Hầu hết các loài cây thức ăn đều có thể sinh trưởng tốt dưới những vùng đất bị che bóng nhẹ như Brachiaria humidicola, Arachis pintoi… Không có giống cây thức ăn gia súc nào sinh trưởng,
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
HỒ VĂN TRỌNG
TUYỂN CHỌN MỘT SỐ GIỐNG CỎ LÀM THỨC
ĂN CHO TRÂU BÒ VÀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT TRONG SẢN XUẤT HẠT GIỐNG CỎ
GHINÊ MOMBASA TẠI SƠN LA
Người hướng dẫn khoa học:PGS TS Bùi Quang Tuấn
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2017
Trang 2LỜI CAM ĐOANTôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Tôi cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc.
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Tác giả luận văn
Hồ Văn Trọng
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Hoàn thành luận văn này, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi luôn nhận được sự giúp đỡ quý báu, sự chỉ bảo tận tình của các thầy hướng dẫn PGS.TS Bùi Quang Tuấn trong suốt qúa trình thực hiện luận văn Nhân dịp hoàn thành luận văn này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với các thầy hướng dẫn.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đối với sự quan tâm giúp đỡ của các thầy
cô giáo Bộ môn Dinh dưỡng và Thức ăn - khoa Chăn nuôi, trường Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam đã động viên giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Quản Lý dự án
KHCN-TB.09C/13-18 đã tạo điều kiện cho tôi trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn đối với Ban lãnh đạo và các cán
bộ viên chức của Trường Đại học Tây Bắc đã tạo điều kiện thuận lợi và giúp đỡ nhiệt tình cho tôi trong quá trình thực hiện đề tài.
Xin chân thành cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp, người thân đã tạo điều kiện, động viên tôi trong quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn.
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Tác giả luận văn
Hồ Văn Trọng
ii
Trang 4MỤC LỤC Lời cam đoan I Lời cảm ơn II Mục lục III Danh mục các chữ viết tắt V Danh mục các bảng VI Danh mục các hình VII Trích yếu luận văn VIII Thesis abstract IX
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu của đề tài 2
1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2
Phần 2 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 3
2.1 Đặc điểm sinh trưởng của cây thức ăn chăn nuôi 3
2.1.1 Khái niệm về sinh trưởng và phát triển 3
2.1.2 Đặc điểm sinh trưởng của thân lá 4
2.1.3 Đặc điểm sinh trưởng của thân, lá 13
2.2 Đặc điểm các giống cỏ dùng trong thí nghiệm nghiên cứu 15
2.2.1 Cỏ VA06 (Pennisetum pupureum) 15
2.2.2 Cỏ Ghinê TD58 (Panicum maximum TD58) 16
2.2.3 Cỏ Guatemala 18
2.2.4 Cỏ Mulato 2 (Brachiaria ruziziensis) 18
2.2.5 Cỏ Pas (Paspalum atratum) 19
2.2.6 Cỏ Stylo (Stylosanthe guianensis cv CIAT 184) 20
2.2.7 Cỏ Ghinê Mombasa (Panicum maximum cv Mombasa) 21
2.3. Tình hình nghiên cứu về cây thức ăn chăn nuôi trên thế giới và ở Việt Nam 22
2.3.1 Trên thế giới 22
2.3.2 Ở Việt Nam 24
Phần 3 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu 29
3.1 Vật liệu, thời gian và địa điểm nghiên cứu 29
3.2 Nội dung nghiên cứu 29
3.3 Phương pháp nghiên cứu 29
3.3.1 Nội dung 1 29
3.3.2 Nội dung 2 33
Trang 53.4 Phương pháp xử lý số liệu 35
Phần 4 Kết quả và thảo luận 36
4.1 Điều kiện khu vực thí nghiệm 36
4.1.1 Đặc điểm tình hình thời tiết khu vực nghiên cứu 36
4.1.2 Thành phần dinh dưỡng đất tại khu vực nghiên cứu 37
4.2 Kết quả thí nghiệm tuyển chọn giống cỏ 38
4.2.1 Tỷ lệ sống của cá giống cỏ thí nghiệm 38
4.2.2 Khả năng sinh trưởng và tái sinh của cỏ thí nghiệm 39
4.2.3 Kết quả theo dõi năng suất của các giống cỏ thí nghiệm 47
4.2.4 Thành phần hóa học của các giống cỏ thí nghiệm 48
4.3. Kết quả một số biện pháp kỹ thuật trong sản xuất hạt giống cỏ ghinê mombasa 51
4.3.1. Ảnh hưởng của khoảng cách trồng cỏ đến năng suất và chất lượng hạt cỏ Ghinê Mombasa 51
4.3.2. Ảnh hưởng của phương pháp thu hạt đến năng suất và chất lượng hạt giống cỏ Ghinê Mombasa 53
4.3.3 Ước tính chi phí cho sản xuất hạt giống cỏ Ghinê Mombasa 55
Phần 5 Kết luận và kiến nghị 57
5.1 Kết luận 57
5.2 Kiến nghị 57
Tài liệu tham khảo 58
iv
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT Chữ viết tắt
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 2.1.Ảnh hưởng của phân bón đến thành phần hoá học của thảm cỏ.12Bảng 2.2.Ảnh hưởng của cách bón phân nitơ đến năng suất cỏ trồng 13Bảng 4.1.Diễn biến thời tiết khí hậu tại tỉnh Sơn La 2015, 2016 36Bảng 4.2.Thành phần dinh dưỡng đất tại khu vực thí nghiệm 37Bảng 4.3.Tỷ lệ sống của các giống cỏ thí nghiêm sau trồng 30 ngày (n=3).38Bảng 4.4.Chiều cao và tốc độ sinh trưởng của 6 giống cỏ thí nghiệm ở giai
đoạn 60 ngày tuổi (n=3) 39Bảng 4.5.Chiều cao tái sinh của các giống cỏ thí nghiệm (n=3) 43Bảng 4.6.Tốc độ tái sinh của các giống cỏ thí nghiệm ở 2 mùa thu hoạch
Bảng 4.11 Ảnh hưởng của phương pháp thu hạt đến năng suất hạt giống.53
Bảng 4.12 Ảnh hưởng của phương pháp thu hạt đến đến chất lượng hạt giống
54Bảng 4.13 Chi phí cho sản xuất hạt giống cỏ Ghinê Mombasa tại Sơn La
55
Trang 8vi
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1 Sơ đồ thí nghiệm 1 30Hình 3.2 Sơ đồ trồng cỏ thí nghiệm 2 34Hình 4.1. Chiều cao của các giống cỏ thí nghiệm ở giai đoạn tuổi thiết lập 41Hình 4.2 Chiều cao tái sinh của các giống cỏ thí nghiệm qua các mùa 44Hình 4.3 Tốc độ tái sinh của các giống cỏ thí nghiệm 46Hình 4.4 Năng suất chất xanh các giống cỏ thí nghiệm cắt năm thứ nhất
48
Hình 4.5 Một số hình ảnh về phương pháp thu hạt và thử tỷ lệ nảy mầm
56
vii
Trang 10TRÍCH YẾU LUẬN VĂN Tên tác giả: Hồ Văn Trọng
Tên luận văn: Tuyển chọn giống cỏ làm thức ăn xanh cho trâu bò và một
số biện pháp kỹ thuật trong sản xuất hạt giống cỏ Ghinê Mombasa tại Sơn La
Vật liệu và phương pháp nghiên cứu:
Thí nghiệm được tiến hành trên 6 giống cỏ: VA06, Ghinê, Guatemala, Mulato II, Paspalum, Stylo cho nội dung 1 và 01 giống cỏ Ghinê Mombasa cho nội dung 2.
Nội dung 1: Thí nghiệm bố trí theo kiểu ngẫu nhiên hoàn toàn với 6 công thức (mỗi giống là 1 công thức), lặp lại 3 lần Kết quả được thập và theo dõi tỷ
lệ sống, khả năng sinh trưởng và tái sinh của các giống cỏ thí nghiệm.
Nội dung 2: Thí nghiệm tiến hành nghiên cứu 3 khoảng cách trồng khác nhau (70 x 70 cm), (70 x 100 cm) và (100 x 100 cm) Kết quả được thu thập vào theo dõi ảnh hưởng của mật độ trồng, phương pháp thu hạt đến năng suất, chất lượng hạt giống và sơ bộ ước tính giá trị kinh tế trong sản xuất hạt giống.
Kết quả chính và kết luận:
- Trong 6 giống cỏ thí nghiệm thì các giống cỏ cho năng suất cao là cỏ VA06, Guatemala, Mualato 2, Ghinê, cụ thể năng suất chất xanh trung bình các lứa cắt của các giống cỏ đạt tương ứng là 41,37; 37,45; 39,90 và 32,30 tấn/ha.
- Khoảng cách trồng và phương pháp thu hạt có ảnh hưởng rõ rệt đến năng suất, chất lượng hạt cỏ Ghinê Mombasa Khoảng cách trồng
70 x 100cm và phương pháp thu hạt bằng bao túi lưới là phù hợp nhất.
Trang 11THESIS ABSTRACT Master candidate: Ho Van Trong
Thesis title: “Study on the selection of some grass varieties for cattle and technical measures to produce Guinea Mombasa seed in Son La province”.
Major: Animal Science Code: 60.62.01.05
Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA)
Materials and Methods:
The study was carried out to test the growth and yield of six grass varieties including VA06, Guinea, Guatemala, Mulato II, Paspalum and Stylo.
- Content 1: Experiments were randomly divided into six treatments with 3 replications for each variety The results were collected to acccess the growth and developmentof these grass varieties.
- Content 2: These forages were grown in experimental plots with 3 different planting distances (70 x 70 cm), (70 x 100 cm) and (100 x 100 cm) The results were collected to acccess the growth and development of these grass varieties, seed quality and preliminary economic value estimation in seed production under natural conditions of the studied area.
Main findings and conclusions:
The results of the experiment showed:
- VA06, Guatemala, Mualato 2 and Guinea had the highest capability
of growth and yield; yielded range from 32.30 - 41.37 tons/ha/harvest.
- The planting distance and seed collection methods had a significant effect on the yield and quality of the Guinea Mombasa grass seed The planting distance of 70 x 100cm and mesh harvest bags was most suitable.
ix
Trang 12PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Tây Bắc là một địa bàn chiến lược đặc biệt quan trọng về kinh
tế, xã hội, an ninh quốc phòng của cả nước Đây cũng là nơi sinh sống của hơn 30 dân tộc, trên 10 triệu người với một không gian văn hóa rộng lớn và phong phú Tuy nhiên, Tây Bắc vẫn là vùng nghèo, kinh tế chậm phát triển, đời sống người dân gặp nhiều khó khăn.Chăn nuôi được xem là một trong những định hướng quan trọng góp phần xóa đói giảm nghèo và phát triển kinh tế xã hội ở vùng Tây Bắc Việc lựa chọn các chăn nuôi gia súc ăn cỏ là một hướng đi đúng đắn vì ít cạnh tranh lương thực với con người và phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế -
xã hội của vùng Trong những năm qua, chăn nuôi gia súc nói chung và trâu
bò nói riêng đã có sự phát triển khá mạnh ở vùng núi phía Bắc; với tổng đàn trâu khoảng 1,45 triệu con, chiếm 55,27% tổng đàn trâu cả nước; sản lượng thịt liên tục tăng lên qua từng năm (năm 2010 đạt 84.214 tấn, năm
2011 đạt 87.789 tấn, năm 2012 đạt 88.469 tấn) Tổng đàn bò ở khu vực miền núi phía Bắc có 904.600 con, sản lượng thịt năm 2012 đạt 29.400 tấn; đàn bò sữa ở miền núi phía Bắc tập trung ở Sơn La, Tuyên Quang với số lượng hơn 11.000 con, sản lượng sữa 40.235 tấn năm 2012.
Với đặc điểm khí hậu thời tiết ngày càng diễn biến phức tạp, ở miền núi Bắc
Bộ, đặc biệt là vào mùa đông, trời lạnh giá, thức ăn khan hiếm đã làm ảnh hưởng xấu đến sức khỏe trâu bò, làm cho trâu bò ở các tỉnh miền núi bị chết rét khá nhiều, gây tổn thất rất lớn cho người nông dân Tình trạng thiếu hụt thức ăn kéo dài dẫn đến nhiều đàn gia súc bị chết vì đói và lạnh có khi lên tới 20% tổng đàn.
Như vậy, việc tuyển chọn mới và bổ sung được các giống cỏ và cây trồng chịu lạnh, chịu hạn làm thức ăn xanh và sạch cho trâu, bò được xem là điều kiện tiên quyết để đảm bảo cho phát triển ngành chăn nuôi trâu bò ở vùng núi Tây Bắc Mặt khác, vấn đề sản xuất và quản lý chất lượng hạt giống cỏ từ trước đến nay ở Tây Bắc chưa được quan tâm đúng mức Các loại hạt giống cỏ hiện nay cung cấp cho sản xuất đều nhập khẩu thông qua một số công ty, chưa có một cơ sở nào sản xuất hạt giống cỏ mà chủ yếu là tự phát, sản xuất nhỏ lẻ, manh mún không thể đáp ứng được cho nhu cầu sản xuất hiện nay.
Trang 13Giống cỏ Ghinê có thể trồng bằng hạt hay bụi gốc Việc trồng bằng bụi gốc có những hạn chế như: bụi giống cồng kềnh khó vận chuyển, chi phí vận chuyển giống cao, hệ số nhân giống thấp trong khi trồng bằng hạt sẽ khắc phục được những vấn đề trên và giá thành thấp hơn rất nhiều Hơn nữa việc sản xuất hạt giống cỏ còn mang lại nguồn thu nhập và tạo ra một nghề mới cho nông dân tại địa phương.Hiện nay có một số cơ sở sản xuất hạt cỏ Ghinê để bán cho các hộ trồng cỏ Tuy nhiên chất lượng hạt cỏ rất biến động, nhiều khi hạt cỏ có tỷ
lệ nảy mầm rất thấp hoặc hoàn toàn không nảy mầm Việc nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng của hạt cỏ Ghinê sẽ giúp các
cơ sở sản xuất được hạt cỏ có năng suất và chất lượng cao hơn.
Với những lý do trình bày ở trên, tôi tiến hành thực hiện đề tài:
“Tuyển chọn giống cỏ làm thức ăn xanh cho trâu bò và một số biện pháp
kỹ thuật trong sản xuất hạt giống cỏ Ghinê Mombasa tại Sơn La”.
1.2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
- Tuyển chọn được một số giống cỏ, gồm: 3-4 giống có năng suất cao, chất lượng cao, phù hợp với điều kiện sinh thái Sơn La làm thức ăn cho trâu bò.
- Đưa ra những biện pháp kỹ thuật thích hợp áp dụng vào sản xuất hạt giống của giống cỏ Ghinê Mombasa đạt năng suất cao, chất lượng tốt.1.3 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
Đề tài góp phần cung cấp thông tin cần thiết, không chỉ đáp ứng về mặt
lý luận và thực tiễn cho phát triển chăn nuôi ở vùng Tây Bắc mà còn có ý nghĩa lớn góp phần phát triển kinh tế xã hội trong vùng, xóa đói giảm nghèo cho người dân và bảo vệ môi trường nông nghiệp nông thôn ở địa phương.
2
Trang 14PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
2.1 ĐẶC ĐIỂM SINH TRƯỞNG CỦA CÂY THỨC ĂN CHĂN NUÔI
2.1.1 Khái niệm về sinh trưởng và phát triển
Sự sinh trưởng và phát triển của cây là kết quả hoạt động tổng hợp của các chức năng sinh lý trong cây Do đó việc điều khiển sinh trưởng, phát triển của cây trồng sao cho thu được năng suất cây trồng cao nhất là một việc rất khó khăn nhưng cũng rất quan trọng Muốn điều khiển được sinh trưởng, phát triển của cây trồng thì phải hiểu biết sâu sắc về bản chất của quá trình này, trên
cơ sở đó có những biện pháp tác động thích hợp nhất.
Cho đến nay, sinh trưởng và phát triển của thực vật nói chung, cây thức ăn chăn nuôi nói riêng được hiểu dưới các định nghĩa khác nhau Nhưng phần lớn các nhà khoa học đều thống nhất định nghĩa về sinh trưởng và phát triển như sau:
Sinh trưởng là sự tạo mới các yếu tố cấu trúc một cách không thuận nghịch của tế bào, mô và toàn cây, kết quả dẫn đến sự tăng về
số lượng, kích thước, thể tích, sinh khối của chúng.
Phát triển là quá trình biến đổi về chất bên trong tế bào, mô và toàn cây để dẫn đến sự thay đổi về hình thái và chức năng của chúng.
Ví dụ về sự sinh trưởng có thể xem sự phân chia và sự già của tế bào, sự tăng kích thước của quả, lá, hoa, sự nảy lộc đâm chồi, đẻ nhánh, … Các biểu hiện
đó không thể đảo ngược được Còn tất cả những biểu hiện có liên quan đến biến đổi chất để làm thay đổi hình thái và chức năng của tế bào, của cơ quan, … thì được xem là sự phát triển Ví dụ như sự nảy mầm của hạt có thể xem đó là một bước nhảy vọt từ một hạt có hình thái và chức năng xác định, nhưng khi nảy mầm thì lập tức biến thành một cây con có hình thái và chức năng hoàn toàn khác so với hạt, một cây con hoàn chỉnh, có khả năng thực hiện các chức năng của một cơ thể thực vật bình thường Sự ra hoa cũng vậy, là một bước ngoặt chuyển từ giai đoạn sinh trưởng các cơ quan dinh dưỡng sang giai đoạn mới tức hình thành cơ quan sinh sản Đây là kết quả của một quá trình biến đổi về chất liên tục và lâu dài để có được những cơ quan sinh sản có chức năng hoàn toàn thay đổi, … Trên mức độ tế bào thì phân hoá tế bào thành các mô chức năng riêng biệt cũng được xem là quá trình phát triển của tế bào.
Trang 152.1.2 Đặc điểm sinh trưởng của thân lá
2.1.2.1 Động thái sinh trưởng của thân, lá
Trong lĩnh vực cây thức ăn chăn nuôi thì phần thân lá được các nhà chăn nuôi đặc biệt quan tâm vì đây là phần chính sử dụng làm thức ăn cho gia súc Quá trình sinh trưởng của thân lá có thể được chia thành 3 giai đoạn:
Sau khi nảy mầm khối lượng vật chất khô của cây sẽ giảm do chất dự trữ
ở hạt được sử dụng trong quá trình nảy mầm Cây sinh trưởng chỉ dựa vào dinh dưỡng dự trữ trong hạt nên sinh trưởng của cây lúc này chậm Cho tới khi những lá xanh đầu tiên xuất hiện, cây non bắt đầu hoạt động quang hợp, sự sinh trưởng tăng dần đến khi bộ rễ và bộ lá của cây phát triển tương đối hoàn thiện, khả năng hút dinh dưỡng trong đất và khả năng quang hợp của cây mạnh thì cây sinh trưởng rất nhanh Đến gần giai đoạn trưởng thành thì sinh trưởng giảm dần và ngừng hẳn, cũng có khi ở giai đoạn này trọng lượng vật chất khô của cây bị giảm đi.
Mặc dù đồ thị sinh trưởng của thân lá cây thức ăn chăn nuôi có dạng hình chữ S, tuy nhiên độ dài của các giai đoạn sinh trưởng chậm, nhanh, chậm sẽ khác nhau Dựa vào sự nghiên cứu đồ thị sinh trưởng để người chăn nuôi quyết định:
và chất lượng thức ăn cao.
+ Chọn cỏ để trồng kết hợp, hạn chế được sự che bóng của nhau.
2.1.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng tới sinh trưởng của
thân lá - Sức nẩy mầm của hạt cỏ:
Sự sinh trưởng của cây thức ăn phụ thuộc trực tiếp vào sức nảy mầm của hạt, nếu hạt có sức nảy mầm cao sẽ tạo điều kiện cho sinh trưởng mạnh sau này Nhiều loài cỏ có sức nảy mầm cao như cỏ Mộc Châu, nhưng một số khác sức nảy mầm kém và cần được xử lý bằng các phương pháp như xát vỏ, xử lý quang học,
xử lý hoá học… như cỏ Ghinê (Panicum maximum), đậu Stylo (Stylosanthes
4
Trang 16guianensis) Cũng có loài mà hạt hoàn toàn mất sức nảy mầm như hạt cỏ Pangola (Digitaria decumbens), phải tìm cách nhân giống khác Phẩm chất của hạt thể hiện qua độ thuần và tỷ lệ nảy mầm.
Trước khi gieo hạt cần xác định tỷ lệ nảy mầm (trực tiếp gieo trên đất, cát ẩm hay bông thấm nước) và giá trị nông nghiệp của hạt:
Trong đó:
VA:
G:
P:
Giá trị này phải đạt ≥ 80% hạt mới được chấp nhận đem sử dụng.
Sức nảy mầm của giống không những phụ thuộc vào bản thân hạt mà còn vào sự chuẩn bị giống, điều kiện đất và khí hậu Cỏ Gà (Cynodon dactylon)
có thể để sau 1 tuần kể từ khi cắt mà vẫn giữ được tỷ lệ nảy mầm cao còn cỏ Pangola (Digitaria decumbens) chỉ sang ngày thứ 2 sau khi cắt tỷ lệ này đã giảm
rõ rệt Những đoạn hom đầu có tỷ lệ nảy mầm cao nhất và khi tăng số đốt của hom sẽ tăng tỷ lệ nảy mầm, tuy từ đốt thứ 3 trở đi độ tăng giảm xuống đột ngột.
- Nhiệt độ:
Tất cả quá trình sinh lý thực vật đều bị ảnh hưởng bởi nhiệt độ Nhiệt độ
có ảnh hưởng trực tiếp tới sinh trưởng của cây, nhiệt độ tăng (nằm trong nhiệt
độ tới hạn) thì sinh trưởng tăng và khi nhiệt độ giảm thì sinh trưởng chậm lại Nếu tăng nhiệt độ tới giới hạn nhất định có tác dụng thúc đẩy quá trình hấp thu chất khoáng của rễ (Trịnh Xuân Vũ và Lê Doãn Diên, 1976) Nhiệt độ thấp nhất
để cỏ nhiệt đới nẩy mầm là 15 - 20 0 C và tối ưu là 25 - 35 0 C Nhiệt độ tối ưu cho
cỏ ôn đới quang hợp là 15 - 20 0 C và cỏ nhiệt đới là 30 - 40 0 C Sự hình thành diệp lục bắt đầu khi nhiệt độ lớn hơn 10 - 15 0 C.
Nhiệt độ là một nhân tố sinh thái có ảnh hưởng rất lớn đối với sinh vật nói chung và thực vật nói riêng Nhiệt độ có ảnh hưởng trực tiếp tới sinh trưởng của cây, nhiệt độ tăng thì sinh trưởng cũng tăng và nhiệt độ giảm sinh trưởng chậm lại Nói chung trong khoảng từ 0 đến 30 - 35 0 C ảnh hưởng của nhiệt độ tới cây
Trang 17trồng tuân theo quy luật Vant-Hoff Mặt khác tăng nhiệt độ tới giới hạn nhất định
có tác dụng thúc đẩy quá trình hấp thu chất khoáng của rễ Nhiệt độ thấp nhất
để cỏ nhiệt đới nảy mầm là 15 - 20 0 C và tối ưu là 25 - 35 0 C Nhiệt độ tối ưu cho quang hợp ở cỏ ôn đới là 15 - 20 0 C và ở cỏ nhiệt đới là 25 - 30 0 C.
Nếu như đối với phần lớn các loài cỏ ôn đới nhiệt độ thích hợp nhất để sinh trưởng (tính bằng sự tăng chất khô hoặc tốc độ sinh trưởng tương đối) nằm trong khoảng 20 - 25 0 C thì những hoà thảo nhiệt đới và cận nhiệt đới có nhiệt độ sinh trưởng thích hợp cao hơn Những loài cỏ như cỏ Cynodon dactylon, Sorghum sudanense, Paspalum dilatatum… sinh trưởng rất chậm hoặc không sinh trưởng trong khoảng nhiệt độ 10 - 15 0 C và ở nhiệt độ 30 - 35 0 C thì tốc độ sinh trưởng đạt tới mức cao nhất Ở nhiệt độ thấp dưới 10 0 C cây cỏ nhiệt đới có hiện tượng úa vàng, sau đó chết do chất diệp lục bị phá huỷ.
Sự chênh lệch nhiệt độ giữa ngày và đêm có ảnh hưởng rất lớn tới sinh trưởng của cây, ban ngày nhiệt độ cao thuận lợi cho cây quang hợp và tích luỹ, ban đêm nhiệt độ thấp sẽ hạn chế sự tiêu phí hữu cơ nên sinh trưởng của cây nhanh hơn.
Do biên độ nhiệt của cây thức ăn nhiệt đới nhỏ hơn biên độ nhiệt của cây thức ăn ôn đới nên vùng ôn đới khó có thể nhập, trồng cây thức ăn nhiệt đới Trong khi đó mặc dù mùa đông nhưng nhiệt độ trung bình ngày ở các nước nhiệt đới, trong đó có Việt Nam, cũng chỉ tương đương nhiệt độ mùa hè ở vùng ôn đới Để giải quyết nhu cầu thức ăn xanh cho đàn gia súc ăn cỏ ở nước ta trong mùa đông,
đã tiến hành nhập và trồng thử nghiệm một số giống cây thức ăn có nguồn gốc từ vùng ôn đới ở vùng núi cao, có khí hậu mát mẻ, kết quả thu được tương đối tốt Còn ở vùng đồng bằng các cây thức ăn này sinh trưởng chậm, tỷ lệ chết cao, rất nhạy cảm với thời vụ gieo trồng Một lần trồng chỉ cho thu cắt 3 lứa, đến khoảng tháng 3, tháng 4 nhiệt độ ấm lên thì các cây thức ăn này tàn lụi.
Một hạn chế nữa của các giống cây thức ăn có nguồn gốc ôn đới
là khả năng sản xuất hạt giống khó khăn, chủ yếu phụ thuộc vào nguồn nhập nội nên khó phát triển mở rộng diện tích gieo trồng khi cần thiết.
- Ẩm độ:
Ẩm độ là một nhân tố cần thiết cho sự sinh trưởng của cây Cây sinh trưởng mạnh nhất khi tế bào bão hoà nước Giảm mức độ bão hòa thì sinh trưởng chậm lại Đối với các tế bào đầu rễ vì không có mô che chở như các bộ phận trên
6
Trang 18mặt đất nên phải đủ ẩm rễ mới sinh trưởng được Về mùa xuân nước trong đất nhiều, độ ẩm không khí cao, cây ít mất nước và chất nguyên sinh được bão hòa nên sinh trưởng mạnh, còn mùa đông do độ ẩm không khí thấp, cây mất nước nhiều, chất nguyên sinh không bão hòa nên cây sinh trưởng chậm lại.
Ẩm độ hay lượng nước trong đất có ý nghĩa đặc biệt đối với đời sống cây trồng Đây là yếu tố cần thiết, căn bản, không thể thay thế trong đời sống cây trồng Lượng nước trong đất ít hay nhiều đều ảnh hưởng tới độ thoáng khí của đất và việc cung cấp dinh dưỡng, chế độ quang hợp, chế độ thoát hơi nước để thực vật không bị quá nóng Điều đó ảnh hưởng tới năng suất, sinh trưởng và chất lượng cây trồng (Nguyễn Đức Quý và Nguyễn Văn Dũng, 2006) Nước còn quy định sự điều hòa nhiệt độ từ đất và thực vật thông qua hiện tượng bốc hơi và phát tán Nước cũng liên quan chặt chẽ tới các tính chất cơ lý tính của đất như độ rắn, tính dính, tính dẻo…vv Sự di chuyển nước trên mặt đất có ảnh hưởng xấu tới độ phì của đất vì nó làm rửa trôi các chất dinh dưỡng của đất hay làm xói mòn mặt đất Do đó, trong thời kỳ cỏ sinh trưởng, phải đảm bảo sao cho đất có độ ẩm thích hợp, nhất là phải có biện pháp kỹ thuật tưới, tiêu thích hợp để cỏ có năng suất cao và ổn định.
Cây thức ăn cần nước để sinh trưởng, giữ thân nhiệt và vận chuyển dinh dưỡng từ đất lên Không có cây thức ăn nào có thể sinh trưởng tốt trong khi mùa khô kéo dài, chỉ có một vài loài có thể chịu được môi trường khô hạn hơn những loài khác mà thôi Một số loài đậu thân gỗ, như Leucaena leucocephala, có hệ thống rễ ăn sâu có thể giúp cây lấy nước từ tầng đất sâu hơn Điều này cho phép cây sinh trưởng được và giữ được màu xanh của lá trong mùa khô hơn những cây thức ăn khác Một vài cây hoà thảo và đậu thân bụi như Andropogon gayanus và Stylosanthes hamata… cũng có khả năng duy trì được màu xanh của lá trong mùa khô.
Phương pháp tưới tràn bề mặt là phương pháp cổ điển nhất, đơn giản nhưng hiệu quả kém, tốn nhiều nước Phương pháp tưới ngầm dưới mặt đất (30 - 60cm) bằng hệ thống ống dẫn nước đặc biệt sẽ tiết kiệm nước và cho hiệu quả kinh
tế cao hơn Nhưng phương pháp này đòi hỏi đầu tư ban đầu cao Phương pháp tưới nước cho hiệu quả cao nhất là phương pháp tưới phun mưa Phương pháp tưới phun mưa cho phép tiết kiệm nước, điều hòa được lượng nước tưới, điều hòa được độ ẩm và nhiệt không những của đất mà còn của lớp không khí
Trang 19gần mặt đất Phương pháp tưới này càng có hiệu quả cao khi kết hợp tưới nước với bón phân vi lượng.
Hầu hết các cây thức ăn đều tồn tại khi bị ngập úng một vài ngày, nhưng rất
ít cây có thể sinh trưởng ở vùng đất bị ngập úng trong thời gian dài Một số loài cây thức ăn có thể chịu đựng được ngập úng tốt hơn những loài khác như Brachiaria mutica, Brachiaria humidicola, Macroptilium gracile…Có hai hệ thống tiêu nước cho đồng cỏ: Hệ thống hở và hệ thống kín Hệ thống tiêu nước hở là mạng lưới rãnh thoát nước, kênh, hồ chứa nước Mức độ tiêu nước được điều chỉnh thông qua mật
độ của các rãnh thoát nước Hệ thống tiêu nước kín cũng bao gồm mạng lưới các rãnh thoát nước, kênh gom nước và hồ chứa nước Các hệ thống rãnh và kênh được làm bằng các vật liệu khác nhau, đặt ngầm dưới đất Trên thực tế thường kết hợp cả hai hệ thống tiêu nước trên đồng cỏ.
- Ánh sáng:
Ánh sáng là nhân tố quan trọng, mối quan hệ giữa ánh sáng và sinh trưởng của cây rất phức tạp Ánh sáng là nguồn cung cấp năng lượng cho cây tiến hành quang hợp, thoát hơi nước, hình thành chất diệp lục mà lục lạp chứa diệp lục là phòng thí nghiệm duy nhất tích lũy năng lượng mặt trời dưới dạng các chất hữu
cơ Có ánh sáng cây mới sinh thân, cành lá và ra hoa kết quả bình thường.
Người ta đã nhận thấy rằng lá của cây cỏ họ đậu và cây hòa thảo mùa đông bão hòa ánh sáng ở cường độ ánh sáng yếu hơn là cỏ hòa thảo nhiệt đới Bão hòa ánh sáng của cây hòa thảo mùa lạnh xảy ra xung quanh khoảng 20.000 - 30.000 lux Trong khi cỏ hòa thảo nhiệt đới sẽ bão hòa ánh sáng ở 60.000 lux Sự chuyển hóa của năng lượng ánh sáng khoảng 5 - 6% ở cỏ hòa thảo nhiệt đới nhưng cỏ hòa thảo ôn đới là dưới 3% Vì vậy, cỏ hòa thảo nhiệt đới có tiềm năng lớn trong sử dụng ánh sáng cho quang hợp Khi cường độ ánh sáng cao trên mức bão hòa thì lá
cỏ có chiều hướng nhỏ đi, lá ngắn lại, tổng chiều cao cũng giảm đi và rễ lớn hơn so với cỏ sinh trưởng trong điều kiện cường độ ánh sáng yếu.
Hầu hết các loài cây thức ăn đều có thể sinh trưởng tốt dưới những vùng đất bị che bóng nhẹ như Brachiaria humidicola, Arachis pintoi… Không có giống cây thức ăn gia súc nào sinh trưởng, phát triển tốt trong điều kiện bị che bóng nặng, chỉ có một số loài có thể thích hợp tồn tại dưới mật độ tán cây che phủ trung bình như Centrosema macrocarpum, Paspalum atratum, Panicum maximum, Brachiaria brizantha, Brachiaria decumbens, Setaria sphacelata.
8
Trang 20Những loài này có thể trồng che phủ mặt đất và hạn chế cỏ dại ở dưới các tán cây, nhưng trong những trường hợp này năng suất chất khô thu được không cao.
nhau mà người ta chia thế giới thực vật thành 3 nhóm:
Nhóm thực vật C 3 bao gồm các thực vật mà con đường quang hợp của chúng chỉ thực hiện duy nhất một chu trình quang hợp là C 3 (chu trình Calvin) Hầu hết cây trồng của chúng ta thuộc thực vật C 3 như lúa, đậu dỗ, khoai, sắn…
Nhóm thực vật C 4 gồm các thực vật mà con đường quang hợp của chúng là sự liên hợp giữa 2 chu trình quang hợp là chu trình C 3 và chu trình C 4 Một số cây trồng thuộc nhóm này như mía, ngô, kê, cao lương Đặc điểm của nhóm thực vật này là ở chúng đã có sự phân công trách nhiệm rõ ràng trong việc thực hiện chức năng quang hợp Một loại lục lạp chuyên trách cố định CO 2 một cách hiệu quả nhất còn một loại lục lạp chuyên khử CO 2 thành các chất hữu cơ cho cây Do vậy mà hoạt động quang hợp của cây C 4 mạnh hơn và có hiệu quả hơn các thực vật khác Kết quả là năng suất sinh vật học (tổng lượng chất khô mà cây trồng tích lũy được trên một đơn vị diện tích đất trồng trọt trong một thời gian nhất định) của các cây C 4 thường rất cao.
Nhóm thực vật chuyển hóa acid Crassulacean (Crassulacean Acid Metabolism) CAM bao gồm các thực vật mọng nước như các loại xương rồng, dứa, hành, tỏi… Chúng thực hiện con đường quang hợp thích nghi với điều kiện khô hạn, bắt buộc phải đóng khí khổng vào ban ngày và chỉ mở khí khổng vào ban đêm.
- Dinh dưỡng trong đất:
Điều kiện thổ nhưỡng có ảnh hưởng trực tiếp tới sinh trưởng của cây thức ăn trong đó các chất dinh dưỡng trong đất đóng vai trò quan trọng kể cả các nguyên tố đại và vi lượng.
Đất có hạt sét quá nhiều thì thường dí chặt, yếm khí, hoạt động của rễ thực vật bị hạn chế Những loại đất này thường khiến cho rễ thực vật tiết ra nhiều độc
tố Những cây thức ăn dùng cho gia súc thường không thích hợp trồng ở đất này (Từ Quang Hiển và cs., 2002) Tính chất vật lý, cấu tượng của các loại đất khác nhau sẽ ảnh hưởng tới độ ẩm của đất, sự hấp thu các chất dinh dưỡng, sự phát
Trang 21triển của hệ vi sinh vật trong đất Đất là nguồn cung cấp chất dinh dưỡng cho cây Nếu đất thiếu các chất dinh dưỡng nào thì cây sẽ thiếu chính các chất dinh dưỡng đó Kết cấu đất ảnh hưởng tới năng suất cũng như chất lượng cây trồng Tỷ lệ mùn, đất, đá, cát, sét, sỏi khác nhau sẽ tạo cho đất có kết cấu khác nhau Đất giầu mùn, thường có tỷ lệ cát, sét, sỏi thấp Nếu được thường xuyên canh tác, đất sẽ có kết cấu tốt và tơi xốp, rễ cây phát triển nhanh và mạnh, vi sinh vật hoạt động tốt (Từ Quang Hiển và Nguyễn Khánh Quắc, 1995).
Độ pH trong đất quyết định trạng thái dễ tiêu hay không tiêu của các nguyên tố Nói chung, hòa thảo ưa đất trung tính còn các cây đậu ưa đất hơi kiềm vì chúng cần nhiều Ca hơn Đó cũng là nguyên nhân vì sao ở đồng cỏ nhiệt đới ít cây đậu Hầu hết cây thức ăn đều có thể sinh trưởng trên đất kiềm Đặc biệt có một vài loài thích hợp với loại đất có độ pH cao Những loài đó là Leucaena leucocephala, Desmanthus virgatus và Brachiaria humidicola Loài không sinh trưởng tốt trên đất kiềm là Stylosanthes guianensis.
Phân bón và cách bón phân có ảnh hưởng rõ rệt đến năng suất chất khô và thành phần hóa học của thức ăn Các loài có năng suất cao như cỏ Voi (Pennisetum purpureum), cỏ Ghinê (Panicum maximum), cỏ Lông para (Brachiaria mutica) … phản ứng rất mạnh với phân chuồng và phân đạm Phân bón lót P - K rải một lần trong năm có tác dụng trong cả năm, làm tăng năng suất cỏ so với không bón phân Ngược lại sự tăng năng suất do tác dụng của N chỉ xảy ra ngay khi trước đó người ta bón phân, cũng chính vì vậy mà người ta có thể sử dụng đạm một cách hợp lý nhằm cân bằng năng suất cỏ trong cả năm để khắc phục trạng mùa do điều kiện thời tiết gây nên.
Tất cả cây thức ăn đều sinh trưởng tốt trên đất có độ màu mỡ cao đến trung bình Một vài cây có tiềm năng năng suất cao như cỏ Pennisetum purpureum, Panicum maximum… chỉ sinh trưởng tốt trên đất màu mỡ Nhiều cây thức ăn có thể sinh trưởng trên đất nghèo dinh dưỡng và một số như Brachiaria humidicola, Stylosanthes guianensis còn sinh trưởng tốt trên đất chua, nghèo dinh dưỡng Mặc dù vậy, không có loài nào cho năng suất cao trên đất nghèo dinh dưỡng nếu không được bón phân đầy đủ Trên đất nghèo dinh dưỡng cây thức ăn có thể không chứa đầy đủ các chất dinh dưỡng cần thiết cho nhu cầu sinh trưởng và sản xuất của gia súc.
Khi bón phân cho đồng cỏ cần chú ý rằng nhu cầu các chất dinh dưỡng
10
Trang 22của đồng cỏ cao hơn nhiều lượng các chất dinh dưỡng đã hoặc sẽ thu hoạch Nhiều chất dinh dưỡng bị vi sinh vật trong đất sử dụng, bị chuyển thành mùn, giữ lại trong các phần còn lại của thực vật… Ngoài ra cũng còn phải tính đến hiệu quả sử dụng các chất dinh dưỡng của phân Hiệu quả sử dụng các chất dinh dưỡng của phân phụ thuộc vào độ phì nhiêu của đất, điều kiện tưới tiêu, chế độ nhiệt, dạng đồng cỏ, thành phần thực vật của đồng cỏ, phương thức sử dụng đồng cỏ, thành phần của phân bón, mức bón, thời gian và cách bón phân.
Theo nghiên cứu của Viện nghiên cứu thức ăn Liên bang Nga (Liên Xô cũ) thì hiệu quả sử dụng phân nitơ trung bình của đồng cỏ tự nhiên ở Liên Xô đạt từ 34 - 92%, phân phot pho từ 17 - 20% và phân kali từ 33 - 97% Trong điều kiện nhiệt đới và cận nhiệt đới, các chỉ tiêu này tương ứng là 9,5 - 100% đối với phân nitơ, 20% đối với phân photpho và 75% đối với phân kali.
Chất khoáng trong đất ở dạng khó sử dụng càng nhiều thì phân khoáng bón cho đồng cỏ càng có hiệu quả cao và ảnh hưởng của phân bón đến năng suất càng mạnh Thực tế cũng chứng minh rằng phân bón có hiệu quả cao hơn ở đồng cỏ trồng thu cắt so với đồng cỏ tự nhiên chăn thả Bởi vậy ở các nước nhiệt đới bón phân thường được áp dụng cho đồng cỏ trồng và là biện pháp quan trọng duy trì năng suất cao của đồng cỏ.
Bùi Quang Tuấn (2005) đã tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của các mức bón phân urê khác nhau đến năng suất, thành phần hoá học cũng như hiệu quả của đầu tư phân bón đối với cỏ Voi, cỏ Ghi nê Kết quả cho thấy mức bón phân urê thích hợp đối với cỏ Voi là 100kg, cỏ Ghi nê là 50kg N/ha/lứa cắt.
Điểm rất nổi bật là bón phân urê đã cải thiện được tỷ lệ protein thô trong cây thức ăn Tuy nhiên ảnh hưởng của mức bón phân urê đến chất lượng của thức ăn không rõ như ảnh hưởng đến năng suất của cây thức ăn.
Bón nhiều phân nitơ dẫn đến thực vật sinh trưởng nhanh (nhiều thân cành, lá ít) sẽ dẫn đến xơ thô trong thức ăn tăng.
Nguyễn Văn Bình (2004) cho biết phân đạm đã có ảnh hưởng rõ rệt đến hàm lượng các axit béo trong cỏ Timothy Tăng lượng nitơ bón cho đồng cỏ Timothy từ
0 kg lên 120 kg/ha đã làm tăng rõ rệt axit béo tổng số trong thức ăn, đặc biệt C 18:3 Giai đoạn sinh trưởng phát triển chiều cao ở mức nitơ là 0 kg/ha hàm lượng axit béo của cỏ Timothy là 8,71 (mg/kg chất khô) khi tăng lên mức 120 kg/ha hàm lượng axit béo của cỏ là 11,43 (mg/kg chất khô); Giai đoạn sinh trưởng đầu kết hoa ở mức nitơ là 0 kg/ha hàm lượng axit béo của cỏ Timothy là
Trang 236,86 (mg/kg chất khô) khi tăng lên mức 120 kg/ha hàm lượng axit béo
của cỏ là 10,32 (mg/kg chất khô); tương tự như vậy đối với 2 giai
đoạn cuối kết hoa và đầu nở hoa cũng có hàm lượng axit béo cao
hơn khi bổ sung thêm hàm lượng nitơ cho đồng cỏ.
Ảnh hưởng của phân bón đến thành phần hoá học của thảm cỏ
được Bobưlep (1984) tổng kết trong bảng 2.1 dưới đây.
Bảng 2.1 Ảnh hưởng của phân bón đến thành phần hoá học của thảm cỏ
- Bón Molypden, Lưu huỳnh cho cây đậu Thô
- Bón phân nitơ cho cây hoà thảo
- Cây đậu tăng
- Bón kẽm
Nguồn: Bobưlep (1984)
Trang 2412
Trang 25Phân nitơ bón cho cỏ trồng bị tổn thất nhiều do NH 3 bay hơi do vậy sử dụng viên nén urê phân giải chậm bón dúi sâu cho hiệu quả bón phân rất cao.
Bảng 2.2 Ảnh hưởng của cách bón phân nitơ đến năng suất cỏ trồng
Giống cỏ
Cỏ Voi
Cỏ Ghi nê
Cỏ setaria
2.1.3 Đặc điểm sinh trưởng của thân, lá
Cỏ mọc lại sau thu cắt gọi là cỏ tái sinh Quá trình tái sinh trưởng của thân lá cũng được chia thành 3 giai đoạn:
Giai đoạn sinh trưởng chậm của cỏ tái sinh thường ngắn vì sau khi thu hoạch cây cỏ vẫn còn nguyên bộ rễ đã phát triển hoàn thiện và cùng với nó là các chất dinh dưỡng dự trữ Thu hoạch cách mặt đất 5 - 7 cm (đối với cây hòa thảo) và
7 - 10 cm (đối với đại đa số cây đậu) nên cây cỏ vẫn còn khả năng quang hợp nhất định Do vậy, việc cung cấp các chất dinh dưỡng cho cây nhanh chóng được hồi phục, đảm bảo cho quá trình tái sinh trưởng nhanh sau đó.
2.1.3.1 Các yếu tố ảnh hưởng tới khả năng tái sinh của thân, lá
Tuổi thiết lập là tuổi kể từ khi trồng cỏ cho đến khi có thể đưa vào sử dụng lần đầu tiên Tuổi này rất quan trọng vì nó tạo điều kiện để các bộ phận dưới đất (rễ, thân ngầm….) phát triển làm cơ sở cho việc dự trữ các chất dinh dưỡng sau này để có thể tái sinh Vì chỉ khi các bộ phận này phát triển và dự trữ các chất dinh dưỡng đầy đủ mới cho phép quá trình tái sinh mạnh Từ hiểu biết này, người ta đợi cho quá trình sinh trưởng của cây ở thời điểm chất dự trữ nhiều nhất mới thu hoạch, để vừa cung cấp dinh dưỡng nhiều cho gia súc, đồng thời
13
Trang 26không gây hại cho cây trồng, vì lúc này điều kiện tái sinh là tối ưu Nếu tuổi thiết lập không được xác định đúng đắn, thì có thể cỏ trồng sẽ thu hoạch quá sớm gây ảnh hưởng xấu đến tái sinh sau này Ngược lại nếu thu hoạch quá muộn thì cỏ sẽ giảm giá trị dinh dưỡng Nếu cây thức ăn vừa mới mọc mà ta đã chăn thả gia súc hoặc thu cắt thì chúng bị tàn phá ngay Hay khi chúng ta thu hoạch khi cây thức ăn đã quá già phần còn lại có khả năng tái sinh rất kém Nhưng ở giữa hai thời điểm này
có một giai đoạn mà ở đó người ta có thể chăn thả gia súc hoặc thu cắt, và sau đó cây vẫn cho tái sinh mạnh Do vậy trong quá trình sinh trưởng của cây có một thời điểm mà chất dự trữ là nhiều nhất và vì vậy điều kiện tái sinh là tối ưu.
Kể từ lứa cắt cỏ lần thứ nhất trở đi, thời gian giữa các lần thu hoạch gọi là tuổi thu hoạch hay khoảng cách cắt Khi cây dự trữ đủ dinh dưỡng thì
ta bắt đầu thu hoạch Một cây cỏ nếu bị cắt trước khi rễ và những phần còn lại của lứa cắt chưa dự trữ đủ dinh dưỡng thì sự tái sinh sẽ gặp khó khăn
và có thể không tái sinh được Nếu tuổi thu hoạch chỉ bằng ½ tuổi thu hoạch thích hợp thì năng suất chỉ còn 1/3 Nếu tăng hơn tuổi thích hợp nhất 50% thì chỉ tăng năng suất lên 20% nhưng chất lượng giảm và tỷ lệ xơ tăng.
Nếu cắt cỏ quá ít lần trên năm thì cỏ sẽ già, chất lượng sẽ kém đồng thời ảnh hưởng tới tái sinh sau, ảnh hưởng tới sản lượng cỏ trên năm.
Nếu cắt cỏ quá nhiều lần trên năm, cỏ chưa đủ thời gian tích lũy các chất dinh dưỡng nuôi cây, bộ rễ phát triển kém hoặc bị teo đi
ít nhiều, đất trồng dễ bị xói mòn, rửa trôi các chất dinh dưỡng trên bề mặt nên đồng cỏ chóng bị thoái hóa, năng suất và chất lượng giảm.
Tuổi thu hoạch biến động phụ thuộc vào mùa, giống, điều kiện chăm sóc… Tuổi thu hoạch của các cây hòa thảo khoảng 30 - 40 ngày, của cây đậu khoảng 40 - 50 ngày trong mùa mưa, còn trong mùa khô tuổi thu hoạch
sẽ dài hơn, có những vùng quá khô hạn thì trong suốt mùa khô không cho thu cắt lứa nào Trong điều kiện thâm canh cao (bón phân đầy đủ, có nước tưới) cây thức ăn sinh trưởng nhanh thì tuổi thu hoạch cũng ngắn hơn Bởi vậy cần phải tiến hành xác định cụ thể thời điểm thu hoạch để cỏ có năng suất và giá trị dinh dưỡng cao nhất Cũng cần nói thêm rằng giá trị dinh dưỡng của cây thức ăn giảm dần theo giai đoạn sinh trưởng, có nghĩa là cây thức ăn càng già thì giá trị dinh dưỡng càng kém.
Trang 27Vì vậy việc xác định được tuổi thu hoạch hợp lý không chỉ nâng cao năng suất, chất lượng mà còn nâng cao tỷ lệ tiêu hóa cỏ, đồng thời tạo điều kiện cho cỏ tái sinh tốt hơn và kéo dài tuổi thọ của đồng cỏ.
Khi cắt cỏ quá cao sẽ làm giảm sản lượng cỏ vì một phần sản lượng nằm ở phần để lại, khi cắt cỏ quá thấp sẽ ảnh hưởng tới các lần tái sinh sau đó, làm mất đi phần thân gần gốc là cơ quan dự trữ chất dinh dưỡng cơ bản để nuôi rễ và toàn bộ lá và dùng cho việc tái sinh.
Nếu cỏ có thể phát triển không ngừng và thu hoạch một lần ở cuối mùa phát triển như ngũ cốc thì tổng sản lượng sẽ thấp và chất lượng cũng thấp hơn
là được cắt vài lần trong suốt giai đoạn của mùa sinh trưởng Thu hoạch là biện pháp kỹ thuật để đồng cỏ luôn được duy trì trong giai đoạn sinh trưởng Nếu cứ để cỏ trưởng thành một cách tự nhiên, thì thời kỳ chồi sẽ dài hơn Ngay sau khi cây cứng cáp và các điểm sinh trưởng chủ yếu hoạt động, năng suất đồng cỏ có thể tiếp tục tăng nhưng năng suất sẽ giữ nguyên khi cây gần rơi vào tình trạng ngủ Thông thường, mục tiêu của quản lý chăn thả hay thu cắt là giữ cây ở trạng thái sinh trưởng thuận lợi nhất và kéo dài nhất có thể và sau đó
có đủ dinh dưỡng cung cấp cho tái nẩy chồi và dự trữ cacbohydrate.
Tuy theo từng loại cỏ khác nhau mà chiều cao khi cắt để lại khác nhau Đối với cỏ thân đứng cắt cách mặt đất 4 - 5 cm, thân khóm cắt cách mặt đất 10 - 15 cm, thân bò cắt cách mặt đất 7 - 10 cm
là thích hợp và năng suất các lứa sau vẫn ổn định.
2.2 ĐẶC ĐIỂM CÁC GIỐNG CỎ DÙNG TRONG THÍ NGHIỆM NGHIÊN CỨU
2.2.1 Cỏ VA06 (Pennisetum pupureum)
Cỏ VA06 (Pennisetum pupureum) là giống cỏ được lai tạo giữa giống
cỏ Voi và cỏ đuôi sói của châu Mỹ, được đánh giá là “Vua của các loài cỏ”.
VA06 dạng như cây trúc, thân thảo, cao lớn, họ hoà thảo, mọc thẳng, năng suất cao, chất lượng tốt, phiến lá rộng, mầm, có hàm lượng dinh dưỡng cao, nhiều nước, khẩu vị ngon, hệ số tiêu hoá cao, là thức ăn tốt cho các loại các loại gia súc
ăn cỏ, gia cầm và cá trắm cỏ Trong cỏ VA06 có nhiều loại axit amin và nhiều vitamin, Hàm lượng protein thô ở cỏ VA06 trung bình 18,46% trong vật chất khô Lượng đường ở cỏ VA06 trung bình 8,3% trong vật chất khô Thường
15
Trang 28thì cỏ VA06 thu hoạch 40 - 45 ngày tuổi, năng suất 350 - 400 tấn/ha/năm (TB
360 tấn), làm thức ăn xanh cho lợn và thỏ; khi sử dụng cho bò có thể thu hoạch ở 50 - 60 ngày tuổi (Hoàng Chung và Nghiêm Văn Cường, 2008).
VA06 dạng như cây trúc, thân thảo, cao lớn, họ hoà thảo, dạng bụi, mọc thẳng, năng suất cao, chất lượng tốt, phiến lá rộng, mềm, có hàm lượng dinh dưỡng rất cao, nhiều nước, khẩu vị ngon, hệ số tiêu hoá cao, là thức ăn tốt nhất cho các loại gia súc ăn cỏ, gia cầm, và cá trắm cỏ Trong cỏ có 17 loại axit amin và nhiều loại vitamin Trong cỏ tươi, hàm lượng protein thô 4,6%, protein tinh 3%, đường 3,02%; Trong cỏ khô, hàm lượng protein thô 18,46%, protein tinh 16,86%, đường tổng số 8,3% Cỏ VA06 vừa có thể làm thức ăn tươi, làm thức ăn ủ chua, thức ăn hong khô hoặc làm bột cỏ khô dùng để nuôi bò thịt, bò sữa, dê, cừu, thỏ,
gà tây, cá trắm cỏ, mà không cần hoặc về cơ bản không cần cho thêm thức ăn tinh vẫn đảm bảo vật nuôi phát triển bình thường Hiệu quả về chăn nuôi hơn hẳn các loại cỏ khác, chẳng hạn, cứ 14 kg cỏ tươi thì sản xuất được 1 kg trắm cỏ, 18 kg cỏ tươi thì sản xuất được 1 kg thịt ngỗng Không những vậy, giống cỏ này có hàm lượng đường cao, giàu dinh dưỡng được các loại vật nuôi như bò, dê, cừu, lợn, lợn rừng, gà tây, cá trắm cỏ rất thích ăn, vật nuôi chóng lớn, khoẻ mạnh.
Giống cỏ VA06 chịu rét, chịu hạn, có bộ rễ phát triển cực mạnh, dài tới 3
- 4m, rễ dài nhất tới 5m, mọc tập trung Đường kính thân 2 - 3cm, lớn nhất 4cm, chống gió tốt, là cây chống xói mòn có hiệu quả, cũng là một loại cây lý tưởng trồng trên đất có độ dốc cao, kể cả đất có độ dốc trên 250; trồng làm hàng rào xung quanh vườn quả; trồng ven đê, ven hồ để chống xạt lở, trồng ở vùng đất cát để giữ cát và là cây phủ xanh đất trống đồi trọc Loài thực vật C 4 có tác dụng quang hợp rất mạnh, có tác dụng tốt đến việc hấp thụ các khí độc trong không khí Có thể trồng trên diện tích lớn ở ven đường, xung quanh vùng khai thác khoáng sản, trong công viên lớn để bảo vệ môi trường.2.2.2 Cỏ Ghinê TD58 (Panicum maximum TD58)
Cỏ Ghinê có nguồn gốc ở Châu Phi nhiệt đới và phân bố rộng rãi ở các nước nhiệt đới, cận nhiệt đới Ở Australia, cỏ này đã được đưa vào trên 30 năm nay và đã lan rộng ra các vùng có khí hậu biển (không có sương muối ) nhiệt đới và Á nhiệt đới thuộc bang Queensland với lượng mưa hàng năm khoảng 1000mm Ở nước ta c
ỏ Ghinê đã được đưa vào Nam Bộ năm 1975 và trồng phổ biến nhiều nơi trên
cả nước Một số giống cỏ ghinê phổ biến: P maximum TD58, P maximum CIAT
673, P maximum Common, P maximum Harmil, (Hare et al., 1999).
Trang 29Đặc điểm chung Cỏ Ghinê là loài cỏ lâu năm, thân cao 2-3m, không có thân
bò, chỉ sinh nhánh và tạo thành bụi Bẹ lá mọc quanh gốc có màu tím, cả bẹ và lá đều có lông nhỏ và trắng, nhất là ở bẹ lá Những lá phía trên ngắn và có bẹ lá dài nên không che nắng ở những lá dưới Lá có khả năng xoay theo chiều nắng Tỷ lệ lá/thân là 1,7, cụm hoa hình chuông là đặc trưng của cỏ, cũng có lông nhỏ và mịn.
Bộ rễ có nhiều nhánh, phát triển rất mạnh Cỏ phát triển tạo thành từng cụm như một cái phễu hứng nước mưa nên khả năng chịu hạn cao Nhiệt độ thích hợp cho
sự sinh trưởng của cỏ Ghinê từ 19,1-22,9 0 C, không chịu được sương muối nặng Sinh trưởng tốt trong những vùng có lượng mưa từ 800-1800 mm/năm Không chịu hạn được ở những vùng quá khô Sống được trên nhiều loại đất nhưng ưa đất nhiều màu mỡ và đất phù sa Ưa đất giàu canxi, oxyt sắt, tiêu nước tốt Tốt nhất ở
pH = 6, không chịu được đất ẩm kéo dài Chịu được
ở đất mặn nhẹ Là cây phản ứng với ánh sáng ngày ngắn và tương đối chịu bóng Nó có thể mọc tốt ở những nơi cao tới 2500m so với mực nước biển.
Lứa đầu thu hoạch khi thảm cỏ trồng được 60 ngày tuổi, các lứa tái sinh thu hoạch sau khi thảm cỏ có độ cao 45-60 cm (tùy theo mùa và trạng thái phát dục của cỏ) Phần gốc để lại là 10-15cm Năng suất đạt từ 50-100 tấn tươi/ha và
có thể lên tới 180 tấn/ha Có thể cắt 8-9 lứa/năm Cỏ Ghinê phát triển nhanh trong mùa mưa và đây là một trong những loài có thể thay thế Pangola vì giữ được năng suất đáng kể mặc dù độ ngon miệng có kém hơn.
Hàm lượng chất khô 20-30%, protein thô 5-9%, xơ thô 30-40%.
Tỷ lệ tiêu hoá chất khô của cỏ diễn biến từ 64% (sau 2 tuần thu hoạch) xuống 50% (sau 8 tuần thu hoạch).
Cỏ Ghinê có thể dùng để chăn thả hay thu cắt làm cỏ xanh hoặc khô hoặc
ủ chua Chu kỳ sử dụng dài tới 6 năm, phụ thuộc vào chế độ sử dụng Có thể trồng xen với keo dậu, Stylo để làm tăng giá trị dinh dưỡng của hỗn hợp cỏ.
Trồng cỏ Ghinê để chăn thả thì 2 lứa đầu tiên phải thu cắt, đến lứa thứ 3 mới đưa bò vào chăn thả Thảm cỏ chăn thả có độ cao 35-40 cm là hợp lý Thời gian nghỉ để cỏ tái sinh mọc lại (chu kỳ chăn thả) khoảng 25-35 ngày và thời gian chăn gia súc liên tục trên một lô cỏ không quá 4 ngày.
Đây là giống cỏ có bộ rễ khỏe, ăn sâu nên có khả năng chịu hạn tốt hơn cỏ Voi, vì vậy giống cỏ này thích hợp cho những vùng có lượng mưa khoảng 890
mm trở lên Cũng giống như cỏ Voi, cỏ Ghinê có khả năng chịu úng kém Vì vậy
17
Trang 30nó thích hợp với những vùng có khả năng thoát nước tốt và có khả năng thích hợp với nhiều loại đất nhưng cỏ phát triển tốt nhất ở những vùng đất
có độ màu mỡ từ trung bình trở lên Cỏ có thể mọc ở những vùng đất dốc, nhiều đá nhưng cho năng suất không cao Đây là giống cỏ có khả năng cạnh tranh mạnh với cỏ dại và khả năng chịu giẫm đạp tốt hơn cỏ Voi Năng suất cỏ đạt từ 50 - 100 tấn cỏ tươi/ha/năm, có thể lên tới 130 tấn/ha/năm Ở miền Nam, cỏ Ghinê cho năng suất cao hơn từ 80 - 150 tấn/ha/năm.
Cỏ thích ứng ở độ cao ≥ 1.800 m, nhiệt độ 15 - 40 0 C Cho năng suất cao
ở đất màu mỡ, đủ ẩm tơi xốp, có khả năng chịu rét và khô hạn, giữ được màu xanh trong suốt mùa khô Ở Việt Nam thấy rằng cỏ này phản ứng với mùa đông không rõ rệt, năng suất 2 mùa chênh lệch ít và ở nhiều nơi cỏ Guatemala có sức sống ở đất cằn mà những loài khác ít chịu được Năng suất chất xanh đạt từ 80 - 90 tấn/ha/năm Thời gian khai thác tới 6 năm.2.2.4 Cỏ Mulato 2 (Brachiaria ruziziensis)
Cỏ Mulato 2 là giống cỏ lai (B brizantha x B decumbens), được nhập nội từ Thái Lan, thuộc loại cây lâu năm, có thể khai thác 6 - 7 năm mới phải trồng lại Cây thân bụi, rễ chùm nên khả năng chịu hạn rất tốt Cây cao 80-100 cm, thân mềm, lá mềm, rất thích hợp với khẩu
vị của gia súc, đặc biệt là bò sữa Đây là giống cỏ không kén đất, chịu hạn tốt, thích hợp với hầu hết các vùng sinh thái của nước ta.
Nhờ có ưu thế lai nên cỏ Mulato 2 đẻ nhánh và tạo thảm cỏ rất nhanh từ các đốt thân sát mặt đất, cho sản lượng cao có thể đạt 200 - 250 tấn/ha/năm, hàm
Trang 31lượng VCK (từ 19 - 22%) và protein (14 - 16%) Khi cho bò sữa ăn sẽ cho sản lượng và chất lượng sữa cao hơn các giống cỏ khác như cỏ voi, kể cả cỏ VA06 mới được nhập nội gần đây Nhờ những ưu điểm nổi trội đó mà giống
cỏ Mulato 2 hiện đang được nhiều địa phương quan tâm mở rộng diện tích với qui mô lớn phục vụ chăn nuôi, đặc biệt là chăn nuôi bò sữa.
2.2.5 Cỏ Pas (Paspalum atratum)
Số lượng nhiễm sắc thể thể tứ bội (2n = 4x = 40)
Cỏ P atratum có tên khoa học đầy đủ là Paspalum atratum Swallen, Paspalum plicatulum var robustum Hack; Paspalum sp Aff P plicatulum.
Cỏ này có nguồn gốc từ bang Mato Grosso do Sul, Goias và Minas, tại tây Brazil (Quarin et al., 1997), được thu thập trong tự nhiên từ tháng 4/ 1986 để nghiên cứu và phát triển thành cỏ trồng Tuy nhiên, từ năm 1997 - 1999 mới được phát triển rộng tại các nước trên thế giới với nhiều tên khác nhau như Suerte atra paspalum (Florida) (Kalmbcher et al., 1997), Hi-Gane, ở Australia (Loch et al., 1999), ở Philipin được gọi với cái tên là Terenos (Horne and Stur, 1999), atratum (Đông Nam Á và Việt Nam 1997).
Nhiệt độ thích hợp cho sinh trưởng của giống cỏ này là từ 22 - 27 0 C, tuy nhiên nó chịu được sự dao động của biên độ nhiệt rất lớn, trong phạm vi từ 2 -
35 0 C vẫn sinh trưởng được Đây là cỏ mùa ấm nên sinh trưởng rất kém trong mùa lạnh Những phần phía trên thường bị chết do sương muối, nhưng tái sinh rất nhanh khi chuyển sang mùa ấm Sống được ở phạm vi từ ánh sáng ôn hòa tới nơi có độ che bóng cao và canh tác có hiệu quả trên đất nông lâm kết hợp Lượng mưa thích hợp cho giống cỏ này từ 750 mm/năm trở lên, sinh trưởng tốt nhất ở vùng có lượng mưa từ 1.500 - 2.000 mm/năm Đây là giống cỏ vừa có khả năng chịu hạn cũng như chịu úng tốt Nhưng không sống được ở những nơi ngập nước lâu Có thể sống được ở kết cấu đất từ đất cát đến đất sét và có thể chịu đựng được với vùng đất khô cằn, nhiều axit, chịu được lượng phân bón thấp nhưng vẫn cho năng suất khá cao Cỏ thích hợp và cho năng suất cao
ở đất mầu mỡ, đủ ẩm Tốt nhất nên bón phân đạm từ 150 - 200 kg N/ha/năm.
P atratum là cỏ lâu năm thân bụi, đẻ nhánh trên mặt đất, thân không cao
và chia lóng như một số cỏ hòa thảo khác, lá xuất phát từ gốc, nên không có bẹ
lá ôm lấy thân như một số cỏ thân cao chia lóng Lá có màu xanh đậm, dầy, mặt
lá bóng, lá mọc đứng và tồn tại lâu năm, lá to, khi còn non thì không sắc, tán lá
có thể cao đến 1 m (Hare et al., 1999), cao từ 1 - 2 m khi ra hoa Phiến lá thẳng
19
Trang 32đứng, có thể dài đạt 50 cm và rộng 3 - 4 cm, mặt lá bóng, lá dòn ngay cả khi đã thành thục, rìa lá thô ráp Những lá dưới gốc thường có một ít lông và khi lá già thì thường rất sắc (Hare et al., 1997) Lá cỏ dầy và dài nên gia súc nhai lại không thích ăn bằng các giống cỏ khác Tuy nhiên, đây là giống cỏ thân cao nên rất thích hợp cho việc thu cắt để chăn nuôi theo kiểu nuôi nhốt Ngoài ra, cỏ có thể trồng được dưới tán cây để thu cắt hay chăn thả hoặc dùng làm hàng rào xanh để chống xói mòn đất.
Hoa thường được chia thành các cụm, mỗi cụm hoa thường có từ
6 - 12 nhánh với 100 - 180 bông con trên mỗi nhánh (Hare et al., 2001) Hoa ôm lấy nhau tạo thành các cụm hoa dài 26 cm, cành hoa dài khoảng
20 cm, cành thấp nhất dài 14 cm, bông con dài khoảng 3 mm và rộng 2
mm Hạt có mầu đỏ nâu, khoảng 250.000 đến 450.000 hạt/kg.
Cỏ không ra hoa nhiều lần trong năm, khả năng kết hạt tốt Năm đầu thường cho lượng hạt rất ít nhưng sau đó tăng ở năm thứ 2, vì vậy, người ta thường thu hạt ở năm thứ 2 Sau 4 tuần trổ hoa có thể thu hoạch hạt và cho năng suất là 230 kg hạt tươi/ha, nhưng khi phơi khô và làm sạch chỉ thu được khoảng 100 kg hạt tốt/ha Hạt có đặc tính ngủ đông nên chỉ nẩy mầm đảm bảo sau thu hoạch từ 3 - 4 tháng Sức nẩy mầm có thể đạt từ 20 - 100 % nếu loại bỏ được mày và lá bắc nhỏ và qua xử lý Hạt được gieo với lượng 2 - 5 kg/ha, với khoảng cách hàng từ 0,5 - 1 m, tuy nhiên, người ta thường trồng cỏ bằng gốc.
Ở đất tốt, thâm canh cao, năng suất cỏ đạt trên 140 tấn/ha/năm Ở đất có
độ màu mỡ trung bình, thâm canh trung bình năng suất đạt trên dưới 100 tấn/ha/năm Sản lượng VCK từ 10 - 15 tấn/ha/năm và có thể tới 26 tấn/ha/năm.
2.2.6 Cỏ Stylo (Stylosanthe guianensis cv CIAT 184)
Stylosanthes guianensis cv CIAT 184 (tên thông thường Stylo CIAT 184) được đưa vào Việt Nam năm 1995 trong chương trình Forage and Livestock Systems Project (FLSP) Stylosanthes guianensis CIAT 184 có nguồn gốc ở Trung và Nam Mỹ, hiện nay trồng ở nhiều nước trên thế giới Stylosanthes guianensis CIAT 184 là cỏ lâu năm, thân đứng, trong điều kiện khí hậu ẩm có thể cao tới 1,5m, có khả năng ra rễ ở thân Thân có lông, lá chẽ 3.
Stylosanthes guianensis CIAT 184 là cây có khả năng thích nghi lớn với lượng mưa hàng năm từ 1500 - 2500mm/năm Có khả năng chịu hạn tốt trong mùa khô kéo dài, chịu được sương muối nhẹ và nhiệt độ thấp <15 0 C.
Trang 33Stylosanthes guianensis CIAT 184 là cây họ đậu sống lâu năm, phát triển thành bụi, thân gỗ nhỏ với một số thân cây/bụi Cây thích nghi với nhiều loại đất và khí hậu, là một trong những cây họ đậu thân bụi phát triển được trên đất acid Nó sẽ không phát triển trên các loại đất rất kiềm (pH> 8) Không giống như các giống Stylosanthes guianensis trước đây như Schofield Cook và Graham, Stylosanthes guianensis CIAT 184 đã cho thấy sức đề kháng cao với bệnh thán thư do nấm gây ra ở Đông Nam Á Nó thường được trồng làm cây che phủ, có hiệu quả ngăn chặn cỏ dại và là nguồn thức ăn bổ sung rất tốt cho hầu hết động vật, bao gồm gà, lợn và cá Stylosanthes guianensis CIAT 184 có thể cho gia súc ăn tươi hoặc khô Cây không chịu được thu cắt thấp vì các đỉnh sinh trưởng nằm trên các nách lá, do vậy khi thu cắt cần thực hiện cao hơn 25 cm để đảm bảo tái sinh tốt cho các lứa cắt sau (Horne and Stür, 1999) Hàm lượng đạm của Stylosanthes guianensis CIAT 184 từ 1,5 - 3% trong vật chất khô Tỷ lệ tiêu hóa vật chất khô của gia súc từ 60 - 70%, nhưng với tuổi của cỏ ngày càng tăng thì có thể giảm xuống dưới 40% (Mannetje and Jones, 1992).
Năng suất của cỏ Stylosanthes guianensis CIAT 184 đạt từ 40
-60 tấn/ha/năm Hàm lượng protein thô trong thức ăn từ 16 - 17%; VCK
từ 22 - 24%; xơ thô từ 20 - 22% (Nguyễn Ngọc Hà và cs., 1985) Có thể cho gia súc ăn tươi hoặc phơi khô đóng bánh, làm bột cỏ.
2.2.7 Cỏ Ghinê Mombasa (Panicum maximum cv Mombasa)
Cỏ Ghinê Mombasa có tên khoa học là Panicum maximum cv Mombasa Được nhập vào Brazil từ năm 1993 từ Tanzania Hiện nay được nhập về Việt Nam từ Thái Lan và Australia.
Cỏ Ghinê Mombasa là giống cỏ thân bụi, có năng suất cao từ 20 –
40 tấn VCK/ha/năm Mức protein thô từ 8 – 12% khi trồng trên đất nghèo dinh dưỡng và từ 12 – 14% khi được trồng trên đất giầu dinh dưỡng.
770kg/ha/năm cao hơn cỏ Tanzania Guinea và Tobiata Guinea là 600
và 590kg/ha/năm.
Có thể trồng cỏ Ghinê Mombasa làm đồng cỏ chăn thả luân phiên hoặc thu cắt tùy theo mục đích và nhu cầu sử dụng Trồng bằng rảnh thân hoặc có thể gieo hạt Nếu trồng bằng rảnh thân thì khoảng cách trồng là 40x60cm, nếu gieo hạt thì khoảng 6 – 8kg hạt/ha trồng cỏ.
21
Trang 342.3 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ CÂY THỨC ĂN CHĂN NUÔI TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM
2.3.1 Trên thế giới
Trên thế giới hiện nay việc tuyển chọn, lai tạo, di nhập các giống cỏ tốt
từ vùng này sang vùng khác là rất phổ biến Ở các nước có nền chăn nuôi đại gia súc phát triển, vấn đề thức ăn rất được quan tâm và đầu tư nghiên cứu như: Hà Lan, Úc, Mỹ, Brazin, Anh… và có rất nhiều tác giả trên thế giới
đã tiến hành nghiên cứu về cây thức ăn cho gia súc Các tác giả Kanno và Macedo đã tiến hành gieo hạt của các giống cỏ Branchiaria decumbens, B brizantha, B.dictyoneura, B humidicola, Andropogon gayanus, Setaria anceps và Paspalum atratum vào đầu mùa mưa ở khu vực đất lầy, các tác giả cho thấy không có loài nào có thể sống sót tại mùa mưa ở khu vực đất lầy Còn khi gieo ở giữa mùa mưa, thì chỉ có một lượng nhỏ cây giống con còn tồn tại vào cuối mùa mưa tuy nhiên sau đó chúng cũng chết.
Theo John WW Miles 2004 giống Brachiaria là giống được sử dụng làm thức
ăn cho vật nuôi ở vùng nhiệt đới châu Mỹ Cây trồng thương phẩm tồn tại được lựa chọn trực tiếp từ loài cỏ có nguồn gốc châu Phi, chúng được chấp nhận
ở thể lưỡng bội hữu tính như cỏ B.ruziziensis; sự tồn tại của cỏ Brachiaria (B.brizantha, B Decumbens và B humidicola) ở thể đa bội có kiểu sinh sản vô tính Những cỏ này được phát triển từ đầu thập niên 1970 nhưng do sự lai tạo chưa đầy
đủ nên đến giữa thập niên 1980, thể tứ bội kiểu sinh học hữu tính của B.ruziziensis mới được phát triển tiếp ở Bỉ Sau đó thí nghiệm đầu tiên về dòng lai đã được kiểm tra ở Colombia vào năm 1989, nhưng không được phát triển tiếp Sau này Công ty sản xuất giống cỏ của Mexico đã nhân giống cơ bản và thương mại hóa cỏ trồng Brachiaria lai đầu tiên bằng sinh sản vô tính dưới cái tên “Mulato 2” Thuộc tính đầu tiên chúng có sản lượng cao và chất lượng tốt Cỏ lai thứ hai, được gọi là
"Mulaoto” tại thời điểm trước khi đưa ra chính thức Mulato 2 có khả năng kháng rệp và thích nghi tốt với điều kiện khô hạn Tuy nhiên, đến năm 2005 người ta phát hiện thấy hiệu quả của Mulato 2 là rất giới hạn vì vậy người ta tiếp tục lai tạo, chọn lựa tìm kiếm sản phấm cây lai mới với mục đích làm tăng khả năng đề kháng với rệp, tăng sản lượng chất lượng cỏ và sản lượng hạt.
Theo Plazas H cỏ lai Brachiaria cv Mulato 2 (CIAT 36061) tại Easter Plains, Colombia cho sản lượng cao, chất lượng dinh dưỡng tốt, sức đề kháng tốt và
có thể sử dụng phân bón với liều lượng cao ở hệ thống đồng cỏ cắt Từ
Trang 35năm 2002 chương trình đồng cỏ nhiệt đới của CIAT và công ty giống cỏ thương phẩm Mexican, Papalotla với sự cộng tác của một vài nhà sản xuất ở khu vực,
đã đánh giá tiềm năng của cỏ lai trong vụ mùa Kết hợp cỏ lai mới với ngô để phục hồi lại đồng cỏ Brachiaria đã suy thoái Hạt cỏ thương phẩm trộn lẫn với
250 kg/ha phân hỗn hợp của hãng Calfos (4% P, 37% Ca) được gieo với khoảng cách luống 50 cm với mật độ 4,3 kg cỏ/ha Sau 45 ngày, nảy mầm của hạt là 80% với mật độ trung bình là 6 cây/m 2 Sản lượng VCK thu được sau 95 ngày trồng
là 5,3 tấn/ha, trong khi những loại khác chỉ đạt 3,6 tấn/ha, tỷ lệ protein thô là 12% và VCK tiêu hóa là 65,1% Ở các trang trại khác cùng khu vực, cỏ Mulato 2 phối hợp với ngô, năng suất tương đương với ngô.
Sau cuộc “cách mạng về thức ăn gia súc” ở Tây âu, mà đặc biệt là ở Anh đã tạo điều kiện thuận lợi cho chăn nuôi phát triển, đồng cỏ ngày càng được chú ý và được sử dụng đúng với vai trò của nó Theo Điền Văn Hưng (1974), ở Pháp năm 1942 chỉ có 4 triệu ha trồng cỏ và 15 triệu ha ngũ cốc thì đến năm 1974 đã thay đổi: 12 triệu ha cỏ và 8 triệu ha ngũ cốc.
Ở Thái Lan: Chính phủ có chủ trương tăng thu nhập cho người nông dân bằng cách: Giảm trồng lúa, sắn, đẩy mạnh phát triển chăn nuôi đặc biệt là gia súc nhai lại Nông dân nuôi bò trong dự án được cấp hạt giống cỏ để trồng Thái Lan đã sản suất được 418 tấn hạt cỏ (1991) và 1.336.600 tấn hạt cỏ (1994).
Ở Trung Quốc: Cây thức ăn gia súc được chú ý phát triển ở khu vực phía Nam,
và đã xác định được các giống cỏ Stylo, Brachiaria, Pennisetum, Panicum sử dụng có hiệu quả cho gia súc Hàng năm còn sản suất 20,5 tấn hạt cỏ cung cấp cho trong và ngoài nước (Lê Thành Trung, 1994).
Cùng với sự phát triển của nghề chăn nuôi động vật nhai lại thì diện tích trồng cỏ không những tăng lên mà việc đầu tư cho nghiên cứu chọn lọc những giống cỏ có năng suất và giá trị dinh dưỡng cao đã rất được xem trọng và có vị trí như là sự sống còn của ngành chăn nuôi đại gia súc.
Về nghiên cứu invitro gasproduction, theo Ryrmer et al., (2005), nguyên tắc xác định khả năng dạ cỏ tiêu hóa /lên men của thức ăn dựa trên nguyên lý đo khí được sản xuất quá trình lên men thức ăn lần đầu tiên được phát triển bởi McBee từ năm 1953 Trải qua nhiều nghiên cứu trên gia súc nhai lại, bằng nhiều cách thức tiến hành thí nghiệm khác nhau, Menke and Steingass, (1988) đã đưa ra phương pháp tiến hành theo dõi khả năng sinh khí invitro gasproduction phổ biến và áp dụng rộng rãi.
23
Trang 36Nghiên cứu của Muck et al., (2007), tiến hành thí nghiệm với cỏ Alfalfa thu cắt các thời điểm khác nhau đem ủ chua ở nhiệt độ phòng, sau đó so sánh khả năng sinh khí in vitro với các chủng vi khẩn dạ cỏ khác nhau, kết quả cho thấy khả năng sinh khí của cỏ theo vật chất khô tăng dần theo thời gian, nhưng tốc
độ sinh khí mạnh nhất trong khoảng thời gian 3 - 9h, sau đó giảm dần Tác giả Rowghani et al., (2008) đã theo dõi thành phần hóa học, tỷ lệ tiêu hóa và khả năng sinh khí của bánh oliu ủ với các phụ gia sử dụng cho gia súc nhai lại cho biết ủ chua bánh oliu với 8% rỉ mật đường, 0,4% axit formic và 0,5% urê cho gia súc nhai lại cho tỷ lệ tiêu hóa cao nhất và khả năng sinh khí cao nhất.
2.3.2 Ở Việt Nam
Các nghiên cứu về cây thức ăn xanh cho gia súc đã được nhiều nhà khoa học tiến hành trong suốt các thập kỷ qua Tổng hợp kết quả nghiên cứu về ngành đồng cỏ từ năm 1960 đến 2005 cho thấy chúng ta đã nhập và thử nghiệm 245 giống
cỏ trong đó các giống cỏ họ đậu là 63 giống và một số giống nhập lẻ tẻ và trùng lặp qua các năm và thông qua các dự án Đặc điểm nổi bật trong cả giai đoạn này là hầu hết các nghiên cứu đều tập trung vào tuyển chọn và xác định được các giống
cỏ trồng nhập nội và giống địa phương có năng suất cao và chất lượng tốt phù hợp với các vùng sinh thái khác nhau trong cả nước Kết quả chỉ ra rằng một tập đoàn giống cỏ hoà thảo phong phú đã được tìm ra và rất nhiều giống đã và đang được phát triển rộng trong sản xuất như những kết quả nghiên cứu của (Nguyễn Ngọc Hà
và cs.,1985) về các giống cỏ được tuyển chọn là Setaria Splenda đạt 28-80,4 tấn; Brachiaria mutica: 28-86,6 tấn/ha/năm, Brachiaria decumbens đạt 44,1-73,8 tấn/ha/năm trồng tại Sơn Thành, Long Mỹ thuộc vùng Duyên hải miền Trung và Từ Liêm, Thanh Trì vùng đồng bằng Bắc Bộ Theo một số tác giả nghiên cứu đã báo cáo rằng các giống cỏ hoà thảo cho năng suất VCK khá cao 18-61tấn/ha/năm (P pupurseum King grass), 17,8-40 tấn/ha/năm (Panicum maximumi), 13,8-36 tấn/ha/năm Brachiaria sp và 14,8- tấn cho các giống Pangola, Bermuda Trên vùng đất phù sa sông Hồng, vùng đất đồi Hà Tây giống cỏ P.M TD58 cho năng suất VCK
từ 17-18 tấn/ha/năm Các giống cỏ P.M Hamill, P.M Common, P.M Ciat 673 cũng cho năng suất xanh khá cao (60-66 tấn/ha/năm) trên vùng đất xám Bình Dương Đặc biệt với giống cỏ B ruzisinensis trồng quảng canh ở nhiều vùng Hà tây, Bắc Giang, Lạng Sơn, Khánh Hoà, Hoà Bình, Hà Tĩnh, Gia Lai cho năng suất xanh từ 50-65 tấn/ha/năm Tại vùng đất Đăk Lăk giống B ruziziensis đạt năng suất VCK khoảng 14,5
Trang 37tấn/ha/năm (Khổng Văn Đĩnh và cs., 1997; Nguyễn Ngọc Hà và cs., 1985; Dương Quốc Dũng và cs.,1998; Phan Thị Phần và cs.,1999; Nguyễn Thị Mùi và cs., (2010) Nguyễn Văn Quang và cs., 2006, cũng đã chỉ ra trong nghiên cứu và sản xuất thử nghiệm về các giống cỏ hoà thảo trên các loại đất có độ dốc khác nhau tại khu vực trung du miền núi phía Bắc kết quả chỉ ra rằng các giống cỏ đã cho
6 lứa cắt/năm và năng suất xanh của các giống P.M.TD 58: 75-87 tấn/ha/năm; Setaria splenda: 93-117,5 tấn/ha/năm ; B Decumbens 80-90,3 tấn/ha/năm, P.M hamill 61-75,6 tấn/ha/năm và Paspalum atratum đạt NS xanh từ 60-108,6 tấn/ha/năm Nguyễn Văn Lợi và cs (2006) đã xác định được bộ giống bao gồm 7 giống cỏ hòa thảo P.maximum TD58, B Decumbens, B Brizantha, B.Hybrid, B ruziziensis, Paspalum atratum, Penisetum purpureum madagasa đạt NSX từ 103 đến 131 tấn/ha/năm và 4 giống họ đậu Stylosanthes CIAT 184, Flemingia macrophylla, Stylosanthes plus và Leucaena Leucocephala K636 đạt năng suất xanh từ 15,2-34,6 tấn/ha/năm trên các vùng núi phía Bắc Trong điều kiện đất đai khí hậu vùng Duyên Hải miền Trung, Tây Nam Bộ và đồng bằng Bắc Bộ, một bộ giống cỏ bao gồm: Pennisetum purpureum Kingrass, Pennisetum hybrid VA06 Panicum maximum TD58, Brachiaria Mulato (Hybrid), Brichiaria Ruzisinensis, Brichiaria Decumbens, Brachiaria Mutica (Para), Paspalum Atratum, Stylosanthes guianensis CIAT 184, Stylosanthes guianensis Plus và Flemingia Macrophylla phát triển phù hợp cho thu cắt chất xanh trong điều kiện đất thoát nước, ngập nước, giống chịu hạn, sử dụng làm thức ăn xanh, làm cỏ khô trong
cả điều kiện trang trại và nông hộ chăn nuôi và cho năng suất chất lượng cao (Nguyễn Thị Mùi và cs., 2010; Nguyễn Thị Hồng Nhân và cs., 2008).
Đối với việc tuyển chọn các giống cỏ, cây họ đậu cho thấy: giai đoạn 1967
- 1984 nghiên cứu tuyển chọn giống cây thức ăn xanh họ đậu nhập nội trồng tại khu vực đồng bằng Bắc Bộ, đã báo cáo rằng các giống cỏ họ đậu nổi trội là Stylosanthes gracilis cho năng suất xanh là 70 - 114 tấn/ha/năm và giống Pueraria phaseoloides cho 57 - 60 tấn/ha/năm Các giống cỏ họ đậu khác như: Medicago sativa L cho NS 27 - 34 tấn/ha/năm và cỏ ba lá (Triforlium) cho năng suất xanh rất thấp Trên đất đồi vùng trung du miền núi chỉ có giống đậu hồng đáo và đậu cao bằng cho năng suất xanh từ 20 - 21 tấn/ha/năm cũng đã báo cáo
về năng suất xanh của giống cỏ họ đậu trồng tại các vùng sinh thái Duyên hải miền Trung và đồng bằng Bắc Bộ Stylo Hamata verano đạt năng suất xanh 22 -
25
Trang 3826 tấn và 23 36 tấn/ha/năm, Stylo scabra đạt năng suất xanh 10 25 tấn và 34
-35 tấn/ha/năm; Stylo Cook đạt năng suất xanh 11 - 14 tấn và 19 - 25 tấn/ha/năm; Macroptilium A Siatro đạt năng suất xanh 13 - 30 tấn và 23 - 23,3 tấn/ha/năm; Neonotonia.W.Cooper đạt NS xanh 22 - 26 tấn và 23 - 36 tấn/ha/năm và Pueraria.
p Radou đạt năng suất xanh 22 - 26 tấn và 23 - 36 tấn/ha/năm (Lê Hoà Bình và cs.,1994) Nguyễn Ngọc Hà và cs (1985) đã báo cáo giống cỏ Stylosanthes gracilis, Stylosanthes humilis, Stylosanthes hamata cho năng suất xanh biến động 44 - 53,1 tấn/ha/năm Trong khi đó trên đất xám Bình Dương năng suất xanh các giống này chỉ đạt từ 18,5 - 29,7 tấn, L Leucocephala Hawai 40,0 tấn/ha/năm, Cajanus cajan (Đậu triều) đạt 50,0 tấn/ha/năm, Puearia phaseoloides Kudzu đạt 40,1 tấn/ha/năm Giống Flemingia Macrophylla đã được trồng thâm canh và có tưới nước đã cho năng xuất cao và góp phần tăng sản phẩm chăn nuôi trong mùa khô Giai đoạn từ 1998 - 1999 giống Stylsanthes guianensis Cook được trồng trên nền đất xám Bình Dương đã cho năng suất xanh 21 tấn/lứa cắt/ha (4 lứa/năm) và bón phân urê (60kg/ha/lứa) cùng tưới nước 3 - 5 ngày một lần trong mùa khô đã tăng năng suất lên 44% so với không tưới (Lê Hà Châu, 1999) Tại Đăk Lăk, giống Stylo FM05-2, Stylo Cook đã cho năng suất 12,5 tấn VCK/ha/năm và Stylosanthes guianensis CIAT 184 đã cho năng suất vật chất khô 11,4 đến 12,2 tấn/ha/năm (Trương Tấn Khanh, 1999) Tại một số tỉnh miền núi phía Đông Bắc và đồng bằng Bắc bộ, một số giống keo dậu L L K636, L P K748 và Leucaena KX2, L L Cuningham, L L Ipil ipil, L.L K8 và Calliandra calothyrsus (Nguyễn Thị Mùi và cs., 2002), đã nghiên cứu thử nghiệm tập đoàn cây thức ăn mùa đông kết quả ban đầu chỉ ra cho thấy giống
cỏ Alfalfa (Medicago sativa) có thể gieo trồng được trong điều kiện có tưới nước trong mùa khô tại vùng Ba Vì và Đức Trọng, Lâm Đồng Trong kết quả nghiên cứu phát triển mở rộng một số giống cây họ đậu chủ đạo phù hợp với một số vùng sinh thái khác nhau trong nước của Nguyễn Thị Mùi và cs., (2005) cũng đã có kết luận rằng: 2 giống cây họ đậu chủ đạo là Stylosanthes guianensis CIAT 184 và Leucaena leucocephala K636 đã phát triển tốt trên cả vùng sinh thái thuộc 4 tỉnh Lâm Đồng, Thanh Hoá, Thái Nguyên và Hà Tây (cũ),
số vùng sinh thái khác nhau nước ta đưa vào cơ cấu cây thức ăn xanh và cung cấp 15-20% tỷ lệ họ đậu trong khẩu phần thức ăn xanh cho bò sữa.
Giữa các vùng sinh thái khác nhau năng suất chất xanh sử dụng cho chăn nuôi cũng khá biến động Vùng núi phía Tây Bắc và vùng đồng bằng sông Hồng
Trang 39thường cho các lứa cắt và năng suất thấp hơn so với các vùng duyên hải miền Trung (Nguyễn Ngọc Hà và cs., 1985) Nguyễn Văn Lợi và cs (2006), cũng báo cáo rằng sau 3 lứa cắt năm thứ nhất năng suất chất xanh cỏ Stylo trồng thuần
ở vùng đất dốc Thái Nguyên đã đạt 49,9 đến 59,4 tấn/ha/năm Tại khu vực sinh thái Tây Nguyên, đã tuyển chọn và đưa vào sản xuất 9 giống cây họ đậu theo phương thức thu cắt Nhìn chung năng suất chất xanh, năng suất VCK biến động rất rõ theo từng giống khi trồng trong cùng một điều kiện giống nhau nhưng chế độ đầu tư chăm sóc và khả năng phân bố theo mùa vụ cũng khác nhau Đặc tính này sẽ giúp cho việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật để nâng cao năng suất cho mùa đông/khô (Trương Tấn Khanh, 1999).
Từ những tư liệu về việc tuyển chọn và phát triển tập đoàn cây cỏ hoà thảo rất phong phú, trong đó nổi trội là các nhóm giống thuộc họ hòa thảo: Penisetum purpureum sp., Panicum maximum sp, Brachiaria sp và nhóm họ đậu chủ yếu là Stylosanthes sp và Leucaena leucocephala sp đã được phát triển ở hầu hết các nước vùng nhiệt đới và bán nhiệt đới trong đó có Việt Nam Việc tuyển chọn các giống cây thức ăn gia súc mới thích nghi và phù hợp với điều kiện sản xuất hiện tại là rất cần thiết cho mỗi vùng sinh thái Thông thường những giống địa phương thường cho năng suất và thành phần dinh dưỡng thấp nhưng có khả năng thích nghi và sức sống cao hơn, các giống mới cho
NS cao nhưng đòi hỏi nguồn dinh dưỡng và chế độ chăm sóc quản lý cao hơn.
Rất nhiều giống cỏ địa phương và các giống mới nhập nội có triển vọng thường có những nhu cầu dinh dưỡng và đặc tính khác nhau nên cần được đánh giá rõ ràng trước khi lựa chọn Việc tuyển chọn các giống cây thức ăn xanh để giới thiệu cho sản xuất cần phải cân nhắc các đặc tính riêng biệt, khác nhau trong hệ thống sản xuất Các giống cây họ đậu và cỏ hòa thảo có thể phù hợp trong phương thức trồng xen lẫn trên đồng cỏ hay trồng riêng biệt Các giống cây họ đậu thân gỗ
có thể thích hợp với việc trồng hàng rào và thu hoạch ngọn lá để cải thiện hàm lượng đạm trong thức ăn cho gia súc Có những giống thích hợp với đồng cỏ thu cắt như cỏ Voi, cỏ ghine, có những giống thích hợp với đồng cỏ trong điều kiện chăn thả như cỏ mật, cỏ chỉ, cỏ Brachiaria huminicola… có thể chịu hạn tốt hơn các giống khác hoặc chịu được tán che của cây nông, công nghiệp… Việc tiến hành các thí nghiệm nhằm đánh giá và nhận biết các đặc tính đa dạng của từng giống để tuyển chọn và giới thiệu đúng với các hệ thống sản xuất là hết sức quan trọng Những thí nghiệm như vậy giúp chúng ta hiểu rõ được những kỹ thuật phù hợp với điều kiện thực tế và hiệu quả áp dụng các biện pháp
27
Trang 40kỹ thuật tuyển chọn, và chuyển giao các kết quả vào sản xuất với các mục phát triển nguồn thức ăn xanh cho chăn nuôi, đặc biệt là chăn nuôi bò sữa (Wilaibon and Pongskul, 1984; Lê Hòa Bình và cs., 2002).
Tại Việt Nam, vấn đề sản xuất và quản lý chất lượng hạt giống cỏ từ trước đến nay chưa được quan tâm Các loại hạt giống cỏ hiện nay cung cấp cho sản xuất đều nhập khẩu thông qua một số công ty như : Công ty Giống cây trồng Miền Nam, Công ty TNHH phát triển Nông nghiệp Nông Phát, Công ty TNHH Khuyến nông, Công ty Á Châu với số lượng hàng trăm tấn/năm, tiêu tốn một lượng ngoại
tệ hàng triệu USD Trong nước chưa có một cơ sở nào sản xuất hạt giống cỏ mà chủ yếu là tự phát, sản xuất nhỏ lẻ, manh mún không thể đáp ứng được cho nhu cầu sản xuất hiện nay Do đó cần thiết phải hoàn thiện và xây dựng quy trình kỹ thuật sản xuất hạt giống cỏ, quy hoạch và hình thành những vùng chuyên canh sản xuất hạt cỏ phù hợp với từng giống, ứng dụng một số các loai máy móc vào sản xuất để nâng cao hiệu quả và chất lượng sản phẩm, tổ chức quản lý theo hướng khép kín các công đoạn từ khâu sản xuất – chế biến và bảo quản hạt giống – kiểm tra đánh giá chất lượng hạt giống – tiêu thụ sản phẩm.