MỞ ĐẦU .............................................................................................................................. 1 CHƢƠNG I. CƠ SỞ HÌNH THÀNH CÁC HỌC THUYẾT VỀ THƢƠNG MẠI QUỐC TẾ ... 2 1.1. Khái niệm ................................................................................................................... 2 1.2. Cơ sở hình thành thƣơng mại quốc tế .......................................................................... 2 1.3. Vai trò của thƣơng mại quốc tế .................................................................................... 2 1.4. Các công cụ của thƣơng mại quốc tế ............................................................................ 2 CHƢƠNG II. QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN HỌC THUYẾT VỀ THƢƠNG MẠI QUỐC TẾ .. 3 2.1 Các lý thuyết thƣơng mại quốc tế trƣớc cổ điển ............................................................ 3 2.1.1. Lý thuyết thƣơng mại quốc tế của chủ nghĩa trọng thƣơng ..................................... 3 2.2 Các lý thuyết thƣơng mại quốc tế cổ điển ...................................................................... 4 2.2.1. Lý thuyết thƣơng mại quốc tế của chủ nghĩa trọng nông ........................................ 4 2.2.2. David Hume với cơ chế hàng tiền giá ................................................................. 4 2.2.3. Lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith ........................................................... 5 2.2.4. Học thuyết thƣơng mại quốc tế của David Ricardo ................................................ 6 2.2.5 Gottfried von Haberler với lý thuyết chi phí cơ hội ................................................. 9 2.2.6. Học thuyết thƣơng mại quốc tế của John Stuart Mill. ............................................ 9 2.3. Học thuyết thƣơng mại quốc tế của chủ nghĩa Mác Lênin ........................................ 10 2.3.1. Nội dung học thuyết thƣơng mại quốc tế của K.Marx Ph. Ăngghen .................... 10 2.3.2. Sự phát triển, bổ sung của VI.Lênin đối với học thuyết thƣơng mại quốc tế của K.MarxĂngghen ......................................................................................................... 10 2.4. Học thuyết thƣơng mại quốc tế của các nhà kinh tế học hiện đại ................................ 11 2.4.1. Mô hình HeckscherOhlin và các lý thuyết liên quan ............................................ 11 2.4.1.1 Lý thuyết HeckscherOhlin ............................................................................ 11 2.4.1.2 Định lý Stolper Samuelson ........................................................................... 12 2.4.2 Nghịch lý Leontief ................................................................................................ 13 2.4.3 Lý thuyết chu kỳ sống sản phẩm và thƣơng mại quốc tế ........................................
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Giáo viên hướng dẫn: Lê Thị Hồng Điệp
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Ngọc Ánh
Mã sinh viên: 17041092
Khóa: QH2018E
Hà Nội, tháng 6/2020
Trang 2MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I CƠ SỞ HÌNH THÀNH CÁC HỌC THUYẾT VỀ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ 2
1.1 Khái niệm 2
1.2 Cơ sở hình thành thương mại quốc tế 2
1.3 Vai trò của thương mại quốc tế 2
1.4 Các công cụ của thương mại quốc tế 2
CHƯƠNG II QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN HỌC THUYẾT VỀ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ 3
2.1 Các lý thuyết thương mại quốc tế trước cổ điển 3
2.1.1 Lý thuyết thương mại quốc tế của chủ nghĩa trọng thương 3
2.2 Các lý thuyết thương mại quốc tế cổ điển 4
2.2.1 Lý thuyết thương mại quốc tế của chủ nghĩa trọng nông 4
2.2.2 David Hume với cơ chế hàng - tiền - giá 4
2.2.3 Lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith 5
2.2.4 Học thuyết thương mại quốc tế của David Ricardo 6
2.2.5 Gottfried von Haberler với lý thuyết chi phí cơ hội 9
2.2.6 Học thuyết thương mại quốc tế của John Stuart Mill 9
2.3 Học thuyết thương mại quốc tế của chủ nghĩa Mác - Lênin 10
2.3.1 Nội dung học thuyết thương mại quốc tế của K.Marx - Ph Ăngghen 10
2.3.2 Sự phát triển, bổ sung của VI.Lênin đối với học thuyết thương mại quốc tế của K.Marx-Ăngghen 10
2.4 Học thuyết thương mại quốc tế của các nhà kinh tế học hiện đại 11
2.4.1 Mô hình Heckscher-Ohlin và các lý thuyết liên quan 11
2.4.1.1 Lý thuyết Heckscher-Ohlin 11
2.4.1.2 Định lý Stolper - Samuelson 12
2.4.2 Nghịch lý Leontief 13
2.4.3 Lý thuyết chu kỳ sống sản phẩm và thương mại quốc tế 13
2.4.3.1 Lý thuyết về khoảng cách công nghệ 13
2.4.3.2 Lý thuyết chu kỳ sống sản phẩm quốc tế 14
