MPQM Moving Picture Quality Metric Thang đo chất lượng ảnh động MSE Mean Square Error Sai số bình phương trung bình NTSC National Television System Committee Hội đồng hệ thống truyền hìn
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ
Phạm Thị Thu Thủy
CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐO, ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG
HỆ THỐNG TRUYỀN HÌNH SỐ MẶT ĐẤT
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC HỆ CHÍNH QUY
Ngành: Điện tử - viễn thông
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ
Phạm Thị Thu Thủy
CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐO, ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG
HỆ THỐNG TRUYỀN HÌNH SỐ MẶT ĐẤT
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC HỆ CHÍNH QUY
Ngành: Điện tử - viễn thông
Cán bộ hướng dẫn: TS Ngô Thái Trị
Cán bộ đồng hướng dẫn: ThS Trần Quyết Thắng
HÀ NỘI – 2005
Trang 3Lời cảm ơn!
Trước tiên, em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và lòng kính trọng tới
Thầy Ngô Thái Trị cùng Anh Trần Quyết Thắng đã tận tình chỉ bảo và giúp đỡ em
hoàn thành cuốn khóa luận tốt nghiệp này Tuy rất bận, nhưng Thầy và Anh đã
không ngần ngại tạo mọi điều kiện cho em học tập cũng như nghiên cứu tại Trung
tâm Tin học và Đo lường – Đài Truyền hình Việt Nam
Em cũng xin gửi lời cảm ơm sâu sắc tới ban lãnh đạo trường Đại học Công
Nghệ và toàn thể các thầy cô trong khoa Điện tử Viễn thông, cũng như các thầy
cô trong trường Đại học Công Nghệ - ĐHQGHN đã tạo điều kiện cho em trong
quá trình học tập và trong suốt thời gian làm khóa luận tốt nghiệp
Cuối cùng cho em xin gửi lời biết ơn tới Bố Mẹ em và lời cảm ơn tới những
người thân yêu nhất cùng các bạn của em đã động viên và giúp đỡ em rất nhiều
Đồng thời cho em gửi lời cảm ơn tới các chú, anh chị trong Trung tâm tin học và
Đo lường Đài truyền hình Việt nam đã tạo mọi điều kiện và giúp đỡ em hoàn
thành khóa luận tốt nghiệp
Do thời gian và kiến thức hiểu biết còn hạn chế, hơn nữa do chuẩn phát
sóng truyền hình số mặt đất (DVB-T) còn là một lĩnh vực rất mới tại Việt Nam,
nên công tác đo lường vẫn đang trong thời gian hoàn thiện Mặt khác, các kỹ
thuật, các thiết bị đo lường còn chưa nhiều và tài liệu tham khảo chưa đủ nên
không tránh khỏi thiếu thông tin và sai sót Vì vậy em rất mong được sự đóng góp
ý kiến của Thầy Cô và các bạn
Hà nội ngày 6 tháng 6 năm 2005
Sinh viên thực hiện
Phạm Thị Thu Thủy
Trang 4TÓM TẮT NỘI DUNG
Sự ra đời của công nghệ số là bước ngoặt trong các ngành khoa học kĩ
thuật, tạo tiền đề cho các lĩnh vực trên thế giới phát triển Trong đó, ngành Truyền
hình đóng một vai trò không thể thiếu trong cuộc sống của con người, và trở thành
“một tờ báo hình” lớn của Đảng và Nhà nước ta Do vậy truyền hình số ra đời là
bước tiến vĩ đại cho Ngành truyền hình thế giới nói chung và cho Đài truyền hình
Việt Nam nói riêng Một trong những tiêu chuẩn truyền hình số được lựa chọn tại
Việt Nam đó là “Tiêu chuẩn truyền hình số phát sóng mặt đất: DVB-T” Từ thực
tiễn đó, mà công tác đo, kiểm tra chất lượng hệ thống DVB-T được đặt ra Do hệ
thống này sử dụng ảnh nén theo chuẩn MPEG-2 là nguồn tín hiệu đầu vào Nên
bài viết đã khái quát chuẩn nén MPEG-2 và phương thức truyền dẫn DVB-T Quá
trình đo, đánh giá được thực hiện: sau quá trình nén MPEG-2 (đây là bước kiểm
tra dòng truyền tải MPEG-2), tại hệ thống truyền dẫn DVB-T, và đánh giá chất
lượng ảnh bằng quan sát trực tiếp trên màn hình Trong mỗi phần lại đưa ra chuẩn
đánh giá, các thông số cần đo riêng, và cuối cùng là một số kết quả đo thử
nghiệm
Trang 5MỤC LỤC
NHỮNG TỪ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ CHUẨN NÉN VIDEO SỐ MPEG-2 VÀ HỆ THỐNG TRUYỀN HÌNH SỐ MẶT ĐẤT THEO CHUẨN 1.1 Nén tín hiệu Video số theo chuẩn MPEG-2 3
1.1.1 Nén ảnh I 4
1.1.2 Nén ảnh P 6
1.1.3 Nén ảnh B 7
1.1.4 Dòng cơ sở và dòng cơ sở đóng gói 7
1.1.5 Dòng chương trình và dòng truyền tải 7
1.2 Giới thiệu truyền hình số phát sóng mặt đất (DVB – T) 9
CHƯƠNG II: CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐO, ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG HỆ THỐNG TRUYỀN HÌNH SỐ MẶT ĐẤT 2.1 Đo – đánh giá chất lượng hình ảnh 17
2.1.1 Đo - đánh giá trong hệ thống tương tự 17
2.1.1.1 Phép đánh giá chủ quan 17
2.1.1.2 Phép đánh giá khách quan 18
2.1.2 Đo – đánh giá trong hệ thống số 22
2.1.2.1 Phép đo chủ quan 22
2.1.2.2 Phép đánh giá khách quan 23
Trang 62.1.2.3.2 Thang đo PSNR 27
2.1.2.3.3 Thang đo dựa theo hệ thị giác WSNR 28
2.1.2.3.4 Thang đo chất lượng video ITS 29
2.1.2.3.5 Thang đo chất lượng video khách quan EPFL 30
2.1.2.3.6 Thang đo ứng dụng hệ thống trực quan JND 32
2.2 Đo – đánh giá chất lượng dòng truyền tải MPEG-2 37
2.2.1 Nhóm ưu tiên thứ nhất 38
2.2.2 Nhóm ưu tiên thứ hai 40
2.2.3 Nhóm ưu tiên thứ ba 41
2.3 Đo – đánh giá chất lượng hệ thống truyền dẫn 43
2.3.1 Các phương pháp kiểm tra tại các giao diện nén 43
2.3.1.1 Đo tỷ lệ lỗi bit (BER) 43
2.3.1.2 Đồ thị mắt 45
2.3.1.3 Đồ thị tán xạ 47
2.3.2 Đo – kiểm tra các thông số trong hệ thống DVB-T 48
2.3.2.1 Các phép đo về tần số 50
2.3.2.2 Phổ RF và IF 52
2.3.2.3 Đo độ nhạy máy thu 52
2.3.2.4 Hiệu suất công suất 53
2.3.2.5 Phân tích tín hiệu I/Q 53
CHƯƠNG III: MỘT SỐ KẾT QUẢ ĐO THỰC NGHIỆM 3.1 Mục tiêu thử nghiệm 57
3.2 Giới thiệu một số thiết bị 57
3.2.1 Thiết bị nén và giải nén 57
Trang 73.2.2 Thiết bị điều chế và giải điều chế 59
3.2.3 Thiết bị tạo tín hiệu chuẩn TSG271 62
3.2.4 Các thiết bị đo 62
3.3 Thử nghiệm kết quả đo sau nén MPEG-2 64
3.3.1 Đo chất lượng tín hiệu Video 64
3.3.2 Khảo sát ảnh hưởng của nhiễu đến chất lượng Video sau nén 65 3.4 Một số kết quả đo thử nghiệm chất lượng truyền dẫn 66
KẾT LUẬN CHUNG 72
Trang 8NHỮNG TỪ VIẾT TẮT
ADC Analog – to – Digital Convert Biến đổi tương tự số
AES Audio Engineering Society Hiệp hội kỹ thuật audio
ANSI American National Standard
Institute
Viện tiêu chuẩn quốc gia Mỹ
AWGN Additive White Gaussian Noise Nhiễu trắng GAUSS cộng
CAT Conditional Access Table Bảng truy cập có điều kiện
COFDM Code Orthogonal Frequency
Division Multiplexing
Mã hóa ghép kênh theo tần số trực giao
CSF Contrast Sensitivity Function Hàm độ nhạy tương phản
DAC Digital – to Analog Convert Biến đổi số tương tự
DCT Discrete Cosine Transform Biến đổi Cosin rời rạc
DPCM Differential Pulse Code
Modulation
Điều chế xung mã vi sai
DVB Digital Video Broadcasting Quảng bá Video số (chuẩn
Châu Âu)
DVB-S DVB – Satellite Truyền hình số truyền qua vệ
tinh DVB-T DVB – Terrestrial Truyền hình số phát sóng mặt
đất EBU European Broadcast Union Hiệp hội truyền thanh truyền
hình Châu Âu ETSI European Telecommunication
Standards Institute
Viện tiêu chuẩn viễn thông Châu Âu
FFT Fast Fourier Transform Biến đổi Fourier nhanh
HDTV High – definition Television Truyền hình số có độ phân giải
cao HVS Human Visual System Hệ thống nhìn của mắt người
IEC International Electrotechnical
Commission (Part of the ISO)
Uỷ ban kỹ thuật điện tử quốc tế
IF Intermediate Frequency Trung tần hay tần số trung gian
ISO International Standard
Trang 9MPQM Moving Picture Quality Metric Thang đo chất lượng ảnh động
MSE Mean Square Error Sai số bình phương trung bình
NTSC National Television System
Committee
Hội đồng hệ thống truyền hình quốc gia Mỹ
OFDM Orthogonal Frequency Division
Multiplexing
Kép kênh phân chia theo tần số trực giao
PAL Phase Alternating Line Hệ truyền hình màu PAL (Pha
thay đổi theo từng dòng quét) PRBS Pseudo – Random Binary
Sequence
Chuỗi giả ngẫu nhiên nhị phân
PSNR Peak Signal – Noise Ratio Tỷ số tín hiệu đỉnh trên tạp
nhiễu
SDTV Standard Definition Television Truyền hình số có độ phân giải
tiêu chuẩn SFN Single Frequency Network Mạng đơn tần
SMPTE Society of Motion Pictures
Television Engineers
Hiệp hội kỹ sư truyền hình ảnh động (Mỹ)
SNR Signal – to – Noise Ratio Tỷ số tín hiệu trên nhiễu
Modulation
Điều chế biên độ vuông góc
QPSK Quadrature Phase Shift Keying Khóa dịch pha vuông góc
UHF Ultra – High Frequency Tần số siêu cao
VHF Very – high Frequency Tần số rất cao
VITS Vertical Insertion Test Signals Các tín hiệu kiểm tra được chèn
trong khoảng xóa mành VLC Variable – Length Coding Mã hóa độ dài thay đổi
WSNR Weighted Signal Noise Ratio Tỷ số tín hiệu trên tạp nhiễu có
trọng số
Trang 10MỞ ĐẦU
Trong nhiều năm trở lại đây, sự ra đời của truyền hình số đã có những
bước tiến triển vượt bậc, và chiếm được cảm tình của đông đảo người xem truyền
hình trên thế giới Cùng với sự phát triển đó, Đài Truyền hình Việt Nam đã lựa
chọn và đang từng bước phát triển hệ thống truyền hình số này rộng khắp đất
nước Trên thực tế, Đài Truyền hình đã và đang xây dựng hệ thống truyền hình số
theo chuẩn DVB (phát quảng bá Video số - dựa theo tiêu chuẩn Châu Âu), như:
truyền hình số vệ tinh (DVB-S), truyền hình số phát sóng mặt đất (DVB-T),
…Trong đó, DVB-T là công nghệ truyền hình số rất phù hợp với điều kiện tự
nhiên cũng như nền kinh tế của nước ta và sẽ được lựa chọn làm chuẩn phát sóng
trong tương lai
Theo dự kiến khoảng 10 năm nữa, công nghệ truyền hình số phát sóng mặt
đất theo chuẩn DVB-T sẽ thay thế hoàn toàn mạng phát sóng tương tự đang tồn tại
ở Việt Nam Sự ra đời của hệ thống DVB-T sẽ cung cấp các dịch vụ và chất lượng
hình ảnh tốt nhất cho người xem truyền hình Còn đối với những nhà kỹ thuật làm
công tác truyền hình, việc đảm bảo chất lượng hệ thống là rất quan trọng, vì hệ
thống hoạt động tốt thì mới đem lại chất lượng tốt tới người xem Do đó, công
việc kiểm tra, đánh giá chất lượng Video của hệ thống phải được đặt ra Từ vấn đề
tất yếu đó mà em đã chọn đề tài “Các phương pháp đo, đánh giá chất lượng hệ
thống truyền hình số mặt đất” Mục đích chính của đề tài là đưa ra các phương
pháp đánh giá chất lượng hình ảnh Video, các thang đo chất lượng cho hệ và kết
quả đo thực tế
Nội dung chính của đề tài được chia thành 3 chương:
+ Chương I: Trình bày tổng quan về nén Video số MPEG-2 và hệ thống
truyền hình số mặt đất theo tiêu chuẩn DVB-T
+ Chương II: Các phương pháp đo, đánh giá chất lượng hệ thống truyền
+ Chương III: Một số kết quả đo thực nghiệm
Do thời gian có hạn và lĩnh vực đo kiểm tra chất lượng hệ thống truyền
hình số mặt đất vẫn đang trong quá trình hoàn thiện nên các phương pháp đánh
giá trong đề tài còn ở mức hạn hẹp và chưa đầy đủ Không những vậy, các thiết bị
dùng cho việc đo và kiểm tra không nhiều và giá thành cao nên việc trang bị đầy
Trang 11đủ các thiết bị đó tại Đài truyền hình Việt Nam chưa được hoàn tất Nên kết quả
đo thực nghiệm trong đề tài này còn thiếu rất nhiều Song qua kết quả đó chứng
minh được một số yếu tố ảnh hưởng lớn đến chất lượng tín hiệu Video trong hệ
thống DVB-T
Trang 12CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ CHUẨN NÉN VIDEO SỐ MPEG-2 VÀ HỆ
THỐNG TRUYỀN HÌNH SỐ MẶT ĐẤT THEO CHUẨN
DVB-T
1.1 Nén tín hiệu Video số theo chuẩn MPEG-2
Truyền hình số ra đời khi hệ thống truyền hình tương tự đang tồn tại Để
giảm giá thành khi xây dựng hệ thống thì quá trình chuyển đổi từ tương tự sang số
phải dựa trên cơ sở hạ tầng hiện có Để tăng hiệu suất sử dụng phổ và giảm băng
thông kênh truyền, người ta phải giảm thiểu dải tần số của tín hiệu, hay nói cách
khác là phải nén tín hiệu Khái niệm nén được sử dụng rộng rãi trong kỹ thuật
truyền hình số vào những năm gần đây Với sự phát triển của các vi mạch, thì
công nghệ nén hiện nay đạt tỷ số nén cao hơn, như là 10:1, 100:1 Một trong các
định dạng nén Video số đó là chuẩn nén MPEG MPEG là từ viết tắt của một
nhóm chuyên gia nghiên cứu về ảnh chuyển động (Moving Pictrure Experts
Group) MPEG xuất hiện năm 1988 được đưa ra bởi tổ chức ISO/IEC, chính tổ
chức này đã nghiên cứu thành công chuẩn nén tín hiệu hình ảnh và âm thanh
MPEG là một tập hợp các chuẩn nén như: 1, 2, 4,
MPEG-7, …Ở đó, tiêu chuẩn MPEG-2 là định dạng nén Video số được công bố năm
1994, được phát triển từ MPEG-1 cho các ứng dụng trong truyền hình Với tốc độ
nén từ 2 Mbit/s đến 15Mbit/s cho truyền hình SDTV và từ 16 Mbit/s đến 40
Mbit/s cho HDTV, còn trong các ứng dụng đặc biệt có thể lên tới 20 Mbit/s hoặc
100 Mbit/s
Kỹ thuật nén MPEG-2 là kỹ thuật mã nguồn, nhằm làm giảm lượng thông
tin nguồn Video và Audio Chuẩn nén MPEG-2 sử dụng các kỹ thuật kết hợp nén
từng khung hình (nén trong ảnh) và nén giữa các khung hình (nén liên ảnh) sử
dụng kỹ thuật bù chuyển động cho tỷ lệ nén cao Đây là kỹ thuật được xây dựng
trên cơ sở các thuật toán khai thác các mối liên hệ chặt chẽ có tính logic giữa các
ảnh liên tiếp nhau, nhằm giảm lượng thông tin cần truyền Với kỹ thuật này, hầu
hết các ảnh trong một đoạn Video đều được suy diễn từ những ảnh đến trước và
sau nó cùng với một lượng thông tin tối thiểu bổ sung để thể hiện sự khác biệt
giữa các ảnh này Phần chủ yếu của kỹ thuật này là đánh giá bù chuyển động với
Trang 13các chức năng phức tạp nhất Chuẩn nén MPEG-2 phân các ảnh được xử lý thành
3 loại: ảnh I, P, B Các hình ảnh được tổ chức thành nhóm ảnh GOP (Group of
Picture) Mỗi nhóm xác định cấu trúc cho cả chuỗi và chứa đựng một số xác định
các ảnh
Hình 1.1 Chuẩn nén MPEG-2
1.1.1 Nén ảnh I (Nén trong ảnh)
Ảnh I (Intra - Picture) là ảnh được mã hóa riêng, giống như mã hóa ảnh
tĩnh trong JPEG Ảnh I chứa đựng dữ liệu để tái tạo lại toàn bộ hình ảnh Nó sử
dụng kỹ thuật nén trong ảnh nhằm giảm bớt thông tin dư thừa trong miền không
gian Nén trong ảnh sử dụng cả hai quá trình nén có tổn hao và nén không tổn
hao Quá trình này không sử dụng thông tin của ảnh trước và sau ảnh hiện tại Nén
ảnh I đạt tỉ lệ nén thấp nhất
Quá trình nén ảnh I thông qua các bước sau:
+) Tạo các block và macroblock (MB)
Một hình ảnh được tạo ra từ các giá trị điểm ảnh, những giá trị điểm ảnh
đó tạo thành một nhóm gọi là khối ảnh (Block) Hệ thống sử dụng kích thước
chuẩn là Block gồm 8×8 điểm ảnh, đó là khối tín hiệu chói và tín hiệu màu Các
giá trị điểm ảnh này chính là các mẫu được dùng cho quá trình lượng tử hóa Các
Block được ghép thành các khối lớn riêng biệt không chồng nhau, đó là các MB
Trang 14Video, còn cấu trúc MB phụ thuộc vào phương thức quét ảnh Nếu quét liên tục
