1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vận dụng chủ nghĩa Mác-Lênin vào thời đại mới

28 869 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vận Dụng Chủ Nghĩa Mác-Lênin Vào Thời Đại Mới
Trường học Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn
Thể loại tiểu luận
Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 127,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự ra đời hình thành và phát triển của triết học là một quá trình lịch sử lâu dài. Đó là quá trình đấu tranh quyết liệt giữa các phái về những quan niệm khác nhau, đặc biệt là cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm bàn về vấn đề vật chất, ý thức và mối quan hệ giữa chúng. Chủ nghĩa duy vật, dù là duy vật chất phát cổ đại duy vật máy móc siêu hình hay duy vật biện chứng đều coi vật chất là cái có trước, ý thưcs là cái có sau. Trái lại chủ nghĩa duy vật là chủ nghĩa duy tâm khách quan đều xuất phát từ tinh thần, đều coi tinh thần là cái có trước, ý thức là cái có sau. Khái niệm vật chất, ý thức luôn luôn là trường đấu tranh quyết liệt có khi đổ máu giữa các phái duy tâm và duy vật. Cuộc đấu tranh xét tới cùng phản ánh cuộc đấu tranh giai cấp diễn ra trong xã hội đã phân chia thành giai cấp đối địch. Nhận thức triết học có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với bất cứ xã hội nào, đặc biệt trong thời đại ngày nay khi con người đang dần bước vào thế giới văn minh cao hơn ở đó khoa học kỹ thuật đã phát triển và đạt được thành tựu hết sức đáng kể, con người ngày càng tiến đến hoàn thiện hơn thì nhận thức triết học là yêu cầu đòi hỏi thiết yêú của đời sống. Nó là một phương tiện để đạt được tới các mục tiêu tối cao của nó, xác định vị trí của con người trong vũ trụ, nó là khoa học của các khoa học khác, nó đảm nhận chức năng tư duy cho “sự khôn ngoan”, vai trò thiện chí.

Trang 1

Lời nói đầu

Sự ra đời hình thành và phát triển của triết học là một quá trình lịch sửlâu dài Đó là quá trình đấu tranh quyết liệt giữa các phái về những quan niệmkhác nhau, đặc biệt là cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duytâm bàn về vấn đề vật chất, ý thức và mối quan hệ giữa chúng

Chủ nghĩa duy vật, dù là duy vật chất phát cổ đại duy vật máy móc siêuhình hay duy vật biện chứng đều coi vật chất là cái có trước, ý thưcs là cái cósau Trái lại chủ nghĩa duy vật là chủ nghĩa duy tâm khách quan đều xuất phát

từ tinh thần, đều coi tinh thần là cái có trước, ý thức là cái có sau Khái niệmvật chất, ý thức luôn luôn là trường đấu tranh quyết liệt có khi đổ máu giữa cácphái duy tâm và duy vật Cuộc đấu tranh xét tới cùng phản ánh cuộc đấu tranhgiai cấp diễn ra trong xã hội đã phân chia thành giai cấp đối địch

Nhận thức triết học có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với bất cứ xã hộinào, đặc biệt trong thời đại ngày nay khi con người đang dần bước vào thế giớivăn minh cao hơn ở đó khoa học kỹ thuật đã phát triển và đạt được thành tựuhết sức đáng kể, con người ngày càng tiến đến hoàn thiện hơn thì nhận thứctriết học là yêu cầu đòi hỏi thiết yêú của đời sống Nó là một phương tiện đểđạt được tới các mục tiêu tối cao của nó, xác định vị trí của con người trong vũtrụ, nó là khoa học của các khoa học khác, nó đảm nhận chức năng tư duy cho

“sự khôn ngoan”, vai trò thiện chí

Triết học biện chứng, với tư cách là phương pháp luận chung với tư cách

là kẻ hướng dẫn giúp đỡ cho nhận thức biết tìm phương hướng trong nhữnghiện tượng phức tạp nhất, bao giờ cũng trở nên cần thiết khi các nhiệm vụ củakhoa học càng trở nên phức tạp Đặc biệt là việc nhận thức nghiên cứu về vậtchất, ý thức và mối quan hệ vật chất -ý thức luôn là vấn đề chính cho mọi thờiđại, thời đại ngày nay cũng vậy

Trang 2

Chương I:

SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CÁC QUAN NIỆM

VỀ VẬT CHẤT, Ý THỨC VÀ MỐI QUAN HỆ GIỮA CHÚNG.