2.4.4 Lý thuyết mới về thương mại 14
2.4.5 Lý thuyết lợi thế cạnh tranh của M.Porter 15
Chương III Vận dụng các lý thuyết áp dụng cho thương mại quốc tế ở Việt Nam 18
3.1 Thực trạng thương mại quốc tế ở Việt Nam 18
3.2 Vận dụng các lý thuyết thương mại quốc tế vào Việt Nam 20
3.2.1 Vận dụng lý thuyết lợi thế so sánh vào Việt Nam 21
3.2.2 Vận dụng lý thuyết Heckscher - Ohlin vào Việt Nam 24
Trang 33.2.3 Vận dụng lý thuyết về vòng đời quốc tế của sản phẩm vào Việt Nam 25
3.2.4 Vận dụng lý thuyết thương mại mới của Paul Krugman 26
3.2.5 Vận dụng lý thuyết lợi thế cạnh tranh quốc gia vào Việt Nam 27
3.3 Một số giải pháp kiến nghị 27
KẾT LUẬN 29
TÀI LIỆU THAM KHẢO 30
Trang 4MỞ ĐẦU
Trong thế kỷ XX, thương mại thế giới tăng trưởng với tốc độ chưa từng có Giai đoạn
1960 đến trước cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2007, thương mại toàn cầu
về hàng hoá và dịch vụ tăng trưởng thực ở mức trung bình khoảng 6% hàng năm, khoảng 2 lần tốc độ tăng của GDP thực tế Hội nhập thương mại mang lại lợi ích cho tất cả các quốc gia, mức độ hội nhập thương mại tác động đến tăng trưởng kinh tế và phụ thuộc vào đặc điểm của từng nước và các chính sách Thương mại quốc tế vận động không ngừng theo những quy luật và tính quy luật nhất định Việc nghiên cứu nguồn gốc của thương mại quốc tế thông qua việc xem xét cụ thể các lý thuyết thương mại quốc tế điển hình đã được các nhà kinh tế thế giới phân tích, sắp xếp một cách có hệ thống từ cổ điển đến hiện đại là rất cấp thiết, trên cơ sở đó đúc kết kinh nghiệm vận dụng để có thể áp dụng một cách có hiệu quả nhất vào Việt Nam trong điều kiện hiện nay Với ý nghĩa đó, việc nghiên cứu đề tài: “Sự hình thành và phát triển của các học thuyết về thương mại quốc tế và vận dụng vào trong bối cảnh của Việt Nam” là rất cần thiết và có ý nghĩa về cả mặt lý luận lẫn thực tiễn
Trang 5CHƯƠNG I CƠ SỞ HÌNH THÀNH CÁC HỌC THUYẾT VỀ THƯƠNG MẠI
QUỐC TẾ 1.1 Khái niệm
Thương mại quốc tế là quá trình trao đổi hàng hóa, dịch vụ giữa các nước thông qua buôn bán nhằm mục đích kinh tế và lợi nhuận
1.2 Cơ sở hình thành thương mại quốc tế
Quy luật vận động của lưu thông hàng hóa là hàng hóa được di chuyển từ nơi có giá
cả thấp đến nơi có giá cả cao Thương mại quốc tế ra đời dựa trên hai cơ sở kinh tế khách quan:
giữa các nước, nên chuyên môn hoá sản xuất một số mặt hàng mà quốc gia có thể sản xuất chỉ với mức chi phí thấp để đổi lại những mặt hàng của nước khác mà đối với họ là có lợi hơn
cả các mặt hàng với chi phí thấp sản xuất hơn so với các nước khác hoặc là quốc gia duy nhất có thể sản xuất được sản phẩm đó Đa dạng hóa sản xuất và trao đổi hàng hóa là lý do cơ bản cho các quốc gia tham gia vào thương mại quốc tệ
Thương mại quốc tế ra đời khí kinh tế hàng hóa phát triển, lưu thông hàng hóa vượt khỏi biên giới quốc gia hình thành trao đổi hàng hoá quốc tế
1.3 Vai trò của thương mại quốc tế
Có thể nói thương mại quốc tế có ý nghĩa sống còn với mỗi quốc gia Cụ thể:
Thương mại quốc tế tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất trong nước phát triển, tác động trực tiếp lên sự phát triển của nền sản xuất
của các nước khác trên thế giới để thúc đẩy quá trình sản xuất xã hội phát triển trên cơ sở tiếp thu những tiến bộ về khoa học công nghệ và sử dụng những hàng hoá, dịch vụ tốt, rẻ mà mình chưa sản xuất được hoặc sản xuất không hiệu quả
làm ổn định tình hình kinh tế và chính trị của các quốc gia và của toàn thế giới
tăng cao, góp phần thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào trong nước và mở rộng các mối quan hệ quốc tế
Hoạt động thương mại quốc tế sử dụng các công cụ: Tỷ giá hối đoái, cán cân thanh toán quốc tế, hạn ngạch (cô ta), thuế quan bảo hộ, hàng rào phi thuế quan và hàng rào phi thuế quan
Trang 6CHƯƠNG II QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN HỌC THUYẾT VỀ THƯƠNG MẠI
QUỐC TẾ
Thương mại quốc tế được coi là đã ra đời cách đây hàng ngàn năm nhưng phải đến thế kỷ XV mới xuất hiện những nỗ lực đầu tiên nhằm giải thích nguồn gốc dẫn đến thương mại quốc tế Tiếp nối chủ nghĩa trọng thương trong các thế kỉ XVI - XVII là các lý thuyết truyền thống về thương mại quốc tế ra đời từ cuối thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XX Từ giữa thế kỷ XX trở đi xuất hiện các lý thuyết mới giải thích thương mại quốc tế dựa trên những yếu tố khác ngoài lợi thế so sánh, điển hình là lý thuyết vòng đời quốc tế của sản phẩm, lý thuyết mới về thương mại và lý thuyết lợi thế cạnh tranh quốc gia Việc nghiên cứu các lý thuyết này sẽ giúp trả lời các câu hỏi cơ bản là tại sao các quốc gia lại buôn bán với nhau? Lợi ích của việc buôn bán đó là gì? Cơ cấu và dòng thương mại quốc tế được xác định như thế nào?
