Trong sản xuất mới, nguyên liệu chính để làm giấy là sợi cellulose từ gỗ hoặc rơm rạ. Ngoài ra còn cần dùng đến các chất khác như keo và chất độn. Độ dài của các sợi cellulose thay đổi tùy theo nguyên liệu làm giấy và có ảnh hưởng lớn đến chất lượng và độ bền về thời gian của giấy. Không phải loại gỗ nào cũng có thể dùng làm giấy trong công nghiệp được. Gỗ từ các loại cây trong bảng dưới đây được coi là thích hợp để dùng làm giấy
Trang 1CÂY NGUYÊN LIỆU SẢN XUẤT
BỘT GIẤY NGUYÊN CHẤT
I GIỚI THIỆU CHUNG
Trong sản xuất mới, nguyên liệu chính để làm giấy là sợi cellulose từ gỗ hoặc rơm
rạ Ngoài ra còn cần dùng đến các chất khác như keo và chất độn Độ dài của các sợicellulose thay đổi tùy theo nguyên liệu làm giấy và có ảnh hưởng lớn đến chất lượng
và độ bền về thời gian của giấy Không phải loại gỗ nào cũng có thể dùng làm giấytrong công nghiệp được Gỗ từ các loại cây trong bảng dưới đây được coi là thích hợp
để dùng làm giấy:
Cây lá kim
(Cây gỗ mềm)
Cây lá rộng (Cây gỗ cứng)
TràmĐay
Bã mía, rơm rạ
Điều kiện ở từng địa phương và số lượng có sẵn quyết định loại gỗ nào được sửdụng làm nguyên liệu (các loại cây tăng trưởng nhanh như cây dương đáp ứng đượcnhu cầu lớn của công nghiệp trên thế giới) Trên nguyên tắc tất cả các loại cócellulose đều có khả năng được sử dụng để sản xuất giấy Ở châu Âu và châu Mỹngười ta còn sử dụng cây lúa mì và lúa mạch đen để lấy sợi, ở Bắc Phi một số loại cỏ,tại Nhật cho tới ngày nay rơm từ cây lúa vẫn được sử dụng và ở Ấn Độ là cây tre
Để sản xuất bột giấy nguyên chất, gỗ có thể được xử lý cơ học hay hóa học:
• Bột gỗ mài trắng: được mài từ gỗ đã được bóc vỏ trong các máy mài gỗ
• Bột gỗ mài nâu: hình thành khi các cuống cây được thấm ướt trong các nồi nấutrước khi được mài
• Bột nhiệt cơ: được sản xuất từ phế liệu gỗ được băm nhỏ và vỏ bào của các
xưởng cưa Theo phương thức TMP (thermo-mechanical pulp), hay "bột nhiệt
Trang 2cơ", chúng được làm thấm ướt ở 130 °C Các liên kết linhin (lignin) nhờ vậy bị
yếu đi Sau đó nước được thêm vào và các miếng gỗ này được nghiền trong các
máy nghiền (refiner) Nếu hóa chất được sử dụng thêm vào trong lúc thấm ướt phương pháp này được gọi là phương pháp CTMP (chemo-thermo- mechanical pulp), hay "bột hóa nhiệt cơ".
Nếu chỉ dùng các phương thức cơ để sản xuất, thành phần của bột gỗ không phải
là các sợi cellulose mà là các liên kết sợi đã được mài và nghiền nhỏ ra Để có thể lấyđược sợi nguyên chất phải dùng đến các biện pháp xử lý gỗ bằng hóa học
II CÁC LOẠI CÂY NGUYÊN LIỆU SẢN XUẤT BỘT GIẤY
1 Cây lá kim
1.a Vân sam (danh pháp khoa học: Picea) là một chi chứa khoảng 35 loài cây lá
kim thường xanh, dạng cây gỗ trong họ Pinaceae, được tìm thấy tại các khu vực ônđới và taiga ở Bắc bán cầu Cây vân sam có thân gỗ mềm, rất tốt cho việc sử dụnglàm bột giấy
Chúng là các cây gỗ lớn, cao tới 20–60 (đôi khi tới 95) m khi phát triển đầy đủ và
có thể phân biệt bằng các cành mọc vòng xoắn và hình dáng dạng nón của nó Các lákim của chúng gắn đơn lẻ với cành thành một vòng xoắn, mỗi lá kim trên một cấutrúc nhỏ giống như cái móc gọi là thể gối Cá lá kim này bị rụng đi sau khoảng 4–10năm, để lại các cành thô nháp với các thể gối sót lại Đây là một cách dễ dàng đểphân biệt các loài trong chi này với các chi khác gần giống nhưng với các cành tươngđối nhẵn nhụi
Các nhà khoa học đã tìm thấy một cụm các cây vân sam Na Uy trong dãy núi ởmiền tây Thụy Điển, có tên gọi là Old Tjikko, với độ tuổi là 9.550 năm và chúng là cáccây gỗ già nhất thế giới còn sống đã biết
1.b Linh sam
Cây linh sam (Abies balsamea) là loài cây họ thông Cây có dạng hình nón, cao đến 55m, lá giống cây kim, có mùi thơm, bột linh sam màu tím Cây linh sam được trồng nhiều ở Bắc Mỹ để lấy nhựa, lá làm thuốc chữa bệnh hoặc lấy gỗ sản xuất đồ nội thất, bột giấy
Trang 3Bộ Thông hay bộ Tùng bách (danh pháp khoa học: Pinales) là một bộ chứa tất cảcác loài thông, bách, kim giao… còn tồn tại đến ngày nay thuộc về lớp duy nhất củangành Thông (Pinophyta) là lớp Thông (Pinopsida) Bộ này trước kia còn được gọi làConiferales.
