1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Tiểu luận môn triết học nâng cao quan điểm toàn diện và vận dụng vào quản trị rủi ro tại ngân hàng BIDV chi nhánh bắc hà nội

18 285 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 283,34 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đây là điều vô cùng quan trọng giúp BIDV Bắc Hà Nội đạt được mục tiêu tăng trưởng và phát triển bền vững cũng như thực hiện thành công các hoạt động hợp tác, liên doanh liên kết trong xu

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC

- -BÀI TIỂU LUẬN

MÔN: TRIẾT HỌC NÂNG CAO

Đề tài:

QUAN ĐIỂM TOÀN DIỆN VÀ VẬN DỤNG VÀO QUẢN TRỊ RỦI RO TẠI NGÂN HÀNG BIDV CHI NHÁNH BẮC HÀ NỘI

Học viên : NGUYỄN THỊ HOÀNG BẢO ANH

MHV : CH260343

Lớp : CH26P Cuối tuần

Giảng viên : TS LÊ NGỌC THÔNG

HÀ NỘI, 2017

Trang 2

MỤC LỤC

PHẦN I: LỜI MỞ ĐẦU 1

PHẦN II: NHỮNG LÝ LUẬN VỀ QUAN ĐIỂM TOÀN DIỆN 2

1 Lịch sử của quan điểm toàn diện 2

2 Cơ sở lý luận 4

3 Yêu cầu của quan điểm toàn diện: 4

4 Ý nghĩa phương pháp luận của quan điểm toàn diện: 5

PHẦN III: VẬN DỤNG LÝ LUẬN VÀO VIỆC QUẢN TRỊ RỦI RO TẠI BIDV BẮC HÀ NỘI 6

1 Khái niệm rủi ro và rủi ro tín dụng 6

2 Thực trạng công tác quản trị rủi ro tín dụng tại BIDV Bắc Hà Nội 6

2.1 Chính sách quản trị rủi ro tín dụng (RRTD) và công tác tổ chức quản trị rủi ro tín dụng tại BIDV Bắc Hà Nội 6

2.2 Tình hình thực hiện các nội dung quản trị rủi ro tín dụng tại BIDV Bắc Hà Nội 7

3 Đánh giá chung công tác quản trị rủi ro tín dụng tại BIDV Bắc Hà Nội 9

4 Vận dụng quan điểm toàn diện vào quản trị rủi ro tín dụng tại BIDV Bắc Hà Nội 10

5 Giải pháp tăng cường quản trị rủi ro tín dụng tại BIDV Bắc Hà Nội 15

Trang 3

PHẦN I: LỜI MỞ ĐẦU

Sự đổ vỡ hàng loạt Quĩ tín dụng tại Việt Nam trong những năm 1989-1990

do chất lượng các khoản cho vay yếu kém, không thu hồi được Những năm 1999 –

2000, cũng từ nguyên nhân này NHNN đã đặt một số ngân hàng vào tình trạng giám sát đặc biệt, những vụ án lớn và việc xử lý một khối lượng hàng ngàn tỷ đồng nợ tồn đọng của các ngân hàng từ năm 2000 về trước đều bắt nguồn từ những khoản cho vay khó đòi Cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997 bắt nguồn từ Đông Nam Á

đã làm cho nhiều Ngân hàng ở Châu Á bị mất hàng tỷ đô la Mỹ, bị phá sản, hoặc buộc phải sáp nhập, trong đó nguyên nhân quan trọng nhất là tỷ lệ nợ quá hạn của các Ngân hàng tăng cao Thời điểm trước cuộc khủng hoảng, tỷ lệ nợ quá hạn của các Ngân hàng Thái Lan là 13%, Indonesia 13%, Phillippines 14%, Malaysia 10% Gần đây nhất là cuộc khủng hoảng tài chính kinh tế Mỹ bắt nguồn từ làn sóng cho vay thế chấp nhà đất rủi ro cao đã minh chứng rất rõ căn nguyên cơ bản tạo ra ở vấn

