1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

Mô Hình Hóa Nhận Dạng và Mô Phỏng - Chương 6

18 594 5
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực nghiệm nhận dạng hệ thống
Tác giả Huỳnh Thỏi Hồng
Trường học Bộ môn Điều khiển Tự động
Thể loại bài giảng
Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 371 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tài liệu tham khảo bài giảng mô hình hóa, Nhận dạng và mô phỏng bộ môn điều khiển tự động Khoa điện - điện tử -

Trang 1

Chương 6: Thực nghiệm nhận dạng hệ thống

 Huỳnh Thái Hồng – Bộ mơn Điều khiển Tự động

1

Chương 6

THỰC NGHIỆM NHẬN DẠNG HỆ THỐNG

Chương 6: Thực nghiệm nhận dạng hệ thống

6.1 Giới thiệu

6.2 Thí nghiệm thu thập dữ liệu

6.3 Tiền xử lý dữ liệu

6.4 Chọn cấu trúc mô hình

6.5 Chọn tiêu chuẩn ước lượng

6.6 Đánh giá chất lượng mô hình

Tham khảo:

[1] L Ljung (1999), System Identification – Theory for the user

chương 12-16

6.1 GIỚI THIỆU

Hình 6.1: Vòng lặp nhận dạng hệ thống

Thí nghiệm thu thập dữ liệu

Tốt ⇒ chấp nhận mô hình

Không tốt ⇒ lặp lại Không tốt ⇒ xét lại

thông tin biết trước

Xử lý sơ bộ dữ liệu

Chọn cấu trúc mô hình

Chọn tiêu chuẩn ước lượng Ước lượng thông số

Đánh giá mô hình

Trang 2

Chương 6: Thực nghiệm nhận dạng hệ thống

 Huỳnh Thái Hồng – Bộ mơn Điều khiển Tự động

2

6.2 THÍ NGHIỆM THU THẬP DỮ LIỆU

6.2.1 Các vấn đề liên quan đến thí nghiệm thu thập số liệu

1 Xác định ngõ vào, ngõ ra của hệ thống cần nhận dạng ⇒ xác định tín

hiệu “kích thích“ để thực hiện thí nghiệm thu thập số liệu và vị trí đặt cảm

biến để đo tín hiệu ra

2 Chọn tín hiệu vào Dạng tín hiệu vào ảnh hưởng rất lớn đến dữ liệu

quan sát Tín hiệu vào quyết định điểm làm việc của hệ thống, bộ phận nào

và chế độ làm việc nào của hệ thống được kích thích trong thí nghiệm

3 Xác định chu kỳ lấy mẫu

4 Xác định số mẫu dữ liệu cần thu thập

6.2.2 Chọn tín hiệu vào cho thí nghiệm nhận dạng hệ thống hở

1 Tín hiệu vào phải được chọn sao cho tập dữ liệu thu thập được phải đủ

giàu thông tin

• Tập dữ liệu Z∞ đủ giàu thông tin nếu ma trận phổ φz(ω) của tín hiệu

t y t

u

t

z( )= ( ) ( ) xác định dương với hầu hết mọi tần số ω

=

) ( ) (

) ( )

( )

(

ω φ ω φ

ω φ ω φ ω

φ

y yu

uy u

∑∞

−∞

=

=

τ

ωτ

τ ω

u

=

t N

N

R

1

) ( ) (

1 lim )

∑∞

−∞

=

=

τ

ωτ

τ ω

uy

=

t N

N

R

1

) ( ) (

1 lim )

• Đối với trường hợp nhận dạng hệ thống hở, tập dữ liệu thực nghiệm đủ

giàu thông tin khi tín hiệu vào u (t) là tín hiệu gần dừng có phổ φu(ω)>0 tại

hầu hết các tần số ω (“hầu hết” nghĩa là phổ có thể bằng 0 trong một miền

tần số đo được) Tín hiệu u (t) thỏa mãn điều kiện trên được gọi là tín hiệu

kích thích vững (persistently exciting)

