Bố cục của đề tài...3 Chương 1: VƯƠNG TRIỀU NGUYỄN CÓ TRÁCH NHIỆM GÌ TRONG VIỆC ĐỂ NƯỚC TA RƠI VÀO TAY PHÁP THẾ KỶ XIX...5 1.1 Tinh thần Đoàn kết và ý thức dân tộc - cội nguồn của dân t
Trang 2MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Đối tượng, phạm vi, mục đích nghiên cứu 2
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
3.2 Mục đích nghiên cứu của đề tài 2
4 Cơ sở tư liệu và phương pháp nghiên cứu 3
4.1 Cơ sở tư liệu 3
4.2 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Bố cục của đề tài 3
Chương 1: VƯƠNG TRIỀU NGUYỄN CÓ TRÁCH NHIỆM GÌ TRONG VIỆC ĐỂ NƯỚC TA RƠI VÀO TAY PHÁP THẾ KỶ XIX 5
1.1 Tinh thần Đoàn kết và ý thức dân tộc - cội nguồn của dân tộc Việt Nam, đặc biệt là trong thời kỳ từ thế kỷ XVII - XIX 6
1.2 Vương triều nhà Nguyễn đó luụn nghĩ đến việc cầu viện sự giúp đỡ về mặt quân sự từ bên ngoài Đây cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự mất nước của dân tộc ta mà nhà Nguyễn phải chịu trách nhiệm 9
1.3 Triều đình nhà Nguyễn đã không dự kiến được cuộc chiến tranh của tư bản Pháp và không sẵn sàng bảo vệ cho nền độc lập dân tộc 10
1.4 Khi quân Pháp tấn công nhưng triều đình Huế lại tuân thủ và thực hiện theo đương lối chủ hòa - đường lối chiến tranh mất nước 12
Trang 31.5 Nhà Nguyễn đã không có tư tưởng chống xâm lược một cách kiên quyết hay việc
đề ra những đường lối sai lầm lại quay lưng lại với dân tộc, với phong trào kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta 14
Trang 41.7 Nhà Nguyễn hết sức sai lầm trong việc ký kết bản Hiệp ước Giáp Tuất 1874 - bản
Hiệp ước đã khiến nhà Nguyễn không còn có lối thoát 19
Chương 2: KHÁI QUÁT NHỮNG QUAN ĐIỂM, NHỮNG Ý KIẾN KHÁC NHAU VỀ ĐÁNH GIÁ VƯƠNG TRIỀU NGUYỄN 22
2.1 Giai đoạn (1960-1987) 22
2.2 Giai đoạn (1987- nay) 26
KẾT LUẬN 28
TÀI LIỆU THAM KHẢO 30
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Bàn về lịch sử dân tộc nhà nguyễn thành lập thì có thể khẳng định rằng đó là kết quảcủa cuộc đấu tranh tranh giành ngôi vị một cách kiên trì, bền bỉ của những người dân conthuộc dòng họ Nguyễn Phúc Trước lúc Nguyễn Phúc Ánh lên ngôi, đất nước ta chia thànhhai miền Nam- Bắc gọi là Đàng Trong và Đàng Ngoài Ở Đàng Ngoài có vua Lê chúa Trịnhthống lĩnh, ở Đàng Trong có chúa Nguyễn cai trị
Ra đời trong toàn cảnh đặc biệt quan trọng, nhà Nguyễn đã trải qua rất nhiều biến cốtrong vòng thời gian tồn tại, mang nhiều thị phi như cầu viện ngoại bang để xây dựng lịch
sử dân tộc nhà nguyễn thành lập và duy trì thống trị đất nước; làm mất đi nước vào tayPháp Tuy nhiên, tất cả chúng ta cần nhìn nhận một cách công tâm về những giá trị mà nhàNguyễn đã gây dựng, đặc biệt quan trọng là việc mở mang bờ cõi, lãnh thổ quốc gia
Mặc dù dưới triều đại Nhà Nguyễn, đã có rất nhiều các bộ chính sử đồ sộ, tiêu biểunhư bộ "Đại Nam thực lục" và "Đại Nam liệt truyện" Tuy nhiên, những bộ chính sử nàybao giờ cũng được chép theo quan điểm chính thống của vương triều đang trị vì để nhằmtôn vinh công lao, sự nghiệp của vương triều Nếu đứng trên những quan điểm lịch sử đóchúng ta sẽ có một cái nhìn lệch lạc về sự thật lịch sử như việc: phê phán thế lực đối lậpchúa Trịnh ở Đàng Ngoài, coi lực lượng chống đối Tây Sơn là "Ngụy Triều"…
Chính vì vậy, để có được những quan điểm đánh giá một cách chân thực nhất vềvương triều này, chúng ta cần phải tìm hiểu ở tất cả các nguồn sử liệu khác nhau, và phảiđứng từ nhiều góc độ khác nhau để nhận thức lịch sử
Cũng đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu của cả sử gia người Việt và một số sửgia nước ngoài Và tất nhiên, phần lớn các quan điểm này đều chủ yếu theo xu hướng vậndụng phương pháp luận hiện đại Nhưng dù nghiên cứu một cách chung nhất về triềuNguyễn - với vai trò là một triều đại cuối cùng trong lịch sử dân tộc, hay nghiên cứu cụ thể
về từng phương diện của vương triều này thì chúng ta vẫn cần phải có cách nhận xét đánhgiá chung nhất - tạo cơ sở khoa học cho những khái quát về lịch sử thời kỳ này
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trong những năm qua, có khá nhiều công trình nghiên cứu, đề cập đến vai trò của triều Nguyễn triều đại phong kiến cuối cùng của Việt Nam Tuy nhiên, mỗi công trình nghiên cứu, mỗi tác phẩm lại hướng tới những nội dung khía cạnh khác nhau Chính vì thế, cho đếnnay vẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống, chi tiết về “ Triều Nguyễn với vai trò là triều đại cuối cùng của lịch sử dân tộc”
Trang 71 Cuốn “Phong trào dân tộc trong đấu tranh chống Pháp ở Việt Nam 1885 - 1918” của
Nguyễn Ngọc Cơ Nxb ĐHSP, 2007.
2 Cuốn “Một số chuyên đề lịch sử Việt Nam” của Trần Bá Đệ (chủ biên), Nxb
ĐHQGHN, 2002
3 Hội khoa học Lịch sử Việt Nam, Kỷ yếu hội thảo khoa học "Chúa Nguyễn và Vương
triều Nguyễn trong lịch sử Việt Nam từ thế kỷ XVI - XIX", Nxb Thế giới, 2008.
4 Cuốn “Đại cương lịch sử Việt Nam” - tập 2, của Đinh Xuân Lâm (chủ biên), Nxb Giáo
Dục, 2009
5 Cuốn “Lịch sử cận - hiện đại Việt Nam: một số chuyên đề nghiên cứu” của Đinh Xuân
Lâm, Nxb Thế giới, 1998.
6 Nhiều tác giả, Lịch sử nhà Nguyễn một cách tiếp cận mới, Nxb ĐHSP, 2005.
7 Cuốn “Việt Nam thế kỷ XIX (1802 - 1884)” của Nguyễn Phan Quang, Nxb Thành phố
Hồ Chí Minh, 1999
8 Cuốn “Đại cương lịch sử Việt Nam - tập 1” Trương Hữu Quýnh (chủ biên), Nxb Giáo
Dục, 1998
9 Tạp chí Xưa & Nay, Những vấn đề lịch sử triều Nguyễn, Nxb Văn Hóa Sài Gòn, 2007.
Như vậy, thông qua tất cả các tài liệu trên, các nhà nghiên cứu mới chỉ
dừng lại ở một góc độ khía cạnh nào đó, chưa có một công trình nào nghiên cứu một
cách toàn diện, hệ thống, khoa học Vì thế, tôi lựa chọn đề tài: “Triều Nguyễn với vai trò là một triều đại cuối cùng của lịch sử dân tộc” nhằm tiềm hiểu về trách
nhiệm để mất nước vào tay thực dân cũng như những quan điểm, ý kiến đánh giá về vương triều phong kiến cuối cùng này.
3 Đối tượng, phạm vi, mục đích nghiên cứu
3.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng: Như tên gọi của đề tài, tôi chỉ tập trung vào việc tìm hiểu,
nghiên cứu những nét cơ bản nhất về vai trò của triều đình nhà Nguyễn là triều đại cuối cùng của dân tộc Việt Nam
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Không gian nghiên cứu chính của đề tài là Triều Nguyễn
+ Đề tài nghiên cứu: vai trò là triều đại cuối cùng của lịch sử dân tộc
3.2 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu đề tài này nhằm khắc họa những nét cơ bản nhất về triều đại này: nguyên nhân và triều Nguyễn có trách nhiệm gì trong việc để mất nước vào tay Pháp ở thế kỉ XIX Mặt khác, khái quát về những quan điểm ý kiến khác nhau về đánh giá vương triều này qua hai giai đoạn 1960-1986 và 1987-nay
Trang 84 Cơ sở tư liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1 Cơ sở tư liệu
Để hoàn thành tiểu luận này tôi đã sử dụng những nguồn tài liệu chính là
Các sách, giáo trình lịch sử Việt Nam, các công trình nghiên cứu đã được công bố và các nguồn tài liệu khác
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài này tôi chủ yếu sử dụng phương pháp lịch
sử và phương pháp logic để trình bày các sự kiện, các vấn đề theo mối quan hệ
có tính chất biện chứng với nhau
Để hoàn thành tiểu luận này tôi đã có quá trình sưu tầm, tổng hợp và hệ
thống các tài liệu, đánh giá của bản thân dựa trên quan điểm Macxit
5.Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, tài liệu tham khảo nội dung đề tài bao gồm:
Chương 1: VƯƠNG TRIỀU NGUYỄN CÓ TRÁCH NHIỆM GÌ TRONG VIỆC ĐỂ
NƯỚC TA RƠI VÀO TAY PHÁP THẾ KỶ XIX
1.1 Tinh thần Đoàn kết và ý thức dân tộc - cội nguồn của dân tộc Việt Nam, đặc biệt là trong thời kỳ từ thế kỷ XVII - XIX.
1.2 Vương triều nhà Nguyễn đó luụn nghĩ đến việc cầu viện sự giúp đỡ về mặt quân
sự từ bên ngoài Đây cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự mất nước của dân tộc ta mà nhà Nguyễn phải chịu trách nhiệm.
1.3 Triều đình nhà Nguyễn đã không dự kiến được cuộc chiến tranh của tư bản Pháp
và không sẵn sàng bảo vệ cho nền độc lập dân tộc.
1.4 Khi quân Pháp tấn công nhưng triều đình Huế lại tuân thủ và thực hiện theo đương lối chủ hòa - đường lối chiến tranh mất nước.
1.5 Nhà Nguyễn đã không có tư tưởng chống xâm lược một cách kiên quyết hay việc
đề ra những đường lối sai lầm lại quay lưng lại với dân tộc, với phong trào kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta.
1.6 Một trong những nguyên nhân mang tính chủ quan mà nhà Nguyễn cần phải chịu trách nhiệm đó là việc nhà Nguyễn bảo thủ cố chấp, khước từ mọi cải cách tiến bộ 1.7 Nhà Nguyễn hết sức sai lầm trong việc ký kết bản Hiệp ước Giáp Tuất 1874 - bản Hiệp ước đã khiến nhà Nguyễn không còn có lối thoát.
Chương 2: KHÁI QUÁT NHỮNG QUAN ĐIỂM, NHỮNG Ý KIẾN KHÁC NHAU VỀ
ĐÁNH GIÁ VƯƠNG TRIỀU NGUYỄN
2.1 Giai đoạn (1960-1987)
2.2 Giai đoạn (1987- nay)
Trang 9Chương 1
VƯƠNG TRIỀU NGUYỄN CÓ TRÁCH NHIỆM GÌ TRONG VIỆC ĐỂ NƯỚC TA
RƠI VÀO TAY PHÁP THẾ KỶ XIX
Ðứng ở địa vị của một quốc gia còn nhỏ yếu về mặt kinh tế thì việc bị một nước cónền kinh tế với tiềm lực lớn thôn tính là điều rất dễ thấy trong lịch sử thế giới Tuy nhiên,
Trang 10lịch sử không phải lúc nào cũng tuân theo một quy luật như vậy Có quốc gia tuy có một nềnkinh tế kém phát triển nhưng vẫn giữ được nền tự chủ của mình Như vậy chúng ta có thểthấy rằng, việc mất nước là tùy thuộc vào điều kiện lịch sử cụ thể, chứ không phải cứ mộtquốc gia hùng mạnh se xâm chiếm được quốc gia nhỏ yếu Vì vậy, mất nước không phải làđiều tất yếu
Từ năm 1858, Việt Nam bước vào cuộc kháng chiến chống xâm lược trong điều kiệnhoàn cảnh khác hẳn với các cuộc chiến tranh chống xâm lược của các triều đại trước Đứng
ở địa vị là một triều đại cuối cùng trong lịch sử dân tộc phải gánh chịu trách nhiệm để đấtnước rơi vào ách thống trị của thực dân Pháp vào cuối thế kỷ XIX Vậy cho đến khi nhàNguyễn bị mất chủ quyền vào tay thực dân Pháp phải chăng chỉ là một chế độ phong kiến bịkhủng hoảng và trên đà suy vong? Có điều này hay không? Và việc để mất nước ta vào taythực dân Pháp bắt nguồn từ những nguyên nhân nào? Xung quanh nguyên nhân của việcnước ta bị rơi vào tay thực dân Pháp cuối thế kỷ XIX và trách nhiệm của nhà Nguyễn trongtai họa khổ đau này là gì trong khi vận mệnh dân tộc đang đứng trước nguy cơ xâm lược?
Do xuất phát từ những góc độ nhìn nhận khác nhau, cho đến tận bây giờ, vẫn còn có không
ít những ý kiến hoặc trái ngược nhau, hoặc phiến diện, thiếu đầy đủ, rất cần phải nhữngcuộc thảo luận để giải quyết vấn đề này
Bên cạnh những ý kiến mang tính cực đoan: trút tất cả sự hận thù, căm ghét, giận dữlên triều đình phong kiến nhà Nguyễn, cho rằng nhà Nguyễn là vương triều tối phản động.Nhận xét như vậy đã vô tình kết tội nhà Nguyễn phải chịu trách nhiệm hoàn toàn trước việc
để mất nước ta vào tay giặc Nhưng bên cạnh đó lại có những ý kiến đối lập Những ý kiếnnày đã cố tình bênh vực cho nhà Nguyễn, cho rằng việc mất nước ta ở cuối thế kỷ XIX làmột tất yếu, thậm chí là "một tai họa cần thiết" thoát khỏi sự trì trệ khùng hoảng của đấtnước đang đị vào giai đoạn cuối của chế độ phong kiến
Trước khi tìm hiểu về những nguyên nhân đã khiến cho nước ta rơi vào tay thực dânPháp, chúng ta cần phải thấy một điều rằng, nguyên nhân khiến chúng ta bị mất nước baogồm cả những nguyên nhân chủ quan và khách quan
Về nguyên nhân khách quan, đó là yếu tố tư bản chủ nghĩa Vào khoảng thế kỷ XVI,XVII, mầm mống tư bản chủ nghĩa đã xuất hiện nhiều ở các nước phương Tây Chủ nghĩa
tư bản ngày cang phát triển thì nhu cầu về thị trường, nguồn nguyên liệu ngày càng trở nênbức xúc hơn Và trong suốt khoảng thời gian từ thế kỷ XIII đến thế kỷ XVI, các nước tư bảnphương Tây đó tỡm đường sang phương Đông và tìm mọi cách để đặt quan hệ ngoại giao và
Trang 11từng bước thực hiện kế hoạch thôn tính Trong cuộc chay đua sang phương Đông đú cú hai
kẻ mạnh nhất là Anh và Pháp Nhưng với sự khôn khéo mềm dẻo và thức thời, một số quốcgia phương Đông vẫn thoát khỏi nanh vuốt của bọn thực dân phương Tây như: Nhật Bản,Thái Lan…
Nói như vậy liệu việc Việt Nam mất nước vào tay của thực dân Pháp có phải là không
có cách nào tránh khỏi?
1.1 Tinh thần Đoàn kết và ý thức dân tộc - cội nguồn của dân tộc Việt Nam, đặc biệt
là trong thời kỳ từ thế kỷ XVII - XIX.
Một trong những yếu tố tạo nên sức mạnh từ xưa đến nay của dân tộc ta là ý thức đoànkết dân tộc Tinh thần này đã theo chúng ta trong suốt cả một quá trình lịch sử Nhìn lại lịch
sử Việt Nam ở các thế kỷ trước, thời Đinh, Lê, Lý, Trần, ông cha ta đã từng bảo vệ đượcnền độc lập trong những điều kiện hết sức khó khăn.Nhưng từ thế kỷ XVI - XIX, tư tưởngnày đã dần mai một đi theo sự khủng hoảng của nhà nước phong kiến lúc bấy giờ Sự khủnghoảng này đã xuất hiện từ thế kỷ XVIII, khi đất nước lâm vào tỉnh cảnh nội chiến liên miên
và chia cắt đất nước Khi đất nước đó cú sự chia cắt, và nhất là khi lại chịu sự thống trị củahai vương triều phong kiến khác nhau thì sự đoàn kết dân tộc lúc này nếu có tồn tại cũng hếtsức lỏng lẻo, và hình thức Tình trạng này kéo dài cho đến khi chịu sự thống trị duy nhất củavương triều nhà Nguyễn thì tinh thần này đã không còn được bền vững như trước được nữa.Trong suốt thời kỳ cuộc chiến tranh Trịnh - Nguyễn diễn ra, chúng ta không ít lần đã
có được sự giúp đỡ can thiệp của nước ngoài (Xiêm, Thanh), và chúng ta cũng đã dànhđược không ít những thắng lợi Nhưng những thắng lợi này trong tâm tư của người dân ViệtNam là một điều không tương xứng, nó khụng dựng lại được cái khí phách anh hùng, truyểnthống dân tộc Việt Nam như các trận Bạch Đằng, Chi Lăng trước đây Điều đó cũng cónghĩa là ý thức dân tộc, truyền thống dân tộc đã ngày càng mai một đi Và đến sau thời kỳchiến tranh Trịnh - Nguyễn, nền kinh tế của chúng ta ngày càng trở nên sa sút Và đến năm
1802 khi vương triều nhà Nguyễn được tái lập, thì chế độ phong kiến Việt Nam đã bước vàothời kỳ khủng hoảng, suy vong trầm trọng Cuộc khủng hoảng này được biểu hiện trên tất cảcác lĩnh vực: kinh tế, quân sự, văn hóa, xã hội và cả ở nội trị và ngoại giao
Về mặt kinh tế, cuộc khủng hoảng biểu hiện ở việc nhà Nguyễn không thể kiềm chế
nổi và không kiểm soát được việc cường hào chiếm đoạt ruộng đất công, ruộng đất tư củanông dân Nguồn tài sản lớn nhất và cũng là nguồn thu quan trọng nhất của nhà nước làcông điền, đã mất gần hết Dưới thời Gia Long, Minh Mệnh, nhà nước phong kiến đã cố
Trang 12gắng cải cách chế độ ruộng đất, làm thí điểm ở Bình Định, hay việc tổ chức thực hiện "Phépquân điền" nhằm hạn chế tình trạng bao chiếm ruộng đất của địa chủ, nhưng chính triềuđình cũng bất lực Ruộng công ngày càng bị thu hẹp Ở ngoài Bắc, có phủ hầu như không cócông điền (phủ Thanh Oai), có tỉnh phần nửa số xã không có công điền (Bắc Ninh) TrongNam, diện tích công điền lại càng ít hơn Trong số liệu điều tra 1839, tại Bình Định, diệntích ruộng công điền toàn tỉnh chỉ còn từ 6000 - 7000 mẫu, trong khi đó tư điền chiếm tới70.000 mẫu
Như vậy có thể nói dưới triều đại nhà Nguyễn, phần lớn ruộng đất đã thuộc về taycường hào, địa chủ Nông dân bị mất đất là chuyện thường tình Xung đột giữa nông dân vàcường hào, địa chủ vì thế ngày càng gay gắt Sản xuất nông nghiệp ngày càng đình trệ, mặc
dù nhà nước lớn tiếng hô hào "trọng nông" nhưng thực tế lại không có biện pháp gỡ để thúcđẩy sản xuất nông nghiệp phát triển Đời sống của nông dân ngày càng trở nên bi đát, làngxóm tiêu điều
Cùng với hoạt động nông nghiệp thì thương nghiệp cũng trở nên bế tắc Ngay từ nămGia Long thứ 2, nhà Nguyễn đã cho thực hiện chính sách "bế quan tỏa cảng" Qua các đờiMinh Mạng (1820 - 1840), Thiệu Trị (1840 - 1847), chính sách này vẫn luôn được thi hành.Đặc biệt dưới thời Tự Đức thì chính sách "Bế quan tỏa cảng" càng được thực hiện nghiêmngặt hơn Chính sách này đã khiến cho hoạt động giao thương của nhà Nguyễn càng đìnhtrệ, dẫn đến việc nhà nước thiếu mất một nguồn thu đáng kể Nguồn ngân sách nhà nướckhông có dẫn đến việc thiếu lính, thiếu trang bị cần thiết để củng cố an ninh quốc phòng
"Bế quan tỏa cảng" còn ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế cả công nghiệp, nông nghiệp, vàthủ công nghiệp, cả nội thương và ngoại thươnghay có thể nói, chính sách "Bế quan tỏacảng" đã cản trở nghiêm trọng tới sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế đất nước
Về Chính trị, bộ máy chính quyền triều Nguyễn được xây dựng trên cơ sở nền "quân chủ
thuần túy, tuyệt đối, không có gì kiểm tra, không có giới hạn nào khác hơn…" Sự lục đục,tranh giành quyền lực trong triều đình vì vậy mà ngày càng căng thẳng Ngay cả khi Pháp nổsũng xâm lược cho đến cuối thời Tự Đức (tháng7 - 1883), hầu như không lúc nào trong nội bộtriều đình Huế được yên ổn Ngày 3.8.1864, nổ ra cuộc bạo động ở Huế dưới danh nghĩa củaHồng Tập (em vua Tự Đức); ngày 16.9.1866 bùng nổ cuộc khởi nghĩa cả Đoàn Hữu Trung,Đoàn Tư Trực và Đoàn Hữu Ái ngay tại kinh thành, nhằm lật đổ Tự Đức, đưa Đinh Đạo lênthay; Từ 19.7.1883 đến 19.9.1885, trong vòng 26 tháng, triều đình Huế đã phải thay đổi ngôivua tới 4 lần Ở các nơi, giặc giã và khởi nghĩa nông dân nổ ra liên tiếp, triều đình đã phải cử
Trang 13những tướng giỏi nhất đi đánh dẹptất cả sự lục đục đó trong triều đình nhà Nguyễn chỉ muốnchứng tỏ một điều rằng, nội bộ triều đình nhà Nguyễn ngày càng trở nên mục nát, đưa đất nướcđến chỗ lâm nguy.
Không những thế, bộ máy cai trị ở địa phương cũng ngày càng trở nên quan liêu, ngàycàng bất lực, chỉ chăm lo tư hữu cho ban thân mình mà không quan tâm đến đời sống củanhân dân
Sự khủng hoảng về mặt chính trị, cùng với những chính sách sai lầm về mặt kinh tế đãdẫn đến cảnh sức cùng lực kiệt: quân đội không được chú trọng, không có tinh thần phảnkháng trong chiến đấu triều đình lại liên tiếp phạm những sai lầm Thực hiện những chínhsách đối nội và đối ngoại hết sức tiêu cực: cấm đạo, chiến tranh xâm lược với các nước lánggiềng những việc làm này chỉ càng trút thêm nỗi đau khổ lên đầu nhân dân, tạo nên sự thùhằn và chia rẽ giữa nhân dân trong nước cũng như giữa các dân tộc trên bán đảo Đôngdươnghậu quả là mâu thuẫn giữa nhân dân lao động và triều đình phong kiến ngày càng trởnên quyết liệt, làm bùng nổ các cuộc khởi nghĩa nông dân, làm lung lay đến sự thống trị của
cả vương triều, và quan trọng hơn cả đú chớnh là sức mạnh đoàn kết của toàn thể dân tộc sức mạnh tinh thần của toàn thể dân tộc ta
-Như vậy ý thức dân tộc đã ngày càng rõ rệt khi sự khủng hoảng và suy yếu của triềuđình phong kiến ngày càng trầm trọng Và cho đến trước khi thực dân Pháp nổ súng xâmlược nước ta thì tinh thần dân tộc đó đã không được gắn kết lại, tạo điều kiện cho thực dânPháp xâm lược nước ta một cách dễ dàng
1.2 Vương triều nhà Nguyễn đó luôn nghĩ đến việc cầu viện sự giúp đỡ về mặt quân
sự từ bên ngoài Đây cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự mất nước của dân tộc ta mà nhà Nguyễn phải chịu trách nhiệm.
Từ xưa đến nay, đất nước có được những thắng lợi trong việc chống giặc ngoại xâmđều xuất phát từ ý thức tự cường Ý thức độc lập tự chủ càng cao thì nền độc lập tự chủ càngđược giữ vững
Nhưng ở Việt Nam, từ thế kỷ XVI - XIX, thì tình trạng phân liệt, phân tranh đã tácđộng tiêu cực làm cho ý thức dân tộc ngày càng bị sa sút, làm nảy sinh sự chia cắt dân tộc
ta, nảy sinh một chứng bệnh xưa nay chưa từng có: Đó là việc cầu viện quân sự ngoại bang
để giải quyết tranh chấp nội bộ
Từ thế kỷ XVI, hiện tượng này đã diễn ra trên cả nước, vì lợi ích của cá nhân mà họ đã
bỏ qua lợi ích của dân tộc: "cõng rắn cắn gà nhà", "rước voi giày mả tổ"…Đến sau này, khi
Trang 14nhà Nguyễn bị quõn Tây Sơn đánh đuổi, Nguyễn Ánh đã phải cầu viện quõn Xiêm, nhưngcũng đã bị quân Tây Sơn đánh cho tan tành vào năm 1783 Sau khi quõn Xiêm thất bại,Nguyễn Ánh trên con đường lưu vong trước sự tấn công của nghĩa quân Tây Sơn, đã phảibám vứu vào tư bản Pháp, trong khi tư bản Pháp đang cùng với các nước tư bản khác chạyđua tìm kiếm thuộc địa trong khu vực Viễn Đông Và bản Hiệp ước 1787 - Hiệp ước vecxai
đã được thiết lập: Nguyễn Ánh đã cam kết cắt Đà Nẵng, và đảo Côn Lôn cho Pháp, mặc dùsau đó đã không được thực hiện Nhưng ý đồ cầu viện quân sự từ nước ngoài - mà cụ thể làPháp vẫn chưa chấm dứt Vấn đề này, gần đây trong một số cuộc hội thảo cũng đã có ý kiếncho rằng: việc đi cầu cứu ngoại bang chẳng qua cũng chỉ giống như ở nông thôn "cháy nhàvan xóm", không đáng bị trách cứ
Trong việc tranh chấp quyền lợi, việc tranh thủ đồng minh cũng là một điều dễ hiểuhợp với lẽ thường Nhưng vấn đề là ở chỗ thái độ xử lý sau khi đã thắng lợi phải như thếnào để chính kẻ đồng minh giỳp mỡnh không thể lợi dụng được tình hình để mưu lợi Vìvậy mà vua Gia Long và các vua sau này đều có ý thức cảnh giác cao đối với thế lực củathực dân Pháp Ngay sau khi đánh bại quân Tây Sơn để lên nắm quyền, Gia Long đã "trảơn" một số người Pháp đã có công giúp đỡ bằng cách giữ lại làm quan trong triều đình,phong quan chức cao cấp, biệt đãi hậu hĩ,…đó cũng là một trong những cách làm khôn khéocủa Gia Long khi ông nhận ra sự nguy hiểm của một số người Tình hình này được giữ bình
ổn trong nhiều năm, nhưng đến khi Minh Mệnh lên thay thì tình hình đã căng thẳng lên rấtnhiều Nhất là từ năm 1831, khi triều đình Huế không công nhận eugene chaigneau là contrai của jean baptiste, chaigneau đã trở về Pháp từ cuối năm 1824 vì tự thấy hoàn toàn bấtlực trong nhiệm vụ Rõ ràng đây là âm mưu đen tối của tư bản Pháp đối với Việt Nam từnhững thập kỷ đầu cảu thế kỷ XIX Nhưng tất cả đã chịu sự thất bại thảm hại trước sự cảnhgiác đề phòng, cộng với chính sách khôn khéo mà cứng rắn bên trong của các vua Nguyễn.Tuy nhiên, vẫn không thể phủ nhận việc Gia Long tranh thủ sự viện trợ của Pháp cũng
là một cơ hội tốt cho Pháp, để Pháp ngày càng tăng cường chú ý đến Việt Nam, tìm cáchxâm nhập ngày càng sâu bằng hai con đường truyền giáo và buôn bán chờ cơ hội hànhđộng Vì vậy cũng có thể khẳng định rằng, đó là một nguyên nhân chủ quan dẫn tới cuộcchiến tranh xâm lược của Pháp vào giữa thế kỷ XIX, một nguyên nhân tuy rằng chủ quannhưng hoàn toàn ngoài ý muốn của Nguyễn Ánh (Gia Long) khi tranh thủ sự trợ giúp củaPháp
Trang 151.3 Triều đình nhà Nguyễn đã không dự kiến được cuộc chiến tranh của tư bản Pháp và không sẵn sàng bảo vệ cho nền độc lập dân tộc.
Từ thế kỷ XVII, XVIII và đến đầu thế kỷ XIX, không có người phương Đông hay mộtngười dân Việt Nam nào hiểu biết gì về phương Tây Chính vì vậy họ không thể lý giảiđược, tại sao người phương Tây lại sang phương Đông ngày càng nhiều như vây? Họ đưanhau sang phương Đông để làm gì họ đều không lí giải được? Họ vẫn chỉ quan niệm rằng:Sang phương Đông xa xôi chủ yếu để giải quyết thỏa mãn tính mạo hiểm vì người phươngTây là người ưa mạo hiểm Họ không biết rằng chính sự phát triển của nền KTTBCN đặt ranhu cầu phải có một thị trường rộng lớn và một nguồn nguyên liệu dồi dào Các thuyền bèphục vụ cho công tác thám hiểm chở theo các giáo sĩ thực hiện công cuộc truyền giáo Kếthợp hai việc này khiến cho hoạt động này đã trở thành hoạt động phổ biến từ thế kỷ XVIII -XIX Phương Đông vẫn không hề biết được rằng, đây là những công việc đầu tiên chuẩn bịcho một cuộc chiến tranh xâm lược Ở Việt Nam, cả vua quan đều cho rằng: người phápkhông có lí do gì để xâm lược nước ta, và bởi vì giữa ta - họ không có xích mích gì vớinhau Nước họ lại ở xa Việt Nam chứ không ở cạnh nước ta như Tống, Minh, Thanh trướcđây, nên họ lấy nước ta, cắt đất của nước ta để làm gì? Lúc đó triều đình nhà Nguyễn chỉngây thơ cho rằng người Pháp đến Việt Nam chỉ nhằm mục đích: muốn cú thờm vài mảnhđất để lập thương điếm buôn bán, thứ hai là mục đích truyền đạo, nếu có gây chiến tranhcũng chỉ là để bồi thường lấy tiền Chính vì hiểu như vậy mà nhà Nguyễn không hề đềphòng và ý thức được việc phải chống xâm lược, mà nhà Nguyễn chỉ đề phòng xâm chiếmcủa nhà Thanh
Việc không dự kiến được cuộc chiến tranh xâm lược của phương Tây, nên nhà Nguyễnchỉ chú trọng đến việc đàn áp các cuộc nổi dậy trong cả nước Nhà Nguyễn cho xây dựnglực lượng quân đội mạnh nhưng lại không có phương pháp đối phó với lực lượng quân sựnước ngoài mà chỉ chủ yếu để chấn ỏp cỏc cuộc khởi nghĩa và của sự xâm chiếm của cácnước láng giềng Các loại vũ khí được trang bị chủ yếu dùng để đánh dẹp các cuộc khởinghĩa của nông dân, và những loại vũ khí này quá thô sơ so với vũ khí của phương Tây.Như vậy, nếu có sự chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu thì tất cả sự chuẩn bị đó cũng chỉ là sựchuẩn bị chiến đấu để chống lại các cuộc khởi nghĩa của nông dân trong nước chứ khôngphải là sự xâm chiếm của ngoại bang Và nếu có sự xâm lược của ngoại bang thời đó cũngchỉ là các ngoại bang ở gần
Trang 16Với quan niệm sai lầm như vậy, nhà Nguyễn đã không có ý thức trong việc đề phòng,cũng như không hiểu biết gì về nước Pháp, không biết gì về lịch sử văn hóa của nước Pháp,không biết Pháp mạnh yếu chỗ nào để lợi dụng Vì không biết sức mạnh của Pháp nênchúng ta không biết cách đối phó và cũng không biết cách đối phó Chỉ đến khi Pháp nổsúng xâm lược thì nhà Nguyễn lúc này mới thức tỉnh nhưng đó quá muộn
Nền kinh tế sa sút, trong suốt thời Tự Đức, nhất là vào những năm sát trước cuộc chiếntranh, dù chỉ biết được rằng thực dân Pháp đa bước đầu tấn công Nhưng chính quyền phongkiến đã không những không xây dựng được một nền kinh tế phù hợp, trái lại còn làm chonền kinh tế đình trệ, làm suy thoái nền kinh tế vốn đã vô cùng yếu ớt Những yêu cầu cấpthiết lúc đó như "khoan thư sức dân", "thực túc, binh cường" đều không hề được đáp ứng.Tình hình đú đó khiến cho nền tài chính bị khô kiệt, thị trường rối ren, dân chúng phẫn nộ.Khi cuộc chiến vừa mới bắt đầu thỡ "quân và dân, của đã hết, sức đã thiếu"
Trong quá trình chỉ đạo chiến tranh, chính triều đình cũng đã thiếu hẳn tinh thần,quyết chiến, quyết thắng giặc Pháp Họ không xác định được đường lối kháng chiến đúngđắn, không đưa ra được một lời kêu gọi mang tính hiệu triệu để đoàn kết toàn dân, phát huytruyền thống và sức mạnh của cả dân tộc Với tinh thần yếu ớt như vậy đã trở thành mộttrong những nguyên nhân Pháp xâm chiếm được nước ta
1.4 Khi quân Pháp tấn công nhưng triều đình Huế lại tuân thủ và thực hiện theo đương lối chủ hòa - đường lối chiến tranh mất nước.
Năm 1858, khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam Nhưng vì nhiều lí do khiếnPháp phải kéo dài cuộc nội chiến, phải mất 26 năm Pháp mới đặt được ách thống trị Nhữngđường lối chính trị của Pháp trong thời kì đầu đã chứng tỏ Pháp chưa có quyết tâm muốn đèbẹp bằng được mọi sự phản kháng của triều đình Huế Bởi lúc này, Pháp phải tham gia rấtnhiều cuộc chiến khác nữa, Pháp cần phải giải quyết rất nhiều các cuộc tranh chấp khác nữa.Nhưng rồi Pháp lại mắc phải sự khó khăn lớn về tài chính khi cuộc chiến diễn ra ngay trongnội bộ châu Âu: chiến tranh với nước Anh Chính vì vậy mà lực lượng quân Pháp ở ViệtNam còn rất mỏng Nhưng do theo đường lối chủ hòa nên nhà Nguyễn đã không tận dụngđược cơ hội trên, mà nhà Nguyễn chỉ suy nghĩ rằng Pháp đến Việt Nam là để lập thươngđiếm, truyền đạo và nếu co chiến tranh thỡ đó cũng chỉ là đánh để đòi chiến phí Chúng ta
đã phải bồi thường cho chúng không ít tiền, chính điều này đã hình thành tư tưởng chủ hòachi phối toàn bộ đến đường lối chiến lược, chiến thuật của nhà Nguyễn Ngay cả quan đại