đề của Ngân hàng là RRTD Vì vậy, vấn đề quản lý rủi ro tín dụng luôn luôn là vấn

đề sống còn của NHTM

Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bắc Hà Nội ( BIDV Bắc Hà Nội) là một chi nhánh lớn với những thành tích hoạt động nổi bật Tuy nhiên thời gian qua, trong bối cảnh nền kinh tế trong nước và thế giới có nhiều biến động tiêu cực do cuộc khủng hoảng tài chính bắt đầu từ nước Mỹ

đã gây ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của Ngân hàng nói chung và BIDV Bắc Hà Nội nói riêng Đặt ra yêu cầu cấp bách là rủi ro tín dụng phải được quản lý, kiểm soát một cách bài bản và có hiệu quả, đảm bảo tín dụng hoạt động trong phạm

vi rủi ro chấp nhận được, giảm thiểu các thiệt hại phát sinh từ rủi ro tín dụng Đây là điều vô cùng quan trọng giúp BIDV Bắc Hà Nội đạt được mục tiêu tăng trưởng và phát triển bền vững cũng như thực hiện thành công các hoạt động hợp tác, liên

doanh liên kết trong xu thế hội nhập nên em đã chọn đề tài “Quan điểm toàn diện

và vận dụng vào quản trị rủi ro tín dụng tại BIDV Chi nhánh Bắc Hà Nội ".

Trang 4

PHẦN II: NHỮNG LÝ LUẬN VỀ QUAN ĐIỂM TOÀN DIỆN

1 Lịch sử của quan điểm toàn diện

Trong quá trình nhận thức, yêu cầu tính khách quan trong xem xét đòi hỏi phải nắm sự vật như một hiện thực tồn tại độc lập ở bên ngoài và không phụ thuộc vào ý thức của chủ thể, như một sự vật tự nó, trong những điều kiện tồn tại tất yếu của nó Nhưng những điều kiện tất yếu để sự vật tồn tại hiện thực là những mối liên

hệ đa dạng của nó với các sự vật khác, là một hệ thống nhất định các mối quan hệ của nó với các sự vật khác Qua đó, rõ ràng, sự vật ở dạng tự nó cần được xem xét không phải tách rời các điều kiện tồn tại tất yếu của nó, mà trong những mối liên hệ

và quan hệ của nó

Liên hệ trước đó là quan hệ giữa các sự vật và các hiện tượng của hiện thực Nhưng không phải quan hệ nào cũng là liên hệ Liên hệ là quan hệ giữa hai hiện tượng khi sự thay đổi hiện tượng này tất yếu phải có sự thay đổi nhất định của hiện tượng kia Ngược lại, sự tách biệt (riêng rẽ) là mối quan hệ giữa các hiện tượng của hiện thực khi sự thay đổi của một hiện tượng không động chạm gì đến các hiện tượng khác, không kèm theo những thay đổi nhất định của các hiện tượng kia Nhưng cũng có nhiều trường hợp có mối quan hệ qua lại có cả quan hệ tách biệt, cũng như trong trường hợp tách biệt có cả mối quan hệ qua lại Như vậy, liên hệ và tách biệt (riêng rẽ) bao giờ cũng tồn tại cùng nhau, là những mặt tất yếu của bất kỳ quan hệ cụ thể nào giữa các hiện tượng của hiện thực

Các nhà triết học Hy Lạp cổ đại cho rằng các hiện tượng được quan sát trong thế giới, với toàn bộ tính biệt lập về chất, tính riêng rẽ, tách biệt của chúng, chúng vẫn nằm trong mối liên hệ hữu cơ với nhau, bởi lẽ tất cả các hiện tượng đó đều xuất phát từ cùng một nguồn gốc, cơ sở ban đầu như nhau

A-ri-xtốt xem mối liên hệ và riêng rẽ (tách biệt) là thuộc tính của tồn tại, mối liên hệ giữa các vật thể khác nhau không chỉ như sự thống nhất được quy định bởi nguồn gốc chung từ một cơ sở thống nhất, cơ sở đầu tiên (vật chất đầu tiên) mà còn như sự phụ thuộc, quy định qua lại của các vật thể

Theo Căn-tơ quan hệ tất yếu bao gồm cả liên hệ, cả riêng rẽ (tách biệt), các khái niệm cũng đồng thời vừa liên hệ với nhau, vừa riêng rẽ, chúng ghi nhận cả sự hiện diện, cả sự vắng mặt của liên hệ Nhưng ông lại phủ nhận sự có mặt của mối