Trang 3

Chương 6: Thực nghiệm nhận dạng hệ thống

 Huỳnh Thái Hồng – Bộ mơn Điều khiển Tự động

3

2 Có rất nhiều lựa chọn để tín hiệu vào là tín hiệu kích thích vững Khi chọn tín hiệu vào cần để ý các yếu tố sau:

i Tính chất tiệm cận của thông số ước lượng (độ lệch và phương sai) chỉ phụ thuộc phổ tín hiệu vào, không phụ thuộc dạng sóng tín hiệu vào

ii Tín hiệu vào phải có biên độ hữu hạn, uu(t)≤u

iii Tín hiệu vào tuần hoàn có một số ưu điểm

3 Dạng sóng tín hiệu vào – Hệ số đỉnh (Crest factor)

• Ma trận hiệp phương sai tỉ lệ nghịch với công suất tín hiệu vào ⇒ công suất tín hiệu vào càng lớn kết quả nhận dạng càng chính xác

• Tuy nhiên thực tế tín hiệu vào có biên độ hữu hạn (do giới hạn vật lý) nên công suất tín hiệu vào không thể tăng lớn tùy ý được

• Dạng sóng tín hiệu được xác định bởi hệ số đỉnh, định nghĩa như sau:

=

t N

t r

t u N

t u C

1 2

2 2

) (

1 lim

) (

max

(6.6)

Dễ thấy 1C r ≥ Trong lớp các tín hiệu bị chặn, tín hiệu có công suất lớn nhất khi C r =1, đó là tín hiệu nhị phân (u (t) chỉ có 2 mức u± ) Tuy nhiên tín hiệu nhị phân chỉ có thể sử dụng khi nhận dạng mô hình tuyến tính, không thể sử dụng khi nhận dạng mô hình phi tuyến vì đặc tính động của hệ phi tuyến không chỉ phụ thuộc tần số mà còn phụ thuộc biên độ tín hiệu vào

4 Thành phần tần số của tín hiệu vào

Tín hiệu vào cần được chọn sao cho công suất của tín hiệu tập trung vào miền tần số mà tại đó đặc tính tần số của mô hình nhạy với sự thay đổi thông số mô hình

Để nhận dạng mô hình tuyến tính cần chọn tín hiệu vào có phổ tần số

mong muốn và hệ số đỉnh càng nhỏ càng tốt, tuy nhiên hai yêu cầu trên lại

mâu thuẫn nhau: tín hiệu có phổ tần số thay đổi dễ dàng như mong muốn thì có hệ số đỉnh lớn và ngược lại

5 Các dạng tín hiệu vào thông dụng

• Nhiễu trắng phân bố Gauss qua bộ lọc tần số

Nhiễu trắng có mật độ phổ công suất (Power Spectral Density) bằng nhau tại mọi tần số, cho nhiễu trắng qua bộ lọc tần số ta sẽ được tín hiệu ngẫu nhiên có mật độ phổ công suất tập trung tại miền tần số mong muốn

Trang 4

Chương 6: Thực nghiệm nhận dạng hệ thống

 Huỳnh Thái Hồng – Bộ mơn Điều khiển Tự động

4

Về lý thuyết tín hiệu nhiễu Gauss có biên độ không bị chặn, do đó phải cho tín hiệu nhiễu Gauss bão hòa tại một giá trị ngưỡng nào đó để được tín hiệu ngẫu nhiên bị chặn Thí dụ có thể cho tín hiệu bão hòa ở mức biên độ bằng 3 lần độ lệch chuẩn, khi đó chỉ có khoảng 1% số mẫu tín hiệu bị ảnh hưởng, tín hiệu sẽ có hệ số đỉnh bằng 3 và méo tần số không đáng kể

Cần nhớ:Bộ công cụ Ident tạo tín hiệu vào phân bố Gauss bằng lệnh:

>> u = idinput(N, ‘RGS’,[wmin wmax],[µ-σ µ+σ])

