Lúc này, quỹ = 1 đường dẫn, dẫn các khoản lãi_lỗ đến người sở hữu quỹ cổ đông - Tiêu chuẩn được xem là công ty đầu tư có quản lí: + Tài sản là các khoàn đầu tư cổ phiếu, trai phiếu, các
Trang 1CHƯƠNG 4: QUỸ TƯƠNG HỖ
+ Là phương tiện kết hợp_hợp nhất các quỹ cảu các nhà đầu tư
+ Là định chế tài chính trung gian
+ Là sản phẩm tiêu dung nhờ kỹ thuật maketing
1. Thuận lợi, hạn chế cảu việc đầu tư quỹ tương hỗ.
- Thuận lợi của việc đầu tư quỹ
+ Đa dạng hóa: làm giảm rui ro nhờ đầu tư nhiều loại chứng khoán, nhưng không có nghĩa loại bỏ hoàn toàn rủi ro Lưu ý: không phải tất cả quỹ tương hỗ đều được đa dạng hóa
+ Quản lí chuyên nghiệp: nhà quản lý chuyện nghiệp, đưa ra quyết định mua và bán chứng khoán trong quỹ, không phải nhà đầu tư
+ Đầu tư ban đầu ở mức tối thiểu: khoảng 2.500$ cho lần đầu đầu tư vào quỹ, lần tiếp theo là 50$
- Hạn chế của việc đầu tư quỹ:
+ Rủi ro: nhà đầu tư cần có quan điểm rõ ràng vì chứng khoán có thể suy giảm giá trị Và giới hạn tỷ suất sinh lợi cao do đa dạng hóa
+ Chi phí: so với trực tiếp
+ Thuế: quỹ không phải trả thuế mà là cổ đông, người tra thuế đối với phân phối cổ tức
và lãi vốn được thực hiện bởi quỹ, lợi nhuận Riêng các tài khoản hưu trí được hoãn thuế
2. Công ty đầu tư và các dạng quỹ:
- Công ty đầu tư: là công ty tập trung (quản lí tài sản tài chính) các khoản tiền của đầu tư
cá nhân, chúng Tất cả quỹ tương hỗ là công ty đầu tư, những không phải ngược lại + Có 2 dạng công ty đầu tư cơ bản: quỹ mở và quỹ đóng Quỹ mỡ: quỹ phát hành các cổ phần và sau đó đầu tư khoản tiền nhận được Quỹ đóng: số lượng cổ phần cố định không thay đổi, giao dịch với nhà đầu tư
+ Ngoài ra, có các quỹ tương hỗ có thời hạn đầu tư: Quỹ cổ phiếu, quỹ trái phiếu, quỹ cổ hiếu và trái phiếu
Ví dụ: Quỹ mở phát triển thành quỹ lớn, sẽ đóng của với nhà đầu tư mới, trở thanh quỹ đóng
- Giá trị tài sản ròng = (tổng giá trị tài sản –nghĩa vụ nợ)/ số lượng cổ phiếu đang luu hành
= giá mua cổ phần của quỹ
3. Hoạt động cảu quỹ tương hỗ:
- Hoạt động của quỹ:
Trang 2+ Được sỡ hữu bởi cổ đông, bầu ra hội đồng quản trị, HĐQT thuê nhà quản lí để giám sát quỹ Hầu hết các quỹ được thành lập bởi các công ty tư vấn đầu tư (= công ty quản lý quỹ tương hỗ, có thêm các hoạt động: môi giới chiết khấu hay các dịch vụ tài chính)
+ Các công ty tư vấn thành lập quỹ tương hỗ để thu các khoản phí = 0.75% tổng giá trị tài sản của quỹ
+ Công ty tư vấn đảm nhận ghi nhận sổ sách, quảng bá, hoạt động nghiên cứu, đưa ra quyết định đầu tư
- Thuế: không phải trả thuế nếu được xem là công ty đầu tư có quản lí Lúc này, quỹ = 1 đường dẫn, dẫn các khoản lãi_lỗ đến người sở hữu quỹ ( cổ đông)
- Tiêu chuẩn được xem là công ty đầu tư có quản lí:
+ Tài sản là các khoàn đầu tư cổ phiếu, trai phiếu, các loại chứng khoán
+ Sử dụng < 5% giá trị tài sản để mua 1 loại chứng khoán
+ Chuyển tất cả thu nhập đã thực hiện cho cổ đông
- Bản cáo hoạch ( để cung cấp cho nhà đầu tư muốn mua cổ phần) và báo cáo thường niên của quỹ ( cung cấp cho cổ đông): bao gồm chi phí, lãi, lỗ, tình hình năm giữ, mục tiêu, điều hành của quỹ
Về cơ bản , có 4 loại chi phí hoặc phí liên quan đến việc mua và sỡ hữu các cổ phần của quỹ tương hỗ:
1. Phí doanh thu hay là “phí bán” (loads)
2. Phí 12b-1
3. Phí quản lý
4. Các chi phí giao dịch
PHÍ DOANH THU: là quỹ tương hỗ tính phí bất cứ khi nào mua cổ phần Những phí này thường
được gọi là phí bán gia nhập (front-end loads) Những quỹ tính phí bán gia nhập được gọi là
quỹ có phí bán (load funds) Những quỹ không tính loại phí này được gọi là quỹ không có phí bán (no-load funds).