Trang 5

liên hệ qua lại mang tính quy luật phổ biến trong thực tại khách quan, mối liên hệ qua lại đó được đưa vào thế giới hiện thực nhờ ý thức

Còn Hê-ghen cho rằng sự liên hệ qua lại, sự thống nhất về bản chất về cơ bản

là đặc trưng cho thế giới hiện tượng, rằng chúng tồn tại một cách khách quan, bên ngoài nhận thức con người, và là những hình thái tồn tại phổ biến của sự vật

Ph.Bê-cơn cho rằng một khi đã phân chia sự vật thành những yếu tố riêng biệt hình thành nên nó thì chúng ta không tránh khỏi sẽ thủ tiêu nó với tư cách là một tạo thể xác định vật chất, và như vậy thì chỉ có thể nhận thức được các yếu tố

đó tạo nên khi nghiên cứu một cách toàn diện mối liên hệ và phụ thuộc qua lại giữa các yếu tố đó

Khác với các nhà siêu hình phủ nhận mối liên hệ qua lại giữa các hiện tượng trong hiện thực, khác với những người theo chủ nghĩa duy tâm quy kết hoặc rút ra mối liên hệ đó từ ý thức, từ tinh thần, chủ nghĩa duy vật biện chứng thừa nhận sự tồn tại của mối liên hệ toàn diện giữa các hiện tượng và sự vật trong thế giới vật chất, xuất phát từ chỗ cho rằng tất cả những gì tồn tại trong thế giới đều là những khâu của một thực thể vật chất thống nhất, đều là những trạng thái và hình thức tồn tại khác nhau của thực thể đó V.I.Lê-nin nhấn mạnh “…Những quan hệ của mỗi sự vật, hiện tượng không những là muôn vẻ, mà còn là phổ biến, toàn diện Mỗi sự vật, hiện tượng, quá trình đều liên hệ với mỗi sự vật khác”

Ngày nay, cách hiểu như vậy về tính phổ biến của liên hệ không những được các nhà triết học tán thành và tuân thủ như một nguyên tắc xuất phát trong việc vạch

ra lý luận của phép biện chứng dựa vào sự khái quát các thành tựu của khoa học tự nhiên hiện đại mà cả những đại biểu của các khoa học cụ thể cũng tính đến quan điểm này khi xây dựng các lý luận của mình

Nhưng nếu một sự vật nằm trong mối liên hệ qua lại hữu cơ với các sự vật khác và mối liên hệ qua lại đó là điều kiện tất yếu và là hình thái tồn tại của nó, nếu

sự vật quy định sự bộc lộ các thuộc tính tương ứng của nó thì để nhận thức được sự vật, để phát hiện được những thuộc tính đặc trưng, để xem xét nó một cách tất thì phải xem xét trong mối liên hệ hữu cơ với các vật đó, tính đến toàn bộ tổng hòa những quan hệ muôn vẻ của sự vật ấy với những vật khác V.I.Lê-nin đã nhận xét:

Trang 6

“Muốn thực hiện sự hiểu biết sự vật, cần phải nhìn bao quát và nghiên cứu tất cả các mặt, tất cả các mối liên hệ và quan hệ gián tiếp của sự vật đó”

2 Cơ sở lý luận

Quan điểm toàn diện được xuất phát từ nguyên lý về mối liên hệ phổ biến của phép biện chứng đó là:

- Các sự vật, hiện tượng không tồn tại cô lập mà thống nhất với nhau trong

đó các sự vật hiện tượng tồn tại bằng cách tác động lẫn nhau, ràng buộc lẫn nhau, quy định và chuyển hoá lẫn nhau

- Không chỉ trong tự nhiên mà cả trong lĩnh vực đời sống xã hội và tinh thần, mọi sự vật - hiện tượng tồn tại bằng cách tác động qua lại lẫn nhau

- Sự liên hệ đó chỉ là tính khách quan và là tính phổ biến của các sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan

Trong thế giới khách quan có vô vàn mối liên hệ, chúng rất đa dạng và giữ vai trò vị trí khác nhau trong sự tồn tại, vận động và phát triển sự vật hiện tượng:

- Có mối liên hệ bên trong (sự liên hệ tác động lẫn nhau giữa các mặt các yếu

tố, các bộ phận ở bên trong sự vật hiện tượng), lại có mối liên hệ bên ngoài; nói chung mối liên hệ này không có ý nghĩa quyết định, hơn nữa nó thường thông qua mối liên hệ bên trong mà phát huy tác dụng đối với các sự vận động và phát triển của sự vật

- Có mối liên hệ chung trong toàn bộ thế giới, cũng có mối liên hệ riêng trong từng lĩnh vực cụ thể

- Có mối liên hệ trực tiếp giữa hai hay nhiều sự vật hiện tượng, lại có những mối liên hệ gián tiếp (sự vật, hiện tượng liên hệ tác động qua lại lẫn nhau thông qua một hay nhiều khâu trung gian)

3 Yêu cầu của quan điểm toàn diện:

Quan điểm toàn diện đòi hỏi để có được nhận thức đúng về sự vật chúng ta phải xem xét nó trên hai khía cạnh: thứ nhất là trong mối quan hệ giữa các bộ phận, giữa các yếu tố, các thuộc tính khác của chính sự vật đó; thứ hai là trong mối quan

hệ giữa các sự vật đó với sự vật khác (kể cả trực tiếp và gián tiếp)

Trang 7

V.I Lênin viết: “Muốn thực sự hiểu được sự vật cần phải nhìn bao quát và nghiên cứu tất cả các mặt, tất cả các mối liên hệ và “quan hệ gián tiếp” của sự vật

đó ” (V.I Lênin toàn tập Nhà xuất bản Tiến bộ, Matxcơva, 1979, t.42, tr364)

Quan điểm toàn diện đòi hỏi để nhận thức được sự vật, chúng ta cần xem xét

nó trong mối quan hệ với nhu cầu thực tiễn của con người ứng với mỗi con người, mỗi thời đại và trong một hoàn cảnh nhất định, con người bao giờ cũng chỉ phản ánh được một số lượng hữu hạn những mối liên hệ Bởi vậy, tri thức đạt được về sự vật cũng chỉ là tương đối, không đầy đủ, không trọn vẹn

Như vậy, quan điểm toàn diện chân thực đòi hỏi chúng ta phải đi từ tri thức

về nhiều mặt, nhiều mối liên hệ sự vật đến chỗ khái quát để rút ra cái bản chất chi phối sự tồn tại và phát triển của sự vật hay hiện tượng đó Quan điểm toàn diện không đồng nhất với cách xem xét dàn trải, liệt kê những tính quy định khác nhau của sự vật hiện tượng; nó đòi hỏi phải làm nổi bật cái cơ bản nhất, chủ yếu nhất và quan trọng nhất của sự vật hay hiện tượng đó

4 Ý nghĩa phương pháp luận của quan điểm toàn diện:

Để cải tạo một sự vật, hiện tượng, để hoàn thành nhiệm vụ đặt ra trong hoạt động thực tiễn, đòi hỏi một hệ thống các biện pháp nhất định Nếu thiếu tính toàn diện trong các chủ trương biện pháp thì sẽ không đạt được hiệu quả như mong muốn Song toàn diện đồng bộ, không phải cái gì cũng đặt ra một cách đều tràn lan, mà đòi hỏi trong mỗi một thời kỳ, mỗi một giai đoạn phải có những chủ trương, những biện pháp mang tính trọng tâm, trọng điểm, phải xác định được những khâu then chốt tập trung giải quyết để làm cơ sở cho những chủ trương biện pháp khác một cách đồng bộ

Góp phần khắc phục lối suy nghĩ giản đơn, một chiều, phiến diện Trong thế giới khách quan mọi sự vật mọi hiện tượng đều có rất nhiều mối liên hệ Vì vậy cần phải xem xét một mặt hoặc một vài mặt mà đã vội kết luận ngay vấn đề, như vậy sẽ không chính xác Các quan hệ lợi ích thường thấy lợi ích trước mắt mà không thấy được cái lợi ích lâu dài

Chống lại chủ nghĩa triết chung và thuật nguỵ biện (Chủ nghĩa triết chung nhân danh toàn diện để kết hợp một cách vô nguyên tắc những cái hết sức khác nhau thành một hình ảnh không đúng về sự vật; Thuật nguỵ biện thì lại lập luận chủ quan, lấy thứ yếu thay cho chủ yếu, lấy cái không cơ bản thay cho cái cơ bản nhằm xuyên tạc biện chứng của sự vật)

Trang 8

PHẦN III: VẬN DỤNG LÝ LUẬN VÀO VIỆC QUẢN TRỊ

RỦI RO TẠI BIDV BẮC HÀ NỘI

1 Khái niệm rủi ro và rủi ro tín dụng

Rủi ro có hai điểm chủ yếu : thứ nhất đó là các sự kiện bất ngờ, không mong đợi; thứ hai là khi xảy ra, rủi ro gây tổn thất

Phân loại rủi ro tín dụng: Bao gồm rủi ro hoạt động, rủi ro tín dụng và rủi ro thị trường

Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết

2 Thực trạng công tác quản trị rủi ro tín dụng tại BIDV Bắc Hà Nội

2.1 Chính sách quản trị rủi ro tín dụng (RRTD) và công tác tổ chức quản trị rủi ro tín dụng tại BIDV Bắc Hà Nội

* Chính sách quản trị rủi ro của BIDV

Theo quan điểm của BIDV về rủi ro tín dụng, rủi ro tín dụng của khách hàng phải được quản lý theo nguyên tắc toàn diện, liên tục ở tất cả các giai đoạn có khả năng phát sinh rủi ro tín dụng, thông qua các quy định cụ thể của từng loại nghiệp

vụ tín dụng

* Tổ chức quản trị rủi ro tín dụng tại BIDV

Tổ chức vận hành công tác quản trị RRTD tại BIDV Bắc Hà Nội tập trung đầu mối tại phòng quản lý rủi ro Phòng quản lý rủi ro chịu sự giám sát chỉ đạo trực tiếp từ Ban giám đốc, đồng thời có liên hệ trực tuyến với Ban quản lý RRTD và Ban quản lý rủi ro thị trường và tác nghiệp tại Hội sở chính Bên cạnh đó, mối quan hệ tương hỗ với các phòng ban khác, đặc biệt Phòng quan hệ khách hàng và phòng quản trị tín dụng tăng cường hơn nữa công tác quản trị RRTD tại BIDV Bắc Hà Nội

Nhìn chung, mô hình được xây dựng và vận hành theo dự án hiện đại hóa ngân hàng, phù hợp chuẩn mực và thông lệ quốc tế Bộ phận quản lý rủi ro được hình thành độc lập tại Hội sở và từng Chi nhánh, có mối quan hệ trực tuyến với

Trang 9

nhau, thuận lợi cho công tác theo dõi giám sát RRTD cũng như đề xuất ban hành các chính sách, chiến lược quản trị RRTD

2.2 Tình hình thực hiện các nội dung quản trị rủi ro tín dụng tại BIDV Bắc Hà Nội

Quá trình quản trị RRTD tại BIDV Bắc Hà Nội theo 4 nội dung cơ bản : Nhận diện RRTD; Đo lường RRTD; Kiểm soát RRTD; Tài trợ RRTD

a Công tác nhận diện rủi ro tín dụng

Quá trình nhận diện RRTD tại BIDV Bắc Hà Nội được thực hiện theo trình tự:

- Nhận diện dấu hiệu rủi ro : Dấu hiệu rủi ro được cập nhật hàng quý theo trình tự :

(1) Từng cán bộ liên quan (gồm cán bộ quan hệ khách hàng, cán bộ quản lý rủi ro, cán bộ quản trị tín dụng) thực hiện thống kê các dấu hiệu rủi ro trong quá trình tác nghiệp;

(2) Trưởng phòng thực hiện tổng hợp đánh giá kết quả thống kê cán bộ phòng gửi về Phòng quản lý rủi ro;

(3) Phòng quản lý rủi ro tập hợp đánh giá cho toàn Chi nhánh và trình ban giám đốc phê duyệt;