Trong đó: N: số mẫu

‘RGS’: Random Gaussian Signal

[wmin wmax]: băng thông của tín hiệu (mặc định [0 1]) µ: giá trị trung bình của phân bố Gauss (mặc định 0) σ: độ lệch chuẩn của phân bố Gauss (mặc định 1)

-4

-2

0

2

4

20 200 400 600 800 1000 4

6 8

(a) (b) Hình 6.2: Tín hiệu ngẫu nhiên phân bố Gauss (a) Băng thông [0 1], µ =0, σ =1

(b) Băng thông [0 0.1], µ =5, σ =1

• Tín hiệu nhị phân ngẫu nhiên

Tín hiệu nhị phân ngẫu nhiên là tín hiệu có biên độ thay đổi ngẫu nhiên giữa hai mức cố định Có thể tạo ra tín hiệu nhị phân ngẫu nhiên bằng cách lấy dấu tín hiệu ngẫu nhiên phân bố Gauss, sau đó có thể dịch mức −1 và +1 sang hai mức bất kỳ

☺ Tín hiệu nhị phân ngẫu nhiên có hệ số đỉnh bằng 1

Không thể điều chỉnh như ý muốn dạng phổ tín hiệu

Cần nhớ:Bộ công cụ Ident tạo tín hiệu vào nhị phân ngẫu nhiên bằng lệnh:

>> u = idinput(N, ‘RBS’,[wmin wmax],[umin umax])

Trong đó: N: số mẫu

‘RBS’: Random Binary Signal

[wmin wmax]: băng thông của tín hiệu (mặc định [0 1]) [umin umax]: mức thấp và mức cao của tín hiệu

(mặc định [−1 +1])

Trang 5

Chương 6: Thực nghiệm nhận dạng hệ thống

 Huỳnh Thái Hồng – Bộ mơn Điều khiển Tự động

5

-1

-0.5

0

0.5

1

0 1 2 3 4 5

(a) (b) Hình 6.3: Tín hiệu nhị phân ngẫu nhiên (a) Băng thông [0 1], mức [−1 1]

(b) Băng thông [0 0.1], mức [0 5]

• Tín hiệu nhị phân ngẫu nhiên giả

(PRBS – Pseudo-Random Binary Signal)

Tín hiệu nhị phân ngẫu nhiên giả (PRBS) là tín hiệu tiền định, tuần hoàn có các tính chất giống tín hiệu nhiễu trắng Tín hiệu nhị phân ngẫu nhiên giả được tạo ra nhờ phương trình sai phân:

) 2 ), ( )

1 ( ( rem )

2 ), ( ) ( ( rem )

(rem: phần dư (remainder))

Tín hiệu PRBS là tín hiệu tuần hoàn với chu kỳ cực đại là M =2n −1, chu kỳ tuần hoàn của tín hiệu phụ thuộc vào A (q) Với mỗi giá trị n tồn tại

đa thức A (q) cho trong bảng dưới đây để chu kỳ tuần hoàn của tín hiệu PRBS đạt cực đại

Bảng 6.1: Đa thức A(q) tạo ra tín hiệu PRBS có độ dài cực đại,

các hệ số của A(q) không được liệt kê trong bảng có giá trị bằng 0

Bậc n M=2 n−1 Hệ số bằng 1

8 255 a1, a2, a7, a8

Trang 6

Chương 6: Thực nghiệm nhận dạng hệ thống

 Huỳnh Thái Hồng – Bộ mơn Điều khiển Tự động

6

Tín hiệu PRBS độ dài cực đại có biên độ thay đổi giữa hai giá trị u± có tính chất sau:

M

u t u M

M t

=

=1

) (

1

(6.8)

±

±

=

= +

,

2 , , 0 )

( ) (

1 )

2

M M k

u k t u t u M k

t

Phổ công suất của tín hiệu PRBS là:

∑−

=

1

2

) / 2 (

2 )

k

M

π ω

Biểu thức (6.10) chứng tỏ phổ công suất của tín hiệu PRBS có M −1 vạch có độ cao bằng nhau phân bố trong miền −π ≤ω <π (không kể thành phần tần số ω=0) Điều này chứng tỏ tín hiệu PRBS có tính chất “giống” như nhiễu trắng tuần hoàn

☺ Tín hiệu PRBS có hệ số đỉnh bằng 1 (tối ưu)

Các tính chất tương tự nhiễu trắng của tín hiệu PRBS chỉ có được khi

số mẫu của tín hiệu bằng bội số của M Do đó khi kích thích hệ thống dùng

tín hiệu PRBS nên chọn số mẫu dữ liệu thu thập là N =kM (k: số nguyên),

và điều này làm hạn chế tùy chọn số mẫu dữ liệu thu thập

Cần nhớ:Bộ công cụ Ident tạo tín hiệu vào PRBS bằng lệnh:

>> u = idinput(N, ‘PRBS’,[0 B],[umin umax])

Trong đó: N: số mẫu

‘PRBS’: Pseudo-Random Binary Signal

[0 B]: 1/B là chu kỳ clock (mặc định B=1), u không thay đổi trong khoảng tối thiểu là 1/B mẫu

[umin umax]: mức thấp và mức cao của tín hiệu (mặc định [−1 +1])

-1

-0.5

0

0.5

1

0 200 400 600 800 1000 0

1 2 3 4 5

(a) (b) Hình 6.4: Tín hiệu nhị phân ngẫu nhiên (a) B=1, mức [−1 1]; (b) B=0.1, mức [0 5]

Trang 7

Chương 6: Thực nghiệm nhận dạng hệ thống

 Huỳnh Thái Hồng – Bộ mơn Điều khiển Tự động

7

• Tín hiệu đa hài (multi-sines)

Tín hiệu đa hài là tổng của nhiều thành phần hình sin

=

+

= d

t a

t u

1

) cos(

)

Phổ của tín hiệu đa hài là:

=

+ +

k u

a

1

2

)]

( ) (

[ 4 2

)

☺ Bằng cách chọn d, ak, ωk có thể tập trung công suất tín hiệu tại các tần số mong muốn một cách chính xác

Khuyết điểm của tín hiệu đa hài là hệ số đỉnh cao, có thể lên đến

d

2 nếu các thành phần hình sin cùng pha và có biên độ bằng nhau (để ý công suất của tín hiệu là ∑a k2/2, biên độ cực đại trong trường hợp các thành phần hình sin cùng pha là ∑a k ) Để giảm hệ số đỉnh cần chọn pha φk sao cho các thành phần lệch pha càng nhiều càng tốt Sau đây là cách chọn φk do Schoeder đề xuất:

1

φ chọn bất kỳ

π φ

φ

d

k

k

k

) 1

(

1

Cần nhớ:Bộ công cụ Ident tạo tín hiệu vào đa hài bằng lệnh:

>> u = idinput(N, ‘SINE’,[wmin wmax],[umin umax], SINEDATA) Trong đó: N: số mẫu

‘SINE’: Tín hiệu đa hài (multi-sines)

[wmin wmax]: tần số thấp nhất và cao nhất của các thành

phần hình sine (mặc định [0 1])

[umin umax]: mức thấp và mức cao của tín hiệu (mặc định [−1 +1])

SINEDATA = [No_of_Sinusoids, No_of_Trials, Grid_Skip]

0 200 400 600 800 1000

-1

-0.5

0

0.5

1

0 200 400 600 800 1000 0

1 2 3 4 5

(a) (b) Hình 6.5: Tín hiệu đa hài ngẫu nhiên (a) Tần số [0 1], mức [−1 1]; (b) Tần số [0 0.1], mức [0 5]