A Cơ sở lý luận.

Triết học Mác đặc biệt là chủ nghĩa Mác – Lênin đã có khái niệm hếtsức chặt chẽ đúng đắn về vật chất, ý thức và đặc biệt là mối quan hệ giữa vậtchất- ý thức Nó quan niệm về một thế giới khách quan mà con người cảmnhận được nhận thức được qua cảm giác

I Vật chất.

1 Sự hình thành các quan niệm về vật chất.

a Quan niệm cổ xưa.

Chủ nghĩa duy tâm phủ nhận sự tồn tại khách quan của vật chất, họ cho

sự tồn tại ấy là một “ tinh thần tuyệt đối” nào đó Chẳng hạn:

Pratông, một nhà duy tâm lớn nhất thời cổ, đại diện cho giới thượng lưuquí tộcở A-ten lúc bấy giờ cho rằng vật chất chỉ tồn tại được dưới dangj khảnăng vào ý niệm

Heghen, nhà duy tâm khách quan của triết học cổ điển Đức, cho rằngvật chất là do “ý niệm tuyết đối” sinh ra, ý niệm này đến giai đoạn phát triểnnhất định của nó sẽ tồn tại dưới hình thức những sự vật cụ thể

Mạt khác quan điểm của tôn giáo cĩng có quan niệm khác, họ phủ nhậnhết trơn các quan niệm duy vật, coi đó là điều vô lí, đã bao phủ bức màn ngungốc lên cả giai đoạn dàicủa kịch sử trong đó triết học đã biến thành nữ tì củathần học, giáo hội không thích chủ nghĩa duy vật và khái niệm vật chất theonghĩa triết học không coi chủ nghĩa duy vật là một thế giới quan, nghĩa là mộtcách hiểu biết nào đó về xã hội mà vu cáo những nhà duy vật là người vô luânlý

Trang 3

Một đại biểu mà tên tuổi của ông gắn với học thuyết về nguyên tử, mộtđại biểu xuất sắc của chủ nghĩa duy vật cổ đại,đó là Đe-mô-git Nổi bật trongtriết học của Đêmôgrit là học thuyết về nguyên tử Khái niệm nguyên tử đượcxây dựng trên cơ sở các khái niệm về”tồn tại” và “không tồn tại”.

Các đại biểu có tên tuổi của chủ nghĩa duy tâm khách quan, bằng cáchdiễn đạt khác nhau, tuy không phủ nhận sự tồn tại khách quan của vật chấtnhưng lại khiến cho sự tồn tại ấy phụ thuộc vào một tinh thần phổ biến nào đó

b Triết học thời trung cổ.

Thời kì trung cổ đánh dấu bởi sự tan rã của chế độ nô lệ và sự ra đời chế

độ phong kiến là thời kì mà đặc điểm của khuynh hướng triết học là sự pháttriển của chủ nghĩa kinh viện Tiêu biểu là:

Ôguýtistanh(554-430) ở Bắc Phi là đại biểu triết học lớn nhất cho triếthọc Cơ đốc giáo Ông quan niệm thế giới là giầu có, phong phú do thượng đếsáng tạo và được nhận thức bởi thượng đế

Tômat đa-canh(1225-1274) sinh ta ở Italia, nhà triết học đạo thiên chúagiáo, nhà triết học kinh điển Ông phân tích không ranh giới giữa triết học làthần học Đối tượng triết học la chân lý của lý trí, đối tượng của thần học làlòng tin tôn giáo Ông hạ thấp vai trò của triết học

c Triết học thế kỉ XV-XVIII

Thời kì này đánh giấu bởi sự phát triển một bước của xã hội loài ngườikhi mà những phát minh mới ra đời, thành tựu khoa học đã chứng minh mộtcách rõ nét về quan điểm triết học chẳng hạn

