III.- KHÁI QUÁT VỀ TỔ CHỨC CỦA MỘT NỀN KINH TẾ : Tất cả các nền KT đều đứng trước vấn đề khan hiếm trên giác độ các nguồn tàinguyên không đủ để sản xuất ra những số lượng hàng hoá dịch v
Trang 1CHƯƠNG 1 :
ĐẠI CƯƠNG VỀ KINH TẾ HỌC
I.- KHÁI NIỆM, NHỮNG ĐẶC TRƯNG & PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU : 1.- Khái niệm về Kinh tế học :
Khoa học kinh tế có nguồn gốc rất xa xưa từ thời Hy lạp cổ đại khi Platon và Aristotetrong các tác phẩm khoa học của mình đã sử dụng từ “Économic” để lý giải các hành
vi của con người và xã hội trong các quyết định kinh tế
Từ kinh tế xuất phát từ cụm từ “Kinh bang tế thế” Kinh là sửa, trị - Bang là một
nước nhỏ, Liên bang gồm nhiều bang - Tế là cứu, giúp - thế là đời người Dữ, lànhmiệng thế mặc chê khen - Trách người thế vô tình lắm lắm
* Kinh bang tế thế: Trị nước, cứu đời
* Kinh tế : Toàn bộ những hoạt động SX ra của cải vật chất, trao đổi, phân phối và sử dụng những sản phẩm trong đời sống xã hội loài người
Cho đến nay, khoa học kinh tế đã phát triển rất nhanh cùng với sự phát triển của
xã hội với nhiều sắc thái khác nhau, kết quả là xây dựng được một kho tàng tri thứcnhằm giải thích các hiện tượng, quy luật, hành vi liên quan đến quá trình giải quyếtmâu thuẫn giữa nhu cầu và nguồn lực
• Kinh tế học là môn học nghiên cứu cách thức chọn lựa của xã hội trong việc sửdụng nguồn tài nguyên có giới hạn để sản xuất sản phẩm nhằm đáp ứng nhu cầungày càng cao của con người
• Kinh tế học là khoa học nghiên cứu cách thức xã hội giải quyết ba vấn đề cơ bảncủa thị trường: Sản xuất cái gì? Sản xuất bằng cách nào? Sản xuất cho ai?
Tài nguyên thiên nhiên: bao gồm đất đai và các yếu tố khác về tự nhiên như
không khí, nước, khoáng sản, rừng, biển, quặng mỏ … dùng để sản xuất ra của cải vật chất
Lao động: bao gồm trí lực và thể lực con người có thể dùng vào quá trình sản xuất
Vốn: Vốn cố định, vốn lưu động, vốn hữu hình, vốn vô hình.
Công nghệ, kỹ thuật: Bao gồm công nghệ sử dụng, kiến thức trong việc kết hợp các yếu tố SX trong các quá trình sản xuất
Một đặc điểm rất đặc trưng của các nguồn tài nguyên là tính khan hiếm so vớinhu cầu của con người Bên cạnh đó quá trình sản xuất ra các sản phẩm và dịch vụ sẽ
Trang 2làm cạn dần các nguồn tài nguyên hiện có, sự khan hiếm về tài nguyên sẽ dẫn đến sựkhan hiếm về hàng hoá, dịch vụ
Tuy nhiên sự khan hiếm về tài nguyên tự bản thân nó chưa phải là thật nghiêmtrọng Vấn đề trở nên nghiêm trọng hơn khi ta đặt nó trong mối quan hệ với nhu cầu
vô hạn của con người và như vậy nhu cầu đó trong thực tế sẽ không bao giờ được thoảmãn khi nguồn tài nguyên là có hạn
Sự khan hiếm của nguồn tài nguyên là nguồn gốc của một vấn đề rất căn bảncủa XH loài người, đó là vấn đề kinh tế
3.- Sự lựa chọn :
