1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Những tư tưởng cơ bản trong xã hội việt nam thời nguyễn

102 159 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 1,23 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lịch sử Việt Nam dưới triều Nguyễn (18021945) là giai đoạn có nhiều biến động và thách thức. Giai đoạn từ 18021858 là giai đoạn các vua nhà Nguyễn nắm quyền trị vì đất nước với tư tưởng xây dựng lại đất nước sau mấy trăm năm bị chia cắt. Giai đoạn từ sau năm 1858 khi thực dân Pháp xâm lược nước ta và kết thúc khi vua Bảo Đại tuyên bố thoái vị, giai đoạn này nước ta đặt dưới quyền bảo hộ của Pháp. Dù trong giai đoạn nào, thì vấn đề bảo vệ độc lập dân tộc, chống chiến tranh xâm lược vẫn được xem là vấn đề then chốt, là nhiệm vụ lịch sử vô cùng quan trọng, nhưng đồng thời cũng là bài toán khó đối với tất cả người Việt Nam yêu nước sống trong thời đại bấy giờ. Để hiểu hơn vào tiến trình lịch sử, cũng như bổ sung vào bài học kinh nghiệm trong thời đại ngày nay, không thể không kể đến những luồng tư tưởng xuất hiện bấy giờ và nó có ảnh hưởng như thế nào đối với quá trình dựng và giữ nước. Xã hội phong kiến Việt Nam nói chung và vương triều Nguyễn nói riêng, vốn chịu ảnh hưởng của hệ tư tưởng Nho giáo là chủ yếu. Tuy nhiên, khi thực dân Pháp vào xâm lược nước ta, chế độ phong kiến cùng với hệ tư tưởng Nho giáo ngày càng tỏ ra bất lực trước yêu cầu chống giặc ngoại xâm. Yêu cầu cấp bách bấy giờ là phải có tư tưởng mới phù hợp, đáp ứng được yêu cầu thực tiễn của quốc gia. Vậy từ khi Pháp vào xâm lược đến khi vua Bảo Đại thoái vị, vương triều Nguyễn nước ta đã trải qua những hệ tư tưởng nào? Nguyên nhân nào hình thành nên hệ tư tưởng đó? Những tư tưởng này ảnh hưởng như thế nào đến xã hội Việt Nam bấy giờ và nó có ý nghĩa gì đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc? Đây là những câu hỏi mà chúng ta cần giải quyết và cũng là mục đích mà nhóm chúng tôi hướng đến.

Trang 1

A MỞ ĐẦU

I Lý do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu:

Lịch sử Việt Nam dưới triều Nguyễn (1802-1945) là giai đoạn có nhiều biến động

và thách thức Giai đoạn từ 1802-1858 là giai đoạn các vua nhà Nguyễn nắm quyền trị vìđất nước với tư tưởng xây dựng lại đất nước sau mấy trăm năm bị chia cắt Giai đoạn từsau năm 1858 khi thực dân Pháp xâm lược nước ta và kết thúc khi vua Bảo Đại tuyên bốthoái vị, giai đoạn này nước ta đặt dưới quyền bảo hộ của Pháp Dù trong giai đoạn nào,thì vấn đề bảo vệ độc lập dân tộc, chống chiến tranh xâm lược vẫn được xem là vấn đềthen chốt, là nhiệm vụ lịch sử vô cùng quan trọng, nhưng đồng thời cũng là bài toán khóđối với tất cả người Việt Nam yêu nước sống trong thời đại bấy giờ

Để hiểu hơn vào tiến trình lịch sử, cũng như bổ sung vào bài học kinh nghiệmtrong thời đại ngày nay, không thể không kể đến những luồng tư tưởng xuất hiện bấy giờ

và nó có ảnh hưởng như thế nào đối với quá trình dựng và giữ nước

Xã hội phong kiến Việt Nam nói chung và vương triều Nguyễn nói riêng, vốn chịuảnh hưởng của hệ tư tưởng Nho giáo là chủ yếu Tuy nhiên, khi thực dân Pháp vào xâmlược nước ta, chế độ phong kiến cùng với hệ tư tưởng Nho giáo ngày càng tỏ ra bất lựctrước yêu cầu chống giặc ngoại xâm Yêu cầu cấp bách bấy giờ là phải có tư tưởng mớiphù hợp, đáp ứng được yêu cầu thực tiễn của quốc gia Vậy từ khi Pháp vào xâm lượcđến khi vua Bảo Đại thoái vị, vương triều Nguyễn nước ta đã trải qua những hệ tư tưởngnào? Nguyên nhân nào hình thành nên hệ tư tưởng đó? Những tư tưởng này ảnh hưởngnhư thế nào đến xã hội Việt Nam bấy giờ và nó có ý nghĩa gì đối với sự nghiệp giảiphóng dân tộc? Đây là những câu hỏi mà chúng ta cần giải quyết và cũng là mục đích mànhóm chúng tôi hướng đến

II Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

1 Đối tượng nghiên cứu:

Trang 2

Tư tưởng nổi bật của Việt Nam dưới thời Nguyễn (1802-1945) với các vấn đề

cụ thể:

 Tư tưởng chính trị- xã hội

 Tư tưởng pháp quyền

 Tư tưởng tôn giáo

 Tư tưởng quân sự

2 Phạm vi nghiên cứu:

 Không gian nghiên cứu: Việt Nam dưới triều Nguyễn

 Thời gian nghiên cứu: 1802-1945

III Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu:

Phương pháp lịch sử và logic là phương pháp chủ yếu bởi đó là những phươngpháp cơ bản của khoa học lịch sử để nghiên cứu, phân tích các nguồn tư liệu khác nhaunhằm nhìn nhận, đánh giá vấn đề một cách khách quan Bên cạnh đó, chúng tôi có sửdụng phương pháp phân tích và tổng hợp để làm rõ những hệ tư tưởng nổi bật xuất hiệndưới thời Nguyễn

Nhóm chúng tôi tiếp cận nguồn tư liệu chủ yếu là các công trình xuất bản bao gồmsách chuyên khảo, luận văn, luận án nghiên cứu về giai đoạn dưới thời Nguyễn, các bàinghiên cứu, đánh giá về hệ tư tưởng xuất hiện cuối thế kỷ XIX- đầu thế kỷ XX Cụ thểnguồn tư liệu chúng tôi sẽ trình bày trong mục tài liệu tham khảo để tránh sự lặp lại trongbài

IV Cấu trúc và phân công thực hiện đề tài:

Phần A: Mở đầu

Phần B: Nội dung

I Sơ lược về bối cảnh

Trang 3

II Bối cảnh cũa xã hội Việt Nam dưới thời Nguyễn

III Những tư tưởng cơ bản trong xã hội Việt Nam thời Nguyễn với các nội dung:

1 Tư tưởng chính trị- xã hội

2 Tư tưởng pháp quyền

3 Tư tưởng tôn giáo

4 Tư tưởng quân sự

III Đặc điểm và vai trò của tư tưởng thời Nguyễn

IV Kết luận

B NỘI DUNG

I SƠ LƯỢC BỐI CẢNH VIỆT NAM THỜI NGUYỄN

1 Sự thành lập và phát triển của nhà Nguyễn (1802 -

Năm 1771, phong trào nông dân Tây Sơn bùng nổ Đối tượng đầu tiên mà cuộckhởi nghĩa này hướng tới chính là chính quyền chúa Nguyễn ở Đàng Trong đang bịquyền thần Trương Phúc Loan thao túng Cả gia tộc chúa Nguyễn phải bỏ mạng, duy chỉ

có một người hậu duệ mới 15 tuổi sống sót, chạy ra đảo Thổ Chu năm 1777 Đó chính làNguyễn Phúc Ánh

Năm 1778, chàng thiếu niên Nguyễn Phúc Ánh đã quay về, được tôn làm Đạinguyên súy, Nhiếp quốc chính Nguyễn Ánh đã tập hợp lực lượng, tái chiếm Gia Định rồixưng vương năm 1780 Trong sự nghiệp trung hưng dòng họ, Nguyễn Ánh liên tiếp nhậnnhững thất bại trước quân đội Tây Sơn đầy binh hùng, tướng giỏi

Một trong những thất bại gây ra hệ lụy xấu của Nguyễn Ánh xuất phát từ trận thủychiến ở sông Ngã Bảy, cửa Cần Giờ năm 1782 với quân Tây Sơn Dù thuyền của chúaNguyễn tân tiến và áp đảo, nhưng lại thua trước tài thao lược của Nguyễn Huệ, lòng canđảm của nghĩa quân Nguyễn Ánh bỏ chạy về Ba Giồng, rồi có khi trốn sang tận rừngRomdoul, Chân Lạp Nguyễn Nhạc tuy chiếm được Nam bộ nhưng người Hoa ở đây lạiủng hộ Nguyễn Ánh, cộng thêm cái chết của tướng Đô đốc Phạm Ngạn, cùng tình trạngbinh lính thương vong nhiều, nên Hoàng đế Trung ương đã hạ lệnh tàn sát Hoa kiều, đốtphá nhà cửa để trả thù, thiệt hại nhất là vùng Cù Lao Phố Việc này đã cản chân Tây Sơntrong việc truy bắt Nguyễn Ánh, tạo cơ hội cho Nguyễn Ánh quay trở về Giồng Lữ, đoạt

Trang 4

được 80 thuyền từ Nguyễn Học, một vị Đô đốc Tây Sơn Chúa Nguyễn định kéo về giànhlại Gia Định nhưng Nguyễn Huệ đã kịp dàn binh và đánh bật Nguyễn Ánh ChúaNguyễn phải chạy trốn ra Phú Quốc, và sai Nguyễn Hữu Thụy sang Xiêm La cầu viện.Tuy nhiên, Xiêm La đã nhân cớ đó để xâm lược Việt Nam, rồi chuốc lấy thất bại nhụcnhã trong trận Rạch Gầm – Xoài Mút (tháng 1 năm 1785) Nguyễn Ánh cũng vì đó mà

mang tiếng “cõng rắn cắn gà nhà”.

Vua Quang Trung (Nguyễn Huệ) kẻ thù không đội trời chung của Nguyễn Ánh

Năm 1792, vua Quang Trung đột nhiên băng hà Quang Toản nhỏ dại lên nốingôi, niên hiệu Cảnh Thịnh Các sĩ phu Bắc Hà, cựu thần nhà Lê tôn Lê Duy Cận làmminh chủ, kết hợp với Nguyễn Ánh ở Gia Định, cùng tấn công Tây Sơn, tuy liên quânnày bại trận nhưng cũng khiến nhà Tây Sơn nhanh chóng suy yếu Không những thế,triều chính Tây Sơn bị nhũng loạn bởi bàn tay Thái sự Bùi Đắc Tuyên Nội bộ Tây Sơncũng rơi vào lục đục, “nồi da xáo thịt”

Nhân tình hình này, Nguyễn Ánh liên tiếp mở các cuộc phản công Năm 1793,quân Nguyễn công thành Quy Nhơn của Thái Đức – Nguyễn Nhạc Chính quyền QuyNhơn phải cầu cứu Phú Xuân và đã đẩy lùi quân Nguyễn Ánh, nhưng rồi Nguyễn Nhạccũng qua đời sau đó không lâu

Trang 5

Trong thế dùng dằng một thời gian, Nguyễn Ánh kéo quân giao chiến dữ dội vớiTây Sơn ở cửa Tư Dung; rồi đụng độ Quang Toản ở cửa Eo, Quang Toản thua trận bỏchạy ra Bắc và Nguyễn Ánh giành được Phú Xuân (3/5/1801).