2.1 Các lý thuyết thương mại quốc tế trước cổ điển
2.1.1 Lý thuyết thương mại quốc tế của chủ nghĩa trọng thương
Xuất hiện từ thế kỉ XV đến thế kỉ XVII ở châu Âu, chủ nghĩa trọng thương là hệ tư tưởng kinh tế đầu tiên của giai cấp tư sản hình thành trong thời kỳ tan rã của phương thức sản xuất phong kiến, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa ra đời Lý thuyết đầu tiên giải thích về thương mại quốc tế là nghiên cứu của chủ nghĩa trọng thương Giai đoạn đầu của chủ nghĩa trọng thương, các nhà kinh tế trọng thương chủ trương tích lũy vàng, cấm xuất khẩu vàng và thực hiện cán cân thương mại xuất siêu để làm giàu cho quốc gia W.Staford đã có tư tưởng đề nghị Chính phủ Anh cấm xuất khẩu tiền, đồng thời quy định tỷ giá hối đoái bắt buộc để thực hiện thương mại quốc tế Thomas Mun, một tác giả theo tư tưởng trọng thương người Anh đã viết năm 1630:
“Phương tiện phổ dụng từ đó làm tăng sự giàu có và ngân khố của chúng ta chính là hoạt động ngoại thương, trong đó ta phải luôn tuân theo nguyên tắc: hàng năm bán cho những người bên ngoài một lượng giá trị nhiều hơn những gì chúng ta tiêu dùng của họ Ông đã nhận thấy vai trò của thương mại quốc tế làm tăng nhanh sự giàu có của một quốc gia, xuất khẩu tiền là công cụ và thủ đoạn để làm giàu và từ đó đề ra hai phương thức thực hiện thương mại xuất siêu Antoire Monchien nhấn mạnh vai trò của thương mại quốc tế chính là nguồn gốc làm tăng tài sản quốc gia"
Những người theo chủ nghĩa trọng thương cho rằng một quốc gia được coi là giàu hơn nếu như có nhiều vàng hơn Tư tưởng cơ bản của chủ nghĩa trọng thương về thương mại quốc tế được thể hiện như sau:
Thứ nhất, các quốc gia cần phải tránh tình trạng thâm hụt thương mại bằng mọi giá Quan điểm của trường phái này nhấn mạnh vai trò xuất khẩu Nó là bàn đạp cho sản xuất trong nước, làm dòng kim loại quý đổ vào bổ sung cho kho của cải của quốc gia
đó Trường phái này không đề cao ý nghĩa của nhập khẩu Họ cho rằng nó làm giảm nhu cầu đối với hàng sản xuất trong nước, dẫn tới sự thất thoát của cải quốc gia Nếu xuất khẩu lớn hơn nhập khẩu đồng nghãi với việc của cải một quốc gia tăng lên
Trang 7Thứ hai, nhà nước phải tích cực can thiệp vào thương mại quốc tế để duy trì thặng dư thương mại bằng cách thi hành chính sách bảo hộ mậu dịch, theo đuổi chủ nghĩa dân tộc về kinh tế Nhà nước phải hạn chế tối đa nhập khẩu, đồng thời khuyến khích sản xuất và xuất khẩu thông qua các công cụ chính sách thương mại như thuế quan, trợ cấp
Lý thuyết trọng thương đã sớm khẳng định được vai trò của thương mại quốc tế, đánh giá được vai trò của nhà nước trong việc điều tiết các hoạt động thương mại quốc tế Tuy vậy, với cách giải thích đơn giản, lập luận của trường phái trọng thương vẫn tồn tại nhiều hạn chế đó là chưa làm rõ được cơ cấu hàng hóa trong thương mại quốc tế, tính hiệu quả và lợi ích từ quá trình chuyên môn hóa sản xuất và trao đổi cũng chưa được chỉ ra, và họ cũng chưa nhận thức được rằng các kết luận của họ chỉ đúng trong một số trường hợp nhất định Ngoài ra, trường phái trọng thương còn thường bị phê phán ở những vấn đề như coi vàng bạc là hình thức của cải duy nhất, gắn mức cung tiền tệ cao với sự thịnh vượng của quốc gia, coi thương mại là một “trò chơi” có tổng lợi ích bằng không (zero-sum game – nghĩa là lợi ích mà một nước thu được chính bằng thiệt hại mà nước khác mất đi)
2.2 Các lý thuyết thương mại quốc tế cổ điển
2.2.1 Lý thuyết thương mại quốc tế của chủ nghĩa trọng nông
Chủ nghĩa trọng nông Pháp xuất hiện trong khoảng 1756 - 1777 Các nhà kinh tế thuộc trường phái trọng nông cũng có tư tưởng thừa nhận xuất khẩu hàng hóa và vai trò của thương mại quốc tế F.Quesnay ủng hộ tư tưởng mậu dịch tự do cả trong và ngoài nước Theo F.Quesnay, bất cứ bộ phận nào của thu nhập cũng chỉ được xuất khẩu ra nước ngoài để đổi lấy tiền hay hàng hoá là việc bình thường