Vì nguồn tài nguyên là có hạn, bắt buộc chúng ta phải lựa chọn, và khi đã lựachọn một vật này (phương án này) thì không bắt buộc phải bỏ vật khác (phương ánkhác) Tất cả các xã hội đều phải đứng trước sự lựa chọn phải sản xuất sản phẩm nào
và phân phối sản phẩm giữa các cá nhân ra sao Về phía nhà nứơc, họ sẽ lựa chọntrong việc sử dụng các nguồn tài nguyên cho nhiều nhu cầu khác nhau như GD,Y tế,GTVT… Cá nhân thì lựa chọn xem nên sử dụng thu nhập của mình như thế nào? Vàcác xí nghiệp thì sẽ lựa chọn xem nên phân bổ nguồn lực của mình như thế nào cho cóhiệu quả nhất
Vì vậy khoa học kinh tế đôi khi còn được gọi là khoa học của sự lựa chọn
4.- Chi phí cơ hội ( chi phí thời cơ) :
Vấn dề lựa chọn tồn tại trong nền kinh tế, từ đó phát sinh khái niệm chi phí cơhội Chi phí cơ hội là cái người ta phải mất đi do thực hiện một sự lựa chọn trong sựbắt buộc của điều kiện khan hiếm
Thí dụ : Một đứa bé có 10.000 đ và nó muốn dùng số tiền này để mua kẹo và
bánh Giá 1 cái kẹo là : 1.000 đ/1 viên, 1 cái bánh là : 2.000đ/1 cái
Số kẹo
muốn
mua
Giá 1 cái kẹo muốn mua Số bánh Giá 1 cái bánh Số tiền cần phải có thừa-thiếu Số tiền
Từ khái niệm trên có mấy vấn đề được đặt ra:
Thứ nhất : Nội dung cốt lõi của KT học là nghiên cứu cách thức chọn lựa của
nền kinh tế trong việc sản xuất sản phẩm Yêu cầu lựa chọn bắt nguồn từ sự khan hiếmcác nguồn tài nguyên, nó bao gồm 3 yếu tố cơ bản là nguồn tài nguyên thiên nhiên,nguồn nhân lực, nguồn vốn Ngoài ra, trong thời gian gần đây các nhà kinh tế thường
đề cập đến trình độ kỹ thuật như là yếu tố thứ tư của nguồn tài nguyên
Thứ hai : Kinh tế học là một môn khoa học có tính độc lập nhất định đối với
các môn học khác Việc nghiên cứu kinh tế không thể dựa vào kết quả thí nghiệm nhưmột số môn khoa học tự nhiên Kinh tế học cũng không phải là một khoa học chính
Trang 3xác Các hàm số hay phương trình dùng trong kinh tế chủ yếu là kết quả ước lượngtrung bình từ các dữ liệu thực tế, có tính xác suất
Để thuận lợi trong nghiên cứu, người ta chia kinh tế học ra làm hai phần: Kinh
tế học vi mô & Kinh tế học vĩ mô
Nội dung nghiên cứu của 2 phần này có thể được đề cập dưới 2 dạng: Mô tảthực tế hoặc nêu lên những quan điểm đánh giá, những nhận định có tính cách chủquan Để phân biệt 2 dạng này, các nhà kinh tế đưa ra 2 khái niệm: Kinh tế học thựcchứng & kinh tế học chuẩn tắc
5- Kinh tế học vi mô : ( Micro economics) KT vi mô coi xã hội là tập hợp các chủ
thể kinh tế độc lập, các chủ thể kinh tế được phân biệt thành 2 lọai: Người sản xuất(doanh nghiệp) và người tiêu dùng (hộ gia đình) Các chủ thể riêng biệt này hàng ngàyphải cọ xát với nhau trong quan hệ mua – bán tạo nên các thị trường hàng hóa, dịchvụ Kinh tế vi mô nghiên cứu hành vi ứng xử của các chủ thể riêng biệt này và sựtương tác giữa các chủ thể riêng biệt đó trong các thị trường cụ thể
Nội dung nghiên cứu của kinh tế học vi mô là:
o Các yếu tố nào xác định giá cả của một hàng hoá cụ thể?