Trang 8

Chương 6: Thực nghiệm nhận dạng hệ thống

 Huỳnh Thái Hồng – Bộ mơn Điều khiển Tự động

8

6.2.3 Chọn chu kỳ lấy mẫu

• Lấy mẫu quá nhanh (chu kỳ lấy mẫu nhỏ) có thể dẫn đến các khó khăn khi ước lượng thông số bằng phương pháp số, mô hình khớp (fit) ở miền tần số cao Nếu hệ thống có thời gian chết thì việc chọn chu kỳ lấy mẫu quá nhỏ có thể sẽ làm cho hệ thống được mô hình hóa với khâu trể kéo dài trong nhiều chu kỳ lấy mẫu, điều này sẽ gây khó khăn khi sử dụng mô hình để thiết kế hệ thống điều khiển

• Lấy mẫu quá chậm (chu kỳ lấy mẫu lớn) có thể gây ra méo tần số làm mất thông tin Khi chu kỳ lấy mẫu tăng vượt quá thời hằng tự nhiên của hệ thống phương sai tăng đột ngột

• Chu kỳ lấy mẫu tối ưu trong trường hợp số mẫu dữ liệu cố định xấp xỉ thời hằng của hệ thống Nếu không biết trước thời hằng của hệ thống thì ta phải ước lượng, nếu thời hằng ước lượng cao hơn thực tế thì việc chọn chu kỳ lấy mẫu xấp xỉ thời hằng sẽ dẫn kết kết quả nhận dạng rất xấu

• Khi thu thập dữ liệu nên lấy mẫu càng nhanh càng tốt, chu kỳ lấy mẫu

T thực tế sẽ được chọn sau khi xử lý dữ liệu

6.3 TIỀN XỬ LÝ DỮ LIỆU

Dữ liệu thu thập khi thí nghiệm thường không thể sử dụng ngay trong các thuật toán nhận dạng hệ thống do các khiếm khuyết sau:

- Nhiễu tần số cao trong tập dữ liệu thu thập được

- Tập dữ liệu bị gián đoạn, thiếu dữ liệu, hoặc có các giá trị đo sai (outlier)

- Nhiễu tần số thấp, trôi (drift), độ lệch không (offset)

Do vậy, nếu thực hiện nhận dạng offline trước tiên nên vẽ đồ thị dữ liệu vào ra, xem xét đồ thị để phát hiện ra các khiếm khuyết trong tập dữ liệu và tiền xử lý tập dữ liệu để loại bỏ các khiếm khuyết (nếu có)

6.3.1 Trôi và khử trôi

Nhiễu tần số thấp, độ lệch không, nhiễu trôi, nhiễu chu kỳ thường gặp trong các tập dữ liệu Có hai hướng xử lý:

- Loại bỏ nhiễu bằng cách tiền xử lý dữ liệu

- Nhận dạng mô hình nhiễu

Độ lệch không của tín hiệu

Xét mô hình tuyến tính:

) ( ) ( ) ( ) ( ) (q y t B q u t v t

Trang 9

Chương 6: Thực nghiệm nhận dạng hệ thống

 Huỳnh Thái Hồng – Bộ mơn Điều khiển Tự động

9

Mô hình (6.14) mô tả quan hệ giữa u(t) và y(t), bao gồm đặc tính động

(sự thay đổi của u(t) ảnh hưởng đến y(t) như thế nào) và đặc tính tĩnh (quan

hệ giữa các giá trị xác lập u và y ) Đặc tính tĩnh cho bởi biểu thức:

u B y

Do vậy nếu sử dụng dữ liệu thô u m (t) và y m (t) để nhận dạng đa thức

A (q) và B(q) của mô hình (6.14) thì A(q) và B(q) phải thỏa mãn điều kiện

ràng buộc không cần thiết (6.15) Có một số cách giải quyết vấn đề trên:

1 Đặt y (t) và u(t) là độ lệch xung quanh điểm cân bằng vật lý

y t y t

u t u t

Bằng cách đổi biến (6.16) và (6.17), điều kiện ràng buộc (6.15) tự động

được thỏa mãn Trong trường hợp này mô hình (6.14) là mô hình tuyến tính

của hệ thống xung quanh điểm cân bằng

2 Loại bỏ trung bình mẫu:

=

t

t y N

y

1

) (

1

(6.18)