2.2.2 David Hume với cơ chế hàng - tiền - giá
Nhà kinh tế học cổ điển David Hume đã chỉ ra một sự thiếu nhất quán cố hữu trong học thuyết trọng thương vào năm 1752 Ông đưa ra lập luận bằng ví dụ quan hệ buôn bán giữa hai nước Anh và Pháp Giả sử Anh có cán cân thương mại thặng dư trong buôn bán với Pháp (do xuất khẩu sang Pháp nhiều hơn nhập khẩu từ Pháp), và theo
đó là một lượng vàng bạc sẽ di chuyển vào nước Anh Điều này khiến cho lượng cung tiền trong nước ở Anh sẽ tăng mạnh và gây ra lạm phát ở nước này Tuy nhiên, tại Pháp, dòng vàng bạc chảy ra ngoài đất nước sẽ gây tác động ngược lại Lượng cung tiền tại Pháp sẽ giảm xuống, và giá cả tại nước này cũng sẽ giảm theo Sự thay đổi này trong mối tương quan giữa giá cả tại Anh và giá cả tại Pháp sẽ khuyến khích người dân Pháp mua ít hàng hóa của Anh hơn (bởi vì đã trở nên đắt đỏ hơn) còn người dân Anh sẽ mua nhiều hàng hóa của Pháp hơn (vì trở nên rẻ hơn) Kết quả dẫn đến cán cân thương mại của Anh sẽ bị xấu đi còn cán cân thương mại của Pháp sẽ được cải thiện Hiện tượng này sẽ diễn ra cho đến khi nào thặng dư thương mại của Anh không còn nữa Như vậy, theo Hume, trong dài hạn không quốc gia nào có thể
Trang 8duy trì được thặng dư trong cán cân thương mại và do vậy vàng bạc cũng không thể tích lũy mãi như các nhà trọng thương đã dự tính
2.2.3 Lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith
Năm 1776 với “Sự giàu có của các quốc gia“, Adam Smith đã đưa ra quan điểm phản bác lại nhìn nhận của chủ nghĩa trọng thương cho rằng thương mại là một trò chơi có tổng lợi ích bằng không Ông đã xây dựng lý thuyết có tính hệ thống đầu tiên
về thương mại quốc tế dựa trên khái niệm lợi thế tuyệt đối, nguyên lý này sau đó được K.Marx, V.I.Lênin và P.Samuelson bổ sung và phát triển Lý thuyết lợi thế
tuyệt đối của Adam Smith được phát biểu như sau: “nếu quốc gia A có thể sản xuất mặt hàng X rẻ hơn so với quốc gia B, và quốc gia B có thể sản xuất mặt hàng Y rẻ hơn so với quốc gia A, thì lúc đó mỗi quốc gia nên tập trung vào sản xuất mặt hàng
mà mình có hiệu quả hơn và xuất khẩu mặt hàng này sang quốc gia kia” Theo Adam
Smith, một nước không nhất định phải sản xuất tất cả mặt hàng tiêu dùng trong nước,
mà trái lại mỗi nước nên chuyên môn hoá sản xuất những sản phẩm mà mình có lợi thế tuyệt đối và sau đó buôn bán với các nước khác, lấy những sản phẩm mà nước ngoài sản xuất hiệu quả hơn thì khi đó các bên đều có lợi
Để giải thích lý thuyết lợi thế tuyệt đối, ta có thể xem ví dụ dưới đây
Giả sử thế giới chỉ có 2 quốc gia: Việt Nam và Hàn Quốc, mỗi quốc gia có 120 lao động, sản xuất 2 mặt hàng là thép và gạo
Hình 2.1 Minh họa lợi thế tuyệt đối Bảng 2.1 Lợi ích từ thương mại dựa trên lợi thế tuyệt đối
Số lao động cần thiết để sản xuất 1kg thép và 1kg gạo
Sản xuất và tiêu dùng trong trường hợp tự cung tự cấp (Giả sử mỗi nước dành
84 lao động để sản xuất thép và 36 lao động để sản xuất gạo)
Trang 9Như vậy, theo bảng phía trên, nhờ có chuyên môn hóa và thương mại, sản lượng thép
và gạo đều được tăng lên và người tiêu dùng ở cả hai nước được tiêu dùng nhiều hơn
Ta có thể thấy rằng thương mại là một trò chơi có tổng lợi ích là một số dương; và thương mại mang lại lợi ích ròng cho tất cả các nước tham gia
Theo lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith, sự khác biệt về lợi thế tuyệt đối giữa hai quốc gia là nguồn gốc trao đổi của thương mại quốc tế Lý thuyết lợi thế tuyệt đối đã mô tả hướng chuyên môn hóa sản xuất và trao đổi giữa các quốc gia,đồng thời là công cụ để các quốc gia gia tăng phúc lợi Lý thuyết này đã bác bỏ quan điểm của chủ nghĩa trọng thương coi thương mại như một trò chơi tổng lợi ích bằng không, phê phán quan điểm cho rằng chính phủ phải sử dụng các chính sách kiểm soát thương mại để gia tăng của cải cho đất nước Tuy nhiên mô hình thương mại này mới giúp giải thích được một phần của thương mại quốc tế đó là lý do hoạt động trao đổi buôn bán giữa các quốc gia có điều kiện sản xuất khác nhau, vẫn chưa giải thích được lý do của thương mại quốc tế trong trường hợp các quốc gia có điều kiện sản xuất tương đồng, có cùng lợi thế sản xuất một hay một vài sản phẩm hoặc một quốc gia có lợi thế tuyệt đối ở cả hai mặt hàng, hoặc một quốc gia không có được lợi thế tuyệt đối về bất kì mặt hàng nào
