trưởng là xem xét, thông qua nguyên tắc, mục tiêu, nội dung của các chương trình hành động; đánh giá tiến trình hợp tác APEC cũng như hoạt động của các Uỷ ban, các Nhóm Công tác và các Nhóm Đặc trách; xem xét và đánh giá việc thực hiện các sáng kiến của Hội nghị Cấp cao không chính thức; và xem xét thông qua ngân sách hoạt động hàng năm của APEC Trên cơ sở đó báo cáo kết quả hoạt động và đệ trình các sáng kiến, kế hoạch mới lên Hội nghị các nhà Lãnh đạo APEC

(3) Hội nghị Quan chức cấp cao (Senior Officials Meeting-SOM)

Hội nghị này thường được triệu tập thường kỳ 1 lần trong một năm, trước khi diễn ra Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao-Thương mại Nhiệm vụ chính của Hội nghị là để triển khai quyết định của Hội nghị Bộ trưởng, đệ trình các khuyến nghị, chương trình hợp tác lên Hội nghị Bộ trưởng xem xét Các quan chức cấp cao cũng đảm nhận việc xem xét, điều phối ngân sách và các chương trình hoạt động của các Uỷ ban, Tiểu ban và các Nhóm công tác

(4) Ban Thư ký (Secretariat)

Ban thư ký APEC làm việc dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Hội nghị Quan chức cấp cao và

có quan hệ thông tin liên lạc trực tiếp, thường xuyên với các nền kinh tế thành viên, các

Uỷ ban, các Nhóm Công tác và Nhóm đặc trách của APEC Nhiệm vụ chính của Ban thư

ký hoàn toàn mang tính chất hành chính, phục vụ các Hội nghị của APEC, theo dõi việc triển khai các dự án

(5) Hội đồng Tư vấn Kinh doanh APEC (APEC Business Advisory Council-ABAC)

Trang 6

ABAC có nhiệm vụ là tăng cường sự hợp tác của APEC với khu vực doanh nghiệp và thúc đẩy sự tham gia của giới doanh nghiệp vào các hoạt động hợp tác của APEC ABAC bắt đầu hoạt động sau Hội nghị Bộ trưởng ở Ô-sa-ka 1995 thay cho Diễn đàn Kinh doanh Thái Bình Dương (PBF) do Hội nghị Cấp cao không chính thức thành lập ABAC tập trung vào các lĩnh vực như phát triển cơ sở hạ tầng, tài chính và đầu tư, doanh nghiệp vừa

và nhỏ (SMEs), phát triển nguồn nhân lực, quan hệ giao dịch qua biên giới Thành viên của ABAC là những nhân vật có uy tín trong giới doanh nghiệp của các nền kinh tế thành viên APEC, mỗi thành viên cử 1 đến 3 đại diện, trong đó thường có một đại diện cho SMEs

(6) Các Uỷ ban và tiểu ban chuyên môn của APEC

Các Uỷ ban và tiểu ban chuyên môn của APEC bao gồm:

- Uỷ ban Thương mại và Đầu tư (Committee on Trade and Investment-CTI)

- Uỷ ban Kinh tế (Economic Committee-EC)

- Uỷ ban Quản lý và Ngân sách (Budget and Management Committee-BMC):

- Uỷ ban điều hành SOM về hợp tác kinh tế-kỹ thuật (SOM Steering Committee on ECOTECH - SCE)

- Tiểu ban về thủ tục hải quan (Sub-committee on Customs procedures - SCCP)

Tiểu ban về tiêu chuẩn và hợp chuẩn (Subcommittee on Standards and Conformance -SCSC)

(7) Các Nhóm công tác trong APEC

Để triển khai thành công các chương trình hành động thực hiện các mục tiêu đề ra, ngoài các Uỷ ban và Tiểu ban, APEC còn có một hệ thống gồm khoảng trên 10 Nhóm công tác chuyên ngành và trên 4 Nhóm đặc trách trợ giúp hoạt động của APEC trên các lĩnh vực

cụ thể như: Nhóm hợp tác kỹ thuật nông nghiệp, du lịch, giao thông vận tải, nghề cá, phát triển nguồn nhân lực, năng lượng, viễn thông, công nghệ và khoa học công nghiệp, bảo tồn tài nguyên biển, xúc tiến thương mại, doanh nghiệp vừa và nhỏ… Các Nhóm đặc trách bao gồm: Nhóm đặc trách của các chuyên gia về chống tham nhũng và minh bạch; Nhóm đặc trách về chống khủng bố; Nhóm đặc trách về y tế; Nhóm đặc trách về sẵn sàng trong trường hợp khẩn cấp Ngoài ra còn có một số các mạng lưới, tiến trình, tổ hợp, diễn đàn khác trong APEC bao gồm: Mạng lưới đầu mối liên hệ về giới; Mạng lưới đầu mối liên hệ về văn hoá; Tiến trình Bộ trưởng Tài chính; Tổ hợp các Trung tâm nghiên cứu APEC; Diễn đàn về đổi mới khoa học đời sống; Hệ thống thực phẩm APEC

Chương trình hoạt động của APEC bao gồm

- EVSC: Kế hoạch tự nguyện tự do hoá sớm (15 lĩnh vực);

Trang 7

- IAPs: Kế hoạch hành động quốc gia (của riêng từng nước);

- CAPs: Kế hoạch hành động tập thể;

- ECOTECH: Thuận lợi hoá thương mại đầu tư và hợp tác kinh tế, kỹ thuật;

- OAA: Chương trình hành động OSAKA;

- AFS: Hệ thống lương thực APEC;

- EAP: Kế hoạch hành động ECOTECH;

- ABAC: Hội đồng tư vấn doanh nghiệp APEC;

- APG: Nhóm đặc trách về Chống rửa tiền khu vực châu Á – Thái Bình Dương

5 Kết quả hợp tác

Sau gần 27 năm hình thành và phát triển, APEC đã đạt những kết quả đáng kể trong việc thực hiện các Mục tiêu Bô-go về tự do hoá thương mại và đầu tư Những thỏa thuận của APEC đã góp phần giảm gần 3 lần mức thuế quan trung bình ở khu vực từ 16,9% năm

1989 xuống còn 5,8% năm 2010; chi phí giao dịch thương mại cũng giảm đáng kể, thông qua 2 lần cắt giảm 5% vào các năm 2006 và năm 2010 Từ năm 1989 đến năm 2010; thương mại giữa các thành viên nội khối tăng 7 lần, từ 1,7 nghìn tỷ USD lên 9,9 nghìn tỷ USD

Từ 12 thành viên sáng lập, sau 4 lần mở rộng, đến nay APEC có 21 thành viên, trở thành

cơ chế hợp tác kinh tế hàng đầu ở khu vực và trên thế giới, dẫn dắt tiến trình tự do hóa thương mại và đầu tư, thúc đẩy xu thế hợp tác, liên kết đa tầng nấc vì hòa bình và phát triển APEC hội tụ hầu hết các nền kinh tế năng động nhất khu vực, đại diện cho khoảng 40% dân số thế giới, chiếm khoảng 70% nguồn tài nguyên thiên nhiên trên thế giới, đóng góp 57% GDP và hơn 50% thương mại toàn cầu

Chương 2 Việt Nam trong tiến trình hợp tác APEC

2.1 Tầm quan trọng của APEC đối với Việt Nam

APEC có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với Việt Nam, là cơ chế hợp tác kinh tế đầu tiên

ở tầm châu Á - Thái Bình Dương mà Việt Nam tham gia kể từ khi bước vào công cuộc Đổi mới, là minh chứng về chủ trương hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và toàn diện của đất nước

APEC cũng là nơi để Việt Nam triển khai, cụ thể hóa các khuôn khổ hợp tác dài hạn đã được thiết lập với nhiều đối tác trong khu vực Đó là các khuôn khổ đối tác chiến lược và đối tác toàn diện với 13/21 nền kinh tế thành viên APEC, các FTA đã ký kết với 18/20 đối tác là thành viên APEC