=

t

t u N

u

1

) (

1

(6.19)

Sau đó áp dụng các công thức (6.16) và (6.17)

3 Ước lượng độ lệch không:

Thêm một hằng số vào mô hình để bù độ lệch không của tín hiệu:

A(q)y m(t)=B(q)u m(t)+α +v(t) (6.20)

Hằng số α được gộp vào vector thông số θ và được ước lượng từ dữ liệu

4 Dùng mô hình nhiễu có khâu tích phân

Biến đổi (6.20):

) ( ) ( 1 ) ( ) ( ) ( ) (q y t B q u t t v t

1 ) ( ) ( ) ( )

q t

u q B t y q

− +

) ( ) 1 (

1 )

( ) (

) ( )

q A q t

u q A

q B t

− +

trong đó: w(t)=αδ(t)+v(t)−v(t−1) (6.23)

Trang 10

Chương 6: Thực nghiệm nhận dạng hệ thống

 Huỳnh Thái Hồng – Bộ mơn Điều khiển Tự động

10

Vì vậy độ lệch α có thể mô tả bằng cách đổi mô hình nhiễu từ

) (

/

1

)

(q A q

H = sang H(q)=1/[(1−q−1)A(q)] Điều này tương đương với lọc

dữ liệu qua bộ lọc L(q)=(1−q−1), tức là lấy sai phân dữ liệu

) 1 ( ) ( ) ( ) ( ) (t =L q y t = y ty t

) 1 ( ) ( ) ( ) ( ) (t =L q u t =u tu t

5 Mở rộng mô hình nhiễu

Từ (6.22) ta có:

) ( ) ( ) 1 (

1 )

( ) ( ) 1 (

) ( ) 1 ( )

1

t w q A q t

u q A q

q B q t

+

Do đó nếu dùng mô hình với các đa thức A và B tăng lên 1 bậc ta có thể

nhận dạng được mô hình đúng của hệ thống

6 Lọc thông cao để loại trừ nhiễu tần số thấp

6.4 CHỌN CẤU TRÚC MÔ HÌNH

Chọn cấu trúc mô hình bao gồm 2 vấn đề:

- Chọn loại mô hình

- Chọn bậc mô hình

Tiêu chí chọn cấu trúc mô hình: chúng ta cần nhận dạng “mô hình có

chất lượng tốt với chi phí thấp nhất

Chất lượng mô hình: Có thể đánh giá dựa vào tiêu chuẩn trung bình bình

phương sai số J (D) (D ={all design variables}) Để ý rằng, theo chương 5,

trung bình bình phương sai số có thể phân tích ra làm 2 thành phần: độ lệch

và phương sai

) ( ) ( ) (D J B D J P D

Mâu thuẫn:

- Độ lệch J B (D) càng giảm khi mô hình càng linh hoạt (bậc mô hình

càng cao, mô hình dùng càng nhiều tham số);

- Phương sai J P (D) tăng khi số lượng tham số sử dụng càng tăng

⇒ Cần chọn bậc mô hình sao cho dung hòa giữa độ lệch và phương sai

Chi phí nhận dạng mô hình:

- Độ phức tạp của thuật toán ước lượng tham số: có thể ước lượng

thông số bằng công thức giải tích hay phải ước lượng thông số bằng

Trang 11

Chương 6: Thực nghiệm nhận dạng hệ thống

 Huỳnh Thái Hồng – Bộ mơn Điều khiển Tự động

11

thuật toán lặp? Tính đạo hàm của bộ dự báo theo tham số

θ

y ˆ t( , )/ dễ dàng hay khó khăn?