Đặc trưng cơ bản để phân biệt bộ này là cấu trúc sinh sản gọi là nón Tất cả cácloài thực vật có quả nón, như tuyết tùng, thông, vân sam, linh sam, thông rụng lá, cựsam, hoàng đàn, tùng tháp hay thanh tùng… đều được gộp vào trong bộ này Tuynhiên, một số các thực vật quả nón đã hóa thạch lại không được xếp vào bộ này màthuộc về các bộ phân biệt khác trong ngành Pinophyta
Các loài thanh tùng trước đây dược tách ra thành một bộ riêng chứa chính chúng
là bộ Taxales, nhưng các chứng cứ phân tích bộ gen gần đây cho thấy họ Thanh tùng
là đơn ngành với các loài thực vật quả nón hiện còn đang tồn tại khác và như thếkhông có lý do để tách riêng
Hiện nay, họ này được nhập chung vào bộ Pinales Thông ba lá danh pháp khoahọc là Pinus kesiya - là cây gỗ lớn, vỏ màu nâu xám, nứt dọc rãnh sâu, nhựa ít nhưng
có mùi hắc Tán cây hình trứng rộng Lá cây hình kim, thường đính 3 lá kim trên mộtđầu cành ngắn Lá kim thường có màu xanh ngọc, mỗi lá kim thường dài 20-25 cm, láthường cứng Đầu cành ngắn đính lá thường có độ dài 1,5 cm, đính cách vòng xoắn ốctrên cành lớn
Trang 4Nón đơn tính cùng gốc, nón cái thường chín trong 2 năm, khi chín hóa gỗ Nónhình trứng, có kích thước: cao 5-9 cm, rộng 4-5 cm Cuống thường cong, có chiều dài1,5 cm Lá bắc không phát triển Lá noãn phát triển thành vảy, mỗi vảy có 2 hạt, hạt
có cánh Mặt vảy hình thoi, có gờ ngang nổi rõ, có rốn vảy hơi lồi
Gỗ thông ba lá được dùng trong ngành xây dựng, kiến trúc, đóng tàu thuyền…Nhựa để chế biến ra Côlôphan, tùng dương; dẫn xuất của tinh dầu thông được sửdụng trong nhiều ngành công nghiệp như sơn, giấy, dược phẩm… những mặt hàngxuất khẩu có giá trị
Thông ba lá chủ yếu được trồng trên đồi núi trọc, đất trơ sỏi đá hoặc có trảng cỏ,cây bụi thấp Nơi có thực bì cao, phát quang toàn diện, cần thiết có thể đốt; nếu thực
bì thấp và thưa, không cần phát bỏ hoặc chỉ phát khu vực hố trồng Làm đất trồngtheo phương thức trồng rừng cục bộ, hố đào trước khi trồng 1-2 tháng, kích thước30x30x30cm hay 40x40x40cm
Các tỉnh miền Bắc nên trồng vào vụ thu (tháng 8-10) hoặc xuân (tháng 2-4) TừNghệ An trở vào nên trồng vào vụ thu Các tỉnh miền Nam trồng vào đầu mùa mưa
Ở Việt Nam, 90% diện tích thông ba lá là ở cao nguyên Langbian Thông 3 lá mọc
ở độ cao từ 1.000 đến 1.800m Tuy nhiên, loài thông này cũng có thể mọc được ở độcao thấp hơn từ 800 đến 1.000m trên cao nguyên Di Linh Thông 3 lá có diện tích lớnnhất trong số các loài thông ở Việt Nam, mọc ở Hà Giang, Sơn La, Gia Lai, Kon Tum nhưng nhiều nhất là trên cao nguyên Lang Bian
2 Cây lá rộng
2.a Dương
Chi Dương (Populus) là một chi chứa các loài cây thân gỗ với tên gọi chung làdương - là những cây lá sớm rụng và lá của chúng chuyển thành màu vàng tươi trướckhi rụng vào mùa thu Lá của nhiều loài dương, bao gồm các nhánh Populus vàAegiros (nhưng không bao gồm nhánh Tacamahara), có cuống lá dẹt ở phần bên, vìthế các cơn gió nhẹ dễ dàng làm cho lá lung lay, tạo ra cảm giác toàn cây "rung rinh"trong gió
Các loài dương trong nhánh Aegiros thông thường là các loại cây của vùng đất ẩmhay ven sông Các loài dương trong nhánh Populus là các loại cây lá rộng nằm trong
số quan trọng nhất của hệ sinh thái ven Bắc cực
Trang 5Các giống dương lai ghép phát triển nhanh được trồng trong các đồn điền tại nhiềukhu vực trên thế giới để lấy gỗ làm bột giấy Gỗ nói chung có màu trắng, thôngthường với màu hơi vàng Nó cũng được mua bán như là một loại gỗ cứng không đắttiền, sử dụng để làm các giá đỡ hàng hóa và gỗ dán rẻ tiền (làm que diêm, hộp đựngphó mát Camembert, lõi ván trượt tuyết do có độ dẻo cao…).
2.b Cáng lò (cây bulô)
Cáng lò (Betula alnoides Buch Ham Ex D Don) là loài cây gỗ lớn, rụng lá theo
mùa, trong điều kiện tự nhiên, cây có thể đạt tới 30m về chiều cao, đường kính ngangngực đạt 85cm và là loài cây ưa sáng, không chịu bóng, không thể tái sinh khi rừng có
độ tàn che cao nhưng tái sinh tốt dọc theo các con đường mới mở hoặc đất sau nươngrẫy Cáng lò có phân bố rộng ở hầu hết các vùng phía Nam của Bắc bán cầu Loài câynày là loài cây bản địa của các nước Trung Quốc, Lào, Thái Lan, Myanma, Ấn Độ,Nepal và Việt Nam Ở Việt Nam, loài cây này phân bố ở các tỉnh vùng núi phía Bắcnhư Lạng Sơn, Sơn La, Lai Châu, Hà Giang, Quảng Ninh và một số khu vực khác củaTây Nguyên
Hoa tự bông đuôi sóc, đơn tính, quả dài tới 12cm có 2 đến 5 quả trên một chùm,khi quả chín có màu vàng hoặc vàng nâu Bảo quản hạt trong điều kiện nhiệt độ thấp,
có thể giữ được tỷ lệ nẩy mầm cao sau hơn 2 năm Cáng lò được trồng với mật độ
1650 hoặc 1100cây/ha Cáng lò sinh trưởng nhanh, tăng trưởng đường kính bình quânnăm đạt 2-2,5cm và tăng trưởng về chiều cao bình quân năm đạt 1,5-2m Đây là loàicây sinh trưởng nhanh, dáng thân đẹp, đã và đang được quan tâm nghiên cứu, pháttriển rừng trồng quy mô lớn ở một số nước trên thế giới Từ năm 1980, Trung Quốc đãnghiên cứu gây trồng loài cây này ở tỉnh Quảng Tây và Vân Nam Từ đó đến nay, các
kỹ thuật gây trồng đã được các nhà khoa học Trung Quốc nghiên cứu một cách hệthống Tính chất cơ lý và sử dụng gỗ của loài cây này cũng được nghiên cứu
2.c Cây bạch đàn (khuynh diệp)
Loài này xuất xứ từ nước Úc được dẫn giống bằng hạt đem về trồng ở đất nước tavào khoảng thập niên 1950 và cho thấy một số loài rất thích hợp với thổ nghi và khíhậu của Việt Nam, nhất là có thể trồng tập trung thành rừng thuần hay trồng phântán trong đất thổ cư của nhân dân từ vùng đồng bằng cho đến các vùng bình nguyên
Trang 6chi Bạch đàn) có ít nhất hơn 70 loài (species) mọc từ các vùng đồng bằng có độ caongang mực nước biển cho đến các vùng bình nguyên cao nguyên, từ các thung lũngđến đèo núi cao Ở Việt Nam chỉ du nhập khoảng 10 loại bạch đàn như:
+ Bạch đàn đỏ: Eucalyptus camaldulensis thích hợp vùng đồng bằng
+ Bạch đàn trắng: Eu.alba, thích hợp vùng gần biển
+ Bạch đàn lá nhỏ: Eu.Tereticornis, thích hợp vùng đồi Thừa Thiên - Huế
+ Bạch đàn liễu: Eu Exserta, thích hợp vùng cao miền Bắc
+ Bạch đàn chanh: Eu.Citriodora, thích hợp vùng thấp, lá có chứa tinh dầu mùi sả.+ Bạch đàn lá bầu: Eu.Globules, thích hợp vùng cao nguyên
+ Bạch đàn to: Eu.Grandis, thích hợp vùng đất phù sa
+ Bạch đàn ướt: Eu.saligna, thích hợp vùng cao nguyên Ðà Lạt
+ Bạch đàn Mai đen: Eu.Maidenii, thích hợp vùng cao như Lâm Đồng…
Cây Bạch đàn thuộc loài đại mộc, lá thường thon dài cong cong có màu xanh hơimốc trắng hoặc xanh đậm chứa chất dầu Eucalyptone thơm mùi dầu tràm Hoa cócuống ngắn, trái chứa nhiều hạt nhỏ màu nâu sậm
Loài bạch đàn nói chung rất mau lớn, tán lá hẹp thưa, trồng trong vòng 5, 6 nămthì có chiều cao trên 7m và đường kính thân cây khoảng 9-10cm Trước năm 1975,người ta đã nhầm lẫn trồng rừng bạch đàn tập trung thuần loại ở Miền Trung nhằmmục đích phủ xanh và phủ nhanh đất trống đồi trọc nhưng kinh nghiệm cho thấy, câybạch đàn là loài dễ trồng, ít kén đất tăng trưởng nhanh nhưng hấp thụ nhiều nước vàdưỡng chất trong đất nên nếu trồng tập trung thành rừng thuần loại trên đất trống đồitrọc vô tình sẽ làm khô cằn và nghèo nàn đất đai sau một vài chu kì Do đó, nếu cầnphủ xanh đất trống đồi trọc thì chỉ nên trồng hỗn giao với loài bạch đàn bằng cáchloài cây họ đậu như keo lá tràm, keo tai tượng hoặc keo giậu để bù đắp chất đạm chođất
Cây bạch đàn phân bố chủ yếu ở các tỉnh: Quảng Nam, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng
và một số tỉnh ở miền Bắc
2.d Cây keo
* Cây keo lai:
Keo lai là tên gọi của giống lai tự nhiên giữa keo tai tượng (Acacia mangium) vàkeo lá tràm (Acacia auriculiformis) Đây là giống có nhiều đặc điểm hình thái trunggian giữa bố và mẹ, đồng thời có ưu thế lai rõ rệt về sinh trưởng nhanh, có hiệu suất
Trang 7bột giấy, độ bền cơ học và độ trắng của giấy cao hơn hẳn các loài bố mẹ, có khả năng
cố định đạm khí quyển trong đất nhờ các nốt sần ở hệ rễ
Giống keo lai này đã được phát hiện ở một số tỉnh vùng Đông Nam bộ, ở Ba Vì (HàNội) và một số tỉnh khác và được Trung tâm nghiên cứu giống cây rừng thuộc ViệnKhoa học Lâm nghiệp Việt Nam nghiên cứu khảo nghiệm thành công
Keo lai là một trong những loài cây mọc nhanh nhất trong số các loài cây gỗ đangđược sử dụng trồng rừng ở nước ta hiện nay Hơn nữa, keo lai không những chỉ là loàicây nguyên liệu giấy quan trọng mà còn là loài cây cung cấp gỗ nguyên liệu cho cácngành công nghiệp khác như chế biến ván nhân tạo, chế biến đồ mộc xuất khẩu, gỗbao bì, gỗ xây dựng… Tuy nhiên, trong những năm trước đây keo lai được trồng làmnguyên liệu giấy là chủ yếu, với mục tiêu kinh doanh gỗ nhỏ nên chu kỳ kinh doanhthông thường từ 7-10 năm, có nơi 6 năm đã khai thác; do keo lai chưa đến tuổi thànhthục số lượng nên hiệu quả của rừng trồng chưa cao
Keo lai có khả năng sinh trưởng khá nhanh, tăng trưởng bình quân về đường kính(Dd) có thể đạt từ 2,38-2,52cm/năm và chiều cao (Dh) có thể đạt từ 3,64-3,56m/năm.Trữ lượng cây đứng có thể đạt từ 136-180m3/ha, tăng trưởng bình quân đạt từ 27,2-36,0m3/ha/năm
Phân bố chủ yếu ở trồng ở khu vực Đông Nam Bộ, Hậu Giang, Cà Mau, đặc biệt pháttriển tốt ở rừng U Minh Hạ
* Cây keo lá tràm (keo lưỡi liềm)
Keo lá tràm có danh pháp khoa học là Acacia auriculiformis, là một loài cây thuộcchi Acacia Loài này trong tiếng Việt còn có tên gọi khác là keo lưỡi liềm, tên này được
sử dụng nhiều khi loài này mới nhập nội vào Việt Nam (thập kỷ 1960-1970), sau nàyngười ta sử dụng rộng rãi tên gọi keo lá tràm Keo lá tràm được phân bố tự nhiên ởvùng Indonesia và Papua New Guinea Hiện tại được trồng rộng rãi tại nhiều quốc gia
ở vùng nhiệt đới
Keo lá tràm là dạng cây gỗ lớn, chiều cao có thể đạt tới 30 m Loài cây này phâncành thấp, tán rộng Vỏ cây có rạn dọc, màu nâu xám Lá cây là lá giả, do lá thật bịtiêu giảm, bộ phận quang hợp là lá giả, được biến thái từ cuống cấp 1, quan sát kỹ cóthể thấy dấu vết của tuyến hình chậu còn ở cuối lá giả) có hình dạng cong lưỡi liềm,kích thước lá giả rộng từ 3-4 cm, dài từ 6-13 cm, trên lá giả có khoảng 3 gân dạngsong song, ở cuối lá có 1 tuyến hình chậu Hoa tự dạng bông đuôi sóc, tràng hoa màuvàng Quả dạng đậu xoắn, hạt màu đen, có rốn hạt khá dài màu vàng như màu củatràng hoa
Trang 8Keo lá tràm ở rễ có nốt sần ký sinh chứa vi khuẩn nốt rễ có tác dụng tổng hợp đạm
tự do, cải tạo môi trường đất, khối lượng vật rơi rụng của keo lá tràm hàng năm cũngrất cao, cây keo lá tràm thường được dùng nhiều trong cải tạo đất sản xuất lâmnghiệp Đặc điểm sinh trưởng của loài này khá nhanh và thích nghi rộng, nên keo látràm nhanh chóng trở thành loài cây được trồng phủ xanh đất trống đồi trọc và chonguyên liệu bột giấy
* Cây keo tai tượng:
Keo tai tượng (danh pháp khoa học: Acacia mangium), còn có tên khác là keo lá to,keo đại, keo mỡ là một cây thuộc phân họ Trinh nữ (Mimosoideae) Địa bàn sinh sốngcủa chúng ở Úc và châu Á Người ta sử dụng keo tai tượng để quản lý môi trường vàlấy gỗ Cây keo tai tượng có thể cao 30 m với thân thẳng
Keo tai tượng là dạng cây gỗ lớn, chiều cao có thể đạt tới 30m Đường kính có thểđạt được đến 120-150cm Ở Việt Nam, keo tai tượng được trồng rừng với mục đíchchủ yếu là cải tạo môi trường sinh thái và sản xuất gỗ nhỏ, gỗ nguyên liệu cho ngànhcông nghiệp chế biến bột giấy, gỗ ván dăm Một vài khảo nghiệm hậu thế của lôrừng giống FRC đã cho thấy ở Tuyên Quang, sau trồng 24 tháng, tốc độ sinh trưởngchiều cao đạt 2,5-3m/năm Hiện nay, nó có khả năng sản xuất mỗi năm khoảng 200-250kg hạt giống
Keo tai tượng được trồng nhiều ở miền Bắc, đặc biệt là ở Lai Châu, Bắc Cạn, SócSơn, Thanh Hóa…
Trang 9xã hội mà còn là nhân tố góp phần làm thay đổi hệ sinh thái đất ngập mặn có lợi hơncho sự sống và phát triển sản xuất Nông - Lâm - Thủy sản của người dân địa phương.
Gỗ tràm có đường kính nhỏ, khúc gỗ tròn có độ cong, độ thon, độ ô van lớn, tỷ lệ corút của gỗ tràm theo các chiều xuyên tâm, tiếp tuyến, dọc thớ cao do đó có nhiều hạnchế khi sử dụng làm gỗ xẻ
Kết quả nghiên cứu cũng đã khẳng định: Ván dăm được làm từ 100% nguyên liệu
gỗ tràm đáp ứng yêu cầu ván dăm thông dụng sử dụng ở điều kiện khô Ván dămđược sản xuất từ hỗn hợp dăm gỗ tràm và keo lai theo tỉ lệ pha trộn khối lượng dăm
gỗ tràm/dăm gỗ keo lai là 60/40 % có chất lượng đáp ứng yêu cầu sản phẩm ván dăm
không chịu tải sử dụng trong điều kiện ẩm
Cây tràm có thể làm bột giấy tốt tương đương với nguyên liệu làm bột giấy truyềnthống là keo lá tràm Tràm được trồng nhiều trên những vùng đất nhiễm phèn nặngtại Đồng bằng sông Cửu Long (các tỉnh có diện tích tràm lớn: Long An, Tiến Giang,Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang, Hậu Giang và Cà Mau)
3.b Cây đay
Cây đay có tên Latinh là Hibicus Cannabinus Trên thế giới cây đay được sử dụnglàm nguyên liệu để sản xuất ra các loại sản phẩm hết sức phong phú như dây thừng,thảm bồi, bao tải, bao bì, các loại sản phẩm giấy như giấy in báo, giấy làm dây đónggói, giấy làm sóng, các loại vật liệu xây dựng như ván có độ dày mỏng khác nhau, cókhả năng chịu lửa, chống mối mọt, các loại sản phẩm khác như chất thấm nước, vải,thức ăn gia súc, sợi trong chất dẻo đúc bằng phương pháp chưng cất
Trang 10Cây đay bao gồm lá, khoảng 25% và thân khoảng 75% Tỷ trọng trung bình thànhphần thân là 35% vỏ và 65% thân cây (Webber 1993) Vỏ của phần thân cây gồm cósợi dài là sợi vỏ (libe) trong khi đó, thân cây có các sợi lõi ngắn Ngay từ những năm
60 của thế kỷ trước, toàn bộ thân cây đay (sơi vỏ và lõi) đã được đánh giá là nguồnnguyên liệu xơ sợi có triển vọng để sản xuất bột giấy (Nieschlag et al 1960) Sợi câyđay, kể cả sợi vỏ và sợi lõi, có thể được chế biến thành bột giấy như toàn bộ thân câyhoặc được tách ra và chế biến riêng biệt (Kaldor et al 1990).Toàn bộ thân cây đay có thể được chế biến thành bột giấy theo các quy trình Kraft,soda, sunphit trung tính, sunphat, hoá cơ, hoá nhiệt và hoá nhiệt cơ (Bagby 1989,Clark và wolff 1962) Toàn bộ thân cây đay đã được chế biết thành bột giấy để sảnxuất giấy có gia keo, giấy tráng phấn bề mặt và giấy in báo (Bagby 1989, Clark et al1971)
Các loại giấy in sản xuất từ cây đay có thể sử dụng công nghệ in chữ, in offset, intranh bằng máy quay in và hình in chìm Khi chế biến bột giấy từ vỏ cây đay, hiệusuất bột có thể đạt trung bình 57% (Karlgen et al 1991) Xơ sợi của bột giấy từ vỏ câyđay có thể có độ dài tới 5 mm (Clark và Woff 1965), mức trung bình chiều dài 2,6 mm
và chiều ngang là 20 m Bột từ vỏ cây đay sản xuât theo phương pháp hoá học rấtphù hợp để sản xuất các loại giấy đặc chủng So với bột làm từ gỗ mềm (bột sợi dài),bột sản xuất từ cây đai có độ chịu kéo ngang bừng nhưng độ bền xé thì cao hơnnhiều Vì vậy, vỏ cây đay có thể dùng làm để sản xuất bột giấy thay cho gỗ mềm(Kaldor et al 1990)
Lõi (thân) cây đay dùng để sản xuất bột giấy có thể cho hiêu suất bột đạt 40% Xơsợi bột giấy từ lõi cây đay có chiều dài 0,49 – 0,78 mm và chiều ngang là 37,4 m Bột
Trang 11giấy từ lõi cây đay so với bột từ gỗ cứng có độ chịu xé thấp hơn nhưng độ bền kéo và
độ chịu bục lớn hơn (Kaldor et al 1990)
Đay phân bố chủ yếu ở Đồng Bằng Sông Cửu Long, hai huyện Mộc Hóa, Thạnh Hóacủa tỉnh Long An
3.c Họ Hòa Thảo
Họ Hòa thảo hay họ lúa hoặc họ Cỏ ("cỏ" thực thụ) là một họ thực vật một lá mầm(lớp Liliopsida), với danh pháp khoa học là Poaceae, còn được biết dưới danh phápkhác là Gramineae Trong họ này có khoảng 668 chi và khoảng 10.035 loài cỏ Người
ta ước tính rằng các đồng cỏ chiếm khoảng 20% toàn bộ thảm thực vật trên Trái Đất
Họ này là họ thực vật quan trọng nhất đối với toàn bộ nền kinh tế của loài người, baogồm cả các bãi cỏ và cỏ cho gia súc cũng như là nguồn lương thực chủ yếu (ngũ cốc)cho toàn thế giới, hay các loại tre, trúc được sử dụng rộng rãi ở châu Á trong xâydựng
Các loài thuộc họ Hòa Thảo có các đặc điểm sau:
• Cây thân cỏ, sống lâu năm, ít khi 1 hay 2 năm, một số có dạng thân gỗ thứ sinh(tre, nứa…), thân khí sinh chia gióng (cọng) và mấu (đốt): gióng thường rỗng (trừ một
số loài như nứa, kê, ngô có thân đặc), không phân nhánh (trừ tre) mà chỉ phân nhánh
• Hoa nhỏ, thụ phấn nhờ gió, tập trung thành cụm hoa, cơ sở là bông (raceme)nhỏ Các bông nhỏ này lại hợp thành những cụm hoa phức tạp hơn như bông kép,chùm, chùy… nhưng không có các cánh hoa
• Mỗi bông nhỏ mang từ 1 - 10 hoa Ở gốc bông nhỏ thường có 2 mày (lá bắc)bông xếp đối nhau: còn ở gốc mỗi hoa có 2 mày hoa, mày hoa dưới ôm lấy mày hoatrên, nhỏ và mềm hơn, mày hoa dưới chỉ có 1 gân ở chính giữa, còn mày hoa trên có
2 gân bên Ở nhiều loài, mày hoa dưới kéo dài ra thành chỉ ngón Phía trong 2 màyhoa còn 2 mày cực nhỏ rất bé và mềm Như vậy, thông thường mỗi hoa có 4 mày,
Trang 12nhưng trong thực tế số lượng này có khi không đầy đủ Nhị thường là 3 (đôi khi 6), chỉnhị dài bao phấn đính lưng, hai bao phấn khi chín thường xòe ra thành hình chữ X.Bầu trên có 1 ô, 1 noãn, 2 vòi nhụy ngắn và 2 đầu nhụy dài mang chùm lông quét,thường màu nâu hoặc tím.
a Cây tre:
Tre là một nhóm thực vật thường xanh đa niên thân gỗ, thuộc Bộ Hòa thảo, Phân
họ Tre, Tông Tre (Bambuseae), một số loài của nhóm này rất lớn, và được coi là lớnnhất trong Bộ Hòa thảo Tre cũng là một loại thực vật có hoa, nhưng chỉ nở hoa mộtlần duy nhất vào lúc cuối đời Thường thì tre có thời gian nở hoa trong khoảng 5 - 60năm một lần Hoa tre có mùi hương hơi nồng và có màu vàng nhạt như màu đất.Phân bố chủ yếu ở các tỉnh miền Bắc, các đồng bằng miền Bắc, một số tỉnh ở miềnNam như: Đăk Lăk…
Với đặc điểm là một loại cây rất dễ trồng, lớn rất nhanh, nó có thể cao tới 40m vàsống ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới Cây tre có thể phục vụ lợi ích của con ngườitrên rất nhiều phương diện:
- Trong xây dựng: cây tre dùng để làm nhà, lợp mái
- Trong công nghiệp: cây tre dùng để sản xuất ra giấy, chất đốt diesel có thể lấy từcây tre
- Trong nông nghiệp: cây tre làm ổn định đất trồng và bón phân cho đất
- Trong y học: lá tre dùng để chữa một số bệnh như bệnh ngứa, bệnh chảy máu,bệnh hen suyễn
- Trong thực phẩm: búp non của cây tre có thể ăn được gọi là măng
Trang 13- Trong âm nhạc: cây tre dùng để làm ra các nhạc cụ âm nhạc như: đàn tơ-rưng,sáo, đàn gió
- Trong thủ công mỹ nghệ: cây tre dùng để làm ra các sản phẩm trang trí nhà cửarất đẹp và tiện dụng như: khung tranh ảnh, bát, đĩa, khay, bàn, ghế, giường, tủ
b Cây trúc:
Trúc hay Cương Trúc (danh pháp khoa học: Phyllostachys) là một chi thuộc tôngtre Các loài này là thực vật bản địa châu Á, tập trung nhiều ở Trung Quốc, Nhật Bảnnhưng hiện tại đã được trồng làm cảnh rộng rãi ở cả vùng ôn đới hoặc cận nhiệt đới Trúc là từ Hán Việt Trong tiếng Trung, trúc là từ để chỉ tất cả các loài trong tôngTre (Bambuseae) Trong tiếng Việt, trúc chủ yếu dùng để chỉ các loài trong chiPhyllostachys, bên cạnh đó còn chỉ đến một số loài Bambuseae không thuộc chi này,
Trúc thường có thân nhỏ hơn tre, thành các bụi rậm cao nhất khoảng 8m, lá cũng nhỏ
và thưa hơn tre Do cây có dáng đẹp, nhỏ nên được dùng làm cây cảnh phổ biến hơntre Chi Trúc hiện gồm khoảng 75 loài với 200 thứ và giống Phân bố rải rác khắp cảnước nhưng tập trung nhiều nhất là miền Bắc
3.d Các loại cây tiềm năng cho sản xuất bột giấy
* Cỏ vetiver
Cỏ vetiver có tên khoa học Vetiveria zizanioides L., là loài có khả năng thích nghirộng với các điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng, dễ nhân giống, ít đòi hỏi công chămsóc Khi mọc nó chỉ chiếm một khoảng không gian tối thiểu
Cỏ vetiver dạng bụi rậm, lưu niên, phiến lá tương đối cứng, tán lá phần lớn nằm ởphần gốc Các bẹ lá phủ lên nhau, ép sát và xếp úp vào nhau tạo thành một rào cản
cơ học, mật độ dày trên bề mặt đất, sẽ rất hiệu quả trong việc ngăn chặn sự mất dinh
Khi trồng thành bờ rào, nó có tác dụng như một hệ thống lọc liên tục, giảm nước thoát
đi, giảm việc tạo thành những dòng chảy nhỏ hoặc phải đào mương thoát nước
Cỏ vetier không chỉ là một loại cây thân thiện với môi trường, có khả năng chốngsạt lở đất, chống "cát bay, cát chạy", lọc nước ô nhiễm mà còn là nguồn nguyên liệu
lý tưởng cho ngành sản xuất giấy Với bộ phận thân lá cao khoảng 1,5m đến 3m, loàicây này có thể trồng tập trung trên diện rộng, cho năng suất sinh khối lớn, chi phíthấp để trồng và thu hoạch
Trang 14Kết quả nghiên cứu cho thấy, thu hoạch thân và lá cỏ ở năm thứ hai sẽ cho sảnphẩm có thành phần hóa học thích hợp nhất cho sản xuất bột giấy Qua sản xuất thửnghiệm, bột giấy từ thân lá cỏ vetiver có chất lượng khá tốt so với các nguyên liệukhác như: tre, nứa, rơm rạ, bã mía, cỏ dại…
* Rơm rạ, bã mía
Đây là những phế phẩm sau quá trình sản xuất nông nghiệp Ngoài ra, còn có cácloại nhánh keo lai hom, nhánh cây tràm, nhánh bạch đàn sản phẩm sau quá trình khaithác gỗ
Do không phải phá rừng lấy nguyên liệu nên công nghệ sản xuất bột giấy từnguyên liệu phi gỗ là giải pháp tận dụng nguyên liệu, giúp hạn chế gây ô nhiễm môitrường Nói vậy là do khi đốt sản phẩm từ cây trồng, hoặc sản phẩm mọc lên từ việchấp thụ khí cacbonic và thải ra oxy, chúng sẽ sinh ra một lượng CO2 tương đương vớikhí hấp thụ, khiến cho tổng lượng khí CO2 trong môi trường không thay đổi
III SẢN XUẤT BỘT GIẤY NGUYÊN CHẤT TẠI VIỆT NAM
Thời gian gần đây, năng lực sản xuất bột giấy của Việt Nam tăng rất nhanh Sảnlượng bột giấy sản xuất trong nước năm 2010 đạt 345.900 tấn; năm 2011 đạt373.400 tấn Năm 2012, sản lượng bột giấy thiết lập mức tăng trưởng khủng, cao hơn30% so với năm 2011, đạt tới 484.300 tấn Tuy nhiên, với khối lượng này mới đáp ứngđược một nửa nhu cầu cho ngành sản xuất giấy
Với lợi thế là tài nguyên rừng trù phú, có thể phát triển các vùng nguyên liệu phục
vụ công nghiệp giấy, tuy nhiên, lợi thế này vẫn chưa được Việt Nam phát triển hiệuquả Các loại gỗ bạch đàn, keo - nguyên liệu lý tưởng để sản xuất bột giấy được nhiềunơi trồng với diện tích ngày càng tăng nhưng chủ yếu để băm dăm xuất khẩu Năm
Trang 152001, cả nước chỉ xuất khẩu 400.000 tấn dăm gỗ nhưng đến năm 2011 đã xuất tới5,4 triệu tấn, đưa Việt Nam trở thành nước xuất khẩu dăm gỗ lớn nhất thế giới Năm
2012, xuất khẩu dăm gỗ tuy giảm, nhưng vẫn đạt 3 triệu tấn dăm khô
Nghịch lý là ở chỗ, các nước mua nguyên liệu dăm của Việt Nam, rồi sản xuất ragiấy thành phẩm hoặc bột giấy, sau đó bán trở lại Việt Nam với giá cao Giá xuất khẩudăm gỗ của Việt Nam sang Trung Quốc trong năm 2012 chỉ khoảng 110 - 120 USD/tấntrong khi giá nhập khẩu bột giấy ở mức trung bình 900 - 1.000 USD/tấn
Vùng nguyên liệu giấy của Việt Nam tập trung chủ yếu ở miền Bắc và miền Trungtrong khi năng lực sản xuất lại tập trung phần lớn ở miền Nam Tổng diện tích vùngnguyên liệu (bao gồm: rừng tự nhiên, rừng trồng, đất trống đồi núi trọc) của Việt Nam
là 1.548.000ha, tập trung chủ yếu ở Đông Bắc Bộ và Tây Nguyên Tuy nhiên, hiện naykhả năng cung cấp của rừng trên thực tế còn khá thấp do phần lớn các địa phươngchưa tận dụng được hết diện tích đất trống đồi núi trọc Diện tích đất phù hợp chiếmdưới 70% tổng diện tích vùng nguyên liệu của các khu vực Trong đó, khả năng cungứng so với tổng nhu cầu hiện tại là không đồng đều và ở mức thấp Tỉnh Hòa Bìnhhiện đang là nơi có khả năng cung ứng tốt nhất (72% nhu cầu khảo sát), x ếp thứ 2 làThanh Hóa (70,1%), các tỉnh thành phố còn lại khả năng cung ứng thấp hơn chỉ từ 2 –
63,5% và không đồng đều (số liệu từ báo cáo của Habubank Securities).
Theo qui hoạch, vùng nguyên liệu cho ngành giấy tập trung phát triển ở 6 vùngbao gồm: Trung Tâm Bắc Bộ, Thanh Hóa, Duyên Hải Trung Bộ, Đông Bắc, Tây Bắc, BắcTây Nguyên với tổng diện tích rừng 763.000 ha Phấn đấu đến năm 2020 sẽ đáp ứngđược nhu cầu nguyên liệu cho tổng công suất toàn ngành là 1.536.000 tấn/năm với 2
Trang 16vùng nguyên liệu chính là Trung Tâm Bắc Bộ và Duyên Hải Trung Bộ Một điểm đánglưu ý là, trong khi vùng nguyên liệu đều tập trung ở Miền Bắc và Miền Trung thì nănglực sản xuất giấy tập trung lớn nhất ở Miền Nam Do vậy, các nhà máy sản xuất bột từnguyên liệu nguyên chất tại Miền Nam hiện nay đang gặp vấn đề về nguồn nguyênliệu
Để khắc phục tình trạng thiếu nguyên liệu, ngành sản xuất giấy Việt Nam pháttriển lĩnh vực tái chế giấy Tỷ lệ thu hồi giấy đã qua sử dụng dùng làm nguyên liệutrong tổng nguyên liệu sản xuất giấy ở Việt Nam là 70% Gần 100% giấy bao bì, 90%giấy tissue và 60% giấy in báo đều làm từ giấy tái chế
QUY ĐỊNH Chính sách khuyến khích phát triển trồng rừng nguyên liệu giấy
và gỗ phục vụ sản xuất bột giấy và chế biến hàng lâm sản xuất khẩu
(Ban hành kèm theo Quyết định số 28/2003/QĐ-UB ngày 18/02/2003 và được điều chỉnh, theo Quyết định số 11/2004/QĐ-UB ngày 2/2/2004 của UBND tỉnh Bình Định)
CHƯƠNGI Những quy định chung Điều 1: Chính sách phát triển trồng rừng nguyên liệu giấy và gỗ phục vụ sản xuất bột
giấy và chế biến hàng lâm sản xuất khẩu nhằm khuyến khích các tổ chức, hộ giađình, cá nhân trong và ngoài tỉnh tham gia thực hiện để cung cấp gỗ cho sản xuất bộtgiấy và chế biến hàng lâm sản xuất khẩu; hình thành vùng nguyên liệu chuyên canh,thâm canh gắn với nhà máy chế biến bột giấy và thị trường tiêu thụ sản phẩm từ rừngtrồng Phấn đấu đến năm 2010 toàn tỉnh có trên 100.000 ha rừng trồng nguyên liệugiấy và gỗ
Điều 2: Quy định này áp dụng trong vùng quy hoạch trồng rừng nguyên liệu giấy và
gỗ trên địa bàn tỉnh Bình Định để phục vụ cho sản xuất bột giấy và chế biến hàng lâmsản xuất khẩu Các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân tham gia phát triển rừng nguyên liệugiấy và gỗ (gọi tắt là người trồng rừng) được hưởng các ưu đãi theo Quy định này.Ngoài việc hưởng ưu đãi theo Quy định này, người trồng rừng tập trung trong vùngquy hoạch nguyên liệu giấy và gỗ còn được hưởng các ưu đãi khác theo quy định củapháp luật
CHƯƠNG II Những quy định cụ thể Điều 3: Về đất đai.
- Tỉnh quy hoạch vùng trồng nguyên liệu giấy và gỗ phục vụ cho sản xuất bột giấy vàchế biến hàng lâm sản xuất khẩu theo đơn vị xã
- Diện tích đất quy hoạch trồng rừng nguyên liệu giấy và gỗ là các loại đất trống, đồitrọc hoặc thuộc trạng thái thực bì : Ia, Ib, Ic
- Người trồng rừng được giao quyền sử dụng đất trong hạn điền, khi trồng hết diệntích được giao, nếu có nhu cầu đất để tiếp tục trồng rừng nguyên liệu giấy và gỗtrong vùng quy hoạch thì được cấp có thẩm quyền xét cho thuê đất để trồng
- Người trồng rừng được giao quyền sử dụng đất để trồng rừng nguyên liệu giấy và gỗ