2.2.4 Học thuyết thương mại quốc tế của David Ricardo
Để giải quyết một phần vấn đề hạn chế từ lợi thế tuyệt đối đã nêu trên, trong cuốn sách “Những nguyên lý của kinh tế chính trị“ năm 1817, nhà kinh tế học người Anh David Ricardo đã xây dựng lý thuyết về lợi thế so sánh, nguyên lý này sau đó cũng tiếp tục được K.Marx, V.I.Lênin và P.Samuelson, Gottfried von Haberler, Heckscher
- Ohlin và Paul Krugman phát triển David Ricardo lập luận, nếu mỗi nước chuyên
Trang 10môn hoá vào các sản phẩm mà nước đó có lợi thế tương đối (có hiệu quả sản xuất so sánh cao nhất) thì thương mại sẽ có lợi cho các bên Nói cách khác, một quốc gia sẽ
có lợi khi sản xuất và xuất khẩu những mặt hàng mà quốc gia đó có thể sản xuất với hiệu quả cao hơn một cách tương đối hay giá cả thấp hơn một cách tương đối so với quốc gia kia Đây chính là tư tưởng quan trọng đặt nền móng cho lý thuyết nền kinh
tế mở, hội nhập vào nền kinh tế thế giới
Hình 2.2 Minh họa lợi thế tuyệt đối Bảng 2.2 Lợi ích từ thương mại dựa trên lợi thế tuyệt đối
Lương lao động cần thiết để sản xuất 1kg thép và 1kg gạo
Sản xuất và tiêu dùng trong trường hợp tự cung tự cấp (Giả sử mỗi nước dành
84 lao động để sản xuất thép và 36 lao động để sản xuất gạo)
Trang 11Lợi ích từ chuyên môn hóa và trao đổi
Trong cương lĩnh kinh tế của D.Ricardo, học thuyết thương mại quốc tế gồm các nội dung sau:
khẩu hàng hóa khác và ngược lại
cao hay hạ thấp giá cả hàng hóa trong thị trường nội địa mà là hạ thấp giá cả đó đối với người tiêu thụ hàng hóa ở nước ngoài
không phải thay đổi giá trị tự nhiên Việc thay đổi giá cả tự nhiên do có sự thay đổi trong việc phân phối của kim loại quý gây ra
mại là sự trao đổi lẫn nhau những tiện nghi và những vật xa xỉ Việc mở rộng buôn bán sẽ đem lại cho nhân dân mỗi nước khả năng xác lập được một sự phân công lao động đúng đắn nhất, sử dụng tư liệu sản xuất có lợi nhất để có được hàng hóa tốt hơn, rẻ hơn D.Ricardo chứng minh ngoại thương làm tăng khối lượng của
đồ vật chứ không làm tăng tổng số giá trị Nhập khẩu nhiều là tiền đề cho xuất khẩu rộng rãi các loại hàng hóa Ngoại thương sẽ tồn tại trong bất cứ điều kiện nào, do những quy luật kinh tế quyết định
chuyên môn hóa sản xuất ngày càng cao Một nước có thể phát huy được những lợi thế tối đa của những lĩnh vực sản xuất của mình đang được giá cao nhất, sản phẩm ít bị cạnh tranh hơn
lấy quy tắc năng suất tương đối, chi phí tương đối làm cơ sở để lựa chọn xem ai nên sản xuất mặt hàng nào, lĩnh vực nào để anh ta được đặt vào một cách tương đối tốt nhất
của nước khác
Tư tưởng thương mại quốc tế của D.Ricardo biểu hiện cho thời kỳ phát triển mạnh ở nước Anh Họ cung cấp hàng hóa cho cả thế giới Bằng thương mại quốc tế, nước Anh đã khai thác triệt để các yếu tố ngoại thương để làm giàu cho quốc gia Học thuyết thương mại quốc tế của D.Ricardo không chỉ phản ánh trình độ phát triển nền ngoại thương của nước Anh mà còn đánh dấu bước phát triển mới của tư tưởng thương mại quốc tế Tuy nhiên, ở lý thuyết lợi thế tương đối của D.Ricardo còn tồn
Trang 12tại một số hạn chế, đó là vẫn chưa đề cập đến chi phí vận tải, bảo hiểm và các hàng rào bảo hộ mậu dịch, các yếu tố có tính chất quyết định đến hiệu quả của thương mại quốc tế; mô tả nền kinh tế thế giới ở mức độ chuyên môn hóa hoàn toàn
2.2.5 Gottfried von Haberler với lý thuyết chi phí cơ hội
Năm 1930, Gottfried Haberler phát triển lý thuyết lợi thế so sánh trên chi phí cơ hội Chi phí cơ hội của một sản phẩm (ví dụ A) được xác định là lượng sản phẩm khác (ví
dụ B) phải từ bỏ (không sản xuất) để dành nguồn lực cho việc sản xuất sản phẩm A
Lý thuyết chi phí cơ hội khắc phục được khiếm khuyết của Ricardo liên quan tới giả thiết lao động là yếu tố duy nhất trong sản xuất sản phẩm, chi phí cơ hội không phụ thuộc giả thiết: “chỉ có 1 yếu tố sản xuất duy nhất là lao động” và giá so sánh được xác định dựa trên chi phí cơ hội Theo đó, mỗi quốc gia chuyên môn hoá sản xuất và xuất khẩu sản phẩm mà mình có chi phí cơ hội thấp hơn (sản phẩm có lợi thế so sánh)
và nhập khẩu sản phẩm mà mình có chi phí cơ hội cao hơn thì tất cả các quốc gia đều
có lợi Lý thuyết chi phí cơ hội đã xem xét các yếu tố chi phí toàn diện hơn lý thuyết tính giá trị bằng lao động của Adam Smith và David Ricardo và có tính đến các yếu
tố giá cả trong mậu dịch quốc tế (Daniel M Bernhofen, 2005) Tuy nhiên, lý thuyết chi phí cơ hội vẫn còn những số hạn chế sau: (1) Luận điểm chi phí cơ hội không đổi
là không phù hợp thực tế (thực tế phải là chi phí cơ hội gia tăng) (2) Yêu cầu chuyên môn hóa sản xuất hoàn toàn cũng không phù hợp với thực tế, với các nước nhỏ phải chuyên môn hóa sản xuất hoàn toàn trong điều kiện không chi phối được giá cả thị trường thế giới sẽ gặp nhiều khó khăn và bất lợi (Đinh Thị Liên & Đoàn Thị Mỹ Hạnh, 2009) Như vậy, với Gottfried Haberler, sản phẩm có chi phí cơ hội thấp hơn thì có lợi thế so sánh
2.2.6 Học thuyết thương mại quốc tế của John Stuart Mill
John Stuart Mill là nhà triết học và kinh tế người Anh, một nhà tư tưởng lỗi lạc của thời đại cải cách xã hội thế kỷ 19 Năm 1848, ông xuất bản tác phẩm "Những nguyên
lý kinh tế chính trị và một số ứng dụng vào triết học xã hội" và trong tác phẩm này Mill đã tỏ ra là một người kế tục xuất sắc David Ricardo, đưa ra những nhận định chính xác hơn và rút ra những hệ quả sâu sắc hơn
Lý thuyết thương mại quốc tế của D.Ricardo chưa nói tới giá trị quốc tế Do vậy, J.S.Mill không dựa trên chi phí so sánh mà dựa vào giá trị trao đổi và nêu ra nguyên tắc: Quốc gia nào mà sản phẩm của mình có nhu cầu được ưa chuộng nhất ở nước ngoài thì quốc gia đó thu được nhiều lợi nhuận nhất trong trao đổi hàng hóa
Ví dụ, nếu hoa quả của Việt Nam được dân chúng nước Nhật Bản ưa thích thì giá cả của nó sẽ tăng, nhờ đó khi đổi hoa quả lấy bánh kẹo ở Nhật Bản thì sẽ được nhiều bánh kẹo hơn và ngược lại
J.S.Mill cho rằng trao đổi quốc tế được điều tiết bởi những chi phí tương đối và mức cầu tương đối Cầu tương đối lại phụ thuộc vào mức thu nhập ở mỗi nước và chi phí
Trang 13tương đối phụ thuộc hai nhân tố: trình độ phát triển khoa học kỹ thuật và những nguồn lực sẵn có của từng quốc gia
2.3 Học thuyết thương mại quốc tế của chủ nghĩa Mác - Lênin
Giữa thế kỷ XIX, tư tưởng về thương mại tự do dần dần nổi lên giữ vai trò chủ đạo ở các nước phương Tây Đây là cơ sở làm xuất hiện tư tưởng thương mại quốc tế của chủ nghĩa Marx
2.3.1 Nội dung học thuyết thương mại quốc tế của K.Marx - Ph Ăngghen
triển nền kinh tế hàng hóa tư bản chủ nghĩa Ăngghen khẳng định: Xuất khẩu của nước Anh theo chu kỳ 10 năm, cứ 10 năm sau sẽ lớn hơn 10 năm trước Bởi vậy, nhập khẩu cũng là dấu hiệu của thị trường mở rộng
giá hối đoái phát sinh trên cơ sở thương mại quốc tế phát triển Thương mại quốc
tế xuất - nhập khẩu cả kim loại quý, kim loại quý chạy ra nước ngoài và đều trở về theo quy luật nhất định Việc xuất khẩu bạc sang châu Á đã phát triển một cách phi thường, trước hết là buôn bán của châu Âu, châu Mỹ với châu Á Số bạc do châu Âu xuất khẩu đã được bù lại phần lớn bằng số vàng đã nhập vào Bất cứ lúc nào cũng có xuất- nhập khẩu kim loại quý qua lại giữa các nước
hoảng kinh tế Khủng hoảng kinh tế bao giờ cũng nổ ra sau khi tỷ giá hối đoái bị đảo lộn, nghĩa là khi nhập khẩu kim loại quý lớn hơn việc xuất khẩu Những kim loại quý bị chạy ra nước ngoài thì đa phần đều biểu hiện của triệu chứng ngoại thương bị thay đổi
liệu tiền trên quy mô quốc tế
các nguyên nhân sau:
Chênh lệch lúc đó cần phải thanh toán, bất kể do nguyên nhân gì
Đồng tiền của nước có bị mất giá, dù là tiền gì
Tùy thuộc vào sự biến động về giá trị so sánh giữa bạc và vàng nếu hai nước cùng dùng hai kim loại quý đó làm tiền
Học thuyết thương mại quốc tế được K.Marx- Ăngghen phân tích khá toàn diện và sâu sắc trong điều kiện nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa
2.3.2 Sự phát triển, bổ sung của VI.Lênin đối với học thuyết thương mại quốc tế của K.Marx-Ăngghen
V.I.Lênin phát triển học thuyết thương mại quốc tế của K.Marx-Ăngghen và bổ sung bằng lý thuyết độc quyền ngoại thương, trong độc quyền ngoại thương có độc quyền ngoại tệ và lý thuyết bàn về thị trường V.I.Lênin phát triển, bổ sung vào học thuyết thương mại quốc tế của Marx- Ăngghen những nội dung sau:
Trang 14 Thứ nhất, thị trường là do phân công lao động xã hội tạo ra Phân công lao động quốc tế là cơ sở hình thành thị trường quốc tế, thương mại quốc tế Ở trình độ phân công lao động nhỏ hẹp thì có thị trường địa phương hạn hẹp - thị trường thời đại phong kiến Ở trình độ phân công lao động quốc gia thì có thị trường quốc gia
Ở trình độ phân công lao động quốc tế thì có thị trường quốc tế
không bị lệ thuộc, muốn bảo hộ sản xuất trong nước thì phải có độc quyền ở mức
độ nhất định Trong điều kiện thương mại quốc tế không ngang sức, muốn bảo vệ độc lập, tự chủ phải thực hiện độc quyền ngoại thương trong đó có độc quyền ngoại tệ
đi liền với thương mại quốc tế, xuất khẩu tư bản thì có tư bản tài chính quốc tế kiểu IMF, WB xuất hiện V.I.Lênin khẳng định: Bất kỳ sự độc quyền nào cũng gây ra thối nát và trì trệ Bản chất của chủ nghĩa tư bản là độc quyền và thống trị, nhưng vì độc quyền làm mất động lực phát triển lên chủ nghĩa tư bản có chống độc quyền bởi độc quyền trái ngược với sự phát triển theo cơ cấu kinh tế mở
Thứ tư, thương mại quốc tế phát triển trong quy luật phát triển không đều buộc chủ nghĩa tư bản gây ra các cuộc chiến tranh thương mại đi đến phân chia lại thị trường thế giới về lãnh thổ, thực chất chính là phân chia thị trường quốc tế
Vậy, học thuyết thương mại quốc tế của chủ nghĩa Mác-Lênin đã khai thác, phát triển khá toàn diện và phong phú lý luận nền kinh tế thị trường tư bản Nó có ý nghĩa chỉ đạo thực tiễn trong quá trình tham gia, phát triển thương mại quốc tế và hội nhập kinh
tế quốc tế của nhiều quốc gia trên thế giới
2.4 Học thuyết thương mại quốc tế của các nhà kinh tế học hiện đại
2.4.1 Mô hình Heckscher-Ohlin và các lý thuyết liên quan
2.4.1.1 Lý thuyết Heckscher-Ohlin
Vào đầu thế kỷ XX, hai nhà kinh tế học người Thụy Điển là Eli Heckscher (1919) và Bertil Ohlin (1933) đã đưa ra cách giải thích mới về lợi thế so sánh, dẫn tới sự ra đời của lý thuyết Heckscher-Ohlin Lý thuyết Heckscher-Ohlin đã giải thích nguồn gốc của thương mại qua hai yếu tố là hàm lượng các yếu tố sản xuất cần thiết để sản xuất
ra một mặt hàng nào đó và mức độ dồi dào các yếu tố sản xuất của một nước
Phát biểu lý thuyết: “Lý thuyết Heckscher-Ohlin cho rằng các quốc gia sẽ sản xuất và xuất khẩu những mặt hàng đòi hỏi sử dụng nhiều nguồn lực (yếu tố) dồi dào và nhập khẩu những mặt hàng đòi hỏi sử dụng nhiều nguồn lực khan hiếm của các quốc gia đó” Mô hình Heckscher-Ohlin trình bày lý thuyết thương mại quốc tế hiện đại và tác
động của nó đến việc phân phối thu nhập, tăng trưởng kinh tế
Lý thuyết Heckscher-Ohlin có sự khác biệt quan trọng so với lý thuyết lợi thế so sánh Theo lý thuyết lợi thế so sánh thì mỗi quốc gia thực hiện chuyên môn hóa sản xuất mặt hàng mà mình có thể sản xuất hiệu quả hơn một cách tương đối so với các