- Tính chất của hàm tiêu chuẩn ước lượng mô hình: có cực trị duy nhất hay nhiều cực trị

6.4.1 Chọn loại mô hình

• Mô hình hộp xám (gray-box model):

Xây dựng mô hình tham số vật lý (physically parameterized model) của hệ thống bằng cách dựa vào hiểu biết về các qui luật vật lý bên trong hệ thống (tức là bằng cách mô hình hóa đã học ở chương 2), sau đó ước lượng tham số mô hình dựa vào dữ liệu thực nghiệm

• Mô hình hộp đen: (blackbox model) tuyến tính hay phi tuyến?

Hệ thống có thể mô tả bằng mô hình tuyến tính nếu:

- Quan hệ vào ra của hệ thống chỉ phụ thuộc vào tần số mà không phụ thuộc vào biên độ tín hiệu

- Khi tín hiệu vào là tín hiệu hình sin, ở trạng thái xác lập tín hiệu ra là tín hiệu hình sin cùng tần số với tín hiệu vào (không xuất hiện các thành phần hài bậc cao)

- Hệ thống làm việc trong phạm vi “nhỏ” xung quanh điểm tĩnh

Các trường hợp còn lại đều phải nhận dạng hệ thống dùng cấu trúc mô hình phi tuyến

6.4.2 Chọn bậc mô hình

Một trong những nguyên tắc cơ bản của lý thuyết nhận dạng hệ thống là xây dựng mô hình toán càng đơn giản càng tốt Khi bậc mô hình càng tăng, số thông số càng nhiều thì mô hình càng linh hoạt và sai số xấp xỉ càng giảm, tuy nhiên bậc tăng đến một mức nào đó thì dù tăng thêm sai số vẫn giảm không đáng kể, vì vậy tiêu chuẩn chọn lựa cấu trúc mô hình phải tính đến sai số mô hình và số thông số của mô hình

• Tiêu chuẩn chọn bậc mô hình tuyến tính theo thông số

Đối với các mô hình tuyến tính theo thông số, có nhiều tiêu chuẩn để chọn bậc của mô hình Nguyên tắc chung để đưa ra các tiêu chuẩn chọn bậc mô hình là sự cân bằng giữa độ chính xác và độ phức tạp của mô hình Tổng quát, các tiêu chuẩn này gồm hai thành phần: thành phần thứ nhất là trung

Ngày đăng: 15/10/2012, 15:43

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 6.1: Vòng lặp nhận dạng hệ thống - Mô Hình Hóa Nhận Dạng và Mô Phỏng - Chương 6
Hình 6.1 Vòng lặp nhận dạng hệ thống (Trang 1)
Bảng 6.1: Đa thức A(q) tạo ra tín hiệu PRBS có độ dài cực đại, - Mô Hình Hóa Nhận Dạng và Mô Phỏng - Chương 6
Bảng 6.1 Đa thức A(q) tạo ra tín hiệu PRBS có độ dài cực đại, (Trang 5)
Hình 6.6:  Mô phỏng đáp ứng của hệ thống - Mô Hình Hóa Nhận Dạng và Mô Phỏng - Chương 6
Hình 6.6 Mô phỏng đáp ứng của hệ thống (Trang 15)
Hình 6.8: Sơ đồ khối phần cứng thu thập dữ liệu vào ra của động cơ DC - Mô Hình Hóa Nhận Dạng và Mô Phỏng - Chương 6
Hình 6.8 Sơ đồ khối phần cứng thu thập dữ liệu vào ra của động cơ DC (Trang 16)
Sơ đồ khối phần cứng thu thập dữ liệu vào ra của động cơ DC được trình bày - Mô Hình Hóa Nhận Dạng và Mô Phỏng - Chương 6
Sơ đồ kh ối phần cứng thu thập dữ liệu vào ra của động cơ DC được trình bày (Trang 16)
Hình 6.10: Sơ đồ khối phần cứng thu thập dữ liệu vào ra của hệ bồn chứa - Mô Hình Hóa Nhận Dạng và Mô Phỏng - Chương 6
Hình 6.10 Sơ đồ khối phần cứng thu thập dữ liệu vào ra của hệ bồn chứa (Trang 17)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN