ĐÂY LÀ BÀI TỰ SOẠN :)).Theo các chuyên gia dân số và kinh tế, già hóa dân số là một trong những xu hướng có ý nghĩa nhất của thế kỷ 21, có tác động đến toàn bộ các khía cạnh của đời sống xã hội của thế giới và từng quốc gia. Chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước ta luôn coi con người là trung tâm của sự phát triển. Đảng ta đã khẳng định: Đi đôi với phát triển, tăng trưởng kinh tế phải quan tâm giải quyết tốt các vấn đề xã hội. Kinh tế phát triển là cơ sở, nguồn lực đảm bảo cho các chương trình xã hội, giáo dục, y tế, văn hoá phát triển. Song phát triển xã hội với nền giáo dục, y tế, văn hoá phát triển sẽ thúc đẩy kinh tế phát triển nhanh và bền vững.... Hiện nay, người cao tuổi trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng đang có xu hướng tăng nhanh. Đây là mối quan tâm chung của nhiều quốc gia. Riêng ở nước ta, bảo vệ và chăm sóc người cao tuổi không chỉ mang ý nghĩa kinh tế, chính trị, xã hội mà còn mang ý nghĩa nhân đạo sâu sắc thể hiện truyền trống uống nước nhớ nguồn, thương người như thể thương thân của dân tộc ta. Người cao tuổi là tầng lớp đã có nhiều cống hiến lớn lao trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc của nước ta vì vậy cần phải có những chính sách phù hợp nhằm bảo vệ và chăm sóc người cao tuổi. Người cao tuổi cần được tôn trọng, chăm sóc để tạo mọi điều kiện cho họ có điều kiện tiếp tục phát huy những kinh nghiệm sống mà họ tích luỹ được góp phần xây dựng xã hội mới. Một trong những khó khăn mà người người cao tuổi gặp phải đó là sự giảm sút nghiêm trọng về sức khoẻ vì vậy trong chuyên đề này em xin trình bày CHỦ ĐỀ: Thực trạng người cao tuổi và một số giải pháp chăm sóc sức khoẻ cho người cao tuổi ở Việt Nam.
Trang 1Mở Đầu
Theo các chuyên gia dân số và kinh tế, già hóa dân số là một trong những xuhướng có ý nghĩa nhất của thế kỷ 21, có tác động đến toàn bộ các khía cạnh củađời sống xã hội của thế giới và từng quốc gia Chính sách nhất quán của Đảng vàNhà nước ta luôn coi con người là trung tâm của sự phát triển Đảng ta đã khẳngđịnh: "Đi đôi với phát triển, tăng trưởng kinh tế phải quan tâm giải quyết tốt cácvấn đề xã hội Kinh tế phát triển là cơ sở, nguồn lực đảm bảo cho các chương trình
xã hội, giáo dục, y tế, văn hoá phát triển Song phát triển xã hội với nền giáo dục, y
tế, văn hoá phát triển sẽ thúc đẩy kinh tế phát triển nhanh và bền vững " Hiệnnay, người cao tuổi trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng đang có xuhướng tăng nhanh Đây là mối quan tâm chung của nhiều quốc gia Riêng ở nước
ta, bảo vệ và chăm sóc người cao tuổi không chỉ mang ý nghĩa kinh tế, chính trị, xãhội mà còn mang ý nghĩa nhân đạo sâu sắc thể hiện truyền trống "uống nước nhớnguồn", "thương người như thể thương thân" của dân tộc ta Người cao tuổi là tầnglớp đã có nhiều cống hiến lớn lao trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc củanước ta vì vậy cần phải có những chính sách phù hợp nhằm bảo vệ và chăm sócngười cao tuổi Người cao tuổi cần được tôn trọng, chăm sóc để tạo mọi điều kiệncho họ có điều kiện tiếp tục phát huy những kinh nghiệm sống mà họ tích luỹ đượcgóp phần xây dựng xã hội mới Một trong những khó khăn mà người người caotuổi gặp phải đó là sự giảm sút nghiêm trọng về sức khoẻ vì vậy trong chuyên đềnày em xin trình bày CHỦ ĐỀ: "Thực trạng người cao tuổi và một số giải phápchăm sóc sức khoẻ cho người cao tuổi ở Việt Nam" Do thời gian nghiêm cứu cóhạn, chuyên đề còn nhiều hạn chế, rất mong được sự đóng góp của các thầy giáo,
cô giáo để chuyên đề có thể hoàn thiện hơn Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 2I. I.CƠ SỞ LÝ LUẬN CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI NGƯỜI CAO TUỔI
1. KHÁI NIỆM Người cao tuổi
Có rất nhiều quan niệm về người cao tuổi nhưng quan niệm đó thường dựa vào tuổi thọ trung bình ở từng vùng
Theo quan niệm của người cao tuổi thì người cao tuổi đủ 50 tuổi trở lên Theo luật lao động: Người cao tuổi là những người từ 60 tuổi trở lên ( với nam) , từ 55 tuổi trở lên ( với nữ).