(4) Sau khi được phê duyệt báo cáo dấu hiệu rủi ro sẽ được gửi về Ban quản lý rủi

ro hoạt động và thị trường để tổng hợp cho toàn hệ thống Dấu hiệu rủi ro được thống kê theo số lượng phát sinh và có đưa ra nguyên nhân và biện pháp khắc phục

- Đánh giá xếp loại rủi ro : Sau khi tổng hợp được các dấu hiệu RRTD, Phòng quản lý rủi ro tiến hành đánh giá xếp loại rủi ro, qua đó có chính sách điều hành phù hợp để hạn chế rủi ro tín dụng phát sinh

Tuy nhiên có thể nhận thấy công tác nhận diện rủi ro tín dụng tại BIDV chưa

đi vào các dấu hiệu trực tiếp phản ánh rủi ro của khách hàng thông qua tình hình thực tế kinh doanh của khách hàng

b Công tác đo lường rủi ro tín dụng BIDV Bắc Hà Nội thực hiện chọn lọc khách hàng vay vốn thông qua hệ thống xếp hạng khách hàng nhằm định lượng mức

độ rủi ro cho từng khách hàng từ đó có chính sách cho vay phù hợp với mức độ rủi

ro của từng khách hàng

Hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ được sử dụng trong các quy trình quản lý rủi ro tín dụng sau: ban hành chính sách tín dụng, quy trình tín dụng, giám sát rủi ro

Trang 10

danh mục tín dụng, lập báo cáo quản trị rủi ro, chính sách dự phòng rủi ro tín dụng, xác định khung lãi suất chuẩn

Hệ thống chấm điểm xếp hạng khách hàng là tổ chức kinh tế được thực hiện qua 06 bước:

Bước 1 - Xác định ngành kinh tế

Bước 2 - Xác định Quy mô

Bước 3- Xác định loại hình sở hữu khách hàng

Bước 4 - Chấm điểm các chỉ tiêu tài chính

Bước 5 - Chấm điểm các chỉ tiêu phi tài chính

Bước 6 -Tổng hợp điểm và xếp hạng

Tuy nhiên kết cấu của hệ thống này vẫn còn nhiều bất cập, kết quả chấm điểm phân loại nợ từ hệ thống so với cách phân loại nhóm nợ theo qui định của Ngân hàng Nhà nước vẫn còn có nhiều khác biệt, cần hoàn thiện chỉnh sửa để phù hợp hơn

c Công tác kiểm soát rủi ro tín dụng

Các kỹ thuật kiểm soát RRTD được thể hiện khá rõ nét trong hệ thống các văn bản thực thi chính sách tín dụng của BIDV như: Chính sách khách hàng; Quy trình cấp tín dụng; Chính sách định giá tài sản đảm bảo; Quy chế phân cấp ủy quyền trong phán quyết tín dụng; Hệ thống thông tin phòng ngừa rủi ro; Công tác kiểm tra kiểm soát nội bộ

- Né tránh rủi ro : Kỹ thuật này được thể hiện khá rõ nét thông qua chính sách khách hàng của BIDV Bắc Hà Nội Mục tiêu chính sách nhằm chọn lọc khách hàng vay vốn, chủ động né tránh rủi ro tín dụng bằng chính sách cấp tín dụng riêng cho từng nhóm khách hàng

- Kỹ thuật ngăn ngừa rủi ro: Kỹ thuật này được BIDV Bắc Hà Nội triển khai

áp dụng thông qua quy trình cấp tín dụng chặt chẽ qua nhiều công đoạn xử lý đảm bảo sự tách bạch giữa các chức năng và quy chế phân cấp ủy quyền trong phán quyết tín dụng nhằm phát huy nguyên tắc bỏ phiếu trong quyết định cho vay

- Kỹ thuật giảm thiểu tổn thất: BIDV Bắc Hà Nội sử dụng kỹ thuật này cơ bản dựa vào tài sản đảm bảo với cơ chế linh hoạt trong việc cho phép mở rộng đối tượng tài sản đảm bảo và phương pháp định giá khoa học nhằm hạn chế thấp nhất sự trượt giá tài sản đảm bảo khả năng giảm thiểu tổn thất khi xảy ra RRTD, điều này cho thấy quan

Ngày đăng: 02/01/2018, 22:48

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w