Nhiều nền kinh tế thành viên của APEC là những hình mẫu của thế giới về liên kết và tăng trưởng kinh tế Do đó, tham gia hợp tác APEC, Việt Nam có điều kiện học tập kinh

Trang 8

nghiệm, góp phần thúc đẩy quá trình tái cơ cấu, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, làm tốt hơn quá trình chuẩn bị trong nước để tận dụng cơ hội của các liên kết kinh tế quốc tế thế

hệ mới mà Việt Nam là thành viên

Thương mại, đầu tư, giao lưu con người với các nền kinh tế APEC là những nguồn lực rất quan trọng để đưa phát triển của Việt Nam lên một giai đoạn mới theo hướng bền vững và hội nhập quốc tế Việc hoàn thành mục tiêu Bogo về tự do hoá thương mại và đầu tư trong khu vực đến năm 2020 luôn là ưu tiên hàng đầu của APEC kể từ năm 1994, khi các nhà lãnh đạo APEC họp tại Bogo, Indonesia với tuyên bố khởi động và quyết tâm hoàn thành mục tiêu này Trải qua 28 năm thành lập và phát triển, 23 năm thực hiện mục tiêu Bogo, APEC đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong cả ba trụ cột hợp tác chính: Tự do hóa thương mại và đầu tư, thuận lợi hóa kinh doanh và hợp tác kinh tế, kỹ thuật

Quan hệ kinh tế - thương mại giữa các nền kinh tế thành viên APEC đã chứng kiến những bước phát triển vượt bậc so với các khu vực khác trên thế giới Giao dịch thương mại trong lĩnh vực hàng hóa và dịch vụ được ghi nhận đã tăng 6,7 lần, với tổng giá trị khoảng 20 nghìn tỷ USD vào năm 2015; mức thuế quan trung bình đã giảm đáng kể từ 17% vào năm 1989 xuống còn 5,6% vào năm 2014, nhờ việc củng cố quan hệ thương mại, đầu tư, cũng như sự gia tăng mạnh mẽ của các thỏa thuận thương mại tự do song phương và khu vực (RTAs/FTAs) Trong gần 30 năm, các RTAs/FTAs trong khu vực APEC đã phát triển mạnh mẽ cả về số lượng, quy mô và tính chất

Theo thống kê của Ban Thư ký APEC, tính đến năm 2016, hiện có hơn 150 RTAs/FTAs, trong đó bao gồm ít nhất một thành viên APEC, đã đi vào hiệu lực, bao gồm gần 60 RTAs/FTAs đã được ký kết và thực thi giữa các thành viên APEC với nhau Thời gian gần đây, ngày càng có nhiều FTAs thế hệ mới trong khu vực tập trung hơn vào các nội dung thương mại và đầu tư thế hệ mới, giải quyết hiệu quả các vấn đề sau biên giới

và phi thuế quan Nhờ tác động tích cực của các RTAs/FTAs, giao dịch thương mại nội khối trong khu vực APEC đã tăng trưởng ở mức 274%, từ 2,3 nghìn tỷ USD lên 6,3 nghìn

tỷ USD trong giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2016

Xét về GDP, năm 1989, APEC chiếm 48,9% tổng GDP của thế giới, nhưng đã tăng lên mức 53,9% vào năm 2015 Về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), năm 2016, các nền kinh tế thành viên APEC chiếm một nửa trong 10 nền kinh tế thu hút FDI lớn nhất thế giới Tổng nguồn vốn FDI được rót vào 5 nền kinh tế thành viên APEC lớn đã đạt mức 710 tỷ USD, tương đương với 46,7% tổng FDI toàn thế giới trong năm 2016 APEC ngày càng được thế giới coi là đầu tàu kinh tế của khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, với nhiều chương trình hợp tác thiết thực, hiệu quả Báo cáo đánh giá giữa kỳ về tiến độ thực hiện mục tiêu Bogo được APEC công bố năm 2016 cũng cho thấy, mức thuế quan trung bình (MFN) trong khu vực đã giảm đáng kể, từ 18,5% năm 2007 xuống 9,5% năm 2015

Riêng với Việt Nam, APEC có vai trò ngày càng quan trọng đối với sự hội nhập sâu rộng và phát triển của nền kinh tế hơn 90 triệu dân Hiện nay, 78% vốn FDI vào Việt Nam tới từ các các thành viên APEC; 75% tổng lượng giao dịch thương mại hàng hóa và 79% khách du lịch quốc tế đến Việt Nam có nguồn gốc từ các thành viên APEC Hơn nữa, khoảng 80% du học sinh Việt Nam đang học tập và tu dưỡng tri thức tại các thành

Trang 9

viên APEC Hiện có 13 thành viên APEC là các đối tác chiến lược và đối tác toàn diện của Việt Nam Những con số này là minh chứng rõ ràng về tầm quan trọng của APEC đối với sự tăng trưởng và phát triển kinh tế, xã hội của Việt Nam

2.2 Tham gia của Việt Nam trong APEC

Nhận thấy tầm quan trọng của APEC đối với sự phát triển kinh tế của các nước trong khu vực nói chung và của Việt Nam nói riêng, phù hợp với đường lối hội nhập kinh

tế quốc tế của Đảng và nhà nước ta, ngày 15/6/1996, Chính phủ Việt Nam đã nộp đơn xin gia nhập APEC

Ngày 14/11/1998, tại Hội nghị Bộ Trưởng Ngoại giao Kinh tế tại Kuala Lumpua -Malaysia, APEC đã tuyên bố kết nạp Việt Nam, Nga và Pê-ru Việc trở thành thành viên chính thức của APEC là một bước đi sâu hơn vào con đường hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực, góp phần mở rộng kinh tế đối ngoại, phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện điện hoá đất nước mà Đảng và Nhà nước đã đề ra Trong APEC, Việt Nam có nhiều đối tác quan trọng như các nước ASEAN, Nhật Bản, Trung Quốc, Hoa Kỳ, Úc và Niu Di-lân Một số thành viên APEC đang dần trở thành đối tác chiến lược trong kế hoạch phát triển quan hệ kinh tế, thương mại và đầu tư của Việt Nam Thống kê gần đây cho thấy các nền kinh tế APEC chiếm khoảng 67% vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), khoảng 75% vốn ODA và 70% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam

- Quán triệt chủ trương “Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập, tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích dân tộc, an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, bảo vệ môi trường”, ngay sau khi gia nhập APEC, Việt Nam đã tích cực tham gia vào nhiều chương trình, dự án hợp tác của APEC, tranh thủ được sự hỗ trợ và giúp đỡ to lớn về vốn, khoa học kỹ thuật, đào tạo nguồn nhân lực, phục vụ cho các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, xoá đói giảm nghèo, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

- Tuy là thành viên mới nhưng Việt Nam cũng đã tích cực và chủ động đề xuất nhiều sáng kiến tại các Hội nghị và Diễn đàn khác nhau của APEC Kết quả tham gia APEC trong 18 năm qua là rất đáng khích lệ, Việt Nam đã tạo được uy tín và hình ảnh tốt đẹp với các thành viên về một đất nước năng động, cởi mở và hội nhập Kể từ khi trở thành thành viên của Diễn đàn APEC vào năm 1998, Việt Nam đã có nhiều đóng góp thiết thực, đề xuất và triển khai hơn 80 sáng kiến, dự án trên nhiều lĩnh vực hợp tác của APEC

2.3 Việt Nam và việc đăng cai APEC

Một sự kiện và đồng thời là đóng góp hết sức quan trọng của Việt Nam đối với tiến trình hợp tác APEC là việc Việt Nam chỉ sau 8 năm gia nhập đã chủ động đăng cai và tổ chức thành công năm APEC 2006 Điều này thể hiện tính chủ động và tinh thần trách nhiệm của Việt Nam trong việc thúc đẩy tiến trình hợp tác APEC

Trang 10

Tiếp sau lần đầu tiên đăng cai tổ chức APEC vào năm 2006, Việt Nam tiếp tục đăng cai tổ chức APEC 2017 Việc đăng cai tổ chức Năm APEC 2017 là một trọng tâm đối ngoại của Việt Nam đến năm 2020, thể hiện quyết tâm của Việt Nam hội nhập quốc tế sâu rộng và nâng tầm đối ngoại đa phương

Ngày 16/7/2015, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 1082/QĐ-TTg thành lập Ủy ban Quốc gia APEC 2017 với thành phần là lãnh đạo của nhiều Bộ ngành, địa phương do Phó Thủ tướng Phạm Bình Minh làm Chủ tịch, đồng thời Ban Thư ký APEC 2017 và các Tiểu ban liên quan cũng đã được thành lập và chủ trì bởi một số Bộ ngành bao gồm: (i) Tiểu ban nội dung (Bộ Ngoại giao, Bộ Công Thương); (ii) Tiểu ban Vật chất – Hậu cần (Văn phòng Chính phủ), Tiểu ban An Ninh – Y tế (Bộ Công an), Tiểu ban Tuyên truyền – Văn hóa (Bộ Ngoại giao) và Tiểu ban Lễ tân (Bộ Ngoại giao)

Về chủ đề/ nội dung sáng kiến hợp tác, Ban Chỉ đạo APEC 2017 đã tổ chức họp 2 phiên

và đã thống nhất lấy chủ đề quốc gia của APEC 2017 là: “Tạo thêm động lực mới, cùng vun đắp tương lai” với các trọng tâm ưu tiên theo thứ tự gồm: (i) đẩy mạnh liên kết kinh

tế khu vực sâu rộng; (ii) cải cách cơ cấu và đổi mới sáng tạo; (iii) thúc đẩy tăng trưởng bền vững và bao trùm; và (iv) tăng cường an ninh lương thực và nông nghiệp bền vững Việc chủ động, tích cực đăng cai và tham gia các sáng kiến hợp tác, hoạt động của APEC trong 18 năm qua, bao gồm cả việc đăng cai 2 năm APEC vào 2006 và 2017, mang nhiều

ý nghĩa quan trọng, bao gồm:

· Khẳng định đường lối đối ngoại tích cực hội nhập quốc tế, củng cố hòa bình, tăng cường hợp tác ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương;

· Tạo dấu ấn Việt Nam cả về nội dung và cách tổ chức; nâng cao hình ảnh sâu đậm về một nước Việt Nam năng động, cởi mở, mến khách và an ninh;

· Tăng cường quan hệ hữu nghị, hợp tác song phương với các nền kinh tế thành viên, đặc biệt là với các nền kinh tế lớn như Hoa Kỳ, Trung Quốc, Nga, Nhật Bản; góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam trong quan hệ với các trung tâm chính trị - kinh tế lớn trên thế giới;

· Thông qua hợp tác APEC, mở rộng thị trường, thúc đẩy hợp tác thương mại, đầu tư, du lịch, khoa học công nghệ; tranh thủ sự hỗ trợ của các thành viên APEC trên những vấn đề

ta quan tâm (như gia nhập WTO, TPP, các hiệp định thương mại tự do song phương và đa phương, ngăn chặn dịch cúm gia cầm, thu hẹp khoảng cách phát triển, kể cả về công nghệ thông tin);

· Thông qua APEC, đưa ra một thông điệp mạnh mẽ đối với cộng đồng doanh nghiệp về chính sách thông thoáng của ta về thương mại, đầu tư phù hợp với chuẩn mực quốc tế, góp phần đẩy mạnh hợp tác giữa doanh nghiệp Việt Nam với doanh nghiệp APEC, tăng thêm lòng tin và khuyến khích cộng đồng doanh nghiệp APEC kinh doanh, đầu tư vào Việt Nam

Ngày đăng: 01/01/2018, 20:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w