Theo pháp lệnh người cao tuổi Việt Nam: Những người cao tuổi từ 60 tuổi trở lên là người cao tuổi( pháp lệnh ban hành năm 2000)
(*) một số khái niệm có liên quan:
tuổi già sinh học: là độ tuổi mà đến khi đó con người đã xuất hiện suy giảm chức năng tâm sinh lý và các chức năng lao động, sinh hoạt trong cuộc sống.
Già sinh học là khi hoạt động sống của người bị chính các các quá trình biến đổi tự nhiên trong cơ thể con người Bởi vậy tuổi già sinh học có thể bắt đầu ở mỗi cá nhân ở nhiều lứa tuổi khác nhau,phụ thuộc vào cấu tạo sinh học vốn có của mỗi giống nòi và tính di chuyền của dòng họ của dân tộc và phụ thuộc vào các điều kiện kinh tế xã hội của mỗi vùng, mỗi quốc gia trong thời kỳ nhất định
Tuổi già pháp định: theo những quy định này là những người đạt đến một độ tuổi nào đó phải chấm dứt các hợp đồng lao động
động, được quyên nghỉ ngơi.Tổ chức và cá nhân nào vi phạm quyền này đối với người cao tuooirdduowcj coi là vi phạm phápluật
Trang 3Tuổi già lao động:là độ tuổi người lao dộng đã có những suy suy giảm
về thể chất và chức năng lao động Các phản xạ về nghề nghiệp đã kém đi.
Vấn đề dân số:
Nguồn: Tổng cục Thông kê, Kết quả Tổng điều tra dân số năm 1979, 1989, 2009
và dự báo dân số 2009 – 2049 (phương án trung bình)
Số liệu từ bốn cuộc Tổng Điều tra Dân số và Nhà ở giai đoạn 1979-2009 cho thấy
tỷ lệ người cao tuổi ở nhóm tuổi thấp nhất (từ 60 đến 69) tăng chậm, trong khi tỷ lệngười cao tuổi ở nhóm cao tuổi trung bình (70-79) và già nhất (80+) có xu hướngtăng nhanh hơn Số liệu dự báo của GSO (2010) cho giai đoạn 2009-2049 trongBảng 4 cho thấy, khi Việt Nam bước vào giai đoạn dân số “già” cũng là lúc nhómdân số cao tuổi nhất tăng với tốc độ cao nhất So với các quốc gia khác trên thếgiới, thậm chí với nhiều nước phát triển hoặc có mức thu nhập bình quân đầungười cao hơn, tốc độ già hóa dân số Việt Nam khá cao Cụ thể, số năm để tỷ lệdân số từ 65 tuổi trở lên của Việt Nam tăng từ 7% lên 14% tổng dân số
Trang 4(*)Đặc điểm của người cao tuổi
2. Đặc điểm tâm lý người cao tuổi:
(*)Giao tiếp Giao tiếp là một nhu cầu không thể thiếu của mỗi người, NCT cũng
vậy Người cao tuổi hay lưu luyến quá khứ,rất thích nhớ lại và kể lại những chuyện
đã qua Chính vì thế chủ đề giao tiếp nccuar người cao tuổi thường xoay quanhnhững chuyện quá khứ: như chuyện khó khăn vất vả mà họ đã từng trải,chuyệnthành công mà họ đã dạ được
Do đặc điểm sinh lý lúc về già có nhiều bất lợi nên môi trường và phạm vi giaotiếp của NCT bị thu hẹp dầnGiao tiếp của NCT có những đặc trưng riêng: Thíchgiao tiếp với con, cháu muốn quây quần bên gia đình…thể hiện sự quan tâm đốivới gia đìnhThích giao tiếp thông qua các hoạt động gắn liền với yếu tố tâmlinhThích tham gia hoạt động ở các Hội: NCT, Phụ lão, Chơi chim, Cây cảnh…
Người cao tuổi thích yên tĩnh,ghét sự ồn ào bởi đặc điểm dinh lý của hojddax suygiảm nên rất nhạy cảm với tiếng động,âm thanh,người cao tuổi không thích tiếpchuyện vào buổi tối ,thích nghỉ ngơi vào buổi trưa
3. Đặc điểm sinh lý
Trong nhận thức cảu người cao tuổi
Mỗi giai đoạn phát triển khả năng nhận thức của con người lại có ngững biến đổicùng với sự biến đổi về sinh lý của cơ thể.Giai đoạntuổi già là lúc con người đã ởvào giai đoạn xế bóng,sự phát triển của cơ thể đang có sự giảm sutd dần theon thời
Trang 5gian,các chức năng của não suy giảm,những suy giảm đó gây ra những cản trởbước ddaaauftrong nhận thức.
ở giai đoạn đầu (60-70 tuổi ) khả năng nghe nhìn của người cao tuooirvaanx còntốt,nhưng từ 70 tuổi trở đi thỳ khả năng này suy giảm mạnh Biểu hiện|( các cụnhìn sự vật ,hiện tượng không rõ,nhiều cụ không nhìn thấy gì,nghe âm thanh khôngrão,do đó khi giao tiếp khả năng thu nhận thông tin kém độ nhạy cảm các giácquan giảm mạnh( khứu giác,vị giác,mạc giác)
trí nhớ thay đổi rõ rệt,trí nhớ ngắn hạn giảm sút,trí nhớ dài hạn vẫn mức cao,ngườicao tuổi hay quên thường nói đi nói lại
tư duy người cao tuổi kém năng động,kém linh hoatjhoatj động tư duy để ra quyếtđịnh kém hơn so với lớp trẻ
Có kinh nghiệm và sự trải nghiệm có sự hiểu biết sâu sắc về cuộc đời,con người và
xã hội nên ra quyết định thường chín chắn hơn
Do sự từng trải và tuổi đã cao nên người cao tuổi Không chấp nhận cái mới,khôngthích thay đổi thói quen,cách tư duy cũ,mà đôi khi lớp trẻ cho rằng người bảo thủ
và cứng nhắc trong giải quyết vấn đề
Về thay đổi về hình dáng bên ngoài
Thay đổi hình dáng là những dấu hiệu ddaaauf tiên báo hiệu tuổi già.qua đó conngười có thể sớm cảm nhận để có sự đón trước kipj thời
-thay dổi về tóc:
+bạc tóc: đây là dấu hiệu sớm của tuổi già , vì sắc tố trên tóc giảm đi làm tóc
không có màu.Tuy nhiên có người trung niên tóc đã bạc
+rụng tóc: hằng ngày tóc đều rụng nhưng tuổi cao tóc rụng nhiều hơn khiến tócthưa, dẫn đến hói đầu
Tóc còn khô,giòn vì các tuyến nhờn kém hoạt động
-Thay đổi về da: khi tuổi gia Sự thay đổi về da thể hiện rất rõ nhất trên mặt như
vầng trán nhăn nheo với các vấn đề rạn ở đuôi mắt,da mặt mo9ngr,nhăn nheo,mềmxệ,hoặc nổi những nốt đồi mồi,xương mặt nhô,mạch máu lộ trên da,mí mắtxệ,quằng mắt thâm xậm đen,vành tai chảy xuống
Trang 6Khi bị lão hóa ,lớp mỡ dưới da giảm làm người già chịu lạnh kém,sự nhảy cảm trên
da cũng giảm.khi bị chấn thương khó lành hơn
-Thau đổi về chiều cao: càng chiều cao càng thu lại.trung bình về già đàn ông thấp
đi 2cm,đàn bà 1,5cm.đón là ảnh hưởng của các yếu tố như: nước cơ thể giảm,cácbắp thịt giảm sút,xương sống biến dạng
- thay đổi sức nặng : thường sức nặng cơ thể tăng lên ở thời trung niên và giảm đikhi già,do tế bào mỡ tăng thay thế vào chỗ tế bào cơ giảm đi,mỡ nhiều ở vùngbụng và mông
4. Công tác xã hội với người cao tuổi
a quốc tế Các nước đang phát triển tiếp cận với Nghề Công tác xã hội muộn hơn nhưng ở nhiều quốc gia, kết quả đạt được thật khả quan Trong khu vực châu Á, Philippin, Úc, Singapore, Thái Lan có nghề Công tác xã hội phát triển sớm và Trung Quốc, Mông Cổ đang nỗ lực phát triển nghề này.
Với tầm nhìn dài hạn, chính phủ cung cấp cho người dân nhiều loại hình chăm sóc sức khỏe đa dạng tới từng địa phương như: hệ thống nhà dưỡng lão đặc biệt, cơ sở chăm sóc sức khỏe người cao tuổi, các bệnh viện an dưỡng, các dịch vụ chăm sóc y tế tận nhà,…
hệ thống chăm sóc bao quát cả khu vực.
Khi chăm sóc y tế, chính phủ Nhật có nguyên tắc “Flat Service” (Phục
vụ Bình đẳng) nhằm nhấn mạnh quan điểm: Người dân được chăm sóc bình đẳng, chi phí y tế bình đẳng, khám chữa bệnh ở bất cứ bác sĩ nào cũng cùng một chi phí.Theo thống kê, đến năm 2012, người Nhật đã chi 8,9 nghìn tỷ yên để xây
dựng chế độ bảo hiểm chăm sóc sức khỏe bền vững cho nhân dân Dự kiến con số này sẽ tiếp tục tăng lên đến khoảng 21 nghìn tỷ yên vào năm 2025.
Công tác xã hội với người cao tuổi
Mặc dù là quốc gia có dân số trẻ, cả trong khu vực và trên phạm vi toàn thế giới, đến nay gần 10% dân số của Việt Nam đã ở độ tuổi 60 và trên
60 Sau năm 2010, Việt Nam đã không còn là nước có dân số trẻ khi có
Trang 7người cao tuổi chiếm trên 10% dân số và theo dự báo, năm 2025 khoảng 18% và năm 2050 chiếm gần 30% dân số cả nước.
Dân số Việt Nam theo độ tuổi
Người cao tuổi có những ưu thế về những đóng góp của họ với gia đình,
xã hội, về kinh nghiệm sống và khả năng tiếp tục đóng góp vào quá trình phát triển Tuy nhiên, người cao tuổi cũng có nhiều vấn đề cần được quan tâm như: vấn đề sức khỏe, đời sống vật chất, tham gia giao thông, nuôi cháu thay cha mẹ trẻ do các nguyên nhân khác nhau Vì vậy, để trợ giúp người cao tuổi cần có cán bộ xã hội được đào tạo một cách chuyên nghiệp qua trường, lớp.
Hướng phát triển Công tác xã hội với người cao tuổi ở Việt Nam
Để Nghề Công tác xã hội đối với người cao tuổi ở Việt Nam được phát triển và phổ biến rộng rãi về lâu dài cần nằm trong tiến trình chung phát triển công tác xã hội và được coi như một nghề ở Việt Nam, theo các bước đi của đề án đã được Chính phủ phê duyệt
Bước đi đầu tiên có thể là các hoạt động nâng cao năng lực cho những người đang làm việc với người cao tuổi, cung cấp cho họ một số kiến thức, kỹ năng cơ bản trong làm việc với người cao tuổi
Bên cạnh đó, có thể xem xét, kết hợp đào tạo cán bộ xã hội trong lĩnh vực y tế với công tác xã hội với người cao tuổi Chú trọng công tác quản
lý ca và tham vấn trong làm việc với người cao tuổi Đa dạng hóa các
Trang 8loại dịch vụ trợ giúp người cao tuổi Đồng thời thiết kế các chương trình đào tạo chuyên sâu về công tác xã hội với người cao tuổi.
Trong điều kiện già hóa dân số, nhiều vấn đề đặt ra đối với người cao tuổi trong điều kiện kinh tế- xã hội đặc thù ở Việt Nam, cần sớm nhận thức về sự cần thiết phát triển Công tác xã hội với người cao tuổi và tạo các điều kiện cần thiết cho sự phát triển này
II. cơ sở thực tiễn
Quan điểm và định hướng của chính phủ về vấn đề người cao tuổi
1. Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về NCT
+ Điều 87 Hiến pháp ghi rõ “Người già, người tàn tật, trẻ mồ côi không nơi nương tựa
được Nhà nước và xã hội giúp đỡ”.