o Các yếu tố nào tác động đến sản lượng của một xí nghiệp?
o Các yếu tố nào xác định tiền lương, lợi nhuận của xí nghiệp?
o Tác động của các chính sách của Nhà nước đến giá cả & sản lượng của 1 xínghiệp
6.- Kinh tế học vĩ mô : (Macro economics) nghiên cứu sự hoạt động của nền kinh
tế như một tổng thể thống nhất Kinh tế học vĩ mô chỉ quan tâm đến hình ảnh tổngquát, mà không quan tâm đến các chi tiết trong một hoạt động kinh tế cụ thể nào củamột quốc gia
Nội dung nghiên cứu của kinh tế học vĩ mô là:
o Các yêu tố nào xác định đến mức giá tổng quát, tỷ lệ lạm phát, thất nghiệp củamột nền kinh tế ?
o Các yếu tố nào xác định thu nhập quốc gia và sản lượng quốc gia ?
o Tác động của các chính sách tài chính, tiền tệ, ngoại thương, … đến sản lượngcủa quốc gia như thế nào ?
o Vai trò của nhà nước trong quản lý kinh tế vĩ mô để chống lạm phát, thấtnghiệp, suy thoái kinh tế ?
7.- Kinh tế học thực chứng: là việc xem xét các sự kiện, hiện tượng kinh tế
trong mối quan hệ tác động qua lại và luận giải một cách khoa học dưới dạng: nếu cáinày thay đổi thì cái gì sẽ xảy ra? tại sao vậy? Phân tích thực chứng đòi hỏi có một kiếnthức lý thuyết vững vàng, kỹ năng thu thập và phân tích thông tin, đồng thời đòi hỏi tưduy logic, hệ thống Mục đích của phân tích thực chứng là phát hiện ra các quy luật,hiểu rõ bản chất vận động của các quá trình kinh tế Các kết quả phân tích thực chứngđối với cùng 1 vấn đề, hiện tượng có thể khác nhau, chủ yếu là do sai sót trong quátrình phân tích và thu thập số liệu Tuy nhiên, dưới góc độ thực chứng, chân lý khoahọc là chỉ cò một
Thí dụ :
Điều gì đã làm cho thất nghiệp cao như vậy? Việc tăng thuế nhập khẩu có ảnhhưởng như thế nào đối với nền kinh tế ?
Trang 4Mục đích của kinh tế học thực chứng là muốn biết lý do vì sao nền kinh tế hoạtđộng như vậy Từ đó có cơ sở dự đoán phản ứng của nó khi hoàn cảnh thay đổi, đồngthời con người có thể tác động tích cực nhằm thúc đẩy các hoạt động có lợi và hạn chếnhững hoạt động có hại
8.- Kinh tế học chuẩn tắc : lại đưa các quan niệm về đạo đức và các nhận định
chủ quan vào vấn đề cái gì, thế nào và cho ai của nền kinh tế, thiên về đạo lý, lờikhuyên cho sự lựa chọn của xã hội Phân tích chuẩn tắc đòi hỏi phải nhìn nhận vấn đềrộng hơn, vượt ra ngòai phạm vi giải thích và dự đóan khách quan Phân tích chuẩn tắcthường đi đến những kết luận rất khác nhau, thậm chí rất trái ngược nhau, tùy theoquan điểm đánh giá của người phân tích đứng trên cơ sở bảo vệ lợi ích của ai Phântích chuẩn tắc thường không có chân lý tuyệt đối
Thí dụ :
Chẳng hạn chính phủ tăng ngân sách cho quốc phòng là tốt hay xấu? Có nên trợgiá cho hàng nông sản không? Trong thời kỳ suy thoái chính phủ nên dùng tiền để trợcấp thất nghiệp hay dùng tiền để trực tiếp tạo công ăn việc làm? Liệu có nên cấm việcbán một số loại súng và ma túy không? Có rất nhiều vấn đề đặt ra mà câu trả lời tuỳthuộc vào quan điểm cá nhân
Trong kinh tế học thực chứng bạn hy vọng sẽ hành động như những nhà khoahọc khách quan, còn trong kinh tế học chuẩn tắc thì yếu tố khách quan đã bị bóp méotheo quan điểm cá nhân
9.- Những đặc trưng của kinh tế học :
- Kinh tế học nghiên cứu sự khan hiếm nguồn lực một cách tương đối so vớinhu cầu kinh tế của xã hội luôn phát triển không ngừng
- Kinh tế học luôn hướng tới đảm bảo tính hợp lý của nó bằng việc đưa ranhững giả định phù hợp nhằm tập trung làm sáng tỏ sự vận động của đời sống kinh tếhiện thực
- Kinh tế học nghiên cứu các hiện tượng và quá trình kinh tế một cách toàn diệntổng hợp trong phạm vi một quốc gia, thậm chí trên phương diện nền kinh tế thế giới
- Kinh tế học nghiên cứu nhiều về mặt lượng, chúng được lượng hoá bằngnhững chỉ số thực tế có tính thuyết phục cao
10.- Phương pháp nghiên cứu của KT học :
- Khi nghiên cứu KT người ta thường bắt đầu bằng phương pháp quan sát, quatập hợp các số liệu Trên cơ sở các số liệu thu thập được trong các khoảng thời gianphương pháp phân tích sẽ giúp chúng ta khám phá những bí ẩn của đời sống kinh tế
- Bên cạnh đó các phương pháp cân bằng, tối ưu và - Phương pháp mô hìnhhoá là các phương pháp chủ yếu được sử dụng khi nghiên cứu kinh tế vi mô
II.- GIỚI HẠN KHẢ NĂNG SẢN XUẤT :
Đường giới hạn khả năng sản xuất :
Xét tại 1 thời điểm nhất định, mỗi tổ chức đều có một số lượng hạn hữu về đấtđai, vốn, lao động… Cho nên, dù có khai thác được đầy đủ nguồn tài nguyên đó thìcũng chỉ sản xuất được một mức sản lượng nhất định mà thôi Đó chính là sự hạn chế
về khả năng sản xuất của tổ chức Sự hạn chế này đựợc mô tả bằng đường giới hạn
khả năng sản xuất (Production Posibility Frontier – PPF)
CÁCH XÂY DỰNG ĐƯỜNG GIỚI HẠN KHẢ NĂNG SẢN XUẤT :
Trang 5Giả sử nền kinh tế có 5 lao động, chỉ sản xuất 2 loại hàng hoá là: Lúa & vải
Nhưng người này , trên cơ sở tận dụng hết khả năng sản xuất của nền kinh tế, có thểtạo ra được các mức só liệu như sau:
Các số liệu trong bảng được cho theo qui luật năng suất biên giảm dần
CÁC PHƯƠNG ÁN SẢN XUẤT KHÁC NHAU
Lao động (người)
Sản lượng (ngàn mét)
Lao động (người)
Sản lượng (tạ)
Ý nghĩa của đường giới hạn nằng xuất: mô tả mức sản xuất tối đa mà nền kinh
tế có thể đạt được khi sử dụng toàn bộ năng lực sẵn có
III.- KHÁI QUÁT VỀ TỔ CHỨC CỦA MỘT NỀN KINH TẾ :
Tất cả các nền KT đều đứng trước vấn đề khan hiếm trên giác độ các nguồn tàinguyên không đủ để sản xuất ra những số lượng hàng hoá dịch vụ cần thiết cho nhucầu của con người Do đó, cần thiết phải quyết định nên sản xuất sản phẩm nào, không
Trang 6nên sản xuất sản phẩm nào khi sử dụng các nguồn tài nguyên cho các mục đíchkhác nhau.
Trong nền KTTT, vấn đề này được thực hiện bởi hàng triệu quyết định độc lậpcủa các nhà tiêu thụ và các nhà sản xuất, thông qua guồng máy thị trường Chúng ta sẽxem xét sự vận hành của guồng máy thị trường này
1.- Các thành phần của thị trường :
Khoa học KT nghiên cứu đồng thời hành vi của các cá nhân và các tổ chức trên thị
trường Các hành vi này sẽ dẫn đến những quyết định khác nhau đối với các vấn đề
kinh tế Ai sẽ là người quyết định chính? Có 3 nhóm quan trọng thực hiện các quyết
định và họ chính là những thành phần cơ bản của thị trường:
o Các hộ gia đình
o Các xí nghiệp
o Nhà nước
a.- Hộ gia đình : Là tập hợp những người cùng sống chung trong một mái nhà và
họ có những quyết định về tài chính chung Khi đề cập đến khái niệm về người tiêuthụ thì thực chất đó là khái niệm về hộ gia đình và đó là đơn vị căn bản trong việc thựchiện các quyết định về tiêu thụ Mục tiêu của các hộ gia đình là tối đa hoá lợi ích của
họ Các hộ gia đình sẽ thực hiện cho mình 2 loại quyết định quan trọng:
o Quyết định cách thức chi tiêu
o Bán những yếu tố sản xuất mà họ có
b.- Xí nghiệp : Là các đơn vị thực hiện các quyết định về việc sử dụng các yếu tố
sản xuất và việc sản xuất ra sản phẩm Các xí nghiệp bán các sản phẩm mà họ sảnxuất ra cho các xí nghiệp, cho các hộ gia đình và cho chính phủ Mục tiêu của các xínghiệp là lợi nhuận và họ cố gắng đạt được mức lợi nhuận tối đa
c.- Nhà nước : trong phân tích kinh tế, Nhà nước được hiểu là toàn bộ những cơ
quan công quyền tồn tại và hoạt động dưới sự chỉ đạo trực tiếp của chính phủ Nhànước có ảnh hưởng rất lớn đến các quyết định của các cá nhân và các xí nghiệp Mụctiêu chính yếu của Nhà nước là tạo một môi trường kinh tế thuận lợi cho sự hoạt độngcủa các xí nghiệp, các hộ gia đình cũng như cho thị trường
2.- Thị trường :
Khởi thuỷ, thị trường dùng để xác định một địa điểm mà ở đó xảy ra sự traođổi hàng hoá
Thị trường là một cơ chế trong đó người mua và người bán tương tác với nhau
để xác định giá cả và sản lượng của hàng hóa hay dịch vụ Trong hệ thống thị trường,mọi thứ đều có giá cả, đó là giá trị của hàng hóa và dịch vụ bằng tiền Giá cả thể hiệnmức mà mọi người và các doanh nghiệp tự nguyện trao đổi nhiều loại hàng hóa khácnhau Khi tôi đồng ý mua 1 chiếc xe ô tô cũ từ người bán với giá 4.000 USD, điều đó
có nghĩa là chiếc ô tô cũ này đáng giá hơn 4.000USD đối với tôi và 4.000 USD đó lạilớn hơn giá trị của chiếc xe hơi cũ đối với người bán và thông qua việc mua bán tựnguyện đã đưa hàng hóa đến với người mà với họ nó được đánh giá cao nhất Hơn thếnữa giá cả là tín hiệu đối với người sản xuất và người tiêu dùng, giá tăng có nghĩa làngười bán cần sản xuất nhiều hơn, mặt khác nếu lượng tồn kho hàng hóa quá nhiều cónghĩa là cần giảm giá để nhiều người tiêu dùng có thể mua hơn
Trang 7Khó có thể có một định nghĩa đầy đủ về khái niệm thị trường, nhưng có thểhiểu nó một cách khái quát, đó là nơi mà người mua và người bán thương thuyết vềviệc trao đổi mua bán một hàng hoá xác định.
Về mặt mục đích sử dụng của các sản phẩm, có thể chia ra các loại thị trường:
- Thị trường các yếu tố sản xuất
- Thị trường các sản phẩm và dịch vụ
Về tính chất kinh tế có thể chia ra :
- Thị trường cạnh tranh hoàn toàn
- Thị trường cạnh tranh không hoàn toàn
Cần lưu ý rằng 2 dòng chu chuyển này hoạt động theo chiều trái ngược nhau vàmỗi dòng hình thành nên một vòng chu chuyển khép kín
IV.- TỔ CHỨC KINH TẾ CỦA NỀN KINH TẾ HỖN HỢP :
HỘ GIA ĐÌNH
SX & BÁN CÁC YẾU TỐ SX MUA CÁC SP TIÊU DÙNG
THỊ TRƯỜNG YẾU TỐ SX
Xác định giá cả & số lượng
các yếu tố SX
THỊ TRƯỜNG TIÊUDÙNG Xác định giá cả & số lượng các SP tiêu dùng
XÍ NGHIỆP MUA CÁC YẾU TỐ SX
SX & BÁN CÁC SP
Trang 81.- Ba chức năng cơ bản của một nền kinh tế :
a-Sản xuất ra những hàng hoá và dịch vụ nào với số lượng bao nhiêu?
b-Sản xuất ra các hàng hoá và dịch vụ bằng cách nào Đó là việc lựa chọn
cách thức tổ chức sản xuất , công nghệ thích hợp
c-Hàng hoá & dịch vụ được sản xuất ra cho ai hay sản phẩm quốc dân được
phân phối như thế nào?
Ba vấn đề này sẽ không cần đặt ra nếu như nguồn tài nguyên vô hạn
2.- Tổ chức kinh tế của nền kinh tế hỗn hợp
Để thực hiện 3 chức năng của nền kinh tế , trong lịch sử xã hội loài người đã cónhững cách thức tổ chức nền kinh tế khác nhau, đó là:
2.1.- Nền kinh tế tập quán truyền thống : Kiểu tổ chức tập quán truyền thống
đã tồn tại trong thời kỳ công xã nguyên thuỷ Trong xã hội này 3 chức năng cơ bảncủa nền kinh tế được quyết định theo tập quán truyền thống , truyền từ tế hệ này sangthế hệ khác (nền kinh tế tự cung , tự tiêu )
2.2.- Nền kinh tế chỉ huy (nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung ) : Trong nền
kinh tế chỉ huy chính phủ là ngời quyết định toàn bộ điển hình là nền kinh tế Liên xô
cũ Việt Nam chúng ta trớc đây cũng theo mô hình kinh tế này Trong nền kinh tế này,
Ủy ban kế hoạch Nhà nước là trung tâm điều khiển mọi hoạt động kinh tế đi theo một
kế hoạch thống nhất Mọi ngời chỉ cần thực hiện nhiệm vụ của mình theo sự phâncông trực tiếp hay gián tiếp của chính phủ
Trong nền kinh tế này, 3 vấn đề cơ bản được giải quyết thông qua các mốiquan hệ giao dịch trên thị trường dưới sự chi phối của qui luật cung cầu.Giá cả thịtrường có vai trò quyết định trong việc lựa chọn và quyết định việc sản xuất cái gì, nhưthế nào và cho ai ? Trường hợp cực đoan của nền kinh tế thị trường là chính phủ hoàntoàn không can thiệp vào kinh tế, theo chế độ tự do kinh doanh Chức năng của chínhphủ chỉ bó hẹp trong một số lĩnh vực như ban hành và thực thi luật pháp, bảo vệ trật
tự trị an, như định ra mức thuế và mức chi tiêu để duy trì bộ máy và cung cấp các loạihàng công cộng Có thể nói nền kinh tế thị trường là nền kinh tế năng động và kháchquan, nhưng do cạnh tranh vì động cơ lợi nhuận nên dẫn đến bất công xã hội, phân hoágiàu nghèo, gây ô nhiễm môi trường và cạn kiệt tài nguyên và nhiều vấn đề xã hộikhác không giải quyết thoả đáng
2.4.- Nền kinh tế hỗn hợp : để phát huy những ưu điểm, khắc phục những nhược
điểm của nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung và kinh tế thị trường, ngày nay các hệthống kinh tế hiện đại lựa chọn nền kinh tế hỗn hợp với tư cách là một tổ chức kinh
tế Nền kinh tế hỗn hợp là nền kinh tế kết hợp các nhân tố thị trường, chỉ huy vàtruyền thống
Trang 9Để làm rõ vai trò của cơ chế này, các nhà kinh tế đã phân chia tất cả các tácnhân trong nền kinh tế hỗn hợp thành 4 nhóm nhằm giải thích những hành vi vàphương thức thực hiện các chức năng chủ yếu của từng nhóm
* Người tiêu dùng : là tất cả các cá nhân và hộ gia đình, họ mua những hàng
hoá, dịch vụ tiêu dùng cho nhu cầu của cá nhân và gia đình Người tiêu dùng có tácđộng rất lớn trong việc sản xuất cái gì? sản xuất cho ai? trong nền kinh tế, họ là người
bỏ phiếu bằng tiền cho một loại hàng hoá dịch vụ nào đó
* Các doanh nghiệp : người sản xuất hàng hoá và dịch vụ, giữ vai trò quan
trọng trong việc quyết định sản xuất cái gì và như thế nào?
* Khu vực chính phủ : Vai trò khu vực kinh tế của chính phủ được thực hiện
thông qua các chức năng sau:
Thiết lập khuôn khổ pháp luật
Đàm bảo tính hiệu quả của nền kinh tế
Đảm bảo công bằng xã hội
Ổn định kinh tế vĩ mô
* Khu vực kinh tế quốc tế : Phát triển quan hệ quốc tế là xu hướng tất yếu của
thời đại ngày nay Nó bắt nguồn từ sự phân bổ nguồn tài nguyên thiên nhiên khôngđồng đều
Tóm lại nền kinh tế hỗn hợp là nền kinh tế trong đó cơ chế thị trường xác
định giá cả và sản lượng trong nhiều lĩnh vực, còn chính phủ thì điều tiết thị trường bằng việc ban hành các luật lệ, sử dụng chính sách về tài chính, tiền tệ
Mô hình kinh tế hỗn hợp của từng nước có thể khác nhau tuỳ thuộc vào tính chất
và mức độ can thiệp của Nhà nước vào quá trình kinh tế./.
Trang 10PHỤ LỤC :
ƯU - NHƯỢC ĐIỂM CỦA NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
ƯU ĐIỂM :
1 Thị trường giúp cho từng doanh nghiệp sử dụng nguồn lực tài nguyên một các
có hiệu quả, bởi vì mọi doanh nghiệp luôn tích cực tìm các hạ thấp chi phí đểgia tăng lợi nhuận
2 Nhờ yếu tố cạnh tranh, họ luôn tích cực cải tiến, đổi mới, nâng cao chất lượng
sản phẩm
3 Ngoài ra, thị trường cũng giúp cho nền kinh tế sản xuất SP với số lượng và cơ
cấu phù hợp với yêu cầu của XH
NHƯỢC ĐIỂM :