Đầu năm 1802, tướng Trần Quang Diệu của nhà Tây Sơn hạ được thành QuyNhơn Tướng Võ Tánh của chúa Nguyễn tự vẫn để xin tha mạng cho lính tráng TrầnQuang Diệu đồng ý, rồi bỏ thành Quy Nhơn; cùng Vũ Văn Dũng mang quân cứu viện raNghệ An, bị quân Nguyễn bắt sống Bà Bùi Thị Xuân, vợ Trần Quang Diệu giải cứukhông được, cũng bị bắt và áp giải

Cũng trong năm này, Nguyễn Ánh lên ngôi hoàng đế, chính thức khôi phục quyềnlực dòng họ, thống nhất đất nước sau nhiều thập kỉ chia cắt Ông lấy niên hiệu là Gia

Long, “Gia” trong Gia Định, “Long” trong Thăng Long Sau đó Gia Long tổ chức lễ

Hiến phù, trả thù Tây Sơn một cách man rợn, như một hành động “đáp lại” những gì màTây Sơn đã gây ra cho gia tộc, cũng như năm tháng chui lủi, lưu vong của vị tân vương

a) Bộ máy Nhà nước

 Tổ chức chính quyền

Sau khi lập ra triều Nguyễn, Gia Long đã xây dựng, kiện toàn hệ thống hành chínhcũng như quan chế cho chính quyền mới Về cơ bản hệ thống quan chế và cơ cấu chínhquyền trung ương của triều đại này giống như các triều đại trước đó: Vua vẫn có quyềntối thượng Có các cơ quan trợ giúp cho vua như có Văn thư phòng (năm 1829 đổi là Nộicác), chuyên về giấy tờ, văn thư và ghi chép Tứ trụ Đại thần, đảm đương những việcquân cơ đại sự, tới năm 1834 gọi là viện Cơ mật Bên cạnh đó còn có Tông nhân phủ lãnhnhiệm các công việc của Hoàng tộc

Trang 6

Cơ mật viện này nay là trụ sở của Trung tâm bảo tồn di tích Cố đô Huế

Bên dưới, triều đình lập ra Lục bộ là Lại, Hộ, Lễ, Binh, Hình, Công Thượng Thưđứng đầu mỗi bộ, có vai trò chỉ đạo các công việc chung của Nhà nước Đô sát viện (tức

là Ngự sử đài bao gồm 6 khoa) mang trọng trách thanh tra quan lại, Hàn lâm viện phụtrách các sắc dụ, công văn, 5 Tự phụ trách một số sự vụ, phủ Nội vụ trông coi các khotàng, Quốc tử giám quản lí mảng giáo dục, Thái y viện thực hiện việc chữa bệnh và thuốcthang,… cùng với một số Ti và Cục khác

Với cơ cấu bộ máy chính quyền như vậy, khi có việc quan trọng, vua sẽ giao chotriều thần cùng nhau bàn xét Quan lại dù phẩm hàm như nào đều được quyền đưa ra ýkiến Mọi việc phải có sự chuẩn của vua mới được thi hành Hoàng đế tuy ở ngôi vị caonhất nhưng không được phép làm điều sai trái Các quan Giám Sát Ngự Sử có quyền cangián khi vua mắc phải sai lầm Quan chức của triều đình chỉ chạm tới phủ huyện, từ tổngtrở xuống do dân tự trị Người dân tự lựa chọn lấy người của mình mà cử ra quản trị mọiviệc ở địa bàn sinh sống Tổng gồm có vài làng hay xã, có một cai tổng và một phótổng do Hội đồng Kỳ dịch của các làng cử ra quản lý thuế khóa, đê điều và trị an trongtổng

Trang 7

Quan phục thời nhà Nguyễn quan văn bên trái, quan võ bên phải

Quan lại được phân ra ban văn, ban võ Minh Mạng đã xác định rõ rệt giai chếphẩm trật từ cửu phẩm tới nhất phẩm, mỗi phẩm chia ra chánh và tòng 2 bậc Lúc đấtnước ổn định quan võ phải dưới quan văn cùng phẩm với mình; còn khi có binh biến thìngược lại Quan Tổng đốc (văn) vừa cai trị tỉnh vừa chỉ huy quân lính của tỉnh Lươngbổng của quan lại tương đối ít nhưng họ được hưởng nhiều phúc lợi, phụ thân không phải

đi lính, miễn sưu thuế dựa theo ngạch (văn/võ), và phẩm hàm Không những vậy, con cáicác quan còn được hưởng tập ấm, tức là hưởng phúc cha ông để lại, có thể là được bạnđất đai, chức quan Bộ máy quan lại không quá nặng nề, nhưng nhà Nguyễn vẫn đau đầubởi nạn tham nhũng

Phân chia hành chính đất nước

Năm 1802, trong khi đã quyết định Phú Xuân là quốc đô, Nguyễn Ánh vẫn tạm đặt 11trấn phía Bắc (tương đương khu vực Bắc Bộ ngày nay) thành một Tổng trấn với tên

cũ Bắc Thành, do một Tổng trấn đứng đầu

Trang 8

Kinh thành Huế ngày nay

Đến thời Minh Mạng,không thể bỏ sót cuộc cải cách hành chính của ông trong các năm

từ 1831 đến1832 Vua quy đổi các tổng trấn, các dinh, trấn hợp nhất trong đơn vị tỉnh.Năm 1831, Minh Mạng đổi các trấn từ Quảng Trị trở ra thành 18 tỉnh, và vùng còn lại ởphía Nam được chia làm 12 tỉnh Thừa Thiên, thủ phủ của kinh đô Phú Xuân, trực thuộcTrung ương Toàn quốc bao gồm 30 tỉnh và phủ Thừa Thiên

Tổng đốc đứng đầu tỉnh (mỗi người phụ trách 2-3 tỉnh và chuyên trách 1 tỉnh) và Tuầnphủ (dưới Tổng đốc, phụ trách chỉ 1 tỉnh) Có các cơ quan hỗ trợ như Bố chánh sứ ti lo vềthuế khóa, hộ khẩu, hành chính; Án sát sứ ti lo về an ninh, luật pháp, còn lãnh binh đảmđương mặt quân sự Các quan chức đứng đầu tỉnh đều do chính quyền trung ương trựctiếp bổ nhiệm, và thường là võ quan cao cấp, về sau mới bổ dụng thêm các quan văn

Dưới tỉnh là phủ, huyện, châu, tổng và xã Quan chức của triều đình chỉ phân ra tới phủhuyện, từ tổng trở xuống do người dân tự lựa chọn cử ra quản trị Tổng gồm có vài lànghay xã, có một cai tổng và một phó tổng do Hội đồng Kỳ dịch của các làng cử ra quản lýthuế khóa, đê điều và trị an trong tổng

Hệ thống chính quyền có xu hướng giảm bớt quyền lực ở địa phương, tập trung ở Trungương, cùng với cơ cấu hành chính của các tổng, xã được tổ chức khá chặt chẽ để triềuđình dễ dàng quản lý và có đối sách kịp thời khi có sự cố

Trang 9

Đối với miền núi và địa bàn sinh sống của những tộc người thiểu số, Minh Mạng thựchiện nhất thể hóa hành chính đồng loạt với miền xuôi Năm 1829 ông bãi bỏ chế độ thếtập của các Thổ ti (các tù trưởng của dân tộc thiểu số), để quan lại lựa chọn những thổhào ở địa phương làm Thổ tri các châu huyện Sau đó, Minh Mạng còn đặt thêm mộtchức lưu quan do người Kinh nắm giữ để khống chế các vùng này tốt hơn và tiến hànhthu thuế như ở miền xuôi Tuy nhiên, do phản ứng của người dân địa phương, vuaTựĐức đã bãi bỏ chế độ này.

Chính thực dân Pháp đã ca ngợi sự phân chia hành chính khoa học của Minh Mạng Và

có thể thấy bộ mặt hành chính ngày nay của Việt Nam không khác biệt nhiều so với thờinhà Nguyễn độc lập

Từ thời nhà Nguyễn, vấn đề biển đảo đã được chú trọng bằng việc xác lập chủ quyền vàthành lập các đội hải quân, đặc biệt chú trọng Hoàng Sa và Trường Sa Từ năm 1816, GiaLong đã chính thức ra lệnh tiếp thu Hoàng Sa, cắm cờ trên đảo và đo thuỷ trình Dướitriều Minh Mạng, ông cho xây đền, đặt bia đá, đóng cọc, và trồng cây Đội Hoàng Sa vàĐội Bắc Hải đảm nhiệm nhiều trọng trách: khai thác, tuần tiễu, thu thuế dân trên đảo vànhiệm vụ biên phòng bảo vệ hai quần đảo Tới khi thực dân Pháp xâm lược Đông Dươngthì hai đội hải quân này ngừng hoạt động Cuối thế kỉ XIX, chính quyền Bảo hộ nhândanh triều đình Huế có Ý định dựng ngọn hải đăng để khẳng định quyền chiếm hữu củaPháp trên quần đảo Hoàng Sa nhưng không thành Đến tận năm 1938 mới có lực lượngchính thức chiếm đóng quần đảo này Dù vậy khi nhà Thanh gửi thuyền xâm phạmHoàng Sa vào những năm đầu thế kỷ XX thì Bộ Ngoại giao Pháp đã lập tức phản đối dẫnđến tình trạng tranh chấp kéo dài

Trang 10

lãnh Thổ Việt Nam thời vua Minh Mạng vươn tới cực đại tới tận Ai Lao, Chân Lạp

Năm 1830, vua Minh Mạng sáp nhập vùng Tây Nguyên vào lãnh thổ Việt Nam, tuy nhiêncác bộ tộc người Thượng vẫn được quyền tự trị của mình cho tới năm 1898 khi ngườiPháp trực tiếp tổ chức cai trị ở đây Năm 1832 nhà Nguyễn bỏ chế độ tự trị của ngườiChăm ở trấn Thuận Thành (Bình Thuận, Ninh Thuận ngày nay) chính thức sát nhập vùngđất này vào lãnh thổ Việt Nam Vào năm 1835 Vua Minh Mạng cho thành lập Trấn Tây

Thành (Campuchia ngày nay) thời kỳ này lãnh Thổ Việt Nam thời vua Minh Mạng vươn tới cực đại tới tận Ai Lao, Chân Lạp

1 Quân đội nhà Nguyễn

Trang 11

Một trong những thành quả Gia Long đạt được sau nhiều năm nội chiến với Tây Sơn làquân đội tương đối mạnh với trang bị và tổ chức kiểu phương Tây Sau khi quản làm chủtoàn bộ quốc gia, nhà Nguyễn xây dựng quân đội chính quy hoàn thiện hơn, Để sungbinh ngạch mới, vua Gia Long cho thực hiện phép giản binh, theo hộ tịch tuỳ nơi màđịnh, lấy 3, 5 hay 7 suất đinh tuyển 1 người lính Quân chính quy đóng tại kinh thành vànhững nơi xung yếu; các địa phương đều có lực lượng vũ trang tại chỗ làm nhiệm vụ trị

an Quân chính quy có 14 vạn người, bên cạnh đó còn có quân trừ bị Quân đội còn được

tổ chức thành 4 binh chủng: bộ binh, tượng binh, thủy binh và pháo binh, trong đó bộbinh và thuỷ binh được chú trọng xây dựng để tác chiến độc lập Trình độ chính quythống nhất cao Ngoài vũ khí cổ truyền, quân chính quy được trang bị hoả khí mua củaphương Tây như đại bác, súng trường, thuyền máy, thuốc nổ…Các loại súng thần công,đại bác được đúc với kích thước, trọng lượng thống nhất; thành luỹ, đồn to nhỏ cũngđược quy định cho từng cấp với số lượng quân nhất định

Đến thời Minh Mạng, ông tổ chức quân đội theo kiểu mẫu phương Tây, hướng đến tiêuchí “quý hồ tinh, bất quý hồ đa”, số lượng người cầm cờ từ 40 người giảm xuống 2 ngườitrong đội ngũ đơn vị 1 vệ (500 người) Vua còn thuê các sĩ quan huấn luyện Tây Dươngnên phương thức tác chiến được các học giả Mãn Thanh ghi nhận là giống hệt kiểu Pháp Quân đội Nguyễn triều thời điểm đó, có thể coi là lực lượng quân sự tân tiến hiện đạinhất ở khu vực Đông Á, hơn hẳn các nước lân bang như Trung Hoa, Thái Lan,Campuchia

Sang thời Tự Đức, công tác quốc phòng bắt đầu có dấu hiệu đi xuống Một nguyên nhânquan trọng là vấn đề tài chính Bộ binh được trang bị thô sơ: 50 người mới có 5 súng, mỗinăm chỉ tập bắn 1 lần 6 viên đạn Chất lượng bảo trì vũ khí cũng kém Về thuỷ binh,không có thêm tàu hơi nước mới nào, thuỷ quân yếu ớt đến mức không đủ khả năng bảo

vệ bờ biển chống hải tặc Đời sống quân lính không được quan tâm thoả đáng, lương thựclại bị ăn bớt Bởi vậy nhuệ khí của quân sĩ suy giảm Quan điểm khoa học quân sự củavua quan nhà Nguyễn không hề vượt quá khuôn khổ của khoa học quân sự phong kiến.Việc giảng dạy binh pháp không hướng tới học hỏi phương Tây nữa mà quay về Binh thưyếu lược của Hưng Đạo Đại vương Chính vì Pháp bỏ xa Đại Nam về khoảng cách vũ khítân tiến, quân đội thiện chiến, nên nhà Nguyễn dần dà trở nên sợ hãi

2 Chế độ thuế khóa – lao dịch

Sau khi đăng cơ, vua Gia Long đã tổ chức lại vấn đề đăng tịch, bắt buộc mỗi làng xã phảighi vào sổ đinh trong làng số đàn ông từ 18 đến 60 tuổi

Trang 12

Đơn vị làng có quyền tự trị rất lớn, tự họ cai trị theo những tục lệ riêng ghi trong hươngước của làng nên xưa nay vẫn có câu “Phép vua thua lệ làng” Hội đồng Kỳ mục trôngcoi tất cả công sản (tài sản công) và thuế khóa, đê điều, trị an Họ cũng phải lo phânphối công điền (ruộng công) giữa các dân đinh mỗi kỳ quân cấp và chỉ định thanh niên

đi lính Nói chung, những người đứng đầu các làng làng toàn quyền lo việc thuế má vàsưu dịch, triều đình không quan tâm làng sẽ phân chia trách nhiệm giữa các dân làng nhưnào

Về thuế nhân đinh và thuế ruộng, triều Nguyễn đặt mức thuế khoá mới nặng hơn thờitrước Vua Gia Long cho sửa lại hộ tịch và điền tịch đã hư hỏng trong giai đoạn đất nước

bị chia cắt Hộ tịch phân ra 9 hạng, tuỳ từng hạng mà nộp thuế toàn phần hoặc được miễngiảm phân nửa hay miễn trừ cả sưu thuế lẫn sai dịch Dân công nghệ thì nộp thuế sản vật.Thời Minh Mạng thì định lại thuế điền, chia cả nước ra 3 khu vực để đánh thuế.Dân Thanh Nghệ và Bắc Hà chịu thuế đinh và thuế điền cao nhất cả nước Theo thống kêcủa bộ Hộ thì số đinh năm đầu đời Gia Long là 992.559 người, cuối đời Thiệu Trị là1.024.380 người Về điền thổ thì đầu đời Tự Đức có 3.398.584 mẫu ruộng và 502.672mẫu đất

Mỗi năm, người dân đinh phải bỏ ra 60 ngày lao dịch cho triều đình với các công việcnhư xây làm thủy lợi, xây đắp các thành lũy; nặng nề nhất là xây dựng các cung điện chohoàng tộc Năm 1807, ngay khi kinh thành Huế vừa được hoàn thành, vua Gia Long lạihuy động hàng nghìn dân đinh và binh lính tiếp tục sửa chữa và tu bổ thêm trong một thờigian dài Vua Minh Mạng là người nối tiếp công việc xây dựng kinh đô Vua Thiệu Trịthì không tập trung xây dựng cấm thành, song, trong một cuộc tuần du lớn ra Bắc Kì năm

1842, người dân đã phải xây 44 hành cung cho một phái đoàn đông đến 17.500 người, 44con voi và 172 con ngựa của nhà vua Giáo sĩ Pháp Guérard đã nhận định: “…sự bấtcông và lộng hành làm người ta rên xiết hơn cả thời Tây Sơn: thuế khóa và lao dịch đãtăng lên gấp ba” Trong dân gian đã xuất hiện các bài vè, bài ca nói lên sự thống khổ từchế độ lao dịch, đặc sắc nhất là “Tố khuất khúc” của vùng Sơn Nam Hạ:

Binh tài hai việc đã xong,

Lại còn lực dịch thổ công bao giờ

Một năm ba bận công trình,

Hỏi rằng mọt sắt dân tình biết bao…

Trang 13

3 Luật pháp trong nước

Thuở mới khai quốc, vua Gia Long chỉ mới lệnh cho các quan tham khảo bộ luật HồngĐức để rồi từ đó tạm đặt ra 15 điều luật quan trọng nhất Năm 1811, Gia Long lệnh chotổng trấn Bắc Thành – Nguyễn Văn Thành chủ trì biên soạn một bộ luật mới Vào năm

1815, nó mới được ban hành, mang tên Hoàng Việt luật lệ (còn có tên khác là luật GiaLong Bộ luật này gồm 398 điều chia làm 7 chương và chép trong một bộ sách gồm 22cuốn, được in phát ra khắp mọi nơi Theo lời tựa, bộ luật ấy hình thành do tham khảo luậtHồng Đức và luật nhà Thanh nhưng kỳ thực là chép luật của nhà Thanh và chỉ thay đổi ítnhiều Chương “Hình luật” chiếm tỉ lệ lớn, đến 166 điều trong khi những chương khácnhư “Hộ luật” chỉ có 66 điều còn “Công luật” chỉ có 10 điều Trong bộ luật có một sốđiều luật khá nghiêm khắc, nhất là về các tội phản nghịch, tội tuyên truyền “yêu ngôn,yêu thư”, và tệ tham nhũng Những vị vua sau này đã chỉnh sửa và cải tiến luật Gia Long,đặc biệt là vua Minh Mạng

4 Ngoại giao

Với các nước láng giềng

Theo truyền thống bang giao, phương Bắc luôn là điểm tới đầu tiên Tháng 5 năm 1802,Gia Long cử sứ giả mang cống phẩm sang Trung Quốc cầu phong triều đình Mãn Thanh.Dẫn đầu phái đoàn ngoại giao là Trịnh Hoài Đức chánh sứ, Ngô Nhân Tĩnh và HoàngNgọc Uẩn là phó sứ Ở Quảng Tây, cống phẩm được chuyển lên Kinh thành, còn đoàn sứgiả nhà Nguyễn ở lại chờ xem lên có được yết kiến vua Thanh hay không Sứ đoàn nàychưa quay về thì cuối năm đó vua Gia Long tiếp tục cử Binh bộ Thượng thư là Lê QuangĐịnh sang cầu phong vua Gia Khánh, xin dùng quốc hiệu là Nam Việt Thanh lo ngạinhầm lẫn với nước Nam Việt xưa nằm ở Lưỡng Quảng, nên đồng ý đảo ngược lạithành Việt Nam Gia Khánh cho Tổng đốc Quảng Tây là Tề Bố Xâm sang làm lễ tấnphong cho Gia Long là Việt Nam quốc vương, ấn định thể lệ tiến cống hai năm một lần

và cứ bốn năm một lần Việt Nam sẽ phái sứ bộ sang làm lễ triều kính

Khi phân tranh với Tây Sơn, Gia Long đã từng cầu viện Rama Chakkri Vậy nên, không

có gì lạ lẫm khi giữa triều Gia Long và Xiêm La vẫn giữ được mối quan hệ hòa hảo Từnăm 1802 trở đi hai bên vẫn có sự sứ bộ qua lại trao đổi thân thiện và tặng phẩm

Thời vua Minh Mạng, nhiều xứ ở Ai Lao xin thuộc quyền bảo hộ của Việt Nam Cácvùng nay là Sầm Nứa, Trấn Ninh, Cam Môn và Savannakhet giáp với các tỉnh Thanh

Trang 14

Hóa, Nghệ An, Quảng Trị, đều xin làm nội thuộc và trở thành các châu, phủ của ViệtNam.

Còn với Chân Lạp, khi vua Gia Long lên ngôi, nước Cao Miên để Thủy Chân Lạp rơi vàotay người Việt nhưng vẫn phải chịu thần phục Thời Minh Mạng, sau khi phá được quânXiêm, Tướng Trương Minh Giảng và tham tán Lê Đại Cương lập đồn đóng quân ởgần Nam Vang để bảo hộ Chân Lạp

Với Tây phương

Nước Anh là một trong những quốc gia châu Âu tiên phong đặt quan hệ với Việt Nam, xin cho mở cửa hàng buôn bán ở Trà Sơn, thuộc Quảng Nam, nhưng liên tục bị vua GiaLong từ chối Đối với nước Pháp, do mối nợ từ những tháng ngày giao tranh với Tây Sơnnên Gia Long mềm mỏng hơn Khi chiến thắng về phía chúa Nguyễn, các ôngChaigneau, Vannier và Despiau làm quan tại Nam triều, Gia Long cho mỗi người 50 línhhầu và đặc cách không cần quỳ lạy vua Năm 1817, chính phủ Pháp phái tới Việt Namchiếc tàu Cybèle để thăm dò bang giao Tuy nhiên, Gia Long cũng hết sức đề phòngngười “ân nhân” này Khi vua Louis XVIII sai sang xin thi hành những điều ướcVersailles năm 1787 về việc nhường cửa Đà Nẵng và đảo Côn Lôn, Gia Long đã lập luậnnhững điều ước ấy nước Pháp trước đã không thi hành thì nay không còn hiệu lực

Sau sự kiện nước Anh chiếm được Singapore, Gia Long nhận ra cần phải giao hảo vớiphương Tây Năm 1819, John White, một thương gia Hoa Kỳ tới Gia Định và được hứahẹn sẽ dành cho mọi sự dễ dàng khi buôn bán ở Việt Nam

Dưới thời Minh Mạng, ông không ưa những người Âu – Mĩ, đặc biệt là Công giáo Bởivậy, Minh Mạng đã cho thi hành chính sách cấm đạo cực kì khắc nghiệt, việc sát hại giáo

sĩ xảy ra như cơm bữa Những người Pháp đã từng làm việc ở triều tiên đế, Minh Mạng

tỏ thái độ lạnh nhạt Và đây trở thành lối mòn trong thái độ của các vua Nguyễn với cácquốc gia phương Tây, một cái nhìn đầy khinh mạt, và hằn học Đến thời Tự Đức, vuakhước từ mọi việc giao thiệp với các nước ngoài, dầu việc giao thiệp chỉ nhằm phục vụthương mại

Giữa thế kỉ XIX, các tàu buôn của Anh, Pháp, Tây Ban Nha nhiều lần vào cửa Hàn, cửaThị Nại và Quảng Yên xin thông thương nhưng vẫn vấp phải sự ức thương của nhàNguyễn Sau khi Gia Định rơi vào tay Pháp, việc ngoại giao giữa triều đình với cácnước phương Tây khó khăn, Tự Đức mới thay đổi chính sách, đặt ra Bình Chuẩn Ty để lo

Trang 15

buôn bán và Thượng Bạc Viện để giao dịch với người nước ngoài nhưng không có kếtquả vì những người được ủy thác vào các việc này không được trang bị kiến thức

Triều đình đã tổ chức nhiều chuyến công du đến các nước trong khu vực để đặt mối buônbán Dưới triều Minh Mạng, từ 1831-1832 trở đi, hoạt động này diễn ra với tần suấtmạnh, điểm đến cũng khá đa dạng: Hạ Châu, Lữ Tống (Luzon -Philippines),đảo Borneo, Quảng Đông, Giang Lưu Ba,… Trong khoảng 1835-1840 đã có 21 chiếcđược cử đi Mặt hàng xuất khẩu chủ lực của triều Nguyễn là gạo, đường, lâm thổ sảnquý, và nhập khẩu len dạ và vũ khí, đạn dược Các hoạt động này gần như là độc quyềncủa triều đình dù luật pháp không hê cấm đoán tư nhân Tuy nhiên, các lái buoob cũngdùng mánh lới để lợi dụng các chuyến đi này để buôn lậu gạo và thổ sản sang Hạ Châuhay Quảng Châu

Hàng năm, thuyền buôn Trung Hoa thường đi lại giữa Việt Nam và Singapore Một mốinguy hại là thương nhân người Hoa đã du nhập thuốc phiện về Việt Nam, may thay đấtnước của chúng ta không có Chiến tranh thuốc phiện như ở Trung Quốc Khi Nam Kỳchuẩn bị Pháp thâu tóm gọn ghẽ, thống kê tài chính cho thấy quan thuế hàng năm tươngđương 3.000.000 france vàng trên tổng ngân sách 40.000.000 mà các quan viên đã giữ lạigấp đôi số tiền thuế kia, như vậy số tiền thu được vượt quá số tiền chuyển về triềuđình rất nhiều Từ thời Thiệu Trị, do xung đột với phương Tây từ xung đột tôn giáo, quan

hệ thương mại với các nước này đi xuống Năm 1850, Tự Đức không phái thuyền đi buôn

ở Hạ Châu nữa Triều đình lại buộc người dân đoạn tuyệt giao dịch với người Tây nên kếtquả là thương gia ngoại quốc chủ yếu là Hoa kiều, Xiêm và Mã Lai, trong đó người Hoachiếm tỉ lệ vượt trội

Trang 16

2 Thủ công nghiệp

Ngành kinh tế này được chia thành thủ công nghiệp nhân dân và thủ công nghiệp Nhànước Thủ công nghiệp nhân dân không có tính bứt phá, sáng tạo bởi kĩ thuật lạc hậu, nhànước lại trưng thu thợ giỏi về phục vụ triều đình, đặc biệt trong các ngành như khảm xà

cừ, kim hoàn, thêu thùa… tới làm việc để cung cấp đồ dùng cho Hoàng gia, nên tạo ra haimảng đối lập

Chính quyền Trung ương đã tập trung xây dựng hệ thống các xưởng thủ công Nhà nước,nhất là ở kinh đô và các vùng phụ cận Năm 1803, Gia Long thành lập xưởng đúctiền Bắc Thành tiền cục ở Thăng Long Nhà Nguyễn cũng lập các Ti trông coi các ngànhthủ công, như ti Vũ khố chế tạo quản lý 57 cục (làm đất, đúc, kim hoàn, vẽ tranh,làm ngói, làm đồ pha lê, khắc chữ, đúc súng, làm trục xe, luyện đồng,…) Ti Thuyền đảmnhiệm các loại thuyền công và thuyền chiến, gồm 235 sở trong phạm vi cả nước Bêncạnh đó là các ti Doanh kiến, ti Tu tạo, ti Thương bác hoả dược

Nghề đóng tàu rất phát triển, sản phẩm có cả thuyền gỗ lẫn các loại tàu lớn bọc đồng.Một sĩ quan người Hoa Kỳ, tên John White đã công nhận: “ Người Việt Nam quả lànhững người đóng tàu thành thạo Họ hoàn thành công trình của họ với một kỹ thuật hếtsức chính xác”

Dù chậm tiến so với thế giới nhưng nhiều máy móc tiên tiến đã được ra đời và ứng dụngvào thời đó, có thể điểm tên như máy cưa xẻ gỗ, máy tưới ruộng… và cả máy hơi nước.Trong ngành khai mỏ, đến nửa đầu thế kỉ XIX, triều đình đã quản lý 139 mỏ, và năm

1833 có 3.122 nhân công trong các mỏ Nhà nước

3 Nông nghiệp

Cũng như phần đa các triều đại khác, triều Nguyễn “dĩ nông vi bản” Tâm lí này đã đưađến những chính sách phát triển nông nghiệp, như là cấm mua bán ruộng đất công, lậpkho Thường bình, Sở Tịch điền, Sở Diễn canh, kho Bình thiếu, Sở Đồn điền, Đàn Xã tắc,

Trang 17

… Năm 1828, bộ Lễ vâng mệnh vua, soạn thảo các điển lễ khôi phục lại nghi lễ Tịchđiền và làm thành luật lệ lâu dài, cũng như quy định rất nghiêm túc, cụ thể.

Quỹ ruộng đất công là một vấn đề nan giải của triều Nguyễn, nó ảnh hưởng đến thu nhậpquốc khố, và cũng là một trong những nguyên nhân khích lên khởi nghĩa nông dân Ýthức được được điều này, ngay từ đầu triều đại, Gia Long đã ra lệnh cấm bán ruộng đấtcông và quy định chặt chẽ việc cầm cố loại công điền công thổ này để đảm bảo nông dân

ai cũng có đất cày Khi nhân dân liên tục thất thu, triều đình thường phải giảm thuế,miễn thuế và phát chẩn Vua Minh Mạng đã định lại phép quân cấp ruộng khẩu phần,quan lại, binh lính, công tượng (thợ làm quan xưởng) cùng các hạng dân đinh, phẩm trậtcao thấp đều có khẩu phần nhưng quan lại, cường hào giành được những phần tốt hơn.Người già, người tàn tật thì được nửa phần Cô nhi, quả phụ được 1/3

Tại miền Nam, nhà Nguyễn vẫn tiếp tục việc khai hoang và phục hóa, từ thời các chúaNguyễn để lại như việc khẩn hoang, mở rộng, phát triển nông nghiệp Ruộng đất tư ởNam Kì rất lớn nhưng chính quyền không thể chạm tay vào bởi lực lượng đại địa chủ GiaĐịnh đã từng ủng hộ Nguyễn Ánh trong thời kì nội chiến Vấn đề khẩn hoang ta khôngthể không nhắc đến hai tên tuổi Nguyễn Công Trứ và Nguyễn Tri Phương Đồn điền xuấthiện nhiều nhất ở vùng Gia Định Đợt lập đồn điền lớn nhất do Kinh lược sứ Nam Kì làNguyễn Tri Phương tổ chức vào năm 1853-1854, lập được 21 cơ, 124 ấp phân phối ở cả

6 tỉnh Doanh điền là hình thức khai hoang có sự kết hợp giữa triều đình và nhân dân,thực hiện di dân để lập ấp mới Hình thức này bắt đầu được thực hiện từ năm 1828 dướithời vua Minh Mạng theo đề nghị của Nguyễn Công Trứ Bản thân Nguyễn Công Trứcũng là cha đẻ của hai huyện Tiền Hải (Thái Bình), và Kim Sơn (Ninh Bình)

Ngoài ra, triều đình nhà Nguyễn còn khuyến khích nhân dân tự do khai hoang kết hợpphục hóa Việc đinh điền cũng có chỉnh đốn và kiểm soát chặt chẽ hơn Ruộng đất thờivua Minh Mạng được đo đạc lại, tính ra được 630.075 mẫu Tổng số đinh toàn quốc là970.516 suất và 4.063.892 mẫu ruộng đất Diện tích ruộng đất thực trưng tăng lên nhiều:năm 1847 là 4.273.013 mẫu Tuy nhà Nguyễn đã hết sức nỗ lực trong việc mở rộng quỹđất công, hạn chế chiễm hữu đất đai thành tài sản riêng nhưng vấn nạn này vẫn nhứcnhối, không những thế, vẫn còn đất đai bị bỏ hoang

Văn hóa và giáo dục

1 Giáo dục và khoa cử

Trang 18

Vua Gia Long rất đề cao Nho học, cho lập Văn Miếu ở các doanh, các trấn thờđức Khổng Tử và lập Quốc Tử Giám năm 1803 ở Kinh thành Huế để dạy cho các quan

và các sĩ tử, mở khoa thi Hương lấy những người có học, có hạnh ra làm quan Trong kìthi năm 1829, người đỗ Tam khôi không lấy được ai, nhưng người đạt phân điểm suýtsoát với bậc Tiến sĩ thì khá nhiều Trước tình trạng này, vua Minh Mạng đưa ra quyếtđịnh: mỗi khoa thi lấy thêm những người có phân điểm gần sát với Đệ Tam giáp, nhưngtính riêng thành một bảng phụ (Phó bảng) Như vậy Phó bảng (còn gọi là Ất tiến sĩ,Chánh bảng hay Giáp bảng là tiến sĩ trở lên) cũng được chọn luôn trong kỳ thi đại khoa,nhưng về mặt quyền lợi đãi ngộ thì không bằng những người đỗ Chánh bảng

Trường thi Nam Định năm 1897

Trong thực tế, dưới thời nhà Nguyễn, nhiều người đỗ học vị Phó bảng ra làm quan, đemđức hạnh và trí lực thi thố với đời rất nhiều người tài năng lưu danh sử sách, chẳng hạncác vị Phó bảng như cụ Nguyễn Văn Siêu, cụ Phan Chu Trinh, cụ Nguyễn Sinh Sắc…

Trang 19

Cũng có nhiều người chỉ đỗ Cử nhân nhưng đóng góp bao sức lực cho nước nhà như các

cụ Nguyễn Công Trứ, Đặng Huy Trứ, Phan Bội Châu…

Trong dân chúng, việc học tập khá thông thoáng Chỉ cần có học lực khá, người ta cũng

có thể mở trường tư thục để dạy học Mỗi làng có vài ba trường tư thục, hoặc ở nhà thầy,hoặc ở nhà người hào phú nuôi thầy cho con học và cho con các nhà lân cận đến học

Nguyễn Trường Tộ đã đả kích mạnh mẽ lối học từ chương, hư văn, khuyến khích đẩymạnh tiếp thu khoa học kỹ thuật, học thiên văn, địa lý, luật, sinh ngữ… Học tức là học cái

chưa biết để mà biết, “biết để mà làm” (Tế cấp bát điều) Ông tâm huyết đến mức viết

các bản điều trần ngay cả khi nằm trên giường bệnh

2 Văn học

Thuở mới thành lập, các nhà thơ có hai nguồn gốc chính là quan của Gia Long và các cựuthần nhà Hậu Lê bất phục nhà Nguyễn Những cái tên nổi bật cho văn học lúc này: PhạmQuy Thích, Trịnh Hoài Đức, Lê Quang Định, và đại thi hào Nguyễn Du với kiệt tácTruyện Kiều Nội dung bao chùm là tâm lí hoài Lê và một lãnh thổ văn chương ViệtNam mới hình thành ở phương Nam Thời nhà Nguyễn độc lập là thời của các nhà thơthuộc đủ mọi xuất thân trong đó có các vua như Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, và cácthành viên hoàng tộc như Tùng Thiện Vương Nguyễn Phúc Miên Thẩm, ba nàng côngchúa tạo nên “Tam khanh” của nhà Nguyễn Các nho sĩ thì gồm có Nguyễn VănSiêu, Cao Bá Quát, Hà Tôn Quyền,Trương Quốc Dụng, Phan Thanh Giản, Phạm PhúThứ Hai thể kiểu thơ chủ yếu của thời kỳ này là thơ ngự chế của các vị vua và các thi tậpcủa nho sĩ Thời nhà Nguyễn thuộc Pháp là thời kỳ ảnh hưởng của hoàn cảnh lịch sửđương thời tác động rất lớn vào văn chương, thể hiện sự căm phẫn trước hành vi xâmlăng của Pháp và tố cáo tội ác, tâm trạng bất lực trước thời cuộc Tác giả tiêu biểu thời kỳnày gồm Nguyễn Tư Giản, Nguyễn Thông, Nguyễn Khuyến, Dương Lâm, NguyễnThượng Hiền

Văn học nhà Nguyễn phát triển ở cả Hán văn lẫn chữ Nôm Hai thể lục bát và lục bát giáncách được sử dụng phổ biến với nghệ thuật ngôn từ đặc sắc Về nội dung, ngoài các nộidung văn chương mang đậm tư tưởng Nho giáo truyền thống thì số phận con người vàphụ nữ cũng được đề cập đến

Khoa học, kỹ thuật

Trang 20

Chính sử nhà Nguyễn đã có nhiều đóng góp cho sử học nước nhà với những công trình sửhọc đồ sộ như: Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục, Đại Nam liệt truyện, ĐạiNam Thực lục – Tiền biên và chính biên (có tới 587 quyển), Khâm định tiễu bình lưỡng

kỳ phỉ khẩu phương lược, Bản triều bạn nghịch liệt truyện… Các nhà sử học cũng cho rađời nhiều công trình của cá nhân như Lịch triều tạp kỷ của Ngô Cao Lãng, Sử học bịkhảo của Đặng Xuân Bản, Quốc sử dĩ biên của Phan Thúc Trực,… và nhất là Lịch triềuhiến chương loại chí của Phan Huy Chú

Từ các tỉnh lớn cho đến tận các huyện xã rộ lên phong trào biên soạn các bộ địa phươngchí Trong đó có rất nhiều bộ chí được biên soạn khá công phu với nhiều chi tiết quý màcác bộ sử lớn không có Tiêu biểu cho địa phương chí là Gia Định thành thôngchí của Trịnh Hoài Đức, Nghệ An ký của Bùi Dương Lịch

Thể loại Gia Phả thì có Mạc Thị Gia phả của Vũ Thế Dinh

Năm 1942, Giám đốc Nhà lưu trữ Đông Dương Paul Boudet cho biết rằng các tài liệutrước thế kỷ XIX (thời Nguyễn) chỉ còn lưu lại được khoảng 20 bản Từ triều vua MinhMạng, công tác lưu trữ mới được quan tâm Cũng năm 1942, số lượng địa bạ ở Tàng thưlâu giữ được có tới 12.000 quyển Như vậy nhà Nguyễn đã có công lao trong việc lưu giữcác tác phẩm xưa, bổ sung trong kho tàng sử học dân tộc

2 Địa lí

Mảng địa lí rất được nhà nước coi trọng, bộ Hoàng Việt Nhất thống dư địa chí do Thượngthư Lê Quang Định tuân mệnh vua Gia Long mà biên soạn Sau đó cơ quan Quốc sử quántriều Nguyễn cũng soạn tiếp nhiều công trình khác gồm Đại Nam nhất thống toàn đồ, ĐạiNam nhất thống chí Ngoài ra, còn có nhiều tác phẩm có giá trị cao của cá nhân như BắcThành địa dư chí và Hoàng Việt dư địa chí của Phan Huy Chú; Phương Đình dư địa

Trang 21

chí của Nguyễn Văn Siêu; Đại Việt cổ kim duyên cách địa chí khảo và Gia Định thànhthông chí của Trịnh Hoài Đức; Nam Hà tiệp lục của Quốc sử quán,… Ngoài ra dưới triềuMinh Mạng cũng xuất hiện rất nhiều bản đồ về các địa phương của nước ta giai đoạn đó.

3 Kỹ thuật công nghệ

Trong nội chiến với Tây Sơn, Nguyễn Ánh (tức Gia Long), đã từng sử dụng tàu chiếnnước ngoài Sau khi lên ngôi, ông cũng cho đóng loại thuyền lớn bọc đồng phục vụ tuầntra biển

Sang đến thời Minh Mạng, đã có nhiều phát minh quan trọng, chủ yếu trong nông nghiệpgồm: máy cưa chạy bằng sức trâu và sức nước, máy xẻ gỗ chạy bằng sức trâu, máy hútnước tưới ruộng Năm 1834, Nguyễn Viết Tuý dưới sự đồng ý của vua Minh Mạng đãchế tạo ra chiếc máy nghiền thuốc súng bằng sức nước mang tên Thuỷ hoả kí tế năm

1839, khoa học kĩ thuật triều Nguyễn đã có bước tiến quan trọng khi dựa theo các kiểuphương Tây – các đốc công Hoàng Văn Lịch, Vũ Huy Trịnh cùng các thợ của ông đãđóng thành công chiếc tàu máy hơi nước đầu tiên, được vua Minh Mạng hết sức khenngợi Năm sau, Minh Mạng lại chỉ đạo cho họ đóng một chiếc kiểu mới tân tiến hơn vàsửa chữa một chiếc bị hỏng Tiếc thay sau đó mọi việc dường như bị đình chỉ Thời TựĐức, nhiều sách kỹ thuật phương Tây được dịch sang tiếng Hán như Bác Vật tân biên,Khai Môi yếu pháp, Hàng hải Kim châm, nhưng chúng vẫn chưa kịp tác động và thay đổi

xã hội Việt Nam

vụ dưới thời vua Gia Long Khi xây dựng hệ thống thành quách và cung điện, các nhàkiến trúc dưới sự chỉ đạo của nhà vua đã bố trí trục chính của công trình theo hướng TâyBắc- Đông Nam Yếu tố Ngũ hành quan trọng trong bố cục mặt bằng của kiến trúc cungthành tương ứng với ngũ phương

Trang 22

Ngoài ra phải kể đến hai thành cổ trấn thủ Sài Gòn xưa là thành Quy và thành Phụng,nhưng giờ chỉ còn lại trong tiềm thức.

Thành Quy (thành Gia Định) được thiết kế theo phong kiến trúc Vauban, nhưng vẫn ẩn chứa phong thủy Á Đông Điều này thể hiện rõ nét khi thành có hình hoa sen Giáo sư

Nguyễn Đình Đầu đã miêu tả: “Gia Định là ngôi thành đồ sộ, lớn nhất trong lịch sử nhàNguyễn Lúc đầu được gọi là Bát quái, do có 8 cửa, bên trong thành xẻ 4 đường ngang, 4đường dọc thành những ô vuông” Thành có liên quan đến Tả quân Lê Văn Duyệt, người

có hiềm khích với Minh Mạng, cũng như binh biến Lê Văn Khôi Vì lí do này mà sau khidẹp được binh biến, vua Minh Mạng cho phá bỏ thành

Năm 1836, Minh Mạng ra lệnh xây dựng thành Phụng Ngày 17.2.1859, thực dân Pháp

nổ súng tấn công đánh chiếm Gia Định, thành Quy nổ tung và cháy rụi

2 Tình hình kinh tế - xã hội, văn hóa, giáo dục và quân sự thời Nguyễn.

a) Giai đoạn 1802 - 1858

Sau khi đánh bại vương triều Tây Sơn, Nguyễn Ánh lên ngôi vua lấy hiệu là GiaLong lập ra Vương triều nhà Nguyễn và làm chủ một vùng đất rộng lớn nhất từtrước tới nay bao gồm cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa Bắt đầu từ năm

1802 đến năm 1858, các vua nhà Nguyễn nắm quyền trị vì đất nước với tư tưởngxây dựng lại đất nước sau chiến tranh và xây dựng lại xã hội đã bị đảo lộn giữa thế

kỉ XVII

KINH TẾ

Kinh tế dưới thời Nguyễn đến giữa thế kỉ XIX vẫn chưa có bước phát triển rõ rệt,còn bộc lộ nhiều yếu kém Nông nghiệp, các vua Nguyễn đã thực hiện một số biệnpháp, chính sách về ruộng đất như chính sách quân điền (1809) “Ruộng đất công

ơn các làng xã được đem chia cho mọi người theo tỉ lệ các quý tộc vương hầuđược cấp 18 phần, quan nhất phẩm được15 phần, dân nghèo mỗi suất được 3phần”1

Về chính sách tô thuế, triều Nguyễn chia đất nước ra những khu vực khác nhau vàđánh thuế khác nhau, duy trì sự khác Việt giữa Đàng Trong và Đàng ngoài, theo

đó Đàng Ngoài phải nộp nhiều hơn Đàng Trong khoảng 2 lần Triều Nguyễn cònduy trì chế độ lao dịch nặng nề, hằng năm phải lao dịch 60 ngày không công,những lúc cần thiết lại huy động số ngày tăng gấp đôi

Trang 23

Nửa đầu thế kỉ XIX, kinh tế nông nghiệp ngày càng xa sút do nhiều nguyên nhântrong đó có việc giao cấp địa chủ chiếm đoạt ruộng đất của người dân cùng vớichính sách bóc lột nặng nề của triều đình nhà Nguyễn Bên cạnh đó việc khôngchú trọng đê điều cũng gây ra lũ lụt hay hạn hán làm ruộng đồng hoang tàn, xác

xơ, người dân lang bạc khắp nơi Trước tình hình đó, nhà Nguyễn đã thực hiệnchính sách khẩn hoang với nhiều hình thức như doanh điền, đồn điền, được hựchiện từ thời Gia Long đến thời vua Minh Mạng thì được đẩy mạnh Nhờ sự cầncuc, chăm chỉ mà chính sách khẩn hoang đã đạt được một số thành quả quan trọnggóp phần giải quyết cho một bộ phận nông dân, tuy nhiên vẫn chưa thể làmchuyển biến căn bản nền kinh tế đất nước

Đối với nề kinh tế hàng hoá và các ngành nghề thủ công có nước phát triển nhấtđịnh, mặc dù vậy một số chính sách nhà Nguyễn lại gây khó khăn và cản trở việcphát triển, lưu thông mở rộng thị trường hàng hoá trong nước và ngoài nước Thủcông nghiệp duy trì thuế nặng đối với nhiều sản phẩm, tập trung vào thợ lành nghềsản xuất trong các xưởng thủ công do nhà nước quản lí, phân biệt đẳng cấp trong

xã hội cũng là yếu tố gây hạn chế sự phát triển của nghề Thủ công nghiệp Khaithác mỏ phát triển nhưng chủ yếu ơn miền núi, triều Nguyễn giành quyền khaithác các một quý như vàng, bạc, chì, với giá thấp so với thị trường

Trước yêu cầu mở rộng lưu thông hàng hoá trong nước và nhất là về hành chính,quân sự, triều đình đã nâng cấp và xây dựng hệ thống giao thông đường thủy, bộ

từ Huế đi các tỉnh trong cả nước Tuy nhiên lại cản trở việc mở rộng thị trườngtiêu biểu là thu thuế gây ra nhiều phiền nhiễu như vận chuyển gạo từ Nam Địnhđến Nghệ An phải nộp 9 lần thuế Về quan hệ với các nước ngoài, hầu như cácnước phương Tây đến đặt quan hệ buôn bán đều bị khước từ, nhưng lại tổ chứcmột số đội thuyền buôn sang các nước Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan để mua cácmặt hành xa xỉ phục vụ triều đình

Mặc dù đạt được một số thành tựu về kinh tế như khai hoang, hệ thống giao thôngphát triển, khai một nhưng kinh tế nước ta vẫn nghèo nàn và lạc hậu Nhà Nguyễnchỉ chăm lo khôi phục quyền lợi dòng họ, tăng cường thuế má, lao dịch làm chođời sống người dân khổ cực, tiềm lực kinh tế kém phát triển

VĂN HOÁ GIÁO DỤC

Nhằm phát triển về văn hoá, giáo dục, triều đình nhà Nguyễn chú trọng đến việchọc hành và thi cử, hệ thống trường học được thiết lập trong cả nước Năm 1820,vua Gia

Trang 24

Long cho đặt trường Quốc Tử Giám tại Huế nhằm tuyển chọn con chùa các quanlại và những người học giỏi ở địa phương Ở các tỉnh, đặt quan đốc học, các phủđặt quan giáo thụ, lử các huyện đặt quan huấn đạo, các quan này được tuyển chọn

từ các cựu thần, cùng những người thi đỗ trong các kì thi Hương, thi Hội và thiTiến sĩ thời Nguyễn Chế độ thi cử bao gồm thi Hương, thi Hội, thi Đình, 1807vua Gia Long mở kì thi Hương đầu tiên đến năm 1822, vua Minh Mạng mở kì thiHội và thi Đình Thời kì đầu nhà Nguyễn dùng chữ Nôm đến thời vua Minh Mạngthì dung chữ Nho Bên cạnh dạy văn, triều Nguyễn còn tổ chức 1 số trường võ vàcác cuộc thi theo 2 bậc là thi Hương và thi Hội Dưới triều Nguyễn, chế độ họchành và thi cử khá quy cũ, chặt chữ không đổi mới từ trung ương đến địa phươngtrong cả nước dẫn đến việc giáo dục khoa cử không đạt được nhiều thành tựu

Để củng cố địa vị, nhà Nguyễn tuyên truyền tư tưởng Nho giáo dưới danh nghĩakhôi phục “thuần phong mỹ tục”, thường ban các an chiếu, huấn dụ vào mùa xuânhay lễ tết Triều đình nhà Nguyễn coi trọng việc sưu tầm, biên soạn các tác phẩmlịch sử, địa lý Thời vua Minh

Mạng cho lập Quốc sử quán cử các quan văn nhất, nhị phẩm làm tổng tài, phí tài

và một số quan khác sưu tầm, tổng hợp các chuyện làm quốc sử Một số tác phẩmcủa Quốc ủa quán như Khâm định Viết sử Thoòng giám cương mục(52 quyển),Đại Nam thực lục chính biên (43 quyển),…

QUÂN SỰ

Khác với các vương triều khác được hình thành từ sự thắng lợi của cuộc chiếntranh giải phóng dân tộc hay sau khi thiết lập đã cơ bản hoàn thành nhiệm vụchống giặc ngoại xâm, cong thời Nguyễn sau khi giành được thắng lợi bằng cuộcchiến tranh dựa vào giai cấp địa chủ trong nước và sự giúp sức của tư bản phươngTây Dưới thời Nguyễn, vấn đề độc lập dân tộc, bảo vệ chủ quyền thống nhất quốcgia được quan tâm và gắn với tình hình đất nước trong từng giai đoạn, từng thời kìlịch sử của mỗi triều vua Ngay từ những năm đầu thế kỉ XIX, nhà Nguyễn đã cómột số chủ trương, biện pháp bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia thống nhất Đốivới trên bộ cử các phái đoàn sang Trung Quốc đặt quan hệ ngoại giao nhằm duy trì

sự ổn định Tại các vùng biên giới phía Bắc, nhà Nguyễn đã có các biện phápnhằm bảo vệ chủ quyền biên giới như tổ chức tuyển binh lính cứ 10 đinh lấy 1.Tăng cường trang bị vũ khí cho quân lính đóng giữ ơn các địa phương trọng yếubiên giới “ Năm 1832, vua Minh Mạng ra lệnh tổ chức chế tạo vũ khí, cờ trạm cấpcho các trạm Quảng Yên, Hưng Hoá, Tuyên Quang, Lạng Sơn, Cao Bằng”2 Mặc dù đặt quan hệ ngoại giao nhưng nhà Thanh vẫn có lúc vượt biên giới gâynhiễu cương, triều dình nhà Nguyễn lệnh các đạo quân đánh đuổi quan Thanh vềnước và chỉ huy các tù trưởng chỉ huy binh lính quản lí hai đồn Phong Thu và

Trang 25

Bình Lư Nhằm đối phó với sự xâm lấn phía Tây như “1835, Ai Lao ở vùng BáSắc thuộc Lào gần 1000 tên tràn vào cướp phá”3, triều đình một mặt dựa vào nhândân mặt khác cử một bộ phận quân triều đình đến hỗ trợ Đồng thời chăm lo củng

cố, bảo vệ biên giới phía Tây Nam, triều Nguyễn chú yk đến xây dựng lực lượng,

tổ chức phòng thủ, bảo vệ biến giới phia Tây Nam

Bên cạnh chủ quyền trên bộ, nhà Nguyễn còn quan tâm đến việc bảo vệ chủ quyềnbiển đảo Đội Hoàng Sa được thành lập từ thời chúa Nguyễn được duy trì và phát triển

lử các vua triều Nguyễn, ngoài ra còn thành lập đội Bắc Hải Hai đội này thực hiệnkhai thác, quản lí biển Đông, triều Nguyễn sử dụng các thủy quân để đo đạc thủy triều,

vẽ bản đồ, cắm cột mốc, bia chủ quyền và lập miếu thờ trên hai quần đảo Hoàng Sa vàTrường Sa mà lúc bấy giờ gọi chung là Hoàng Sa “ 3/1815, triều Nguyễn điều độngmột đội quân do Phạm Ánh làm trưởng đoàn ra vùng đảo Hoàng Sa khảo sát hải sản,thăm dò đường biển”4 Tại các vùng ven biển miền Trung và phía Nam, nhà Nguyễnchú trọng bố trí các lực lượng, tổ chức phòng thủ, ngăn chặn các hoạt động phá hoạiven biển Vua Minh Mạng xây dựng các pháo đài, cấp súng đạn, khí giới thuyền bèđóng giữa 2 đảo Côn Lôn và Phú Quốc

Sang thời Tự Đức, công tác quốc phòng bắt đầu có dấu hiệu đi xuống Một nguyênnhân quan trọng là vấn đề tài chính Bộ binh được trang bị thô sơ: 50 người mới có 5súng, mỗi năm chỉ tập bắn 1 lần 6 viên đạn Chất lượng bảo trì vũ khí cũng kém Vềthuỷ binh, không có thêm tàu hơi nước mới nào, thuỷ quân yếu ớt đến mức không đủkhả năng bảo vệ bờ biển chống hải tặc Đời sống quân lính không được quan tâm thoảđáng, lương thực lại bị ăn bớt Bởi vậy nhuệ khí của quân sĩ suy giảm Quan điểmkhoa học quân sự của vua quan nhà Nguyễn không hề vượt quá khuôn khổ của khoahọc quân sự phong kiến Việc giảng dạy binh pháp không hướng tới học hỏi phươngTây nữa mà quay về Binh thư yếu lược của Hưng Đạo Đại vương Chính vì Pháp bỏ xaĐại Nam về khoảng cách vũ khí tân tiến, quân đội thiện chiến, nên nhà Nguyễn dần dàtrở nên sợ hãi

Như vậy, các vị vua triều Nguyễn đã có cố gắng lớn trong việc cũng cố, phát triển tìmlực quân sự, bảo vệ chủ quyền trên biển lẫn trên đảo

LUẬT PHÁP

Bước sang thế kỷ XIX, từ năm 1811, Gia Long sai đình thẩn biên soạn một bộ luậtmới, lấy tên là Hoàng triều luật lệ , còn gọi là Quốc triều hình luật hay Bộ luật GiaLong Bộ luật này được biên soạn trên cơ sở tham khảo bộ luật của nhà Thanh và Bộ

Trang 26

luật Hồng Đức (thời Lê Thánh Tông) Bộ luật Gia Long được thi hành trong suốt cáctriều đại của nhà Nguyễn Các vua Minh Mệnh, Thiệu Trị, Tự Đức chỉ có bổ sung,thêm bớt một số điểm cụ thể vào các điều quy định Bộ luật Gia Long được biên soạn

từ năm 1811 đến năm 1815 mới hoàn thành, gồm 398 điều, chia làm 22 quyển Cácđiều khoản luật được chia làm sáu loại, tương ứng với việc phân chia công việc củatriều đình thành sáu ngành do sáu bộ phụ trách Điều này cũng giống như bộ luậtHồng Đức

Bộ luật Gia Long nói riêng và luật pháp thời Nguyễn nói chung thể hiện rất rõ ý đồbảo vệ quyền hành tuyệt đối của nhà vua và đề cao địa vị của quan lại và gia trưởng,trừng trị tàn bạo những người chống đối Trong 398 điều luật, có tới 166 điều về hìnhluật Bộ luật Gia Long và luật pháp thời Nguyễn thể hiện tính chất chuyên chế cựcđoan đối với nhân dân Một số điều khoản tích cực và tiến bộ của Bộ lũy luật HồngĐức không còn được giữ lại trong Bộ luật Gia Long Bộ luật Gia Long về cơ bản saochép lại bộ luật của nhà Thanh (Trung Quốc), kể cả những chú thích các điều luật.Nhà luật học Vũ Văn Mậu viết: "Về hình thức, bộ Hoàng triều luật lệ so với bộ luậtnhà Thanh, chép gần đúng toàn thể nguyên văn, chỉ có loại bỏ một vài điều lệ Cách

bố cục giống hệt, không có gì thay đổi, đến nỗi cách trình bày, tên gọi và phươngdiện ấn loát cũng không thay đổi Bộ luật Gia Long mất hết cá tính một nền pháp chếViệt Nam Bao nhiêu những sự tân kỳ, mới lạ trong bộ luật triều Lê sơ không còn lưulại một chút dấu tích nào trong bộ luật nhà Nguyễn"

Bộ luật của nhà Thanh là một bộ luật mang tính phản dân tộc sâu sắc, nhằm đàn ápphong trào đấu tranh của nhân dân Trung Quốc chống lại nền thống trị của ngoại tộcđồi với đất nước Trung Hoa Bởi lẽ đó, thực dân Pháp sau khi đã đặt được ách đô hộ

ở Việt Nam cho đến khi chúng ban hành bộ luật thực dân - phong kiến, đã duy trì và

áp dụng Bộ luật Gia Long ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ

XÃ HỘI

Dưới triều Nguyễn, mâu thuẫn xã hội chủ yếu vẫn là mâu thuẫn giữa nông dânvới địa chủ Mâu thuẫn này không những không được giải quyết mà ngày cànggay gắt, quyết liệt hơn Nguyên nhân của tình trạng này là do đời sống nhân dânquá cực khổ và không được cải thiện Mâu thuẫn xã hội gay gắt đã dẫn tới nhiềuphong trào nông dân bùng nổ Thời Gia Long có 73 cuộc khởi nghĩa Từ thờiMinh Mạng đến năm 1858, các cuộc đấu tranh của nông dân diễn ra nhiều hơn,

Trang 27

qui mô lớn hơn Năm 1821 có khởi nghĩa của Phan Bá Vành Năm 1833 có khởinghĩa của NôngVăn Vân ở Tuyên Quang, Lê Văn Khôi ở Gia Định Các cuộcđấu tranh của nông dân bị triều đình Huế đàn áp khốc liệt.

CHÍNH TRỊ

Dưới thời Gia Long (1802-1819), tổ chức bộ máy nhà nước được chấn chỉnh dầnnhằm xây dựng một thể chế quân chủ quan liêu chuyên chế Bộ máy chính quyềntrung ương (triều đình) do vua đứng đầu, nắm toàn quyền quyết định mọi côngviệc lớn của đất nước Dưới vua có 6 bộ (Lại, Hộ, Lễ, Binh, Hình, Công) Đứngđầu mỗi bộ là thượng thư , giúp việc cho thượng thư có các quan chức tả hữutham tri, tả hữu thị lang Mỗi bộ theo phạm vi công việc mà chia thành các tychuyên trách

Giúp việc cho sáu bộ còn có bốn tự là: Thái thường tự, Hồng lô tự, Thái bộ tự,Quang lộc tự, đứng đầu tự là một tự khanh và một thiếu khanh giúp việc, ngoài

ra một số nhân viên thư lại Bên cạnh Thị thư viện có Hàn lâm viện Ngoài ratrong cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước thời Gia Long còn có một số cơ quan sự

vụ, chuyên môn như Nội tào, Ty thông chính, Quốc tử giám, Thái y viện, Tàochính, Hành nhân, Vũ khố, Khâm thiên giám, Tư tế ty, Tượng y viện

Dưới triều vua Minh Mệnh, tổ chức bộ máy nhà nước từ trung ương đến các địaphương lại còn chặt chẽ hơn, hoàn chỉnh hơn nữa Thời gian đầu mới lên ngôi,Minh Mệnh còn giữ nguyên tổ chức bộ máy nhà nước thời Gia Long Sau đó,cùng với việc sắp xếp, tổ chức lại các đơn vị hành chính địa phương trong cảnước, Minh Mệnh đã thực hiện những cải cách trong việc tổ chức và hoàn thiện

bộ máy nhà nước Vua nắm giữ mọi quyền hành Giúp việc và làm tham mưucho nhà vua có một số cơ quan như:

- Nội các Thời Gia Long gọi là Thị thư viện, chuyên phụ trách công việc văn thư

- Cơ mật viện Năm 1834 đặt cơ mật viện, cơ quan trọng yếu bên cạnh nhà vua MinhMệnh phỏng theo tổ chức Khu mật viện của nhà Tống và Quân cơ xử của nhà Thanh.Đứng đầu cơ quan này có 4 quan đại thần do vua lựa chọn từ các quan văn, võ từ tamphẩm trở lên Viện cơ mật có nhiệm vụ giúp vua giải quyết các công việc "quân quốctrọng sự", làm tư vấn cho nhà vua nắm chắc lục bộ và các địa phương trong toàn quốc

- Đô sát viện Tháng 9-1832, Minh Mệnh lập ra Đô sát viện Nhiệm vụ của Đô sát viện làgiám sát hoạt động của các quan chức trong hệ thống cơ quan hành chính từ trung ươngđến địa phương Đây là một cơ quan hoạt động độc lập không chịu sự kiểm soát của bất

Trang 28

kỳ cơ quan nào ở triều đình ngoài nhà vua Các quan chức của Đô sát viện có nhiệm vụphối hợp với các giám sát ngự sử 16 đạo để hoạt động kiểm soát và kiểm tra công việccủa bộ máy quan lại.

Từ thời Minh Mệnh về sau vẫn có đủ sáu bộ và sáu khoa Sáu tự có nhiệm vụ giúp việccho sáu bộ Ngoài ra, còn có một số cơ quan chuyên môn như Quốc tử giám, Hàn lâmviện, Ty thông chính sứ, Bưu chính ty, Quang lộc tự, Tào chính ty, Tôn nhân phủ, Hà đê

sứ, Doanh điền sứ Cơ quan chỉ huy quân sự là Ngũ quân đô thống sứ

Về cơ cấu tổ chức các cơ quan quản lý nhà nước ở các địa phương từ thời Minh Mệnh cónhiều thay đổi, nhằm củng cố chế độ quân chủ chuyên chế và quốc gia thống nhất Cácđơn vị hành chính cấp thành, trấn bị bãi bỏ, thống nhất tên gọi các đơn vị hành chính cấptrung gian trong cả nước là liên tỉnh và tỉnh, bãi bỏ cả tên gọi doanh ở miền Trung

Có thể thấy bộ máy nhà nước ngày càng được củng cố chặt chẽ và hoàn thiện dưới thờivua Minh Mệnh qua cuộc cải cách hành chính và chính quyền từ trung ương đến địaphương vào những năm 1831-1832

Thời Gia Long và những năm đầu thời Minh Mệnh, bộ máy chính quyền còn đơn giản vàlỏng lẻo, tính chất phân quyền trong việc quản lý nhà nước khá rõ Tầng lớp quan lạiđứng đầu các cơ quan hành chính hầu hết xuất thân từ võ quan Đây là một hạn chế lớncủa bộ máy chính quyền thời Gia Long, đầu thời Minh Mệnh so với nhà nước Đại Việtthời Lý - Trần - Lê sơ Sang thời Minh Mệnh những hạn chế đó đã được khắc phục dần

Nguyên tắc bao trùm, chi phối trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước thờiNguyễn là tập trung thống nhất quyền lực vào một cá nhân - Hoàng đế, tăng cường sựquản lý, giám sát chặt chẽ của nhà nước trung ương đối với tất cả các địa phương, quanlại các cấp Trong thực tế, việc làm đó đã có tác dụng củng cố chế độ trung ương tậpquyền, thúc đẩy bộ máy chính quyền các cấp hoạt động có hiệu quả hơn

Tuy nhiên, từ trong ý đồ, chủ trương và trong hiện thực, bộ máy nhà nước thời Nguyễn làmột nhà nước quân chủ tập trung quan liêu chuyên chế nặng nề Một nhà nước quân chủchuyên chế như vậy lại ở trước ngưỡng cửa cuộc cách mạng công nghiệp và trong tìnhhình chủ nghĩa tư bản phương Tây đang chuẩn bị ráo riết xâm lược Việt Nam, thì khôngcòn phù hợp với xu thế của thời đại, yêu cầu của lịch sử nước ta lúc bấy giờ hậu quả tấtyếu là nhà nước mất lòng dân, không củng cố được khôi đoàn kết dân tộc, trở nên bảothủ, trì trệ, kìm hãm sự phát triển của xã hội, tách rời với thế giới bên ngoài Đây là mặthạn chế cơ bản của nhà nước thời Nguyễn

Trang 29

hộ, sự thay đổi về giáo dục chậm hơn

Loại bỏ được chế độ giáo dục Nho học, nhưng để áp dụng nền giáo dục Pháp vào ViệtNam thì không đơn giản Những năm đầu, soái phủ Nam Kỳ gặp rất nhiều khó khăn khi

hệ thống trường Nho học giải tán Các giáo chức rời bỏ nhiệm sở ra vùng tự do thuộctriều đình Huế để tiếp tục chức vụ Nhiều học trò gác bút nghiên, cầm giáo mác tham giacác lực lượng nghĩa quân

Thầy trò một trường bản xứ ở Sài Gòn Ảnh tư liệu

Trang 30

Ngày 17/11/1874, chuẩn đô đốc Krantz, thống đốc Nam Kỳ ký nghị định tổ chức lạingành học, được áp dụng đến tháng 3/1879 quy định hệ thống giáo dục với hai bậc, tiểuhọc và trung học

Song, Pháp nhận ra chương trình giáo dục của họ quá Tây, khi áp dụng với dân tộc cónền văn hiến lâu đời lại trở nên phản tác dụng Người Pháp thấy cần thay đổi chính sáchgiáo dục

Trường Chasseloup Laubat được xây dựng từ năm 1874 Ảnh tư liệu

Năm 1906 đánh dấu bước cải cách mạnh mẽ nền giáo dục cho toàn cõi Đông Dương bằngviệc Pháp lập nha tổng giám đốc Học chính Đông Dương để thống nhất và chỉ đạo, điềuhành giáo dục các địa phương

Người Pháp lập hội đồng cải thiện giáo dục bản xứ, nghiên cứu tất cả vấn đề có liên quanđến sự sáng tạo, hoặc cải tổ nền giáo dục Bậc tiểu học trước đây được phó mặc cho thôn

xã hay tư nhân, nay trở thành việc của chính quyền với tên gọi là đệ nhị cấp (tiểu học) và

đệ tam cấp (trung học) Chương trình học được thêm vào nội dung mới nhất của khoa họcphương Tây, tri thức thực hành thông dụng

Giai đoạn 1917-1945, đánh dấu đợt cải cách giáo dục lần thứ hai bằng việc thiết lậpchương trình học chính Pháp - Việt, mở đầu bằng sự kiện ngày 21/12/1917 Toàn quyềnĐông Dương Albert Sarraut ký nghị định ban hành tổng quy chế nền học chính toàn cõi

Trang 31

Đông Dương Văn bản được xem như bộ luật giáo dục, dày 282 trang, với mục tiêu thốngnhất nền giáo dục bản xứ, tiến tới xóa bỏ nền giáo dục cũ.

Nền học chính lúc này được chia làm ba cấp, cấp một là các trường tiểu học, cấp hai làcao đẳng tiểu học, cấp ba là bậc trung học (tú tài), với hai hệ thống giáo dục gồm trườngPháp và trường Pháp bản xứ Chương trình giáo khoa Pháp ở Đông Dương gần giống nhưbên Pháp, dành cho học sinh Pháp và một số ít học sinh Việt vào làng Tây hoặc được coinhư Tây

Với đợt cải cách giáo dục lần hai, việc đưa chữ quốc ngữ vào tiểu học đã giúp trẻ nhanhchóng biết đọc biết viết, hơn hẳn trước kia học chữ Hán khó nhớ Chương trình học baogồm cả khoa học tự nhiên và khoa học xã hội với tính hệ thống cao Bên cạnh các trườngphổ thông, Pháp còn lập ra trường dạy nghề để học sinh khó khăn khi học xong tiểu học

có thể học nghề, tìm việc kiếm sống

Ở cuối thời Pháp trị 1945-1955, tình hình giáo dục rất phức tạp Pháp vẫn chỉ đạo nềngiáo dục tại vùng tạm chiếm Sài Gòn - Gia Định, song giữa Pháp và các nước liên hiệpLào, Campuchia, Việt Nam (chính quyền Sài Gòn) ký hiệp ước chuyển giao các cơ quangiáo dục và văn hóa từ năm 1949 Do đó, chính quyền Sài Gòn ít nhiều bắt đầu can thiệpvào giáo dục từ đấy Nhiều trường cao đẳng, đại học lớn được thành lập trong giai đoạnnày

Trang 32

Một mẫu bằng cũ năm 1925 Ảnh tư liệu của nhà nghiên cứu Nguyễn

Còn học giả Trần Trọng Kim lại giật mình khi nền giáo dục Pháp đã biến một xã hội

"nghe đến nước mình thì ngây ngây như người ngoại quốc, sử nước mình không biết,tiếng nói nước mình thì chỉ biết qua loa"

Song, mặt tích cực ngoài ý muốn của Pháp là tạo ra một tầng lớp tri thức có trình độ đạihọc, nắm vững khoa học, kỹ thuật tiên tiến Những người này trước là phục vụ bộ máycai trị của Pháp, sau tháng 8/1945 lại trở thành nguồn nhân lực có trình độ, chuyên môn,phục vụ trong bộ máy của Việt Nam

Trang 33

KINH TẾ

Trong hơn 80 năm đô hộ của thực dân Pháp, trong đó có 45 năm đầu thế kỷ XX, kinh tếViệt Nam chìm đắm trong nghèo nàn và lạc hậu, nhân dân ta phải sống trong cảnh nô lệ

và đói nghèo cả về vật chất và tinh thần, 90% dân số mù chữ

Các ngành sản xuất vật chất là nông nghiệp và công nghiệp chịu tác động nặng nề củachế độ thực dân kiểu cũ nên rất lạc hậu Trong nông nghiệp, thực dân Pháp tiếp tục duytrì kiểu bóc lột phong kiến bằng tô tức, sưu cao thuế nặng Người nông dân phải chịucảnh một cổ hai tròng là thực dân và phong kiến Phần lớn ruộng đất tập trung vào tay

Dưới chế độ thực dân nửa phong kiến, nền nông nghiệp nước ta hết sức nghèo nàn về cơ

sở vật chất, lạc hậu về kỹ thuật và hoàn toàn dựa vào lao động thủ công và phụ thuộc vàothiên nhiên Năng suất các loại cây trồng đều rất thấp Năng suất lúa bình quân 1 ha thời

kỳ 1930-1944 là 12 tạ, trong khi đó Thái Lan là 18 tạ và Nhật Bản là 34 tạ

Ruộng đất phần lớn tập trung trong tay giai cấp địa chủ phong kiến và thực dân Pháp.Nhân dân lao động chiếm 97% số hộ nhưng chỉ sử dụng 36% ruộng đất Trong nông thôn

có tới 59,2% số hộ không có ruộng đất phải sống bằng cày thuê, cấy rẽ Nghịch cảnh sâusắc diễn ra dưới thời thực dân Pháp chiếm đóng: Hàng năm Việt Nam xuất khẩu trên 1triệu tấn gạo trắng, nhưng nông dân Việt Nam, người làm ra lúa gạo, lại luôn luôn phảichịu cảnh đói nghèo Năm 1945 có trên 2 triệu người chết đói Cơ sở vật chất kỹ thuậtnghèo nàn: cả nước chỉ có 12 công trình thuỷ nông nhỏ, đảm bảo tưới cho 15% diện tíchcanh tác, không có công trình tiêu úng nên lũ lụt thường xuyên xảy ra, bình quân 2 năm 1lần vỡ đê Nông nghiệp chủ yếu là quảng canh, năng suất cây trồng, vật nuôi rất thấp.Năm 1939 được coi là năm được mùa nhất trước cách mạng nhưng năng suất lúa bình

Sản xuất công nghiệp rất nhỏ bé và què quặt, chủ yếu là công nghiệp khai thác mỏ và một

số cơ sở công nghiệp nhẹ nhằm bóc lột nguồn nhân công rẻ mạt và vơ vét tài nguyênkhoáng sản Từ năm 1930 đến năm 1945, thực dân Pháp đã khai thác: 2,76 triệu tấn than,217.300 tấn kẽm, chì; 598.000 tấn sắt, măng gan, 1.384 kg vàng, 315.500 tấn phốt pho

Trong hơn 10 năm, từ năm 1930 đến năm 1943, cả nước chỉ có khoảng 200 xí nghiệpcông nghiệp và 90.000 công nhân, trong đó 60% là công nhân khai thác mỏ Cả nướckhông có một cơ sở công nghiệp luyện kim, công nghiệp chế tạo thiết bị và hoá chất nào.Công nghiệp hàng tiêu dùng cũng chỉ có một số nhà máy đường, rượu, xay xát lương

Trang 34

thực, dệt may, giấy với máy móc thiết bị cũ Vào những năm 1938-1939, tỷ trọng côngnghiệp chỉ chiếm 10% trong tổng giá trị sản lượng công nông nghiệp cả nước Khu vựctiểu thủ công nghiệp và các làng nghề truyền thống bị kìm hãm và mai một So với tổng

số vốn đầu tư vào công nghiệp toàn Đông Dương thời kỳ 1913-1939, vốn đầu tư chongành mỏ chiếm 40%, riêng thời kỳ 1924-1930 là 52%

– Tình hình giai cấp và mâu thuẫn cơ bản trong xã hội Việt Nam

Dưới tác động của chính sách cai trị và chính sách kinh tế, văn hóa, giáo dục thực dân, xãhội Việt Nam diễn ra quá trình phân hóa sâu sắc

Giai cấp địa chủ: Giai cấp địa chủ câu kết với thực dân Pháp tăng cường bóc lột, áp bứcnông dân Tuy nhiên, trong nội bộ địa chủ Việt Nam lúc này có sự phân hóa, một bộ phậnđịa chủ có lòng yêu nước, căm ghét chế độ thực dân đã tham gia đấu tranh chống Phápdưới các hình thức và mức độ khác nhau

Giai cấp nông dân: giai cấp nông dân là lực lượng đông đảo nhất trong xã hội Việt Nam,

bị thực dân và phong kiến áp bức bóc lột nặng nề Tình cảnh khốn khổ, bần cùng của giaicấp nông dân Việt Nam đã làm tăng thêm lòng căm thù đế quốc và phong kiến tay sai,làm tăng thêm ý chí cách mạng của họ trong cuộc đấu tranh giành lại ruộng đất và quyềnsống tự do

Giai cấp công nhân Việt Nam: Ra đời từ cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của thựcdân Pháp Đa số công nhân Việt Nam, trực tiếp xuất thân từ giai cấp nông dân, nạn nhâncủa chính sách chiếm đoạt ruộng đất mà thực dân Pháp thi hành ở Việt Nam Vì vậy, giaicấp công nhân có quan hệ trực tiếp và chặt chẽ với giai cấp nông dân Giai cấp công nhânViệt Nam bị đế quốc, phong kiến áp bức, bóc lột Đặc điểm nổi bật của giai cấp côngnhân Việt Nam là ra đời trước giai cấp tư sản dân tộc Việt Nam, và vừa lớn lên nó đãsớm tiếp thụ ánh sáng cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lênin, nhanh chóng trở thành mộtlực lượng chính trị tự giác, thống nhất khắp Bắc Trung Nam…

Giai cấp tư sản Việt Nam: Bao gồm tư sản công nghiệp, tư sản thương nghiệp… Tronggiai cấp tư sản có một bộ phận kiêm địa chủ

Ngay từ khi ra đời, giai cấp tư sản Việt Nam đã bị tư sản Phảp và tư sản người Hoa cạnhtranh, chèn ép, do đó, thế lực kinh tế và địa vị chính trị của giai cấp tư sản Việt Nam nhỏ

Trang 35

bé và yếu ớt Vì vậy, giai cấp tư sản Việt Nam không đủ điều kiện để lãnh đạo cuộc cáchmạng dân tộc, dân chủ đi đến thành công.

Tầng lớp tiểu tư sản Việt Nam: bao gồm học sinh, trí thức, viên chức và những người làmnghề tự do… Trong đó, giới trí thức và học sinh là bộ phận quan trọng của tầng lớp tiểu

tư sản Đời sống của tiểu tư sản Việt Nam bấp bênh và dễ bị phá sản trở thành nhữngngười vô sản Tiểu tư sản Việt Nam có lòng yêu nước, căm thù đế quốc, thực dân, lạichịu ảnh hưởng của những tư tưởng tiến bộ từ bên ngoài truyền vào Vì vậy, đây là lựclượng có tinh thần cách mạng cao và nhạy cảm chính trị Được phong trào cách mạngrầm rộ của công nông thức tỉnh và cổ vũ, họ bước vào hàng ngũ cách mạng ngày càngđông và đóng một vai trò quan trọng trong phong trào đấu tranh của nhân dân, nhất là ởthành thị

Tóm lại, chính sách thống trị của thực dân Pháp đã tác động mạnh mẽ đến xã hội ViệtNam trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội Trong đó đặc biệt là sự ra đời hai giai cấpmới là công nhân và tư sản Việt Nam Các giai cấp, tầng lớp trong xã hội Việt Nam lúcnày đều mang thân phận người bị mất nước và ở những mức độ khác nhau, đều bị thựcdân Pháp áp bức, bóc lột Vì vậy, trong xã hội Việt Nam, ngoài mâu thuẫn cơ bản giữanhân dân, chủ yếu là nông dân với giai cấp địa chủ phong kiến, đã nẩy sinh mâu thuẫnvừa cơ bản, vừa chủ yếu và ngày càng gay gắt trong đời sống dân tộc, đó là: mâu thuẫngiữa toàn thể nhân dân Việt Nam với thực dân Pháp xâm lược, giành độc lập cho nhândân, tự do cho nhân dân; hai là, xóa bỏ chế độ phong kiến, giành lại dân chủ cho nhândân, chủ yếu là ruộng đất cho nông dân Trong đó, chống đế quốc, giải phóng dân tộc lànhiệm vụ hàng đầu

GIAI ĐOẠN 1858-1945

Sau hai hiệp ước 1883 và 1884, đất nước rơi vào tình trạng nửa phong kiến nửa thuộc địa,các phong trào vũ trang, khởi nghĩa từ Bắc chí Nam nổ ra tuy nhiên đều rơi vào thất bại.Thực dân Pháp căn bản hoàn thành công cuộc bình định Việt Nam về mặt quân sự và bắtđầu thực hiện các công cuộc khai thác thuộc địa Các chính sách khai thác thuộc địa vàtình hình thế giới cũng đã ảnh hưởng và làm chuyển biến nền kinh tế, chính trị - xã hội,văn hoá giáo dục so với trước

KINH TẾ:

Việt Nam là nước nông nghiệp, ngay sau khi Pháp chiếm được Sài Gòn, chúng bãi bỏlệnh cấm xuất khẩu gạo mà triều đình Huế đã thực thi trước đây Trong cuộc khai thác

Trang 36

lần nhất cho đến chiến tranh thế giới thứ nhất nổ ra, nền kinh tế Việt Nam đã có nhiềuthay đổi to lớn.

Về nông nghiệp, Pháp chiếm đoạt ruộng đất của nông dân dưới nhiều hình thức ngay từnhững năm cuối thế kỉ XIX Các ruộng đất chiếm được chúng dùng để thành lập các đồnđiền và trồng các loại cây công nghiệp như cao su, chè, các phê,… Phương thức kinhdoanh của Thực dân Pháp tại các khu đồn điền nông nghiệp chủ yếu là phát canh thu tôtheo lối bóc lột phong kiến Tuy không sử dụng nhiều máy móc nhưng chúng rất quantâm đến năng suất và độ màu mỡ của đất nhằm thu nhiều lợi nhuận nhất

Về công nghiệp, trong cuộc khai thác thuộc địa lần nhất, sản xuất công nghiệp chỉ ở giớihạn trong việc cung cấp cho chính quốc nguyên liệu hay vật phẩm mà nước Pháp không

có Ngành mỏ được thực dân Pháp quan tâm vì ngành này thu nhiều lợi nhuận như than,khoáng sản, bên cạnh đó còn tập trung vào các ngành công nghiệp nhẹ như vải sợi, làmcho các xí nghiệp này ngày càng tăng “1903, có 82 xí nghiệp đến 1906 tăng lên 200 xínghiệp”( GS.Trương Hữu Quýnh, Đại cương lịch sử Việt Nam)

Về thương nghiệp

Pháp thực hiện chính sách độc quyền hương mại, xuất sang Pháp các nguyên liệu như cao

su, than, và nhập về các mặt hàng kém phẩm chất so với các nước khác Thực dân Phápcòn bóp chết ngành thủ công truyền thống của nước ta và dùng Hoa Kiều làm lũng đoạnthị trường Việt Nam

Với cuộc khai thác lần nhất, Pháp đã bóc lột nhân dân ta thậm tệ để kiếm lợi nhuận tuynhiên khách quan thì cuộc khai thác lần nhất này đã đẩy nề kinh tế nước ta đi theo hướng

tư bản chủ nghĩa

Chiến tranh thế giới hướng nhất nổ ra, thực dân Pháp phải thay đổi chính sách đối với cácnước thuộc địa trong đó có Việt Nam về mọi mặt trong đó có kinh tế để phục vụ cho mụcđích tổng động viên nhân lực, vật lực, tài lực cung cấp nhu cầu ngày càng lớn cho cuộcchiến tranh Thay thế một phần diện tích đất trồng lúa bằng các loại cây phục vụ choPháp như đậu, thầu dầu, thuốc lá, phục hồi những ngành công nghiệp phục vụ cho chiếntranh như đóng tài, sửa vũ khí, sản xuất thuốc nổ,…

Trong cuộc khai thác lần hai khoảng 10 năm, Pháp đầu tư ò ạt các ngành kinh tế ViệtBám với tốc độ nhanh, quy mô rộng, tập trung khai thác mỏ, giao Thoòng vận tải, kinhdoanh nông nghiệp Pháp tiếp tục chiếm đoạt ruộng đất của nông dân thành lập các đồnđiền, các ngành công nghiệp sau chiến tranh cũng được tăng cường đầu tư vốn và mởrộng quy mô sản xuất Ngân hàng Đông Dương đóng vai trò tổ chức và chi phối hầu hếtcác hoạt dộng kinh tế, tài chính ở Việt Nam

Trang 37

Khi Nhật nhảy vào Đông Dương, Pháp buộc phải để cho Nhật sử dụng các sân bay,phương tiện giao thông, kiểm soát hệ thống đường sắt và các tàu biển Hàng năm, Nhậtbắt chính quyền thực dân Pháp nộp cho chúng một khoản tiền lớn Trong 4 năm 6 tháng,Pháp phải nộp một khoản gần 724 triệu đồng.Quân Nhật còn cướp ruộng đất của nôngdân, bắt nông dân nhổ lúa, ngô để trồng đay, thầu dầu phục vụ cho nhu cầu chiếntranh.Nhật yêu cầu chính quyền thực dân Pháp xuất các nguyên liệu chiến lược sang NhậtBản như than, sắt, cao su, xi măng v.v Một số công ti của Nhật đã đầu tư vào nhữngngành phục vụ cho nhu cầu quân sự như: khai thác mănggan, sắt ở Thái Nguyên, apatít ởLào Cao crôm ở Thanh Hóa.

Chính sách vơ vét, bóc lột của Pháp-Nhật đã đẩy nhân dân ta tới chỗ cùng cực Hậu quả

là cuối năm 1944-đầu năm 1945, có gần 2 triệu đồng bào ta chết đói

Công, thương nghiệp phát triển đã dẫn đến sự nảy sinh của lớp người làm thuê, xuất thânchủ yếu của họ là người nông dân bị mất hết ruộng đất và họ trở thành công nhân bằngnhiều con đường khác nhau Họ làm trong các đồn điền, nhà máy, xí nghiệp, hầm mỏ và

bị bóc lột sức lao động nặng nề, đời sống gặp nhiều khó khăn Vì vậy mà họ sớm có tinhthần đấu tranh chống áp bức bóc lột

Cuối thế kỉ XIX, đô thị Việt Nam nằm trong guồng quay của phương thức khai thác bóclột tư bản chủ nghĩa nên đã phát triển theo kiểu đô thị công thương nghiệp, không cònmang nặng tính chất trung tâm hành chính văn hoá như trước nữa Cùng với sự phát triểnnày, tàng lớp tư sản đầu tiên đã xuất hiện, tuy chưa đông về số lượng và có nguồn gốc,xuất thân khác nhau Tư bản có hai loại chính là tư sản mại bản và tư sản dân tộc Tư sảnmại bản ngày cang đông đảo cùng với tốc độ đầu tư của Pháp, tư sản dân tộc mặc dù từsau chiến tranh thế giới được mở rộng quy mô kinh doanh sản xuất tuy nhiên vẫn còn nhỏyếu và thấp kém so với tư sản ngoại bản

Cùng với tầng lớp tư sản, tần lớp tiểu tư sản có trước và đông hơn tầng lớp tư sản Đó lànhững nhà tiểu thủ công, tiểu thương, những người làm việc ơn các sở công hay tư, người

Trang 38

làm nghề tự do, học sinh các trường Đến những năm 30 của thế kỉ XX, các tầng lớp tiểu

tư sản ngày càng đông đảo cùng với quá trình mở mang thành thị, tăng cường đầu tư pháttriển kinh se và giáo dục Việt Nam Tuy đời sống của tầng lớp này có khá hơn các tầnglớp khác hơn chút nhưng họ cũng bị chèn ép về nhiều mặt và thấm sâu nỗi nhục củangười dân mất nước

Bên cạnh sự xuất hiện của các giai cấp, tầng lớp mới thì các giai cấp cũ ở Việt Nam cũng

bị phân hoá sâu sắc Nông dân và thợ thủ công bị bần cùng hoá và phá sản hàng loạt,người nông dân bị bọn thực dân chiếm đoạt ruộng đất một cách trắng trợn trên quy môlớn, tổ chức phát canh thu toi đối với tá điền, sưu thuế ngày càng nặng Thợ thủ công bịchính sách độc chiếm thị trường của thực dân bóp nghẹt Cuộc khai thác thuộc địa củathực dân Pháp càng đẩy mạnh bao nhiêu thì quá trình bần cùng hoá và phá sản của nôngdân và thợ thủ công phở nông thôn bị đẩy nhanh bấy nhiêu Địa chủ phân hoá Được thựcdân nâng đỡ, ưu thế về kinh tế và chính trị của địa chủ tăng lên Bên cạnh địa chủ Pháp,địa chủ Việt Nam phát triển hơn trước và trở thành chỗ dựa đắc lực cho thực dân Pháptrong công cuộc khai thác

Nhìn chung xã hội Việt Nam đã có bước chuyển biến mới, các mâu thuẫn giai cấp, mâuthuẫn giữa công nhân với tư bản, nông dân với địa chủ, mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam

và bọn Thực dân Pháp càng trở nên sâu sắc hơn, dẫn đến các cuộc đấu tranh dân tộc vàgiai cấp ngày càng phát triển mạnh mẽ

hộ, sự thay đổi về giáo dục chậm hơn

Loại bỏ được chế độ giáo dục Nho học, nhưng để áp dụng nền giáo dục Pháp vào ViệtNam thì không đơn giản Những năm đầu, soái phủ Nam Kỳ gặp rất nhiều khó khăn khi

hệ thống trường Nho học giải tán Các giáo chức rời bỏ nhiệm sở ra vùng tự do thuộctriều đình Huế để tiếp tục chức vụ Nhiều học trò gác bút nghiên, cầm giáo mác tham giacác lực lượng nghĩa quân

Giai đoạn 1917-1945, đánh dấu đợt cải cách giáo dục lần thứ hai bằng việc thiết lậpchương trình học chính Pháp - Việt, mở đầu bằng sự kiện ngày 21/12/1917 Toàn quyềnĐông Dương Albert Sarraut ký nghị định ban hành tổng quy chế nền học chính toàn cõi

Trang 39

Đông Dương Văn bản được xem như bộ luật giáo dục, dày 282 trang, với mục tiêu thốngnhất nền giáo dục bản xứ, tiến tới xóa bỏ nền giáo dục cũ Với đợt cải cách giáo dục lầnhai, việc đưa chữ quốc ngữ vào tiểu học đã giúp trẻ nhanh chóng biết đọc biết viết, hơnhẳn trước kia học chữ Hán khó nhớ Chương trình học bao gồm cả khoa học tự nhiên vàkhoa học xã hội với tính hệ thống cao Bên cạnh các trường phổ thông, Pháp còn lập ratrường dạy nghề để học sinh khó khăn khi học xong tiểu học có thể học nghề, tìm việckiếm sống

Giáo dục thời Pháp kéo dài gần một thế kỷ với nhiều ý kiến đánh giá trái chiều Mặt tiêucực của nó với Việt Nam là những mưu đồ thực dân của Pháp đã đạt được Bởi thế năm

1905, Phan Bội Châu cho rằng nền giáo dục của Pháp "chỉ dạy viết văn Pháp, nói tiếngPháp, tạm thời làm nô lệ cho Pháp".Còn học giả Trần Trọng Kim lại giật mình khi nềngiáo dục Pháp đã biến một xã hội "nghe đến nước mình thì ngây ngây như người ngoạiquốc, sử nước mình không biết, tiếng nói nước mình thì chỉ biết qua loa"

Song, mặt tích cực ngoài ý muốn của Pháp là tạo ra một tầng lớp tri thức có trình độ đạihọc, nắm vững khoa học, kỹ thuật tiên tiến Những người này trước là phục vụ bộ máycai trị của Pháp, sau tháng 8/1945 lại trở thành nguồn nhân lực có trình độ, chuyên môn,phục vụ trong bộ máy của Việt Nam

VĂN HOÁ

Thực dân Pháp thi hành chính sách văn hoá nhằm củng cố địa vị thống Trọ ơn ĐôngDương, chúng chủ trương tổ chức làng xã cũ kĩ nhằm sủ dụng bộ máy kì hào để làm việccho chúng, như vậy tổ chức làng xã được giữ nguyên tạo điều kiện giữ vững văn hoá dângian Chính sách đồng hoá và cưỡng chế về văn hoá của Pháp lại tạo những bước chuyểnlớn trong văn hoá Việt Văn minh phương Tây xuất hiện tại Việt Nam từ đầu thập niên 60của thế kỉ XIX, tuyên truyền văn minh Đại Pháp nhưng hạn chế tuyên truyền tư tưởngcách mạng Pháp 1789 cùng các tư tưởng tiến bộ Các chính sách văn hoá này nhằm phục

vụ cho công cuộc cai trị và khai thác thuộc địa của bọn thực dân

CHÍNH TRỊ

Việt Nam không còn là một quốc gia độc lập, trở thành chế độ quân chủ nửa thuộc địa,phải phụ thuộc vào Pháp Bằng các hiệp ước ký với triều Nguyễn, Việt Nam bị ngườiPháp chia thành 3 Kỳ (Nam Kỳ, Trung Kỳ, Bắc Kỳ) với các chế độ chính trị, bộ máyhành chính và hệ thống luật pháp khác nhau Do các ràng buộc trong những Hiệp ước đã

ký với nhà Nguyễn, Pháp không xây dựng một hình thức nhà nước dân chủ tại Việt Nam

mà nhà Nguyễn vẫn tồn tại với các thành viên hoàng gia, quý tộc, quan lại Nhà Nguyễnmất uy tín chính trị, vương quyền không còn là yếu tố đoàn kết quốc gia như các nước

Trang 40

quân chủ khác trên thế giới Chế độ bảo hộ của Pháp đã biến người Việt thành nhữngnhân viên hành chính chỉ biết thừa hành một cách thụ động, thiếu sáng tạo còn quyềnlãnh đạo nằm trong tay người Pháp Trong chính quyền thuộc địa, tri thức, tài năng, đạođức không được xem trọng bằng sự trung thành và phục tùng đối với người Pháp Thuậtlãnh đạo không được truyền lại, khả năng lãnh đạo quốc gia của người Việt thui chột đi,đạo đức và năng lực của giới công chức nhà nước người Việt suy đồi Người Pháp không

có ý định trao trả độc lập cho người Việt nên họ không đào tạo một tầng lớp tinh hoangười Việt đủ sức lãnh đạo, quản trị quốc gia Đa số người Việt bị loại ra khỏi đời sốngchính trị quốc gia nên thiếu trưởng thành về mặt chính trị Nhà vua mất vai trò là ngườiquyết định và giám sát tối cao mọi hoạt động nhà nước còn người Pháp không có nhữngbiện pháp hữu hiệu chống tệ quan liêu, tham nhũng Người dân thuộc địa mất liên kết vớinhà nước, bất mãn với cách cai trị của người Pháp và triều đình nhà Nguyễn Chủ nghĩadân tộc cực đoan cùng tâm lý bài ngoại nảy sinh và phát triển mạnh mẽ Trong bối cảnh

đó những tư tưởng nổi loạn, vô chính phủ du nhập từ phương Tây, được truyền bá rộngrãi Các đảng phái chủ trương dùng bạo lực giành chính quyền hoạt động bí mật tại ViệtNam hoặc lưu vong ở nước ngoài.

II Những tư tưởng cơ bản trong xã hội Việt Nam thời Nguyễn (1802 – 1945)

1 Tư tưởng chính trị - xã hội

a) Tư tưởng nhân trị Nho giáo

Sau khi ổn định tình hình chính trị - xã hội trong nước, nhà Nguyễn ra sức khôiphục lại chế độ trung ương tập quyền, cùng với đó ra sức đề cao Nho giáo

Thế kỷ XIX, các vua Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức đều là nhữngnhà nho Bản thân sự nhận thức của họ về tư tưởng nhân chính có ý nghĩa thực tiễn đốivới hoạt động trị nước và trực tiếp ảnh hưởng đến đường lỗi chính trị của quốc gia Cácnhà vua đã có nhiều chủ trương để thi hành đường lối “thân dân” như coi trọng nghềnông, quan tâm đến đời sống vật chất của nhân dân Nhằm để xây dựng một nền quânchủ chuyên chế tập quyền thì nhà Nguyễn đã thi hành khá triệt để đường lối đức trị, vậndụng các yếu tố của Hán Nho

Trong việc củng cố chế độ phong kiến trung ương tập quyền các vua Nguyễn đãcoi chính danh là công cụ, là biện pháp chủ yếu để đạt được mục tiêu đó Vua Gia Longluôn nói với bề tôi: “Chính danh là việc đầu của chính trị” Đối với các vị vua Nguyễn,chính danh còn là phương tiện có hiệu quả nhất để ổn đinh trật tự, kỷ cương của chế dộphong kiến và ổn đinh xã hội

Trong các chuẩn mực đạo đức, nhà Nguyễn đặc biệt đề cao các đức hiếu, trung và

lễ Theo các vua Ngyễn thì ba đức là phương tiền chủ yếu nhất bảo về vương quyền, duytrì trậ tự phong kiến và trong việc trị nước, an dân là khôn mẫu trong việc tề gia, trị quốc

Ngày đăng: 01/01/2018, 11:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w