+ Sau khi Hội NCT Việt Nam được thành lập ngày 10/5/1995, Ban Bí thư Trung ương
ra Chỉ thị số 59/CT – TW về chăm sóc NCT, quy định “Việc chăm sóc đời sống vật
chất và tinh thần NCT là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội”.
+ Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ ngày 27/2/1996 nêu rõ “Các cấp chính quyền, các
cơ quan quản lý nhà nước trong khi hoạch định chính sách phát triển kinh tế, xã hội và
các Chương trình quốc gia, cần chú ý bồi dưỡng và phát huy nguồn lực NCT”.
2. Luật pháp,chính sách,chương trình ,dịch vụ với người cao tuổi
Luật pháp và chính sách của nhà nước
Quan điểm trên của Đảng và Bác Hồ được thể hiện trong Hiến pháp năm 1946,
Điều 14 quy định: “Những công dân già cả hoặc tàn tật không làm được việc thì được giúp đỡ” Điều 32 của Hiến pháp 1959 ghi rõ: “Giúp đỡ người già, người đau yếu và tàn tật Mở rộng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm sức khoẻ và cứu trợ xã hội…” Điều 64 của Hiến pháp 1992 quy định: “…Cha mẹ có trách nhiệm nuôi dạy con cái Con cái có trách nhiệm kính trọng và chăm sóc ông bà, cha mẹ… ”.
Trang 9Và Điều 87 Hiến pháp ghi rõ: “Người già, người tàn tật, trẻ mồ côi không nơi nương tựa được nhà nước và xã hội giúp đỡ”.
Luật Hôn nhân và gia đình, khoản 2 Điều 36 quy định:“Con có nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ, đặc biệt khi cha mẹ ốm đau, già yếu, tàn tật…Và khoản 2 Điều 47 Luật này quy định: “Cháu có bổn phận… chăm sóc, phụng dư- ỡng ông bà nội, ngoại”.
Luật bảo vệ chăm sóc sức khoẻ nhân dân đã dành một chương riêng: Bảo vệ sức khoẻ người cao tuổi … trong đó, khoản 1 Điều 41 của Luật này quy định:“người cao tuổi … được ưu tiên khám bệnh, chữa bệnh, được tạo điều kiện thuận lợi để đóng góp cho xã hội phù hợp với sức khoẻ của mình”.
Luật Lao động quy định tại Điều 124: “Người sử dụng lao động có trách nhiệm quan tâm chăm sóc sức khoẻ người lao động cao tuổi, không được sử dụng người lao động cao tuổi làm việc nặng nhọc, nguy hiểm… ảnh hưởng sức khoẻ”.
Điều 151 của Bộ luật hình sự quy định: “Tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha
mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình” và Điều 152 quy định
“Tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng” Bên cạnh đó, luật cũng quy định một số tình tiết giảm nhẹ khi “người phạm tội là người già”.
(*)Chính sách của nhà nước Việt Nam về người cao tuổi
Năm 1996, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị 117/CP “Về chăm sóc người
cao tuổi và hỗ trợ hoạt động cho Hội người cao tuổi Việt Nam” Chỉ thị khẳng
định: “Kính lão đắc thọ” là truyền thống tốt đẹp của nhân dân ta, Đảng và nhànước ta coi việc quan tâm, chăm sóc đời sống vật chất và tinh thần của người caotuổi là đạo lý của dân tộc, là tình cảm và trách nhiệm của toàn đảng, toàn dân Cáccấp chính quyền đã đề ra nhiều chính sách thể hiện sự quan tâm đó
Để phát huy truyền thống của dân tộc, thực hiện chủ trương chính sách của đảng và
hỗ trợ hoạt động của Hội người cao tuổi, Thủ tướng đã chỉ thị:
• Về chăm sóc người cao tuổi
Uỷ ban nhân dân các cấp chỉ đạo các cơ quan chức năng, đơn vị thuộc quyềnthường xuyên quan tâm làm tốt công tác chăm sóc người cao tuổi Công tác nàycần được thể hiện trong các kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội ngắn hạn và dài hạncủa địa phương Trong chỉ tiêu xây dựng gia đình văn hoá, xây dựng cuộc sốngmới ở khu dân cư: chỉ đạo các cơ quan văn hoá, thông tin, giáo dục và đào tạo đẩymạnh công tác tuyên tryền, giáo dục nhân dân, nhất là thế hệ trẻ về ý thức, thái độ
và nghĩa vụ chăm sóc, giúp đỡ kính trọng người cao tuổi
Trang 10Các cấp chính quyền, các cơ quan quản lý nhà nước trong khi hoạch định các kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội và các chương trình quốc gia, cần chú ý bồi dưỡng
và phát huy nguồn lực người cao tuổi Hàng năm cần dành một tỷ lệ thích đáng ngân sách để giải quyết các vấn đề xã hội, chăm sóc, bồi dưỡng, phát huy vai trò người cao tuổi và hỗ trợ Hội người cao tuổi.
• Đối với Hội người cao tuổi
Hội có tư cách pháp nhân, hoạt động theo điều lệ phù hợp với Hiến pháp và pháp luật dưới sự lãnh đạo của đảng và sự hỗ trợ của Chính phủ về kinh phí và điều kiện hoạt động.
• Đối với các Bộ, ngành
(*) Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội quản lý về mặt nhà nước đối với Hội
người cao tuổi có trách nhiệm theo dõi, hướng dẫn Hội hoạt động theo đúng đườnglối, chính sách, pháp luật của nhà nước…
(*) Bộ Tài chính, Uỷ ban nhân dân các địa phương tạo điều kiện giúp đỡ về cơ sởvật chất và hỗ trợ một phần kinh phí hoạt động cho Hội người cao tuổi ở Trungương, xã, phường và thị trấn
(*) Các Bộ, ngành khi soạn thảo các văn bản pháp luật có liên quan đến chính sáchđối với người cao tuổi cần tham khảo ý kiến của Hội người cao tuổi Việt Namtrước khi trình Chính phủ và Quốc hội
(*)Chỉ thị cũng đã đề cập đến Bộ Y tế, Bộ Giáo dục và đào tạo, Bộ Khoa học vàCông nghệ, Bộ Ngoại giao, Tổng cục thể dục thể thao, Mặt trận tổ quốc ViệtNam… tạo điều kiện và phối hợp…chăm sóc và phát huy vai trò người cao tuổi
(*) Pháp lệnh Người cao tuổi của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội được ban hành năm
2000 Pháp lệnh người cao tuổi ra đời là bước đi thích hợp để chăm sóc người caotuổi
Pháp lệnh người cao tuổi đã dành chương 2: Phụng dưỡng, chăm sóc người caotuổi (14 Điều) tập trung đề cập trách nhiệm của gia đình, Nhà nước, các tổ chức, cánhân trong việc phụng dưỡng chăm sóc người cao tuổi trong đó chính sách chămsóc sức khoẻ được quan tâm khá toàn diện Điều này đựơc minh chứng ở khoản 2Điều 10; (khoản 2 Điều 12); (Điều 13); (khoản 1, 2 Điều 14); (Điều 15); (Điều 16)
Trang 11(*) Nghị định số 30/CP của Chính phủ ban hành năm 2002 “Quy định và hướng
dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh người cao tuổi” Điều 9 nêu rõ: người cao
tuổi được chăm sóc sức khoẻ theo quy định của Luật Bảo vệ sức khoẻ nhân dânngày 11 tháng 8 năm 1989; Người cao tuổi được hưởng dịch vụ ưu tiên khi khámchữa bệnh tại các cơ sở y tế theo Nghị định số 23/ HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng(nay là Chính phủ) ngày 24 tháng 01 năm 1991 về Điều lệ khám, chữa bệnh vàphục hồi chức năng; Người cao tuổi từ 100 tuổi trở lên được cấp miễn phí thẻ bảohiểm y tế
(*) Căn cứ Nghị định số 30, Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội ban hành Thông
tư số 16/TT năm 2002 “hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 30/CPcủa Chính phủ”
(* )Nghị định số120/CP của Chính phủ về việc sửa đổi Điều 9 của Nghị định số30/CP năm 2002
(* )Nghị định của Chính phủ số 121/CP “Về chế độ, chính sách đối với cán bộ,công chức ở xã, phường, thị trấn” năm 2003 ghi rõ chế độ đối với Chủ tịch Hộingười cao tuổi cấp xã
(*) Năm 2004, Bộ Y tế đã ban hành Thông tư số 02/ 2004/TT- BYT hướng dẫn thực hiện công tác chăm sóc sức khoẻ người cao tuổi trong đó quy định: người cao
tuổi được …chăm sóc sức khoẻ, được khám chữa bệnh khi ốm đau, bệnh tật; đượcchăm sóc sức khoẻ ban đầu, được ưu tiên khám, chữa bệnh tại các cơ sở y tế; Uỷban nhân dân các cấp có trách nhiệm đảm bảo chế độ chăm sóc sức khoẻ cho ngườicao tuổi tại địa phương Ngành y tế chịu trách nhiệm về chuyên môn, kỹ thuậttrong chăm sóc sức khoẻ người cao tuổi… Tổ chức mạng lưới tình nguyện viênchăm sóc sức khoẻ cho người cao tuổi tại nhà Trạm y tế xã, phường, thị trấn cótrách nhiệm quản lý sức khoẻ và thực hiện chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho ngườicao tuổi tại địa phương Trường hợp người cao tuổi bị tàn tật, cô đơn không nơi nư-ơng tựa bị ốm đau nhưng không đến khám, chữa bệnh tại nơi quy định thì trưởngtrạm y tế cấp xã cử cán bộ y tế đến khám, chữa bệnh tại nơi ở của người cao tuổihoặc báo cáo Uỷ ban nhân dân địa phương tổ chức đưa người bệnh đến cơ sởkhám, chữa bệnh…thực hiện việc ưu tiên khám trước cho người bệnh cao tuổi (Sautrường hợp cấp cứu), phát triển các phương pháp chữa bệnh không dùng thuốc nhất
là ở tuyến y tế cơ sở đối với người bệnh cao tuổi
Trang 12Người cao tuổi từ 90 tuổi trở lên được hưởng các chế độ bảo hiểm y tế theo quyđịnh tại Thông tư số 24/2003 ngày 6/11/2003 của Bộ Lao động – Thương binh và
Xã hội hướng dẫn thi hành Nghị định số 120/2003/NĐ-CP ngày 20/10/2003 củaChính phủ Khuyến khích các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài, gia đìnhcủa người cao tuổi mua thẻ BHYT cho người cao tuổi
Có thể nói, thông tư 02/2004 của Bộ Y tế đã tiến một bước dài trong việc thể chếhoá chính sách y tế cho người cao tuổi Việt Nam, tạo tiền đề quan trọng cho việcxây dựng chính sách y tế mới cho người cao tuổi khi Luật người cao tuổi đượcQuốc hội thông qua
(*) Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 141, năm 2004 “Về việc thành lập Uỷban Quốc gia về người cao tuổi Việt Nam”
(*) Quyết định số 47, năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Tài chính “Về việc ban hànhquy chế quản lí và sử dụng Quỹ chăm sóc người cao tuổi”
(*) Nghị định 67/CP, năm 2007 của Chính phủ “Về chính sách trợ giúp các đốitượng bảo trợ xã hội”, trong đó có đối tượng là người từ 85 tuổi trở lên không cólương hưu hoặc trợ cấp bảo hiểm xã hội, được hưởng 120.000 đ/tháng
Bằng thực tiễn hoạt động của người cao tuổi và Hội người cao tuổi, Hội người caotuổi Việt Nam đã có những đóng góp cụ thể vào các nội dung trong các văn bảnpháp quy của Đảng và Nhà nước nêu trên Các tổ chức Hội vừa triển khai, vừa đúcrút kinh nghiệm, vừa tham mưu, đề xuất với cấp uỷ, Chính quyền, từng bước bổsung những quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách đối với người cao tuổi.Ban Chấp hành TW Hội người cao tuổi Việt Nam cùng với tổ chức Hội các cấp đãtrực tiếp tham gia bằng nhiều hình thức Góp ý kiến bằng văn bản vào các báo cáochính trị tại Đại hội IX, Đại hội X, tham mưu giúp Nhà nước những vấn đề cụ thể
về người cao tuổi như: Thành lập Uỷ ban Quốc gia về người cao tuổi Việt Nam,xây dựng chương trình hành động Quốc gia về người cao tuổi giai đoạn 2006 –2010; Tổng kết 8 năm thực hiện Pháp lệnh người cao tuổi, chế độ trợ cấp chongười cao tuổi từ 85 tuổi trở lên không có lương hưu hoặc trợ cấp bảo hiểm xã hội,chế độ khám chữa bệnh cho người cao tuổi, chế độ cho cán bộ Hội các cấp theocông văn 372 của Bộ Nội vụ đầu năm 2008…