thì các block bao gồm các mẫu từ các dòng liên tục, ngược lại nếu quét xen kẽ,
trong một block chỉ có các mẫu của một nửa ảnh (nén theo mành)
+) Biến đổi cosine rời rạc
Quá trình này biến đổi độc lập từng Block theo thuật toán DCT DCT
nhằm biến đổi dữ liệu từ dạng biên độ sang dạng tần số Mục đích của quá trình
biến đổi là tách liên kết pixel của từng ảnh con thành các hệ số hàm truyền Vì
vậy các quá trình sau như mã hóa hay truyền chỉ thực hiện đối với hệ số năng
lượng này, làm cho việc tái tạo tín hiệu Video có chất lượng cao
+) Lượng tử hóa
Đây là khâu nhạy bén nhất trong hệ thống nén, nó tác động trực tiếp đến
chất lượng ảnh khôi phục lại Cụ thể, nó làm mất thông tin, giảm dung lượng dữ
liệu và số lượng bit ứng với mỗi hệ số khác nhau Quá trình lượng tử được thực
hiện theo hình sau:
Hình 1.2 Quá trình lượng tử hóa
+) Mã hóa entropy
Sử dụng hai loại mã: RLC và VLC , cụ thể:
Trang 15∗ Với VLC (Mã hóa với độ dài thay đổi): sử dụng từ mã ngắn với các giá trị
có xác suất xuất hiện lớn và từ mã dài với các giá trị có xác suất xuất hiện
nhỏ
∗ RLC (Mã hóa với độ dài chạy): Truyền một từ mã duy nhất thay vì phải
truyền một chuỗi số “0’’
+) Bộ đệm (buffer)
Do từ mã VLC được tạo với tốc độ thay đổi, phụ thuộc vào mức độ phức
tạp của ảnh, và được ghi vào bộ nhớ đệm Dòng dữ liệu được đọc ra từ bộ nhớ
đệm với tốc độ không đổi, nên cần có cơ chế điều khiển bộ nhớ đệm đảm bảo cho
vùng đệm này hoạt động trong phạm vi cho phép
1.1.2 Nén ảnh P (Nén liên ảnh – Inter frame compression)
Ảnh loại P (Predicted Picture): Là các ảnh dự đoán được mã hóa từ ảnh I
hoặc ảnh P trước đó nhờ sử dụng thuật toán bù chuyển động Nén ảnh P nhằm làm
giảm thông tin dư thừa trong miền thời gian, cho tỉ lệ nén cao hơn ảnh I và có thể
sử dụng làm một ảnh so sánh cho việc bù chuyển động cho các ảnh P, B khác Kỹ
thuật dùng để nén ảnh P đó là phương pháp dự đoán một chiều Phương pháp này
sử dụng chính thông tin đang có để dự đoán trạng thái của thông tin tiếp theo của
hình ảnh Kết quả thu được lỗi dự đoán hoặc phần thông tin khác biệt giữa thông
tin hiện thời và thông tin dự đoán, và truyền đi sự khác biệt này Ở thiết bị giải mã
chỉ cần cộng phần khác biệt đó vào phần đã có để xử lý giải mã hình ảnh
Quá trình dự đoán là tối ưu nếu kết kết quả sai số dự đoán là 0 Nhưng
trên thực tế hình ảnh động rất khó dự đoán trước, nhất là hình ảnh động có độ
phức tạp lớn, và quá trình dự đoán lại bị hạn chế thời gian do đó không dự đoán
được toàn bộ phần thông tin khác biệt Khi đó, thiết bị nén phải sử dụng thêm kỹ
thuật bù chuyển động
Để dự đoán chính xác ảnh thì cần so sánh từng điểm ảnh (pixel) của 2 ảnh
liên tiếp, nhưng nếu thực hiện như vậy thì sẽ làm tăng số lượng vector chuyển
động Ở đó, vector chuyển động là sự dịch chuyển giữa ảnh hiện tại và ảnh dự
đoán Nếu so sánh từng vùng lớn thì chất lượng ảnh khôi phục rất kém Do đó,
MPEG đã chọn vùng dự đoán chuyển động là 16×16 pixel hay chính là một
macroblock (MB)
Trang 161.1.3 Nén ảnh B (Ảnh dự đoán hai chiều – Bidirectional Prediction)
Ảnh này được dự đoán từ ảnh I, ảnh P ở trước và sau đó Ảnh B không
được sử dụng để mã hóa các ảnh tiếp theo Nén ảnh B dựa trên kỹ thuật dự đoán 2
chiều Phương pháp mã hóa ảnh này giống như phương pháp mã hóa ảnh P, nhưng
khác nhau ở chỗ là mỗi Macroblock ảnh loại B sẽ tìm ra các Macroblock giống
nhau của các pixel trong 2 ảnh trước và sau Mỗi MB nhận được 2 vector chuyển
động , dẫn đến dự báo ảnh tốt hơn và cho hệ số nén cao nhất Song quá trình mã
hóa và giải mã ảnh B phức tạp hơn, cần nhiều bộ nhớ và thời gian cho mã hóa,
giải mã hơn là ảnh P
1.1.4 Dòng cơ sở và dòng cơ sở đóng gói
a Dòng cơ sở
Đầu tiên, tín hiệu Video số (theo chuẩn CCIR - 601) sau khi nén MPEG-2
có dạng dòng dữ liệu cơ sở ES (Elementary Stream) ES có chiều dài vô tận và
chứa các thông tin cần thiết để khôi phục lại ảnh ban đầu Còn tín hiệu Audio số
với chuẩn lấy mẫu AES/EBU (fs = 48 Khz, 24 bit/mẫu, tốc độ = 1152 Kbit/s) sau
khi nén ở dạng dòng cơ sở audio ES Dòng cơ sở ES là dòng đầu ra thô của bộ mã
hóa
Dòng MPEG-2 trong kênh truyền hình truyền thống là sự kết hợp của 3
yếu tố: dòng cơ sở Audio, dòng cơ sở Video, các dữ liệu Teletext, …
Với những kênh quảng bá truyền hình tương lai không những là sự kết
hợp của ba yếu tố trên mà còn là sự kết hợp của nhiều dòng sơ sở (ES) khác
b Dòng cơ sở đóng gói PES (Packetized elementary stream)
Đó là các dòng cơ sở (ES) Video và Audio được đóng gói lại tạo thành các
PES Video và Audio tương ứng, với độ dài của mỗi gói thay đổi
Mỗi gói tín hiệu video gồm dữ liệu là ảnh đã được nén, chiều dài tối đa
của mỗi gói là: 216 – 1 = 65536 byte Mỗi PES bắt đầu là các bit mào đầu (header)
có chiều dài cố định là 6 bytes Ở đó 3 bytes đầu tiên chỉ bắt đầu của PES, byte
tiếp theo để đánh dấu thông tin Video hay Audio, và 2 bytes còn lại chỉ chiều dài
gói
1.1.5 Dòng chương trình và dòng truyền tải
a Dòng chương trình (PS – Program Stream)
Trang 17Khi các PES của Video, Audio, và của các dữ liệu khác được ghép kênh
với nhau sẽ tạo ra dòng chương trình PS nhờ bộ quét thời gian thực và xung chuẩn
đồng hồ chương trình PCR (Program Clock Reference) Dòng chương trình cũng
bắt đầu là một header và có độ dài thay đổi Nếu độ dài của dòng chương trình lớn
thì lỗi xảy ra khi nó truyền trong môi trường tự do là lớn Có hai nguyên nhân gây
ra lỗi đó là: Thứ nhất, dòng chương trình là sự kết hợp liên tục của các PES có
chiều dài thay đổi, mà mỗi PES bắt đầu bằng một header, vì vậy chỉ cần lỗi xảy ra
trong header của PES có thể làm mất thông tin của toàn bộ gói Việc mất thông tin
của một PES có thể làm mất thông tin của toàn bộ khung video Thứ hai, do sự
thay đổi chiều dài gói dẫn đến bộ giải mã không thể dự đoán khi nào gói chấm dứt
và một gói mới bắt đầu Thay vào đó, bộ giải mã phải đọc và chỉ ra thông tin về
độ dài gói có trong header Nếu trường độ dài gói bị lỗi thì bộ giải mã sẽ mất
đồng bộ với dòng truyền, kết quả ít nhất một gói bị mất mát Nói chung dòng
chương trình chỉ được thiết kế trong môi trường truyền không có tạp nhiễu và lỗi
b Dòng truyền tải (TS – Transport Stream)
TS được định dạng cho dữ liệu truyền trên khoảng cách dài, và truyền dữ
liệu ở môi trường có can nhiễu Dòng truyền tải (TS) là kết quả của sự chia nhỏ
các gói PES thành các gói có chiều dài cố định 188 bytes, ở đó các chương trình
được ghép lại với các xung nhịp khác nhau Điều này dễ dàng thực hiện đuợc vì
dòng truyền tải được gắn với chuẩn đồng hồ chương trình (PCR) và xung nhịp gốc
(OPCR) TS sử dụng các gói ngắn có độ dài không đổi làm cho nó có khả năng
chống lỗi cao hơn với dòng chương trình PS
Tại mỗi dòng truyền tải đơn chương trình (SPTS) sẽ gắn với đồng hồ
chương trình giúp bộ giải mã tái tạo cả Audio và Video Trong mỗi dòng truyền
tải, các chương trình khác nhau bắt buộc phải được đồng bộ với nhau Khi đó
dòng truyền tải phải cung cấp tín hiệu đồng bộ riêng biệt cho mỗi chương trình
Nếu trong dòng truyền tải có n chương trình thì cần n bộ PCR (PCR1 … PCRn),