Khi bạn mua cổ phần của một quỹ có phí bán, bạn phải trả giá cao hơn giá trị của tài sản ròng, được gọi là giá chào bán (offering price) Chênh lệch giữa giá chào bán và giá trị của tài sản ròng
là phí bán (load)
Phí bán gia nhập có thể cao đến 8.5%, nhưng xấp xỉ 5% thì thường phổ biến hơn Một sỗ quỹ có phí bán gia nhập trong phạm vi từ 2% đến 3% được xem là quỹ có phí bán thấp (low-load funds)
Ví dụ: Cổ phần của quỹ Common Sense Growth có giá trị tài sản ròng là 13.91$ Gía chào bán là
15.20$ Vì giá chào bán vượt quá tài sản ròng nên đây rõ ràng là quỹ có phí bán Phí bán có thể tính bằng cách: 1.29$/15.20$=8.5%
Một số quỹ có tính các khoảng phí “rút vốn” (“back-end” loads), là các khoảng thu được do việc chuộc lại cổ phần Những khoảng phí này thường được gọi là “phí doanh thu hoãn lại bất ngờ”
Trang 3(contingent deferred sales charges) và viết tắt là CDSC CDSC thường giảm dần theo thời gian
Nó có thể bắt đầu ở mức 6% đối với các cổ phần nắm giữ dưới 1 năm, và giảm xuống 3% đối với
cổ phần năm giữ trong vòng 2 năm, và bằng không đối với cổ phần được nắm giữ từ 3 năm trở lên Một số quỹ đưa ra các khoảng phí “cấp độ” (“level” loads) Đó là các nhà đầu tư phải trả một khoảng phụ phí, thường là 1% cho mỗi năm mà họ tham gia vào quỹ
CDSC: phí doanh thu có được khi các nhà đầu tư bán lại cổ phần (củng được gọi là phí rút vốn) PHÍ 12B-1: Phí 12-b1 được đặt theo tên luật 12b-1 của ủy ban chứng khoáng và giao dịch
(SEC) Các quỹ tương hỗ được phép sữ dụng một phần tài sản của quỹ để chi trả cho các chi phí phân phối và quảng cáo Tổng chi phí này có thể từ 0.25% đến 1% giá trị tài sản mỗi năm, nhưng thường là 0.25%
Thường thì phí 12b-1 được áp dụng chung với CDSC Những quỹ như thế thường sẽ không có phí bán gia nhập
PHÍ QUẢN LÝ: phí trước tiên dựa trên quy mô của quỹ Thường thì có một điều khoảng động viên khen thưởng trong đó quỹ sẽ tăng chi trả cho nhà quản lý nếu quỹ có thành quả tốt hơn so với danh mục chuẩn Phí quản lý thường nằm trong khoảng từ 0.25% đến 1.5% tổng giá trị tài sản quỹ hàng năm
CÁC CHI PHÍ GIAO DỊCH: các quỹ tương hỗ có chi phí mô giới liên quan đến hoạt động giao dịch giống như các nhà đầu tư cá nhân Do đó , những quỹ tương hỗ thực hiện nhiều giao dịch sẽ
có các chi phí giao dịch tương đối cao
Khi giao dịch tăng lên rõ ràng sẽ làm tăng các khoảng hoa hồng phải chi trả, ngoài ra củng có một số chi phí khác liên quan Ví dụ, giao dịch gia tăng sẽ tạo ra các khoản lãi (và các khoãng lỗ tiềm tàng) được quỹ ghi nhận Khi các khoãng lãi này xuất hiện, lãi vốn sẽ chuyển cho các nhà đầu tư cơ sở Và khả năng là các khoản lãi vốn này sẽ làm gia tăng các khoản thuế cho các nhà đầu tư
BÁO CÁO CHI PHÍ
Những quỹ tương hỗ bắt buộc phải báo cáo chi phí theo cách thức được chuẩn hóa một cách tương đối trong bản cáo bạch Thường sẽ có ba phần trong một bản báo cáo chi phí
Phần đầu tiên của báo cáo cho biết các chi phí giao dịch liên quan đến các cổ đông, đây thường
là phí bán và phí doanh thu hoãn lại
Phần thứ hai của bản báo cáo “annual operating expenses” (“các chi phí hoạt động thường niên), bao gồm chi phí quản lý và chi phí 12b-1
Phần thứ ba của báo cáo chi phí đưa ra một ví dụ mang tính giả định, trong đó trình bài tổng chi phí mà bạn phải gánh chịu theo thời gian trên mỗi $10,000 bạn đầu tư
Trang 4III. CÁC LOẠI QUỸ
QUỸ NGẮN HẠN
QUỸ TƯƠNG HỖ THỊ TRƯỜNG TIỀN TỆ
Qũy tương hỗ thị trường tiền tệ (money market mutual funds), hay MMMF, chuyên tập trung
vào các công cụ thị trường tiền tệ Đây là những nghĩa vụ nợ ngắn hạn được phát hành bởi chính phủ và các doanh nghiệp Tất cả các quỹ thị trường tiền tệ đều là quỹ mỡ
Hầu hết các quỹ thị trường tiền tệ đầu tư vào các công cụ chất lượng cao, rủi lo thấp với thời gian đáo hạn ít hơn 90 ngày Do đó, các quỹ đầu tư này tương đối ít rủi lo
KẾ TOÁN QUỸ THỊ TRƯỜNG TIỀN TỆ: Một đặc trưng của quỹ thị trường tiền tệ là giá trị tài sản ròng của quỹ luôn là 1$ mỗi cổ phiếu Tuy nhiên đây thuần túy là một thủ thuật kế toán THUẾ VÀ QUỸ THỊ TRƯỜNG TIỀN TỆ: Các quỹ thị trường tiền tệ có thể bị đánh thuế hoặc
có thể được miễn thuế Các quỹ bị đánh thuế thường phổ biến hơn
Do những ưu đãi về thuế này, các công cụ thị trường tiền tệ được miễn thuế suất (hay lợi suất) thấp hơn nhiều Ví dụ, cuối năm 2009, các quỹ thị trường tiền tệ bị đánh thuế đưa ra mức lãi suất khoảng 0.43%, trong khi đó các quỹ được miễn thuế chỉ đưa ra lãi suất 0.27% Mức nào tốt hơn tùy thuộc vào biểu thuế cá nhân của bạn Nếu bạn thuộc biểu thuế 40% thì quỹ bị đánh thuế chỉ trả 43%*(1-40%) = 0.26% trên cơ sở sau thuế, do đó quỹ được miễn thuế sẽ tố hơn chút ít
CÁC TÀI KHOẢN TIỀN GỬI TRÊN THỊ TRƯỜNG TIỀN TỆ
Hầu hết các ngân hàng đều cung cấp các tài khoản tiền gửi “thị trường tiền tệ”, hay MMDA (money market deposit account), những tài khoản này rất giống với quỹ tương hỗ tiền tệ
Tuy nhiên, có một sự khác biệt rất quan trọng Tài khoản thị trường tiền tệ ngân hàng là một tài khoản tiền gửi ngân hàng và có sự đảm bảo FDIC, trong khi quỹ thị trường tiền tệ thì không Qũy thị trường tiền tệ thường sẽ đưa ra đảm bảo SIPC, nhưng đây không phải là một sự thay thế hoàn hảo Điều rắc rối là, một số ngân hàng cung cấp cả tài khoản thị trường tiền tệ và quỹ thị trường tiền tệ thông qua việc liên kiết với một tổ chức tách biệt
QUỸ DÀI HẠN
Có nhiều loại quỹ dài hạn khác nhau Trước đây, quỹ tương hỗ được chia thành quỹ vốn cổ phần, quỹ trái phiếu hoặc quỹ cân bằng Tuy nhiên, sự phát triển nhanh chóng của các quỹ tương hỗ đã phần nào khiến việc phân loại tất cả các quỹ vào trong ba loại này ngày càng trở nên khó khăn
Trang 5Ngoài ra, những nhà cung cấp thông tin về quỹ tương hỗ lại không sử dụng hệ thống phân loại như vậy
QŨY CỔ PHIẾU
Các quỹ cổ phiếu tồn tại vô cùng đa dạng Chúng ta sẽ xem xét phân loại theo chín nhóm lớn và
số nhóm nhỏ Chúng ta củng xem xét một số dạng phổ biến mới mà không phù hợp với bất cứ dạng phân loại nào
GIA TĂNG VỐN VÀ THU THẬP: Bốn dạng đầu tiên của quỹ cổ phiếu cho thấy sự đánh đổi giữa việc tăng vốn và thu nhập cổ tức
1. Gia tăng vốn (capital appreciation) Những quỹ này nỗ lực tìm kiếm sự gia tăng vốn tối
đa Chúng thường đầu vào các công ty có triển vọng tốt nhất đối với việc tăng giá cổ phiếu mà không xem xét đến cổ tức, quy mô công ty Thường thì điều này hàm ý việc đầu vào các công ty chưa khẳng định được tên tuổi hoặc các công ty được cho là không ưa chuộng
2. Tăng trưởng (growth) Những quỹ này cũng nổ lực nâng cao giá trị vốn, nhưng chúng có
xu hướng đầu tư vào những công lớn và lâu đời hơn Những quỹ như thế vì vậy có thể phần nào ít biến động hơn Cổ tức không phải là mối quan tâm hàng đầu
3. Tăng tưởng và thu nhập (growth and income) Tăng giá trị vốn vẫn là mục tiêu chính, nhưng ít nhất vẫn tập trung một phần vào các công ty có chi trả cổ tưc
4. Thu nhập vốn cổ phần (equity income) Những quỹ này hầu hết tập trung riêng biệt vào các cổ phần có suất cổ tức tương đối cao, bằng cách đó sẽ tối đa hóa thu nhập hiện hành của danh mục đầu tư
QUỸ DỰA THEO QUY MÔ CÔNG TY: Ba dạng quỹ tiếp theo này tập trung vào những công ty thuộc công ty thuộc một mức độ quy mô cu thể
1. Công ty nhỏ (small company) Những quỹ này tập trung vào các cổ phần của các công ty nhỏ Những quỹ thế này thường gọi là “quỹ vốn hóa nhỏ”
2. Vốn hóa trung bình (Midcap) Những quỹ này thường chiên biệt về các cổ phần có vốn hóa rất nhỏ nếu so với các cổ phần trong chỉ sô S&P 500 nhưng sẽ là quá lớn đến nỗi không thể xem chúng là các cổ phần vốn hóa nhỏ
3. Công ty lớn (large company) Những quỹ vốn hóa thị trường lớn, hơn “vốn hóa lớn”, đầu
tư vào các công ty có giá trị thị trường lớn Hầu hết các công ty vốn hóa lớn đều có giá trị thị trường vượt quá $5 tỷ
Trang 6QUỸ QUỐC TẾ: Nghiêm cứu cho rằng việc đa dạng hóa quỹ quốc tế có thể cải thiện đáng kể sự đánh đổi giữa rủi ro và tỷ suất sinh lợi cho các nhà đầu tư
1. Toàn cầu (global) Những quỹ này chủ yếu có các khoảng sở hửu quốc tế nhưng cũng duy trì những đầu tư đáng kể vào các cổ phiếu Mỹ
2. Quốc tế (international) Những quỹ này giống như các quỹ toàn cầu, ngoại trừ nó chỉ tập trung vào các các vốn cổ phần không phải ở Mỹ
QUỸ NGÀNH: Qũy ngành chuyên biệt về những ngành cụ thể của ngành kinh tế và thường tập trung vào các ngành chuyên biệt hay những hàng hóa nhất định Thực vậy, về cơ bản mỗi ngành chính trong nền kinh tế đều có ít nhất một quỹ chuyên đầu tư về ngành đó
CÁC DẠNG QUỸ KHÁC VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN: Có ba dạng khác của quỹ vốn
cổ phần mà không dễ gì xếp vào một trong những phân loại trên: quỹ chỉ số (index fund), quỹ lương tâm xã hội (social conscience fund) và quỹ quản lý thuế (tax-managed fund)
1. Quỹ chỉ số (index fund) Qũy chỉ số đơn giản là nắm giữ các cổ phiếu hình thành nên một chỉ số cụ thể với tỷ trọng tương đối giống chỉ số đó
2. Quỹ trách nhiệm xã hội (social conscience fund) Những quý này là kết quả của một sự sáng tạo tương đối mới mẻ Các quỹ này là kết quả chỉ đầu tư vào các công ty có các sảm phẩm, chính sách và hệ thống điều hành được cho là phù hợp với ý nghiệm xã hôi
3. Quỹ quản lý thuế (tax-managed fund) Những quỹ tương hỗ bị đánh thuế thường được quản lý mà không quan tâm đến nghĩ vụ thuế của những người sở hữu quỹ
QUỸ TRÁI PHIẾU ĐÔ THỊ VÀ QUỸ TRÁI PHIẾU CHỊU THUẾ
Hầu hết các quỹ trái phiếu đầu tư vào các chứng khoán chính phủ và doanh nghiệp trong nước
Về cơ bản, có năm đặc điểm để phân biệt các quỹ trái phiếu là:
1. Thời gian đáo hạn (maturity range) Các quỹ nắm giữ trái phiếu khác nhau có kỳ hạn đáo hạn khác nhau, từ khá ngắn (2 năm) cho đến khá dài (25-30 năm)
2. Chất lượng tín dụng (credit quality) Một số trái phiếu an toàn hơn nhiều so với các trái phiếu khác khi xét đến khả năng vỡ nợ Trái phiếu chính phủ không có rủi ro vỡ nợ, trong khi những trái phiếu được gọi là trái phiếu rác (junk bond) thì có khả năng vỡ nợ đáng kể
3. Khả năng bị đánh thuế (taxability) Các quỹ trái phiếu đô thị chỉ mua những trái phiếu miễn thuế thu nhập Những quỹ bị đánh thuế chỉ mua các phát hành chịu thuế
Trang 74. Loại trái phiếu (type of bond) Một số quỹ liên biệt về những loại công cụ thu nhập cố định nào đó, ví dụ như các khoản thế chấp
5. Quốc gia (country) Đap phần các quỹ trái phiếu chỉ mua các phát hành trong nước, nhưng một số lại mua các phát hành của chính phủ và công ty nước ngoài
CÁC QUỸ NGẮN HẠN VÀ TRUNG HẠN Hai loại này tập trung vào các trái phiếu có thời hạn đáo hạn cụ thể Kỳ đáo hạn ngắn hạn thường được coi là ngắn hơn 5 năm Trung hạn sẽ ngắn hơn 10 năm
QUỸ CHUNG (general fund) Đối với các trái phiếu đô thị và các trái phiếu bị đánh thuế, loại quỹ này là một dạng nắm bắt tất cả
QUỸ LỢI SUẤT CAO (high-yield) Các quỹ đô thị và các quỹ chịu thuế có lợi suất cao tập trung vào các phát hành có chất lượng tín dụng thấp Những phát hành như thế có lợi suất cao vì rủi ro của chúng là rất lớn
QUỸ THUẾ CHẤP (mortgage fund) Một số quỹ chuyên biệt về các chứng khoán bảo đảm bằng thế chấp (mortgage-back securities)
QUỸ THẾ GIỚI (world fund) Chỉ có một số lướng tương đối hạn chế các quỹ chịu thuế đầu tư trên toàn cầu
QUỸ ĐƯỢC BẢO HIỂM (insured fund) Đây là một dạng quỹ trái phiếu đô thị Các nhà phát hành trái phiếu đô thị thường mua bảo hiểm để đảo bảo cho các khoản phải chi trả của trái phiếu Những trái phiếu như vậy có rất ít khả năng vỡ nợ, do đó có một quỹ chuyên biệt về chúng QUỸ CHÍNH QUYỀN MỘT BANG (single-state municipal fund)
CÁC QUỸ CỔ PHIẾU VÀ TRÁI PHIẾU
QUỸ CÂN BẰNG (balanced fund) Các quỹ cân bằng duy trì một tỷ lệ phân chia tương đối cố định giữa cổ phiếu và trái phiếu
QUỸ PHÂN BỐ TÀI SẢN (asset allocation fund) Có hai dạng quỹ có tên dạng này Dạng đầu tiên là phiên bản của quỹ cân bằng Một quỹ như vậy nắm giữ các khoảng đầu tư có tỷ trọng tương đối cố định đối với cổ phiếu, trái phiếu, các công cụ thị trường tiền tệ và có thể là bất động sản hoặc một số khoảng đầu tư khác
Dạng còn lại thường được gọi là quỹ danh mục linh hoạt (flexible portfolio fund) Nhà quản lý
có thể nắm giữ đến tỷ lệ 100% đối với cổ phiếu, trái phiếu hay các công cụ thị trường tiền tệ, tuy thuộc vào quan điểm của người quản lý về thành quả của các khoản đầu tư này
Trang 8QUỸ CÓ THỂ CHUYỂN ĐỔI (convertible fund) Một số trái phiếu có thể chuyển đổi, nghĩa là nhà đầu tư có thể lựa chọn dùng chúng để đổi lấy một lượng cổ phần nhất định Một số quỹ tương hỗ chuyên biệt về những trái phiếu này
QUỸ THU NHẬP (income fund) Qũy tập trung vào việc tạo ra thu nhập cổ tức vài lãi coupon đối với các khoản đầu tư của nó, vì thế nó nắm giữ nhiều cổ phần phổ thông có chi trả cổ tức cũng như các cổ phiếu ưu đãi và các trái phiếu kỳ hạn khác nhau
QUỸ THỜI ĐIỂM MỤC TIÊU (target date fund) Cũng được biết đến với tên gọi quỹ chu kỳ sống (life-cycle funds), sự phân bổ tài sản được quỹ lựa chọn dựa trên thời điểm về hưu dự tính của các nhà đầu tư nắm giữ quỹ
IV. QUỸ ĐÓNG, QUỸ ETF, QUỸ ĐẦU CƠ:
1. Quỹ đóng:
Quỹ đóng là hình thức quỹ phát hành chứng chỉ quỹ một lần duy nhất khi tiến hành huy động vốn cho quỹ và quỹ không thực hiện việc mua lại cổ phiếu/chứng chỉ đầu tư khi nhà đầu tư có nhu cầu bán lại Nhằm tạo tính thanh khoản cho loại quỹ này, sau khi kết thúc việc huy động vốn (hay đóng quỹ), các chứng chỉ quỹ sẽ được niêm yết trên thị trường chứng khoán
- Về tính thanh khoản:
+ Nhằm tạo tính thanh khoản cho nhà đầu tư, các quỹ đóng có thể niêm yết chứng chỉ quỹ trên một thị trường chứng khoán và các chứng chỉ quỹ sẽ được giao dịch như một cổ phiếu của một công ty niêm yết
- Về việc nắm giữ tiền:
+ Với quỹ đóng, tính ổn định về vốn giúp công ty quản lý quỹ không bị áp lực về tính thanh khoản nên có thể đầu tư vào các tài sản mang tính chiến lược dài hạn
- Về việc mua bán và phân phối chứng chỉ quỹ:
+ Quỹ đóng: việc mua bán chứng chỉ quỹ được thực hiện từ nhà môi giới với phí môi giới giao dịch Việc phân phối chứng chỉ quỹ chỉ thực hiện trong thời gian huy động lần đầu, hoặc khi tăng vốn điều lệ Quỹ thông qua công ty chứng khoán hoặc công ty quản lý quỹ
- Biến động giá so với NAV:
+ Quỹ đóng: giá giao dịch biến động hơn so với NAV
*Net Asset Value (NAV) - Giá trị tài sản ròng là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá hiệu quả hoạt động của quỹ cũng như là căn cứ để NĐT xác định giá chấp nhận được của chứng chỉ quỹ
Trang 9giao dịch trên thị trường NAV của quỹ được xác định bằng hiệu số giữa tổng giá trị tài sản của quỹ với giá trị các khoản nợ phải trả của quỹ
2 Qũy ETF:
Tuy mới ra đời 20 năm nhưng ngành đầu tư ETF (đầu tư chỉ số) thực sự phát huy hiệu quả
a ETF là gì?
ETF (Exchange Traded Fund) là một hình thức quỹ đầu tư chỉ số Danh mục của ETF gồm một
rổ chứng khoán có cơ cấu như cơ cấu của chỉ số mà nó mô phỏng
Theo đó, nhà quản lý quỹ không cần tích cực tái cơ cấu danh mục của quỹ mà chỉ cần bám sát theo rổ chứng khoán của chỉ số mục tiêu
ETF không hoàn toàn là một công cụ đầu tư an toàn với lợi nhuận thấp và chắc chắn, nhưng cũng không phải là một sản phẩm rủi ro hứa hẹn lợi nhuận cao Đây là một dạng đầu tư tương tự như đầu tư danh mục nhưng có chi phí thấp và suất sinh lời ngang với mức sinh lời của thị trường
b Lợi ích của ETF
Đối với nhà đầu tư, ETF là một hình thức quỹ mở nhưng thừa kế cả ưu điểm của quỹ đóng và mở đồng thời hạn chế nhược điểm của 2 loại quỹ này Do đó, ETF có tính minh bạch cao hơn, phù hợp với nhiều nhà đầu tư và có danh mục đầu tư đa dạng
Đối với nền kinh tế, thứ nhất, quỹ ETF chứng khoán có thể là một công cụ hiệu quả để xử lý nợ xấu và sở hữu chéo Ví dụ, tại Nhật Bản, những năm 1990, nền kinh tế vô cùng khó khăn, thị trường chứng khoán giảm mạnh, khiến cổ phiếu bất động sản và cổ phiếu trong danh mục đầu tư của các ngân hàng đồng loạt giảm mạnh Để khắc phục tình trạng này, chính phủ Nhật Bản đã cho phép hình thành các quỹ ETF và các quỹ đầu tư bất động sản, thực chất là việc chứng khoán hóa các tài sản (nợ xấu, sở hữu chéo) trong hệ thống ngân hàng
Động thái này giúp cải thiện đáng kể chất lượng tài sản của hệ thống ngân hàng, tăng tỷ lệ an toàn tài chính, giảm nợ xấu, từ đó tăng khả năng cung tín dụng của cả hệ thống ngân hàng Giá trị tài sản của các quỹ ETF này cũng tăng mạnh qua các năm, góp phần xử lý một khối lượng lớn tài sản đọng trong hệ thống ngân hàng
Thứ hai, quỹ ETF còn là công cụ phòng chống khủng hoảng Điển hình là sự ra đời và can thiệp của chính quyền Hong Kong nhằm chống đầu cơ tiền tệ trong giai đoạn khủng hoảng tài chính ở châu Á
Nhà đầu cơ nước ngoài giữ vị thế bán hợp đồng tương lai chỉ số trong giai đoạn 1997-1998, gây
áp lực khiến thị trường chứng khoán Hong Kong HSI sụt giảm mạnh buộc chính quyền Hong
Trang 10Kong phải mua danh mục chứng khoán cấu thành chỉ số HSI nhằm chặn đà giảm của chỉ số, hạn chế đầu cơ phái sinh và đầu cơ tỷ giá của giới đầu cơ nước ngoài
Thứ ba, tăng tính hấp dẫn cho thị trường chứng khoán đặc biệt là thị trường thứ cấp Tạo ra sản phẩm đầu tư minh bạch, cơ chế giao dịch linh hoạt, đa dạng hóa rủi ro và được quản lý chuyên nghiệp; giúp thị trường chứng khoán thu hút thêm nhà đầu tư mới, dòng vốn mới trên thị trường thứ cấp, tạo sự lan tỏa dễ thu hút thêm nguồn vốn cho nền kinh tế qua thị trường sơ cấp
Thứ tư, thay đổi hành vi và văn hóa đầu tư Thay vì thực hiện đầu tư vào từng mã chứng khoán riêng biệt, đòi hỏi nhiều thời gian để phân tích thị trường và thời điểm giao dịch Điều này ngày càng trở nên khó khăn hơn khi số lượng cổ phiếu niêm yết ngày một nhiều hơn, thậm chí lên tới hàng nghìn mã cổ phiếu
Với sản phẩm quỹ ETF, nhà đầu tư sẽ đầu tư vào một rổ chỉ số, dễ theo dõi và phù hợp với các nhà đầu tư nhỏ lẻ, không chuyên nghiệp hoặc các nhà đầu tư nước ngoài, các nhà đầu tư tổ chức (quỹ hưu trí, quỹ bảo hiểm) Ngoài ra, việc đầu tư vào rổ chứng khoán (đầu tư theo chỉ sổ) cũng hạn chế hiện tượng thị trường bị lạm dụng, thao túng
Thứ năm, thu hút vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài, đặc biệt do cơ chế quỹ mở, nhà đầu tư nước ngoài không bị hạn chế sở hữu số lượng chứng chỉ quỹ nắm giữ Tuy nhiên, việc nhà đầu tư nước ngoài khi nhận lại danh mục cơ cấu, thì sẽ phải bán ra nếu vượt tỷ lệ sở hữu, sẽ vẫn giúp duy trì việc quản lý tỷ lệ sở hữu tại các tổ chức phát hành
3 Quỹ đầu cơ:
Hedge fund là loại quỹ đầu tư có tính đại chúng thấp và không bị quản chế quá chặt Khái niệm
"Hedge Fund" không nhằm ám chỉ tới một loại pháp nhân riêng biệt của thị trường vốn, mà chỉ
là cách người ta gọi nhằm phân biệt các quỹ ít bị quản chế chặt chẽ (do các điều luật nới lỏng hơn) Thường các quỹ loại này chỉ giao dịch với một số lượng hạn chế các nhà đầu tư vào quỹ, vì thế thường mỗi nhà đầu tư phải bỏ ra những khoản tiền đầu tư rất lớn đóng theo phương thức
"gọi vốn không đại chúng" (private placement) Ngược với các quỹ Hedge Fund là các quỹ có tính đại chúng cao, phần đông dân cư đều có thể tham gia đầu tư và thường được xếp vào nhóm các Quỹ hỗ tương (Mutual Funds)
Do ít không bị quản chế ngặt nghèo, Hedge Fund thường rất linh hoạt trong các chiến lược đầu
tư Hedge fund có thể bỏ tiền vào đầu tư những loại phái sinh chứng khoán (như cổ phiếu) và chỉ
bị chế tài bởi các điều khoản do hợp đồng kiểm soát quỹ Tùy thuộc vào "Chỉ dẫn đầu tư" và
"Phương thức", Hedge Fund có thể mua hay bán trên thị trường và tham gia các hợp đồng futures, swaps hoặc các phái sinh chứng khoán khác Như vậy, Hedge Fund có thể tiến hành các chiến lược đầu tư phức hợp, nhiều khi hưởng lợi từ các khoảnh khắc dao động lớn của thị trường, hoặc khi thị trường đang bán tháo tài sản tài chính
Do hạn chế số nhà đầu tư tham gia, Hedge Fund thường "mở" cho các nhà đầu tư chuyên nghiệp,
tổ chức hoặc có trình độ cao