Trang 15mặt hàng khác Lý thuyết lợi thế so sánh và lợi thế tuyệt đối đều nhấn mạnh đến năng suất của quá trình sản xuất một mặt hàng cụ thể nào đó, ngược lại lý thuyết Heckscher-Ohlin cho rằng một nước thực hiện chuyên môn hóa sản xuất và xuất khẩu mặt hàng nào sử dụng nhiều yếu tố sản xuất dồi dào nhất, chứ không phải mặt hàng
mà nước đó có thể sản xuất với năng suất cao nhất
Heckscher-Ohlin dã tập trung giải thích nguyên lý lợi thế so sánh từ khía cạnh nguồn lực vì:
nhất giải thích nguyên lý lợi thế so sánh
Thứ hai: Phương pháp xem xét lợi thế so sánh dựa trên cơ sở nguồn lực sẽ nối thương mại quốc tế với phân bổ tài nguyên trong nước và việc phân phối thu nhập
Hình 2.4 Cơ cấu cân bằng chung của học thuyết H-O
Sau này mô hình này được Samuelson phát triển trở thành H-O-S (Heckscher-Ohlin Samuelson): “Sự khác biệt về giá cả của các yếu tố sản xuất giữa các quốc gia làm phát sinh thương mại quốc tế, và thông qua thương mại quốc tế sẽ dần làm giảm sự khác biệt về giá cả dẫn đến sự cân bằng tương đối và tuyệt đối về giá cả của các yếu
tố sản xuất giữa các quốc gia (Samuelson, 1954)” Tiếp tục phát triển cho mô hình
H-O áp dụng cho nhiều quốc gia và nhiều sản phẩm bởi Jaroslav Vanek nên gọi là mô hình Heckscher-Ohlin-Vanek (H-S-O): “Trong điều kiện của giá cả yếu tố sản xuất cân bằng và trình độ công nghệ sản xuất là như nhau giữa các quốc gia ở cùng ngành nghề, thì quốc gia nên tập trung sản xuất và xuất khẩu sản phẩm có nguồn lực dồi dào
và nhập khẩu sản phẩm có yếu tố sản xuất khan hiếm” (Vanek, 1968)
2.4.1.2 Định lý Stolper - Samuelson
Năm 1941, P.Samuelson và Wolfgang Stolper đã đưa ra định lý: Sự tăng giá so sánh của loại hàng hóa cần nhiều lao động sẽ làm tăng tỷ lệ tiền lương so với giá của cả 2 loại hàng hóa và làm giảm tiền thuế so với giá của 2 loại hàng hóa
Từ nghiên cứu của Paul Samuelson-Wolfgang Stolper và định lý Heckscher - Ohlin rút ra được ảnh hưởng của thương mại quốc tế tác động đến phân phối thu nhập trong
Trang 16nước: Một nước có lợi thế so sánh ở mặt hàng cần nhiều nhân tố sản xuất thừa tương đối Buôn bán tự do sẽ làm tăng giá cả so sánh của loại hàng hóa đó và theo định lý Stolper-Samuelson, sẽ làm tăng thu nhập thực tế của nhân tố thừa tương đối và làm giảm thu nhập của nhân tố hiếm tương đối Toàn đất nước thu được lợi từ thương mại, nhân tố thừa thu được nhiều lợi hơn từ sự mất mát của nhân tố thiếu Nhân tố sản xuất thừa, theo nguyên tắc này, có thể bù vào sự thiếu hụt từ nhân tố thiếu và toàn nền kinh tế vẫn có lợi Như vậy, sẽ có một tầng lớp trong nền kinh tế bị thiệt hại do buôn bán tự do, còn toàn đất nước được lợi
2.4.3 Lý thuyết chu kỳ sống sản phẩm và thương mại quốc tế
Ngày nay công nghệ không ngừng biến đổi, là một nhân tố quan trọng được chú trọng trong hoạt động thương mại quốc tế
2.4.3.1 Lý thuyết về khoảng cách công nghệ
Năm 1961 Posner đề xuất mô hình sự khác biệt về công nghệ là nguyên nhân chính dẫn đến thương mại giữa các nước phát triển Các quốc gia chạy đua để cho ra mắt những sản phẩm cũng như phương thức sản xuất, công nghệ mới Lợi ích nhận được
là có được sự độc quyền trong ngắn hạn trên thị trường thế giới Đây chính là cơ hội cho các nước xuất khẩu các sản phẩm mới của mình sang các nước có trình độ tương
tự, mức thu nhập tương tự Lý thuyết khoảng cách về công nghệ có thể giải thích thương mại giữa hai nhóm nước
tiềm năng công nghệ Vai trò tiên phong ở những lĩnh vực khác nhau sẽ được trao đổi và thương mại sẽ giúp cả hai nhận được các mặt hàng có tính ưu việt
về công nghệ Đây là thương mại giữa các nhóm nước có cùng trình độ phát triển
Thứ hai, thương mại có thể diễn ra ở các quốc gia có trình độ phát triển khác
nhau Nước thứ nhất (có trình độ phát triển) đưa ra các sản phẩm mới, công nghệ mới và nhận lại các mặt hàng đã được chuẩn hóa từ nước thứ hai Theo thời gian các sản phẩm mới lại được chuẩn hoá ở nước thứ hai và nước thứ nhất với khả năng sáng tạo cao lại đưa ra các sản phẩm mới phức tạp khác