ngoài ra cần chứa thêm dữ liệu để tái tạo xung clock giống như ở nguồn phát để
đồng bộ giữa nơi phát và nơi thu
Về cấu trúc của dòng truyền tải TS: Gồm nhiều gói truyền tải, mỗi gói có
chiều dài cố định 188 bytes Ở đó, 4 bytes đầu dành cho phần header và 184 bytes
thông tin có ích (Payload) cần truyền
Trang 18Trong phần header của TS chứa: byte đồng bộ (sync byte), thông tin phát
hiện lỗi truyền tải (Transport error indicator), thông tin chỉ đơn vị bắt đầu phần
Payload (payload unit start indicator), thứ tự ưu tiên (transport priority), chỉ số
nhận dạng gói (PID), vùng điều khiển xáo trộn truyền tải (transport scambling
control), thông tin điều khiển trường thích nghi (adaptation field control), thông
tin đếm số dòng truyền tải (TS) trong cùng một PES (continuity counter), trường
thích nghi (Adaptation field)
Mỗi gói PES không thể phân chia dữ liệu của nó một cách chính xác vào
một số nguyên gói TS Thông thường không đủ số liệu để lấp đầy vào payload của
gói TS cuối cùng để tạo thành một gói có độ dài 188 byte, do vậy người ta phải
thêm phần adaptation field với độ dài thích hợp Vì thế trong cấu trúc gói truyền
tải MPEG-2 có dạng như sau:
Hình 1.3 Cấu trúc gói TS
1.2 Giới thiệu truyền hình số phát sóng mặt đất (DVB – T)
Truyền hình số mặt đất theo chuẩn DVB-T là một trong những thành viên
thuộc họ các quảng bá Video số DVB ( Digital Video Broatcasting) Sự ra đời
của DVB-T là điều tất yếu tại Việt Nam do nó phù hợp với địa hình và được thừa
hưởng toàn bộ mạng lưới truyền hình kỹ thuật tương tự mà không cần phải đầu tư
nhiều cơ sở hạ tầng Quá trình chuyển đổi hoàn toàn từ truyền hình mặt đất tương
tự sang số sẽ diễn ra trong khoảng 10 năm tới Đồng thời DVB-T có lợi thế là có
sẵn hai dải tần phát sóng quen thuộc: VHF và UHF cùng với hàng loạt các tháp
truyền hình lớn nhỏ trên cả nước DVB-T với các ưu điểm như cho chất lượng tín
hiệu tốt, chi phí thấp, số kênh trong một tần số tăng, phù hợp cho việc thu di
động, ngoài ra còn hứa hẹn cho lĩnh vực phát thanh kỹ thuật số và có khả năng
thay thế mạng phát thanh tương tự đang dùng DVB-T ra đời cũng là một yếu tố
Trang 19cần thiết để thực hiện việc triển khai truyền hình số có độ phân giải cao (HDTV)
sau này
Hệ thống truyền hình số mặt đất được thiết kế cho băng thông 6, 7 và 8
MHz và hoạt động trong phổ tần VHF và UHF Trong đó tiến trình xử lý dòng dữ
liệu MPEG-2 trong hệ thống DVB-T trải qua các giai đoạn sau:
• Chuyển đổi và ngẫu nhiên hóa dòng dữ liệu để trải đều phổ năng lượng
• Mã hóa ngoài (dùng mã Reed Solomon)
• Tráo ngoài (tráo xoắn)
• Mã hóa trong (mã xoắn xen kẽ)
• Tráo trong
• Ánh xạ và điều biến
• Tuyền dẫn OFDM
• Đổi tần và khuếch đại phát sóng
a) Chuyển đổi và ngẫu nhiên hóa dòng dữ liệu
Dòng truyền tải MPEG-2 trước khi đưa vào kênh truyền dẫn nó được xáo
trộn một cách ngẫu nhiên để luồng bit này có năng lượng trải đều và đảm bảo tính
thông suốt Việc xáo trộn các bit nhị phân có độ dài 188 byte được thực hiện bằng
một đa thức để tạo chuỗi nhị phân giả ngẫu nhiên PRBS, đó là:
G(x) = 1 + x14 + x15 Kết hợp giữa chuỗi dữ liệu đầu vào và chuỗi nhị phân giả ngẫu nhiên được
tạo ra từ đa thức sinh G(x) sẽ cho ra dòng dữ liệu được xáo trộn
Như vậy mục đích chính của mạch ngẫu nhiên hóa là tạo chuỗi dữ liệu giả
ngẫu nhiên trước khi đưa vào bộ mã hóa và điều chế để tránh việc phân bổ năng
lượng không đều, có thể gây nhiễu hệ thống phát tương tự
b) Mã hóa ngoài và tráo ngoài
Mã ngoài
Trang 20dụng cho gói truyền tải ngẫu nhiên 188 byte Với cấu trúc như trên thì độ dài từ
mã là 204 byte, trong đó 188 byte dữ liệu, còn 8 byte dùng để sửa lỗi ngẫu nhiên
trong mỗi từ mã 204 byte thu được
Tráo ngoài
Mục đích của tráo dữ liệu nhằm xé nhỏ các nhóm lỗi bit dài, liên tục có
thể xảy ra tại đầu thu của bộ giải mã ngoài Cụ thể là, những nhóm bit dài xảy ra
trên đường truyền bị phân tán thành các lỗi bit đơn hay các nhóm lỗi bit ngắn Do
vậy nó làm cho hiệu quả của bộ mã ngoài được tăng thêm Trên thực tế, tráo dữ
liệu chỉ là quá trình sắp xếp lại dữ liệu tại đầu phát theo một quy luật nhất định
Tráo dữ liệu không làm tăng dung lượng bit trên đường truyền
c) Mã hóa trong và tráo trong
Mã hóa trong
Mã hóa trong được thực hiện bởi các mã xoắn
Tráo trong
Quá trình tráo trong gồm quá trình tráo theo bit rồi sau đó tráo theo
symbol Cả hai quá trình này đều dựa trên hai khối cơ bản
Tráo theo bit
Đầu vào dữ liệu chứa tới 2 dòng bit và được phân kênh thành v dòng phụ,
trong đó: v = 2 với chuẩn QPSK, v = 4 với chuẩn 16 – QAM, v = 6 với chuẩn 64 –
QAM Trong chế độ không phân cấp, dòng dầu vào đơn được phân kênh thành v
dòng phụ Còn trong chế độ phân cấp thì dòng ưu tiên cao được phân thành 2
dòng phụ và dòng ưu tiên thấp được phân thành v dòng phụ Việc phân kênh được
xác định như một sự ánh xạ của những bit đầu vào ánh xạ lên bit đầu ra
Tráo dữ liệu theo symbol
Mục đích của bộ tráo symbol là để ánh xạ các từ v bit lên 1512 sóng mang
tích cực trên mỗi symbol OFDM ở chế độ 2K và 6048 sóng mang ở chế độ 8K Bộ
tráo symbol hoạt động dựa trên 1512 khối symbol dữ liệu (với chế độ 2K) hay
6048 (cho chế độ 8K)
d) Ánh xạ và điều biến
Ta thấy trong hệ thống truyền hình số mặt đất sử dụng phương pháp điều
chế OFDM, nên tất cả các sóng mang dữ liệu trong một khung OFDM được điều
Trang 21chế bằng cách sử dụng các chòm sao QPSK, 16 – QAM, 64 – QAM Dùng
phương pháp ánh xạ Gray để thực hiện việc tham chiếu các sóng mang lên các
điểm trên đồ thị chòm sao
e) Truyền dẫn OFDM
Do hệ thống DVB-T hoạt động trong phổ tần VHF và UHF của hệ thống
truyền hình tương tự nên nó cần có khả năng chống nhiễu kênh chung và nhiễu
kênh lân cận của các dịch vụ PAL/ NTSC đã và đang tồn tại Mặt khác do tín hiệu
truyền ngoài không gian nên không tránh khỏi sự phản xạ và khúc xạ của tín hiệu,
…Đó là nguyên nhân làm méo tín hiệu truyền và xảy ra hiệu ứng nhiễu đa đường,
… Khắc phục việc này, người ta truyền tín hiệu trên mạng đơn tần (SFN) Để
tránh các hiện tượng trên cũng như đạt được kết quả mong muốn, phương pháp
điều chế OFDM (ghép kênh phân chia theo tần số trực giao) được lựa chọn cho
việc điều chế tín hiệu truyền hình số mặt đất
OFDM về nguyên tắc là điều chế một số lượng lớn các sóng mang, cách
đều nhau về tần số Tốc độ symbol của mỗi sóng mang thấp hơn nhiều lần so với
tốc độ symbol nếu sử dụng hệ thống một sóng mang trong khi vẫn giữ nguyên tốc
độ của toàn hệ thống Dữ liệu được phân bố trên các sóng mang, mỗi sóng mang
lại được xử lý tại một thời điểm thích hợp và được gọi là một “OFDM symbol”
Ta có sơ đồ điều chế OFDM như sau:
Trang 22song song
Điều chế (QPSK,
16 – QAM , )
IFFT
Song song/ nối tiếp
Chèn khoảng bảo vệ
Song song/ nối tiếp
Mạch lọc FIR, cộng
đa đường (add multipath )
Nhiễu GAUSS cộng
Cắt công suất đỉnh
Tách khoảng bảo vệ
Chuyển đổi nối tiếp/
song song
FFT
Giải điều chế
Song song/
nối tiếp
Chuỗi dữ liệu nối tiếp
Tín hiệu truyền OFDM
Bộ truyền OFDM
Bộ nhận OFDM
Mô hình kênh truyền
Hình 1.4 Sơ đồ khối hệ thống OFDM Các tín hiệu OFDM bao gồm rất nhiều các sóng mang con được điều chế
bằng QPSK hay QAM Các sóng mang được sử dụng vuông pha với nhau (hay gọi
là trực giao) Trong mỗi symbol được tạo ra sau điều chế, chúng ta truyền sóng
mang với biên độ và pha xác định Biên độ và pha này lựa chọn theo đồ thị chòm
sao tương ứng với từng phương pháp điều chế Lượng bit thông tin mà mỗi
symbol vận chuyển bằng loga cơ số 2 của số trạng thái khác nhau trong đồ thị
chòm sao
Các symbol OFDM được tạo ra từ phép biến đổi ngược Fourier rời rạc
(IDFT) hoặc sử dụng thuật toán nhanh hơn là biến đổi IFFT (biến đổi Fourier
nhanh rời rạc) Cụ thể xét cách thức tạo symbol OFDM nhờ thuật toán IFFT:
Nếu gọi di là các symbol quang phức hợp, NS là số sóng mang con, T là
khoảng thời gian của một symbol và fC là tần số sóng mang Khi đó symbol
OFDM được cho bởi:
S(t) = ∑−
=
1 2 2 /
S
S
N
N i i
d +
2
S N
Trang 23S(t) = 0 với t < tS hoặc t > tS + T
Trong truyền dẫn số mặt đất, để tránh hiệu ứng đa đường thì các symbol
OFDM trước khi được truyền đi phải chèn thêm các khoảng bảo vệ Tg (Guard
Interval) Tg không được sử dụng trong kênh truyền, nếu Tg càng lớn thì sẽ làm
giảm dung lượng kênh truyền, vì vậy phải chọn Tg cho phù hợp
Do phương pháp OFDM điều chế nhiều sóng mang trực giao nên phổ của
OFDM có dạng như hình vẽ Ở đó phổ của từng sóng mang điều chế có dạng hàm
Sinc (hàm sinx/x)
Hình 1.5 OFDM và nguyên lý trực giao
Từ hình vẽ ta thấy phổ OFDM đáp ứng được tiêu chuẩn Nyquist về sự can
nhiễu giữa các symbol (ISI) Ở đây, dạng xung được đưa ra trong miền tần số chứ
không phải trong miền thời gian Vì vậy có thể tránh khỏi can nhiễu giữa các sóng
mang (ICI)
Trong quá trình truyền dẫn, mặc dù đã giảm tối thiểu hiệu ứng đa đường,
song nó vẫn xuất hiện trên đường truyền Kết quả là tín hiệu khi đi đến nơi thu bị
suy giảm hay bị triệt tiêu do sóng tới và sóng phản xạ ngược nhau, triệt tiêu nhau
Trong trường hợp này người ta gọi là can nhiễu có hại Ngược lại, nếu sóng phản
xạ và sóng tới đồng pha thì biên độ tín hiệu tổng hợp tăng lên Cuối cùng tại đầu
thu mức trung bình của tín hiệu được cộng thêm 3dB Can nhiễu này gọi là can
nhiễu có ích
Trang 24Sau khi tạo được các symbol OFDM, quá trình tạo khung OFDM được
thực hiện trước khi truyền đi Mỗi khung bao gồm 68 symbol OFDM, 4 khung tạo
thành một siêu khung 8 siêu khung trong chế độ 2K hoặc 2 siêu khung trong chế
độ 8K tạo thành một Mega – frame
Với DVB-T sử dụng phương pháp OFDM nhưng có mã hóa, nên gọi là
phương pháp COFDM (OFDM có mã hóa), và nó có hai chế độ vận hành là chế
độ 2K và 8K
• Chế độ 2K: phù hợp với việc vận hành máy phát đơn và mạng
đơn tần diện hẹp với khoảng cách máy phát giới hạn, với số sóng mang là 2048
• Chế độ 8K: có thể được sử dụng cho cả hai loại vận hành máy
phát riêng lẻ hay cho mạng đơn tần diện hẹp và diện rộng, với số sóng mang là 8192 Khoảng cách các máy phát trong mạng SFN
có thể lên tới 60 km hay 100 km
Nhờ sử dụng phương pháp OFDM mà trong hệ thống OFDM tránh khỏi
các hiện tượng nhiễu giữa các symbol và giữa các sóng mang, …tạo điều kiện cho
quá trình khôi phục lại dữ liệu tại đầu thu không bị suy giảm
Kết luận chương I:
Để hiểu hết và trình bày đầy đủ về nén Video số là một vấn đề rất khó, phải
đòi hỏi thời gian nghiên cứu dài Mà trong khóa luận này, mục đích chủ yếu là
nghiên cứu, đánh giá chất lượng hệ thống DVB-T nên chỉ phân tích tổng quát
chuẩn nén MPEG-2 Nén MPEG-2 là quá trình loại bỏ các thông tin dư thừa tồn
tại trong ảnh nhưng vẫn đảm bảo chất lượng ảnh sau khi khôi phục MPEG-2 sử
dụng 2 phương pháp nén: nén trong ảnh và nén liên ảnh với các thuật toán DCT,
DPCM và bù chuyển động
Về truyền hình số phát sóng mặt đất DVB-T là hệ thống bao gồm các quá
trình xáo trộn, mã hóa, điều chế, và ghép kênh tín hiệu, …rồi khuếch đại cao tần
(RF) và đưa ra anten phát với hai dải tần UHF, VHF
Trang 25CHƯƠNG II CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐO, ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG HỆ
THỐNG TRUYỀN HÌNH SỐ MẶT ĐẤT
Sự ra đời của hệ thống truyền hình số phát sóng mặt đất DVB-T luôn đòi
hỏi các nhà cung cấp dịch vụ phải đảm bảo chất lượng tốt nhất tới người xem
truyền hình Từ đó yêu cầu về kiểm tra hệ thống được đặt ra cấp bách đối với
ngành Truyền hình là phải đưa ra các chuẩn đánh giá chung nhất cho hệ thống
truyền hình số nói chung và truyền hình số DVB-T nói riêng Quá trình kiểm tra,
đánh giá hệ thống DVB-T có thể được phân chia thành 3 phần chính sau:
• Đo, đánh giá chất lượng hình ảnh
• Kiểm tra các thông số dòng truyền tải MPEG (chất lượng Video sau nén MPEG-2)
• Đo, đánh giá chất lượng hệ thống truyền dẫn số mặt đất
Hình 2.1 Phân chia lớp để phân tích theo định dạng tín hiệu
Trang 262.1 Đo – đánh giá chất lượng hình ảnh
Do hình ảnh là biểu hiện chất lượng của hệ thống nên ta có thể đánh giá
chất lượng hệ thống thông qua việc đánh giá chất lượng hình ảnh Việc đánh giá
chất lượng hình ảnh này không cần phải thực hiện kiểm tra xuyên suốt hệ thống
mà có thể xem xét đánh giá ở hai đầu hệ thống thông qua các phép đo: trực tiếp,
gián tiếp, khách quan hay chủ quan Ở đó:
Phép đo trực tiếp: là phép đo được thực hiện bằng cách sử dụng các hình
ảnh chuẩn (hay chính là các thông tin của chương trình khi đang cung cấp
dịch vụ và các chuỗi ảnh được định trước khi không cung cấp dịch vụ)
Phép đo gián tiếp: Là phép đo sử dụng tín hiệu để kiểm tra, tín hiệu này có
cùng trạng thái với tín hiệu hình ảnh Việc kiểm tra được thực hiện bằng
máy kiểm tra chuyên dụng Tín hiệu thử này được chèn trong khoảng xoá
mành khi có cung cấp dịch vụ, còn khi không cung cấp dịch vụ thì sử dụng
tín hiệu thử trong tất cả các dòng
Phép đánh giá chủ quan: Là phép đo được các chuyên gia đánh giá bằng
quan sát bằng mắt để đánh giá chất lượng Video, đây là hình thức đánh giá
rất quan trọng đối với hệ thống truyền hình
Phép đánh giá khách quan: Là phép đo thực hiện bằng máy móc, thiết bị
Kết quả của phép đo này là một chỉ số về hình ảnh giảm chất lượng như thế
nào so với ảnh chuẩn, từ đó tìm cách khắc phục
Đối với các hệ thống truyền hình số nói chung và hệ thống truyền hình số
mặt đất theo tiêu chuẩn DVB-T nói riêng, thì việc số hóa hoàn toàn hệ thống còn
là vấn đề lâu dài và phức tạp, mà sự phát triển công nghệ số vẫn trên con đường
phát triển và đang song hành với công nghệ tương tự đã ở Việt Nam Do vậy việc
đo – đánh giá chất lượng hệ thống truyền hình số mặt đất cần có sự kết hợp giữa
phép đo - kiểm tra trong truyền hình tương tự và phép đo - kiểm tra truyền hình
số
2.1.1 Đo - đánh giá trong hệ thống tương tự
2.1.1.1 Phép đánh giá chủ quan
Đánh giá chủ quan vẫn là một phương pháp được sử dụng phổ biến nhưng
không thể xác nhận đầy đủ các thông số chất lượng ảnh, nhất là đối với ảnh
Trang 27chuyển động Để đánh giá một cách chính xác nhất về chất lượng ảnh thì người
đánh giá phải là các nhà chuyên môn với điều kiện cho quá trình đánh giá là:
+ Đảm bảo đủ độ sáng, độ tương phản của hình ảnh
+ Độ chiếu sáng trong phòng, màu ánh sáng và góc nhìn
+ Tỉ số khoảng cách giữa người quan sát đến màn hình với chiều cao ảnh
phải phù hợp, cụ thể:
• Hệ 625/50 Hz là: 6
• Hệ 525/60Hz là: 4÷6 + Có phương pháp chia thang để cho điểm tuỳ theo người quan sát
+ Những điều kiện chuẩn: những cảnh thử, thời lượng để quan sát cảnh
thử, đặc tính của những cảnh thử, và sự phân tích các kết quả ghi điểm
Sự lựa chọn các tham số trên ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả của việc
đánh giá, đòi hỏi những điều kiện khắt khe, phức tạp và tốn kém
Quá trình đánh giá theo cách chủ quan được mô tả trong ITU – R BT.500,
theo cách thức: Người được lựa chọn phải quan sát trong khoảng thời gian không
nhỏ hơn 10 phút và quan sát nhiều lần, sau đó mỗi người đánh giá ghi lại kết quả
rồi tính trung bình Sử dụng thang đánh giá chất lượng: thang chất lượng 5 bậc và
thang không chất lượng 5 bậc (đây là phép thang đo tương đối):
Hình 2.2 Thang đo chất lượng và không chất lượng 5 bậc Với hệ thống truyền hình số ngày nay, các tín hiệu số được biến đổi từ tín
hiệu tương tự theo tiêu chuẩn lấy mẫu Rec ITU – R – BT 601, nên với các mục
đích kiểm tra thì việc kiểm tra các đặc trưng tín hiệu tương tự vẫn là vấn đề chính
2.1.1.2 Phép đánh giá khách quan
Trang 28ba tín hiệu màu cơ bản R, G, B) Chính các bộ biến đổi ADC tại nơi phát và bộ
DAC tại nơi thu gây giảm chất lượng trên tín hiệu tương tự PAL Việc đo - kiểm
tra thông số của tín hiệu tương tự được thực hiện qua dạng sóng tương tự, nên áp
dụng phép đo khách quan là cách đo tốt nhất để xác định chất lượng hình ảnh cho
những hệ thống không bị nén Các tín hiệu chuẩn được thiết kế nhằm mục đích
đánh giá chất lượng của hệ thống Do tín hiệu cần đánh giá là tín hiệu dạng tương
tự nên các thông số : sự méo tín hiệu, tạp nhiễu, sự thay đổi về tần số và biên độ
tín hiệu, và độ bất ổn định về vị trí xung (Jitter) của tín hiệu chuẩn ở đầu ra hệ
thống thì có thể đưa ra kết luận về chất lượng hệ thống
a) Đo - kiểm tra méo tín hiệu
Méo tín hiệu là hiện tượng tín hiệu bị biến dạng do hệ thống hoặc do
những phần tử của hệ thống không có không có khả năng tái tạo lại một cách
chính xác ở đầu ra các tín hiệu đã được đưa tới đầu vào Méo tín hiệu có thể chia
thành 2 loại chính sau:
• Méo tuyến tính
• Méo phi tuyến tính
Méo tuyến tính (Linear Distortion)
Méo tuyến tính là loại méo không phụ thuộc vào mức trung bình cũng như
biên độ tức thời của tín hiệu, mà nó thường là kết quả của sai lệch về đáp tuyến
tần số Khi thành phần tần cao và thành phần tần thấp được tác động bởi hệ thống
một cách khác nhau, méo tuyến tính thường có khả năng xuất hiện, đồng thời méo
tuyến tính cũng còn có thể gây nên bởi các yếu tố bên ngoài Méo tuyến tính được
chia thành 6 loại:
• Méo tuyến tính tín hiệu chói
• Méo tuyến tính tín hiệu màu
• Mất cân bằng chói màu
Trang 29Đây là loại méo phụ thuộc vào biên độ của tín hiệu, tức là phụ thuộc vào
cả mức trung bình và cả biên độ tức thời của tín hiệu Thông thường là do các
mạch khuếch đại hay các bộ lọc không lý tưởng, … (nói chung là do đặc tính kênh
không tuyến tính) Đặc biệt với các tín hiệu có biên độ lớn thì hiện tượng phi
tuyến không thể bỏ qua được Méo tuyến tính còn được biểu hiện dưới dạng
xuyên kênh (cross – talk ) hoặc xuyên điều chế giữa thành phần tín hiệu chói và
tín hiệu màu
Méo phi tuyến tính được chia thành 3 loại méo chính:
• Méo phi tuyến tính tín hiệu chói
• Méo phi tuyến tính tín hiệu màu
• Quan hệ tương tác giữa chói và màu
Về phương pháp đo các tín hiệu bị méo này dựa trên các tín hiệu kiểm tra,
kết quả sự biến dạng của tín hiệu kiểm tra sẽ xác định được đặc tính kênh truyền
hoặc đặc tính của quá trình xử lý tín hiệu Video Người ta tận dụng những khoảng
trống như trong thời gian xóa mành hoặc ở tất cả các dòng Video tích cực để chèn
các tín hiệu kiểm tra Các tín hiệu kiểm tra được quy định thành chuẩn quốc tế, cụ
thể đối với hệ PAL là tín hiệu VITS (Vertical Insertion Test Signals)
Trong khoảng thời gian xóa mành có 25 dòng hình, ở đó chứa các dòng
làm xung cân bằng và đồng bộ mành, các dòng còn lại dành cho mục đích kiểm
tra, truyền dữ liệu và các tín hiệu phụ:
• Dòng 16, 329: dùng truyền data
• Dòng 17, 18, 330, 331, …: tín hiệu VITS
• Dòng 19, 20, 21, 334: dòng kiểm tra cục bộ
• Dòng 22: đo nhiễuCác VITS dùng để đo - kiểm tra các thông số chất lượng của kênh truyền
tín hiệu truyền hình bao gồm nhiều thành phần tín hiệu, mỗi thành phần tín hiệu
lại sử dụng cho các phép đo khác nhau, cho mục đích đánh giá sự méo của tín
hiệu hay méo của hệ thống, nói chung nó đáp ứng được tất cả các đặc trưng của
tín hiệu video Các tín hiệu VITS khi đi qua hệ thống thiết bị truyền dẫn và phát
Trang 30đo được so sánh với thang đo chất lượng được chuẩn hóa và quy định trước Từ
đó đưa ra kết luận về chất lượng của hệ thống Việc đo, kiểm tra này được thực
hiện ngay trong quá trình phát sóng chương trình truyền hình
Tín hiệu VITS dòng 17 Tín hiệu VITS dòng 18
Tín hiệu VITS dòng 330 Tín hiệu VITS dòng 331
Hình 2.3 Các tín hiệu chuẩn VITS
b) Đo - kiểm tra nhiễu
Tạp nhiễu (noise) là những tín hiệu điện tồn tại ngoài ý muốn đồng thời
với các tín hiệu có ích trong quá trình truyền sóng hoặc trong bản thân các thiết
bị, mạch điện tử và bao gồm các xung không đồng đều, có độ rộng khác nhau và
biên độ khác nhau Tạp nhiễu được chia thành 4 loại cơ bản:
• Tạp nhiễu trắng (White noise): Đây là loại tạp nhiễu hay gặp, nó
được sinh ra trong các linh kiện điện tử, nó bao gồm: tạp nhiễu có phân bố GAUSS, tạp nhiễu có phân bố Laplace, và phân bố đều
• Tạp nhiễu tần thấp
• Tạp nhiễu có chu kỳ
Trang 31• Tạp nhiễu bất thường
Với các hệ thống Audio, tạp nhiễu thường là những âm tần gây ồn, méo
tín hiệu âm thanh gốc, được gọi là những tạp âm
Với hệ thống Video mà chúng ta cần kiểm tra thì tạp nhiễu làm sai lệch,
thêm, bớt những chi tiết của hình ảnh
Để đo - đánh giá các tạp nhiễu ảnh hưởng tới chất lượng ảnh, người ta đo
tỷ số tín hiệu trên tạp nhiễu (S/N)
S/N = 20lg
hd
d U
U
[dB]
Ud: giá trị đỉnh của tín hiệu
Uhd: giá trị hiệu dụng của nhiễu
Về căn bản, tín hiệu Video được biến đổi từ tương tự sang số Chất lượng
của tín hiệu Video số sau nén chịu sự ảnh hưởng của tín hiệu đầu vào khi thực
hiện lượng tử hóa Do vậy đánh giá chất lượng tín hiệu Video tương tự là điều rất
cần thiết trong hệ thống truyền hình số theo tiêu chuẩn DVB nói chung và phải
được hoàn thiện trong các bộ nén
2.1.2 Đo – đánh giá trong hệ thống số
2.1.2.1 Phép đo chủ quan
Cũng giống như đo chủ quan trong hệ thống tương tự, việc đo chủ quan
trong hệ thống số là quá trình quan sát bằng mắt để đưa ra đánh giá chất lượng
Video Việc đo chất lượng Video của hệ thống truyền hình số có nén phức tạp hơn
nhiều so với đo video số không nén Bởi vì trong hệ thống truyền hình số, các quá
trình nén được kết hợp chặt chẽ thì chất lượng hình ảnh không phải là một hằng
số theo thời gian mà chất lượng hình ảnh là một hàm phức tạp của thông tin
chương trình Tín hiệu Video đã bị thay đổi rất nhiều do quá trình xử lý số hóa,
lấy mẫu, lượng tử hóa và sử dụng các thuật toán nén, dẫn đến chất lượng hình ảnh
cũng bị thay đổi Thêm vào đó là sự xuất hiện những loại méo mới, tạp nhiễu mới
phức tạp hơn, đòi hỏi phương pháp đo – đánh giá mới và khác so với công nghệ
tương tự
Trang 32điều kiện quan sát, người quan sát, phương pháp chia thang độ đánh giá, các điều
kiện chuẩn, nguồn tín hiệu ảnh kiểm tra, phân thời gian biểu diễn các ảnh kiểm tra
khác nhau, chọn phạm vi ảnh kiểm tra, phân tích kết quả, …
Đánh giá chủ quan trong hệ thống số cần phải sử dụng những cảnh tự
nhiên hoặc tương đương, phức tạp hơn nhiều so với tín hiệu kiểm tra truyền thống
để có thể nhấn mạnh được những khả năng của quá trình mã hóa và giải mã
Phương thức đo này tuỳ thuộc vào rất nhiều yếu tố và không đáp ứng được cho
một số lượng khổng lồ các kênh truyền hình hoạt động trên toàn thế giới, khó mở
rộng để đo méo trong phạm vi rộng hơn, và mức độ phức tạp gây tốn thời gian
2.1.2.2 Phép đánh giá khách quan
Do sự phức tạp của hệ thống truyền hình số cũng như yêu cầu về độ tương
thích đánh giá chất lượng video giữa sử dụng phép đo chủ quan và phép đo khách
quan nên một hệ thống đo khách quan bất kỳ phải tương đối tốt và chính xác
Phép đo khách quan không kiểm tra chất lượng hình ảnh bằng quan quan sát trực
tiếp, nhưng lại cho một chỉ thị về hình ảnh giảm chất lượng như thế nào so với
ảnh chuẩn Nhờ sự so sánh này sẽ phát hiện ra yếu tố về chất lượng chương trình
từ các phép đo Phép đo khách quan được chia thành hai phương pháp:
Tách những điểm đặc trưng của ảnh và so sánh sự khác nhau:
Dùng phương pháp tách những đặc trưng của một ảnh đơn (đặc trưng về
không gian) hoặc một chuỗi ảnh (đặc trưng về mặt thời gian) Việc này thường
cho kết quả số lượng dữ liệu ảnh (khoảng vài trăm byte) ít hơn rất nhiều so với
việc sử dụng cả hình ảnh đã bị nén Sau đó tính toán đặc trưng của ảnh chuẩn và
ảnh bị giảm chất lượng rồi so sánh để quyết định điểm cắt trên thang chất lượng
Ảnh nguồn
Ảnh đã
xử lý
So sánh đặc trưng
Hệ thống xử lý số liệu nén
Tách đặc trưng
Kết quả
Dữ liệu băng thông hẹp
Tách đặc trưng Vài trăm
byte
Hình 2.4 Phương pháp tách các đặc trưng
Trang 33Sử dụng toàn ảnh và so sánh vi sai giữa các điểm ảnh:
Sử dụng ma trận để tính toán vi sai ảnh trong từng ảnh hoặc chuỗi ảnh
Khi đó sự khác nhau giữa các điểm ảnh của phiên bản (version) gốc và các điểm
ảnh của ảnh bị suy giảm chất lượng được so sánh để xác định điểm chất lượng
khách quan Đôi khi sự khác nhau giữa ảnh chuẩn và ảnh giảm chất lượng sẽ được
so sánh, làm tròn Phương pháp này rất đơn giản và dễ thực hiện
Ảnh nguồn
Ảnh đã
xử lý
So sánh vi sai ảnh
Xử lý ảnh
Hệ thống xử lý số liệu nén
Xử lý ảnh
Kết quả
ảnh
Hình 2.5 Phương pháp so sánh vi sai các điểm ảnh
Trong hai phương pháp trên thì phương pháp tách đặc trưng (Feature
Extraction) tỏ ra lợi thế hơn với khả năng truyền các đặc trưng của ảnh chuẩn trên
cùng một kênh với ảnh đã được nén để cắt khách quan tại một vị trí xa Nhưng
theo đánh giá của hãng Tektronix và một số hãng khác thì phương pháp so sánh vi
sai các điểm ảnh cho kết quả phân tích khách quan có sự tương quan tốt hơn với
phương pháp chủ quan
Sự đánh giá chất lượng ảnh theo phương pháp vi sai là trừ 2 ảnh (ảnh
chuẩn và ảnh giảm chất lượng) với nhau mà không qua bất kỳ quá trình lọc hay xử
lý nào Nếu sự vi sai bằng 0 thì hai ảnh giống nhau, ngược lại nếu vi sai khác 0 thì
sự vi sai ảnh dựa vào các công thức tính thang đo chất lượng đã được chuẩn hóa
và sử dụng trong thực tế, được đưa ra bởi viện tiêu chuẩn quốc gia Mỹ (American
National Standards Institute) Những thang đo được đưa ra để đánh giá khách
quan chất lượng ảnh nén theo phương pháp vi sai, đó là:
• Sai số bình phương trung bình MSE (Mean Square Error)
• Tỷ số giữa tín hiệu đỉnh trên nhiễu PSNR (Peak Signal to Noise Ratio)
Trang 34Ngoài ra để đạt được hiệu quả đánh giá cao, người ta thường kết hợp với
thang đo dựa theo hệ thống nhìn của con người HVS (Human Visual System) và
sử dụng các chuẩn thang đo khác như:
• Thang đo dựa theo hệ thị giác
• Thang đo chất lượng được đưa ra bởi ITS
• Đo chất lượng video khách quan EPFL
• Thang đo ứng dụng hệ thống trực quan JND
2.1.2.3 Các thang đo chất lượng Video số
2.1.2.3.1 Thang đo méo MSE (sai số bình phương trung bình)
Thang đo này được ứng dụng trong thực tế để đánh giá chất lượng ảnh nén
khi có sự không đồng nhất giữa ảnh chuẩn và ảnh suy giảm và sự méo ảnh gây ra
bởi các nhiễu độc lập Ta thấy, các phương pháp nén và tỉ lệ nén khác nhau sẽ cho
chất lượng ảnh khác nhau với cùng một tín hiệu vào, nên cách thích hợp nhất để
đánh giá chất lượng là tính MSE Ở đó MSE được tính toán cho từng điểm ảnh
Nếu MSE càng lớn thì sự sai lệch giữa ảnh chuẩn và ảnh suy giảm càng lớn và
ngược lại Như vậy, với một hệ thống bị hạn chế, chỉ có sự thay đổi của tốc độ bit
thì MSE tăng kéo theo sự giảm chất lượng video Trong trường hợp này đánh giá
chất lượng ảnh theo MSE thì MSE càng nhỏ càng tốt
Ở đó x (i, j, k) và x (i, j, k) là các giá trị điểm chói tại vị trí i, j trong
khung hình k của ảnh chuẩn và ảnh bị suy giảm (ảnh méo)
K: Số khung ảnh (frame) có trong một chuỗi video
N×M: Số điểm ảnh trên một khung (frame)
Các tín hiệu méo trong trường hợp này là kết quả của quá trình nén/giải
nén chuỗi ảnh tạo ra Sau đây là ví dụ so sánh chất lượng giữa hai ảnh có MSE
khác nhau:
Trang 35Hình 2.6 So sánh chất lượng ảnh thông qua MSE Thấy rằng với ảnh có MSE nhỏ hơn thì cho ảnh sắc nét hơn, méo ít hơn
Tuy nhiên MSE só thể đưa ra các chỉ định sai về chất lượng hình ảnh Ví dụ, so
sánh hai ảnh cùng bị suy giảm:
• Ảnh có MSE = 27,10 bao gồm một lượng nhỏ nhiễu có phân bố ngẫu
nhiên được lượng tử hóa 5 mức
• Ảnh có MSE = 21,16 được cộng với hiệu ứng dạng khối và được
lượng tử hóa 2 mức, cho MSE thấp hơn
Nhưng theo quan sát chủ quan thì người ta nhận thấy ảnh có MSE cao hơn
lại là ảnh có suy giảm ít nhất, còn ảnh có MSE thấp hơn thì chất lượng giảm trầm
trọng
Ảnh gốc Ảnh bị hiệu ứng khối Ảnh bị nhiễu
(MSE = 21,16) (MSE = 27,10)
Trang 36Vậy MSE không phải là thông số đánh giá chất lượng hình ảnh chính xác
Mặc dù phương pháp này dựa vào khả năng tách các điểm đặc trưng ra để tính
toán, được đưa ra bởi ANSI (Viện tiêu chuẩn Quốc gia Mỹ), song kết quả là
không ứng dụng được do phụ thuộc vào công nghệ nén khi ảnh có nhiễu Nhiều
nghiên cứu cho rằng, để hướng tới sự không phụ thuộc vào công nghệ và có sự
tương quan tốt giữa phép đo khách quan và phép đo chủ quan thì cần phải có thiết
bị đo sự giảm chất lượng Video trong cùng một điều kiện giống như khi con
người quan sát Các phương pháp khách quan đánh giá sự suy giảm chất lượng
hình ảnh cần phải có quá trình lọc và quá trình xử lý giống như hệ thống nhìn của
con người (HVS – Human Visual System) Một mô hình như vậy sẽ cung cấp một
thước đo chất lượng hình ảnh không bị phụ thuộc vào lượng thông tin ảnh, kiểu
suy giảm chất lượng và công nghệ nén
2.1.2.3.2 Thang đo PSNR (Peak Signal to Noise Ratio)
Một trong những phép đo chất lượng tín hiệu phổ biến nhất là tỷ số tín
trên tạp (SNR – Signal Noise Ratio) Nhưng ảnh số là ảnh được biểu diễn dưới
dạng ma trận hai chiều, mà SNR chỉ dùng để đo hình ảnh dưới dạng một chiều Vì
vậy người ta sử dụng phép đo PSNR (tỷ số tín hiệu đỉnh trên tạp nhiễu) cho những
ảnh số Từ “đỉnh” ở đây có liên quan đến giá trị lớn nhất của một điểm ảnh PSNR
là phương pháp đánh chất lượng ảnh mã hóa và cho bởi công thức:
PSNR (dB) = 20 log10
MSE
V peak
Ở đây, Vpeak là điện áp đỉnh của một điểm ảnh Trong trường hợp với 8
bit trên một điểm ảnh (Pixel), thì Vpeak trong EQ 16 là: 28 – 1 = 255 Khi đó:
PSNR(dB) = 20 log10
MSE
255
Việc tính toán này dễ thực hiện và cho kết quả khá chính xác, song quá
trình tính toán chỉ dựa trên thông tin của điểm chói, còn khả năng nhìn của con
người lại dựa trên cả 2 thông tin: điểm chói và điểm màu Đó là lý do tại sao mà
phương pháp đánh giá này không tương quan với phương pháp đánh giá chủ quan
Do PSNR dùng cho đánh giá ảnh mã hóa nên nó phụ thuộc vào số bit dùng để mã
hóa, tốc độ bit truyền và đồng thời khi tính toán nó phụ thuộc vào các ảnh chuyển
động Từ công thức trên cho thấy, nếu PSNR càng lớn thì chất lượng ảnh đánh giá
Trang 37càng tốt PSNR không phải là cách đánh giá chất lượng hình ảnh chính xác nhất,
nhưng nó được sử dụng trong thực tế do dễ thực hiện và tính toán
Sau đây là ví dụ về ảnh có PSNR lớn cho chất lượng ảnh tốt hơn PSNR nhỏ
Hình 2.8 So sánh chất lượng giữa hai ảnh với PSNR khác nhau
2.1.2.3.3 Thang đo dựa theo hệ thị giác WSNR
Các phương pháp đánh giá chất lượng hình ảnh thông qua việc tính MSE
và PSNR đều không cho kết quả tốt Để tạo ra cách đánh giá chính xác thì phải
kết hợp với tham số đặc tính của hệ thị giác Từ đó người ta đưa ra cách tính tỷ số
tín hiệu trên tạp nhiễu có trọng số (WSNR – Weighted Signal Noise Ratio)
WSNR về cơ bản giống như PSNR nhưng nó tạo ra khả năng đánh giá theo một số
đặc tính của hệ thị giác con người thông qua hàm trọng số, và được tính theo công
l
P
σ
l
σ : biểu diễn giới hạn của độ chói
(PN)W là mật độ năng lượng của tạp nhiễu có trọng số, nó được định nghĩa
như một hàm của độ nhạy “mắt” trong khuyến cáo ITU – R.451 – 2
Hàm độ nhạy tương phản (Contrast Sensitivity Function) C(ω1,ω2) có các
đặc tính sau:
• Sự đáp ứng tần số của một hệ thống mô hình trực quan của con người
• Méo có trọng số đo với hàm độ nhạy tương phản
Xét sơ đồ:
Trang 38Ta thấy ảnh giải nén (Decompressd Image) là tổng hợp của ảnh gốc sau khi
truyền qua hàm truyền tuyến tính H(ω1,ω2) với nhiễu không tương quan D
(ω1,ω2) Khi đó WSNR còn được cho bởi công thức:
)2,1()2,1(
ω ω
ω ω
ωωωω
ωωωω
C D
C X
Hàm C(ω1,ω2) có phân bố theo ω1,ω2 như sau
Hình 2.9 Hàm độ nhạy tương phản
2.1.2.3.4 Thang đo chất lượng video ITS
Một phương pháp tiên tiến đánh giá chất lượng Video khác là ITS, nó
được đưa ra bởi viện khoa học viễn thông (Voran, 1991) Phương pháp này chia
hình ảnh Video thành thông tin không gian (SI) và thông tin thời gian (TI) và tính
lỗi trên từng khung SI được tính nhờ sử dụng bộ lọc Sobel và độ lệch chuẩn qua
các chiều không gian dòng và mành của mỗi khung (frame) Còn TI được tính
toán sự khác nhau về chuyển động trong mỗi điểm (pixel) giữa các khung (frame)
liên tiếp Toàn bộ méo không gian được tính dựa trên cơ sở của MSE Méo trong
miền thời gian được xác định bằng độ lệch xoắn và độ lệch chuẩn (Convolution
Trang 39and standard deviation), một phần về độ lệch cực đại giữa các khung liên tiếp và
một phần về độ lệch cực đại trên toàn chuỗi ảnh Cuối cùng, đánh giá chất lượng
ảnh được tính bằng tổng trọng số các hệ số SI và TI Thang đo này là sự kết hợp
các bộ lọc không gian và thời gian của các hình ảnh để đánh giá chất lượng, được
đưa bởi công thức:
sˆ = a0 – a1m1 – a2m2 … - anmn
ai: Là các hệ số tối ưu thông qua những đánh giá chủ quan
mi:Là các đại lượng đo méo không gian và méo thời gian, được xác định như trên
Trước đây phương pháp này chỉ xem xét thông tin về độ chói nhưng
Steven Wolf và Margaret Pinson đã phát triển phương pháp này đánh giá cho cả
thông tin chói và thông tin màu Phương pháp đầy đủ nhất được mô tả trong NTIA
Report 02 – 392 (Wolf, 2002) Mô hình này sử dụng một sự kết hợp tuyến tính
gồm 7 tham số Với 4 tham số dựa trên đặc tính tách từ các hướng (gradient)
không gian của thành phần chói Y, còn 2 tham số dựa vào đặc tính tách từ vector
hình thành bởi hai thành phần màu CB, CR, và một tham số khác dựa vào sự tương
phản và những đặc tính thông tin thời gian tuyệt đối, cả hai đều được tách ra từ
thành phần chói Y
2.1.2.3.5 Thang đo chất lượng video khách quan EPFL
Phương pháp này có 3 thang đo chất lượng, ở đây chỉ giới thiệu 2 thang
đo là: thang đo chất lượng ảnh động (MPQM – Moving Picture Quality Metric) và
thang đo MPQM màu (CMPQM – Color MPQM), đây là phương pháp xét trên cả
hai thông tin chói và màu Sự miêu tả đầy đủ nhất về phương pháp này được mô
tả trong (Branden, 1996), ở đây chỉ mô tả ngắn gọn phương pháp này
Thang đo chất lượng ảnh động MPQM đầu tiên sẽ phân tích chuỗi dữ liệu
gốc và một bản dữ liệu méo của nó vào các kênh xử lý theo giác quan của con
người, cụ thể cho qua bộ lọc Gabor Sẽ có 17 bộ lọc không gian và 2 bộ lọc thời
gian Từ đó tạo ra 34 thành phần hệ thống (giác quan) cho mỗi chuỗi ảnh Kế tiếp,
mẫu chỉ độ nhạy được mô hình hóa, nhờ sự đánh giá của một hàm độ nhạy tương
phản và một mô hình tính tổng tuyến tính của sự che lấp Điều này được tính cho
từng điểm ảnh của từng thành phần nhìn thấy (perceptual) của chuỗi ảnh lỗi Khi
đó dữ liệu được khôi phục lại qua các khối của chuỗi ảnh (sequence), từ đó tính
Trang 40Hình 2.10 Sơ đồ khối MPQMPhương pháp này cho kết quả đánh giá tốt hơn so với việc tính MSE và
PSNR do áp dụng cả mô hình dựa trên cơ sở những đặc tính của hệ thị giác
Nhưng nói chung giá thành rất cao, cho kết quả không khách quan do việc giới
hạn ngưỡng áp dụng Bằng việc lấy trung bình các số đo chất lượng của một vài
frame, chúng ta có thể thiết lập được một sự so sánh đáng tin cậy giữa việc mã
hóa và các quá trình truyền tải, nó phản ánh một cách hiệu quả chất lượng có tính
chủ quan của dãy dữ liệu Nhược điểm của phương pháp này là nó không xét đến
chất lượng mã hóa, mà chỉ xét đến chất lượng truyền
Ta thấy với các mô hình đo - kiểm tra được xây dựng theo nguyên tắc về
hệ thống nhìn của mắt người, nó phải căn cứ vào các đặc điểm của đặc tính nhìn
thấy của con người để mở rộng cho việc đánh giá chất lượng video đã mã hóa:
+ Sự đáp ứng của hệ thần kinh trong tầm nhìn thấy có giới hạn nhất
định Hệ thống nhìn của mắt người là tổ hợp các cơ chế hay những
bộ phát hiện mà ở đó chúng điều chỉnh sự cảm nhận của thị giác, mô
tả giới hạn liên quan tới tần số không gian, hướng không gian và tần
số thời gian Sự tương ứng của các kênh được mô tả như một bộ lọc
3 chiều
+ Ban đầu là quá trình xấp xỉ, các kênh có thể coi là độc lập với nhau
Sự nhận biết có thể được dự đoán từ kênh này tới kênh khác mà không cần sự tương tác nào
+ Độ nhạy của mắt người là một hàm của tần số và hướng Hàm độ
nhạy với độ tương phản (CSF) được chia nhỏ bằng kỹ thuật tách ngưỡng kích thích như một hàm của tần số