Nhà tư tưởng Côpennic (1473-1543) người BaLan với thuyết mặt trời làtrung tâm đã bác bỏ quan điểm kinh thánh đạo cơ đốc giáo Đây là một phátminh được xem là cuộc cách mạng trên trời” đánh dấu một bước trong cáchmạng trong quan hệ xã hội

Trang 4

Brunô(1548-1600) nhà triết học Italia, ngươi kế tục phát triển triết họcCô-pê-nic Ông chứng minh về tính không thống nhất vật chất của thế giới vậtchất.

Tuy nhiên cả hai ông vẫn còn tồn tại tư tưởng lẫn lộn các yếu tố duy vậtvới duy tâm và có tính chất phiến thần luận

Đến thời kỳ thế kỷ XVII-XVIII là thời kỳ phát triển rầm rộ của triết họcTây âu Do sự phát triển mạnh của lực lượng sản xuất làm quan hệ sản xuấtphong kiến lỗi thời đánh dấu bởi các cuộc cách mạng tư sản Tất cả đều làmtiền đề cho sự phát triển mới với nhiều đại biểu nổi tiếng

Phan-xi Be-can(1561-1626) nhà triết học Anh Ông đặt triết học củamình vào nhiệm vụ tìm kiếm con đường nhận thức sâu sắc thế giới tự nhiên

Tô-mát Hốp-pơ(1522-1679) nhà triết học duy vật Anh, người kế tục và

hệ thống hoá triết học của Be-can Ông là người đầu tiên sáng tạo ra hệ thốngđầu tiên của chủ nghĩa duy vật siêu hình trong lịch sử triết học Chủ nghĩa duyvật trong triết học của ông có hình thức phù hợp với đặc trưng và yêu cầu củakhoa học tự nhiên thời đó

Barut Xpinôda(1632-1677) nhà triết học Hà Lan nổi tiếng, nhà duy vật

và vô thần, nhà tư tưởng của tầng lớp dân chủ tư sản, thế giới quan của ông làphản ánh giai đoạn phát triển của các mối quan hệ tư sản ở Hà Lan

Beccơli (1685-1753) nhà triết học duy tâm, triết học của ông chứa đầy

tư tưởng thần bí, đối lập chủ nghĩa duy vật là chủ nghĩa duy tâm Triết họcBacơli là mẫu mực và là một trong những nguồn gốc của các lý thuyết triết họcduy tâm chủ quan cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX

Hêghen(1770-1831) nhà biện chứng, nhà duy tâm khách quan ông chorằng khởi nguồn của thế giới là “ý niệm tuyệt đối” hay “ tinh thần thế giới”

Hệ thống triết học của ông là lôzic học, triết học và tự nhiên, triết học về tinhthần Chính phép biện chứng của Hêghen đã mâu thuẫn với triết học duy tâmcủa ông và trở thành nguồn lí luận cho triết học Macxit

Trang 5

Phơbách(1804-1872) nhà duy vật chủ nghĩa kiệt xuất thời kì trước Macđại biểu nổi tiếng của triết học Đức, nhà tư tưởng của giai cấp tư sản đan chủĐức Phơbách có công lớn trong việc phê phán chủ nghĩa duy tâm của Hêghen.Triết học của Phơbách mang tính nhân bản chống chủ nghĩa duy tâm, chủnghĩa duy vật tầm thường, chống quan niệm tôn giáo.

Tóm lại, cùng với sự tiến bộ của khoa học tự nhiên chủ nghĩa duy vậtnói chung và khái niệm duy vật nói riêng thế kỉ VII và XVIII đã tiến bộ đượcbước dài Mặc dù còn nhiều hạn chế nhưng nó đã mở ra cho thế giới một kỷnguyên mới về triết học, nó là cơ sở, nguồn gốc cho sự ra đời của triết họcMac-Lênin

2 Triết học Mac-Lênin, khái niệm về vật chất.

a Khái niệm:

Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ hiện thực khách quan màcon người biết được là do cảm giác, cảm giác chép lại, chụp ảnh lại, phản ánhhiện thực khách quan đó, nhưng tồn tại hay không phụ thuộc vào cảm giác

b Đặc điểm:

- Vật chất là thực tại khách quan

- Vật chất có hai thuộc tính cơ bản là thuộc tính khách quan và thuộctính chủ quan Vật chất là thuộc tính thứ nhất, ý thức là thuộc tính thứ hai, vậtchất có trước ý thức có sau, vật chất quyết định ý thức

c ý nghĩa.

