1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Tuần 12. Đọc thêm: Đò Lèn

15 169 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 5,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuần 12. Đọc thêm: Đò Lèn tài liệu, giáo án, bài giảng , luận văn, luận án, đồ án, bài tập lớn về tất cả các lĩnh vực ki...

Trang 2

I Tiểu dẫn

II Đọc – hiểu văn bản

2 Sự thức tỉnh của người cháu trước quy luật của cuộc đời.

III Tổng kết.

1 Kí ức tuổi thơ.

Trang 3

- Tên khai sinh: Nguyễn Duy Nhuệ

- Sinh năm: 1948.

-Quê: Thanh Hóa

I Tìm hiểu chung

1 Tác giả

-Xuất thân:

+ Gia đình nông dân nghèo.

+ Sớm mồ côi mẹ, sống với bà ngoại

- Vị trí: ông là một gương mặt tiêu biểu trong lớp

nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến chống Mỹ.

Trang 4

- Phong cách thơ:

+ Thơ ND là sự kết hợp hài hòa giữa cái duyên dáng, trữ tình với chất thế sự đậm đặc.

+ Nhiều bài là tiếng nói khẳng khái, bộc trực, đầy ngang tàng

mà trầm tĩnh, giàu chiêm nghiệm và mang tinh thần công dân sâu sắc.

- ND là một trong số ít các nhà thơ đã góp phần làm mới thể thơ lục bát bằng những tìm tòi theo hướng hiện đại.

Trang 5

• Ông được coi là một Nguyễn Huy Thiệp

trong lãnh vực thơ ca (theo Nguyễn Hưng Quốc)

• Nhận xét của Trịnh Công Sơn : "Hình hài

Nguyễn Duy giống như đám đất hoang, còn thơ Nguyễn Duy là thứ cây quý mọc

trên đám đất hoang đó "

Trang 6

-Bố cục: 2 phần

+ Phần 1 (5 khổ thơ đầu): hồi ức về người bà lam

lũ tảo tần bên cạnh sự vô tâm của người cháu.

+ Phần 2 ( khổ cuối ) : sự thức tỉnh của người

cháu trước quy luật nghiệt ngã của cõi đời để

càng xót xa, hối tiếc.

2.Bài thơ Đò Lèn

+ Đò Lèn là một địa danh nổi tiếng ở Thanh Hóa trong chiến tranh, quê ngoại của tác giả.

+ Bài thơ được viết vào tháng 9/1983 trong một dịp nhà thơ về thăm quê hương, được in trong tập thơ Ánh Trăng(1984)

Trang 7

Thuở nhỏ tôi ra cống Na câu cá níu váy bà đi chợ Bình Lâm

bắt chim sẻ ở vành tai tượng Phật

và đôi khi ăn trộm nhãn chùa Trần

Thuở nhỏ tôi lên chơi đền Cây Thị chân đất đi đêm xem lễ đền Sòng mùi huệ trắng quyện khói trầm thơm lắm điệu hát văn lảo đảo bóng cô đồng

II Đọc- hiểu văn bản

1.Năm khổ thơ đầu : Kí ức tuổi thơ

Trang 8

-“ Thuở nhỏ” : chỉ mốc thời gian

và chứa đựng, đong đầy nỗi ngậm

ngùi.

- Những kỉ niệm ùa về:

+ “ câu cá”, “ níu váy bà đi chợ “, “

bắt chim sẻ” , “ ăn trộm nhãn “, “

xem lễ đền Sòng “

+ Những trò chơi của cậu bé được

liệt kê với mức độ dày đặc.

Cho ta hình dung về một chú bé

tinh nghịch, hiếu động.

-Ba trong Năm địa danh được nhắc đến là chùa, đền: Chùa Trần, đền

Sòng, đền Cây Thị => Là nơi nhân vật “ tôi “ mải miết với những trò nghịch ngợm của mình, khám phá những điều kì thú.

- Những kỉ niệm sâu lắng: “ mùi hương trầm”, “ điệu hát văn “

Trang 9

Tôi đâu biết bà tôi cơ cực thế

bà mò cua xúc tép ở đồng Quan

bà đi gánh chè xanh Ba Trại

Quán Cháo, Đồng Giao thập thững những đêm hàn Tôi trong suốt giữa hai bờ hư thực

Giữa bà tôi và tiên, Phật, thánh, thần

Cái năm đói, củ dong riềng luộc sượng

Cứ nghe thơm mùi huệ trắng, hương trầm

Trang 10

-Tôi đâu biết : lời tự trách đầy tiếc nuối, xót xa của người cháu khi trưởng thành.

-Thao tác liệt kê: mò cua, xúc tép, gánh chè ->Gợi sự vất vả,

cơ cực của bà.Những cơ cực đó lẽ ra không nên có ở những người bà đã đi qua bao nhọc nhằn trong cuộc sống, không

nên có ở lứa tuổi lẽ ra phải được thảnh thơi vui vầy bên con cháu.

-Các địa danh: Ba Trại, đồng Quan, Quán Cháo, Đồng Giao -> nơi in dấu chân bà ngoại => Không gian mở rộng, kéo dài theo hành trình lam lũ của bà đồng thời khơi thêm nỗi xót xa trong lòng cháu.

-Thập thững : bước đi không vững chãi, thậm chí còn siêu vẹo của người mắt kém đang phải mang gánh nặng trên vai.

-Những đêm hàn: vừa chỉ thời gian, vừa có giá trị mô tả KG, việc sử dụng từ của tác giả đã mang được cả cái buốt giá của sương đêm.

-Những cơ cực của bóng dáng lầm lũi không được miêu tả chi

tiết => hy sinh âm thầm của bà.

Trang 11

-Tôi trong suốt: trong suốt là tính từ chỉ tính chật sự vật, hiện tượng nhưng đã được đưa vào câu thơ đảm nhiệm chức vụ

của động từ tình thái

-Hình ảnh bà được đặt đối sánh, ngang hàng với tiên, Phật,

thánh, thần thể hiện lòng ngưỡng mộ, tôn sùng của nhân vật tôi.

-Sự đối lập giữa hai không gian:

+ Hư : không gian tịnh tộ ( tiên, Phật, thánh, thần )

+ Thực : không gian trần tục ( bà tôi, củ dong riềng )

- Nghe thơm : ẩn dụ chuyển đổi cảm giác ( khứu giác sang thính giác ) đã nhấn mạnh sức ám ảnh của hương thơm quá khứ.

Trang 12

Bom Mĩ giội, nhà bà tôi bay mất

đền Sòng bay, bay tuốt cả chùa chiền thánh với Phật rủ nhau đi đâu hết

bà tôi đi bán trứng ở ga Lèn

Trang 13

-Hậu quả của chiến tranh: sự hoang tàn, đổ nát

nhà bà tôi bay mất, đền Sòng bay, bay tuốt cả chùa chiền.

Lời kể nhẹ nhàng

-Bay: thực chất là tan ra, là đổ nát, bay còn gắn với cảm thức tiên, Phật.

- Hình ảnh người bà: đi bán trứng ở ga Lèn trong mưa bom bão đạn

Hình ảnh người bà tảo tần để mưu sinh, kiên cường dẫu có khó khăn.

Trang 14

-Thời gian trôi đi, khi đã trưởng thành, nhận ra những hi

sinh lớn lao của bà, đã ý thức được tỉnh cảm, trách

nhiệm của mình, cũng là lúc nhân vật trức tình mất bà mãi mãi.

- Những thay đổi khi trở về quê hương:

+ Thiên nhiên : dòng sông bên lở, bên bồi

+ Bà: chỉ còn là nấm cỏ

Hai câu thơ cuối gây xúc động trong lòng người đọc, gợi về quy luật trường tồn của thời gian và quy luật

nghiệt ngã của đời người.

Trang 15

Vô tư

Vô tâm

Lúc trưởng thành

Ân hận muộn màng Hình ảnh phong phú

Từ ngữ gợi cảm

hồn nhiên

Tuổi thơ

III Tổng kết

Ngày đăng: 12/12/2017, 14:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w