Định nghĩa về vật chất của Lênin đã thể hiện tính khoa học một cáchlôzic mang tính biện chứng lịch sử về thế giới vật chất vêg sự tồn tại kháchquan của thế giới Nó chứng tỏ sức mạnh tư duy trìu tượng của triết học, nóđưa lại niềm tin cho các nhà khoa học tự do nghiên cứu sáng tạo đồng thời nóchính là cơ sở lí luận để củng cố chủ nghĩa duy vật tạo nền tảng chống chủnghĩa duy tâm

Trang 6

II Ý thức.

Vật chất luôn vận động, biến đổi Trong quá trình vận động và phát triểnđến một mức độ nào đó đã có đủ những điều kiện thuận lợi thì sớm muộn vậtchất cũng sinh ra;” sản vật tối cao của mình là tính biết suy nghĩ” sản sinh rathực tế có ý thức

Vậy ý thức là gì: ý thức ở đâu ra?

Đối với chủ nghĩa duy tâm thì sự ra đời của chủ nghĩa ý thức là mộtphán đoán chưa được giải đáp về nguyên tắc Vì ý thức không phải là vật cản

mà con người có thể cảm nhận bằng giác quan họ đã gán cho ý thức mộtnguồn gốc siêu nhiên, coi ý thức là hoạt động, đặctính của một thực thể vậtchất là linh hồn

Thuyết “chúa sáng chế” trong kinh thánh, một chuyện thần bí thể hiệnquan điểm ý thức có trước và sáng tạo ra vật chất, sự ra đời của thuyết nàyngay từ đầu đã bị phê phán và dần dần ngày càng thấy rõ sự không phù hợpcủa nó đã có sẵn và vĩnh viễn, vô tận Chỉ khi nào con người dã có trình độcao, nhận thức được thế giới thì mới có ý thức

* Nguồn gốc của ý thức phải xuất phát từ cả nguồn gốc tự nhiên vànguồn gốc xã hội

Từ những hiện tượng tự nhiên, thế giới vật chất vận động liên tục nhữngdiễn biến xảy ra xung quanh ta mà chúng ta cảm nhận đưọc bằng giác quan,

mà hình thành dần phản xạ, phản xạ có điều kiện và phản xạ không có điềukiện Quá trình tiến hoá của loài người trải qua thời gian dài trong lịch sử, conngười ngày càng hoàn thiện mình hơn, đặc biệt là khi biết sử dụng công cụ laođộng, quá trình lao động làm con người luôn tìm mọi cách chinh phục tựnhiên Họ có nhu cầu trao đổi với nhau từ đó tư duy và ngôn ngữ ra đời và dầndần hoàn thiện nhận thức, những cảm giác thu nhận được đem lại trong conngười, được phân tích ra cuối cùng là ý thức được hình thành nghĩa là ý thức là

Trang 7

sản phẩm của một thứ vật chất có tổ chức cao la óc con người, óc là khí quan

tư duy của ý thức

Vậy ý thức là gì?

Ý thức thuộc lĩnh vực hoạt động tinh thần của con người, chỉ có trongcon người, ý thức là thuộc tính hay sản phẩm của kết cấu vật chất có tính chấtcao, sản phẩm của sản xuất xã hội, của sự phát triển xã hội

III Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức.

Nội dung của ý thức là sự phản ánh thế giới vật chất một cách tích cực.Năng lực phản ánh đó là của ý thức, tính độc lập tương đối và tác dụng tíchcực với thực tiễn

Hêghen, nhà triết học cổ điển Đức có hệ thống duy tâm hoàn chỉnh nhất

đã coi “ tinh thần thế giới “ là nền tảng của tự nhiên và xã hội Theo hêghen thì

sự vận động của tư duy mà ông dặt cho cái tên là ý niệm và biến nó thành mộtchủ thể độc lập, chính là chúa sáng tạo ra hiện thực này chỉ là hiện tượng bênngoài của ý niệm mà thôi Theo tôi thì sự vận động của tư duy chỉ là sự phảnánh sự vận động của hiện thực và biến hình vaò trong đầu óc con người

Đến các nhà chủ nghĩa duy vật biện chứng thuộc trường phái triết họcMacxit mà đại diện lớn là chủ nghĩa Mac-Lênin đã nêu một cách đầy đủ, khoahọc, chính xác về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức, coi nguyên lí vật chất

có trước ý thức có sau Nghĩa là: ý thức, tư duy không thể tồn tại được nếukhông có những điều kiện vật chất là bộ óc con người, ý thức tư duy con ngườikhông thể tồn tại được nếu không có khách thể vật chất bên ngoài là thế giới tựnhiên

Ý thức, vật chất là hai cái khác nhau, không thể coi ý thức cũng là vậtchất như quan điểm của chủ nghĩa duy vật tầm thường Chủ nghĩa duyvật tầmthường đã đem đối lập với cái cực đoan của thần học: Rút ra vật chất bằng mộtcực đoan khác: đồng nhất tinh thần với vật chất

Trang 8

Chủ nghĩa duy vật biện chứng coi vật chất có trước, ý thức có sau là sảnphẩm của vật chất là phản ánh của giới tự nhiên khách quan, nhưng không hềcoi đó là sự phản ánh thụ động, tiêu cực Vì ý thức được hình thành trong quátrình con người tác động tích cực đến tự nhiên, thay đổi bộ mặt tự nhiên làmcho nó thích ứng với nhu cầu của mình, nó trở nên tích cực với cải tạo tựnhiên Là sản phẩm của thựctiễn, nó tác động trở lại thực tiễn.

Việc xem ý thức và vật chất, cái nào có trước, cái nào quyết định cái nào

là vấn đề vĩnh viễn của triết học, nó là sự phân chia của hai phái Những ngườiquả quyết rằng tinh thần có trước tự nhiên, và do đó cuối cùng thừa nhận sángtạo ra thế giới chỉ thuộc về chủ nghĩa duy tâm Ngược lại, những người cho thếgiới tự nhiên có trước chỉ thuộc về trường phái khác nhau của chủ nghĩa duyvật

Chủ nghĩa duy vật biện chứng đã giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữavật chất và ý thức mà đã giải quyết được vấn đề thứ hai của triết học, đó là tưduy của chúng ta nhận thức được thế giới hiện thực

Sự đối lập về quan điểm giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâmquanh khái niệm về vật chất, ý thức và mối quan hệ giữa chúng luôn là vấn đềkhông bao giờ cũ Nó là vấn đề lớn về mặt nhận thức và thực tiễn

Thật vậy lần đầu tiên trong lịch sử triết học những người sáng lập ra chủnghĩa Mác coi vật chất là cái có trước, vật chất quyết định ý thức, ý thức dotồn tại xã hội do vật chất quyết định và phản ánh thế giới vật chất

Tồn tại vật chất trong đó tồn tại xã hội là đời sống vật chất của xã hộivới tất cả tính chất phức tạp và mâu thuẫn của nó Cơ sở vật chất của đời sống

xã hội là phương thức sản xuất, mỗi phương thức sản xuất sẽ sinh ra một ýthức xã hội nhất định ý thức xã hội là tổng hợp những lí luận chính trị và phápluật, những quan điểm tôn giáo triết học và đạo đức của một xã hội nó gồmtất cả các quan niệm tồn tại xã hội trên cơ sở phương thức sản xuất nhất định.Nói ý thức xã hội không có nghĩa là nói ý thức chung Giữa chúng giống nhau

là chúng đều là thuộc tính của bộ óc con người, đều là sự phản ánh của tồn tạikhách quan vào đầu óc của con người nhưngý thức xã hội chỉ phản ánh xã hội

Trang 9

còn ý thức nói chung là phản ánh về thế giới khách quan ý thức nói chungphản ánh dưới dạng khái niệm, suy lý, phán đoán thì ý thức xã hội lại phản ánhtồn tại xã hội qua những hình thái đặc thù như triết học, tôn giáo Tóm lạichúng giống nhau nguồn gốc nhưng khác nhau về nội dung, hình thức vàphương thức phản ánh.

Tóm lại quan niệm về vật chất, ý thức và quan hệ với vật chất mà chủnghĩa duy vật biện chứng thuộc phái triết học Macxit Lý luận triết họcMácLênin đã làm sáng tỏ được ba vấn đề đó Nó quan niệm về thế giới tồn tạikhách quan, tất cả những đang tồn tại khách quan đang vận động đều nóichung là vật chất Được con người chúng ta cảm giác được, nó tác động vào

bộ não của con người và tại bộ óc của con người nó đựoc phân tích mổ xẻ,nghĩa là ta nhận thức được đó là ý thức của con người Trên cơ sở đó nhậnthấy rõ được mối quan hệ vật chất và ý thức là mối quan hệ biện chứng Vậtchất là cái thứ nhất, là cái có trước, là cái quyết định, ý thức là cái có sau, làcái phản ánh thế giới vật chất đang tồn tại khách quan

Trang 10

B Cơ sở thực tiễn.

I Sự cần thiết phải có triết học khoa học.

Vào thời Hy Lạp cổ đại, triết học có nghĩa là mọi tư tưởng duy lý về conngười và tự nhiên là như vậy, nó bao gồm cả khoa học Vào thời cận đại dotình trạng lý trí được chế tạo hoá nhanh chóng và khoa học, trở thành độc lậptriết học phương Tây thấy mình bó hẹp vào sự phân tích cái khái niệm, ngônngữ và ý thức Nhiều vấn đề triết học cổ đại bàn đến nay bị bỏ quên vì bị chêbai của triết học cổ đại Những nhà khoa học bậc nhất đặc biệt ngày càng trởthành có tính chất triết học hơn, việc ranh giới giữa triết học và khoa học cụthể là ngày càng rõ Nhưng nhờ những thành tựu của khoa học mà triết họccàng chứng minh tính đúng đắn của mình về quan niệm vật chất, ý thức và mốiquan hệ vật chất về một thế giới thống nhất tồn tại khách quan chúng ta, màchúng ta cảm nhận được nó thông cảm giác, chúng ta nhận thức được thế giới

II Triết học tự nhiên.

Triết học các hệ thống không thừa nhận một ranh giới tuyệt đối nào đótrong các lĩnh vực phức tạp có tổ chức đã được tổ chức lại thành tôn ti Lĩnhvực vô cơ và lĩnh vực hữu cơ, cũng như lĩnh vực cá nhân và lĩnh vực xã hộiđều là những mặt có quan hệ về mặt khái niệm Những đặc tính không thể giảnlược được với tính cách những tổng thể những tiếp đoạn về không gian và thờigian của một trật tự lặp đi lặp lại của sự tồn tại ổn định có tính chất điều khiểnhọc và những mặt liên quan với nhau có tính chất tôn ti trong việc thích nghi.Nhờ tình trạng các khoa học kinh nghiệm và các mô hình trong hệ thống pháttriển nhanh chóng, ngay các mô hình này có thể được xác lập một cách chặtchẽ và cải tiến những cách nhìn tiêu biểu của các nhà triết học tự nhiên quacác thời đại

Trang 11

III Triết học tư duy.

Nếu như triết học về các hệ thống không thừa nhận một ranh giới tuyệtđối nào giữa các hiện tượng có tính chất phức tạp và có tổ chức ở các cấp độtôn ti khác nhau, khi triết học này không thể tư duy vào bất kỳ cấp độ nào.Triết học các hệ thống quan niệm “tư duy là ý thức khả năng suy nghĩ về bảnthân mình, mặc dầu những khat năng như vậy chỉ có thể phát triển oqr một vài

tư duy Mỗi khi những tác động từ bên ngoài ảnh hưởng đến hệ thống và phùhợp với những lực bên trong vẫn duy trì, hệ thống trình độ ổn định năng độngcủa nó thì hệ thống có những cảm giác tương tự như những cảm giác thích thú

và thoả mãn của chúng ta Vởy chúng ta đi đến hai triển vọng của triết học các

hệ thống Nó cho phép triết học xác lập những biểu hiện nhiều mặt của tư duycon người trong mối quan hệ với những hiện tượng tự điều chỉnh có tính chấtđiều khiển học trong cơ thể của con người Sự bộc lộ mặt nguồn gốc chủngloại của những khả năng tự điều chỉnh ở trong sinh thành của chủng loaị cũngnhư sự tóm tắt và xây dựng của chúng trong sự sinh thành cá thể cấp cho takhảo sát về triết học

IV Triết học với các vấn đề đạo đức, nghệ thuật, tôn giáo:

Con người là một hệ thống năng động trong cấu trúc đang phát triển của

tự nhiên Con người dễ bị tổn thương về mặt cấu trúc qua những quá trình liên

hệ phản hồi, nhờ đó các thế giới hình thức của tri giác được tạo thành với cácđặc điểm bất biến của nó là hình dáng, kích thước và vận động, để đến biểuhiện cao nhất của con người là tư duy

Con người là một bộ phận khăng khít của các tôn ti bao gồm toàn thếgiới của những hệ thống năng lượng làm cho sự ổn định một cách điều khiểnhọc Sự phối hợp nhau của tất cả những hệ thống như vậy trong các hệ thống ởcấp độ cao nhất cung cấp những tiêu chuẩn thích nghi và do đó cung cấpnhững tiêu chuẩn đánh giá cho tất cả mọi hệ thống Các nhà triết học về hệthống có thể rút ra những khái niệm về tốt và xấu, tốt hơn và xấu hơn và lấychất liệu thông tin khoa học có tính chất kinh nghiệm khác cho các sườnnhững khái niệm đạo đức

Trang 12

Theo quan điểm hệ thống, con người là một hệ thống năng động nhấtquán được phân tích, ở hai hướng về mặt tinh thần và thể xác Các biến cố xảy

ra trong hệ thống này là những kiểu xuất hiện đặc biệt tương đối tách rời, đó lànhững kinh nghiệm mỹ học và kinh nghiệm tôn giáo Các cấu trúc ý nghĩa là lệthuộc vào tổ chức của hệ thống này và cảm giác của nó với môi trường xungquanh

Triết học và những vấn đề xung quanh triết học, đều có mối liên hệ chặtchẽ với nhau, biện chứng cho nhau cùng giải quyết một vấn đề chung nào đó

về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức mà mọi thời đại đều nhắc đến trênnhững quan điểm riêng Thời đại ngày nay khi mà nhân loại đang tiến lênnhững bước cao của tiến trình lịch sử của thời đại, thời đại của văn minh, trithức và khoa học là bước đo tiêu chuẩn Thế giới văn minh mà ở đó lượng vậtchất đã được sản xuất ra rất lớn, nhờ thành tựu to lớn của khoa học kỹ thuật,người ta càng thấy rõ tính đúng đắn của quan niệm chủ nghĩa Mác Lênin vềthế giới vật chất Thế giới đang tồn tại, xã hội thì đang vận động một cách cóquy luật, xã hội tiến tới phương thức sản xuất mới với lực lượng sản xuất pháttriển mạnh chưa từng thấy, tạo ra quan hệ sản xuất mới

V Thực tiễn cách mạng Việt Nam:

Thời đại hậu công nghiệp và những thành tựu khoa học đã đạt được tớiđỉnh cao kỳ diệu Nổi bật trong thời đại ngày nay là xu thế toàn cầu hoá ngàycàng mở rộng và phát triển theo nhiều hướng, đa dạng và phong phú diễn ratrên tất cả các lĩnh vực

Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo cách mạng Việt Nam xây dựng chủnghĩa xã hội Sau khi nhận thức được thực tiễn của những thay đổi của cáchmạng thế giới trong những thập kỷ 80, đặc biệt là ở các nước xã hội chủ nghĩanhư Liên Xô và Đông Âu; sự lớn mạnh của chủ nghĩa tư bản và thành tựu khoahọc lớn đã áp dụng vào cuộc sống Cũng như thực trạng cách mạng Việt Nam,Đảng đã sớm giác ngộ và thực hiện khởi xướng đổi mới tại Đại hội VI và tiếptục công cuộc đổi mới trong những kỳ Đại hội tiếp theo, đặc biệt là đến Đạihội lần thứ VII và VIII với chiến lược xác định xây dựng Công nghiệp hoá -

Trang 13

HIện đại hoá, phát triển kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thịtrường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN Thành tựu màtoàn Đảng, toàn dân ta đạt được trong 15 năm đổi mới và 10 năm thực hiệnCNH-HĐH là những tiền đề cơ bản cho cách mạng Việt Nam Tiếp tục pháthuy sức mạnh, đồng thời bắt nhịp và đuổi kịp các nước tiên tiến trên thế giới,đưa nhân dân thoát khỏi nghèo đói với mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hộicông bằng, dân chủ, văn minh, xây dựng cơ sở cho cách mạng chủ nghĩa xã

hội

Trang 14

Chương II:

BIỆN CHỨNG VỀ MỚI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC

TRONG SỰ NGHIỆP CÁCH MẠNG HIỆN NAY.

I Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trong sự nghiệp cách mạng hiện nay, quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin.

1 Sự thay đổi mới các vấn đề trong thời đại ngày nay.

Thế giới đã và đang có sự thay đổi to lớn về nhiều mặt Đặc biệt vớiviệc tiến bộ nhanh chóng của khoa học kỹ thuật, với thành tựu hết sức rực rỡ,

nó mở ra cho thế giới quanh ta một kỷ nguyên mới về cách nhìn nhận, cáchđánh giá và cách luận Khoa học hiện đại đã có những bước nhảy vọt, nhữngphát minh mới khẳng định tính khoa học của thế giới vật chất và sự vận độngcủa nó

Chúng ta đang tiến tới một thế giới văn minh mới, ở đó khoa học kỹthuật phát triển rất hiện đại, lực lượng sản xuất cũng phát triển rất nhanh vàlàm tạo ra nhiều mối quan hệ chung và riêng của xã hội, tạo ra một lượng vậtchất lớn, đa dạng và phong phú Con người ngày càng có nhu cầu nhiều hơn,đặc biệt là nhu cầu về các hoạt động xã hội, chính trị, văn hoá, tôn giáo Tờt cảđều dần được hiện đại hoá, thông tin liên lạc nhanh chóng Với thành tựu củacông nghệ thông tin, về điện tử ĐâY là thành tựu hết sức kỳ diệu của conngười, nó nâng cao sức mạnh trí óc, nó giúp chúng ta suy nghĩ sâu hơn vềchúng ta và cả về thế giới Thành tựu của khoa học kỹ thuật trong những thậpniên qua là hết sức rực rỡ, người ta càng ngày càng khám phá ra thế giới này.Thật đa dạng và phong phú, con người còn tự tạo ra được các loại chất liệumới Tất nhiên nó phải là vật chất của các vật chất khác Khoa học đánh dấubởi những mốc son lịch sử, loài người chúng ta tiến qua những giai đoạn lịch

sử khác nhau với những nền văn minh khác nhau, con người nhận thức về thếgiới ngày một sâu sắc hơn Thế giới tồn tại và vận động một cách khách quantheo những quy luật chung, riêng khác nhau Ngày nay con người càng hiểubiết về nguồn gốc của mình hơn Bước đột phá của khoa học về chứng minhcấu tạo chất của cơ thể vật chất chúng ta, thời đại của công nghệ sinh học đang

Ngày đăng: 25/07/2013, 14:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w