1 Phân hoá giàu nghèo càng lớn Sự bất bình đẳng trong phân phối thu nhập.
2 Tạo chu kỳ kinh doanh , dẫn đến tăng trưởng chậm.
3 Có nhiều tác động ngoại vi ( sự tác động của 1 chủ thể kinh tế này đến 1 chủ thể
khác mà không qua giao dịch trên thị trường) , việc thải khí độc, tiếng ồn, nướcthải, khai thác bừa bãi tài nguyên , phá vỡ cân bằng sinh thái
4 Thiếu vốn đầu tư cho công cộng
5 Độc quyền trong nền kinh tế
6 Thông tin bị lệc lạc do quảng cáo, sự tồn tại hàng giả, hàng nhái.
7 Thị trường không dẫn dắt được sự thay đổi cơ cấu kinh tế theo hướng phát triển
ADAM SMITH BÀN VỀ “BÀN TAY VÔ HÌNH”
Không phải nhờ lòng nhân từ của những người bán thịt, của ông chủ cửa hàngrượu hay người bán bánh mỳ mà chúng ta có được bữa ăn tối, mà chính là nhờ lợi íchriêng của họ…
Mỗi cá nhân thường không có ý định phục vụ lợi ích của cộng đồng và mỗingười cũng không hề biết mình cống hiến cho lợi ích xã hội là bao nhiêu Anh ta chỉmuốn giành lấy lợi ích cho bản thân mình và trong khi làm như vậy, anh ta được dẫndắt bởi một bàn tay vô hình hướng tới việc phục vụ cho một mục đích nằm ngòai dựtính của anh ta… Khi theo đuổi các mục đích riêng của mình, anh ta thường vô tìnhphục vụ cho lợi ích xã hội một cách có hiệu quả hơn so với trường hợp anh ta chủ đíchlàm như vậy
Trang 11Trích từ tác phẩm Bản chất và nguồn gốc của cải của các dân tộc.
A.Smith viết năm 1776
CHƯƠNG 2 :
CUNG, CẦU HÀNG HOÁ VÀ GIÁ CẢ THỊ TRƯỜNG
Trong nền kinh tế thị trường, sự tương tác giữa cầu thể hiện hành vi của ngườimua và cung, thể hiện hành vi của người bán sẽ hình thành nên giá cả hàng hoá Cácgiá này là cơ sở để người mua quyết định mua hàng hoá gì? Mua như thế nào? muacủa ai? Và người bán cũng dựa trên giá cả để quyết định sản xuất cái gì? Sản xuất nhưthế nào? sản xuất cho ai? Như vậy các hoạt động mua bán sản phẩm, dịch vụ và yếu
tố sản xuất đều do hệ thống giá cả thị trường quyết định, chi phối
Để hiểu rõ quá trình hình thành giá cả thị trường cần thiết phải nghiên cứu cầu
và cung của hàng hoá trên một thị trường tự do cạnh tranh có tính chất lý thuyết Từ đó
có thể tiến đến nghiên cứu hoạt động của một thị trường thực tế hơn với những hìnhthức can thiệp của Nhà nước được áp dụng
I.- CẦU HÀNG HOÁ :
a- Biểu cầu và đường cầu :
Trước khi tìm hiểu về biểu cầu và đường cầu chúng ta thử tìm hiểu một số kháiniệm cơ bản về cầu và lượng cầu:
Cầu : là số lượng hàng hoá mà người mua có khả năng mua và sẵn sàng mua ở
các mức giá khác nhau trong 1 thời gian nhất định Như vậy, khi nói đến cầu phải nhấnmạnh những yếu tố cơ bản ảnh hưởng trực tiếp đến cầu là khả năng mua và ý muốnsẵn sàng mua một hàng hoá hoặc dịch vụ cụ thể nào đó; cầu không phải là nhu cầu nóichung mà là nhu cầu có khả năng thanh toán; cầu luôn gắn liền với bối cảnh khônggian và thời gian nhất định
Lượng cầu : là lượng hàng hoá hoặc dịch vụ mà người mua sẵn sàng mua ở
mức giá đã cho trong một thời gian nhất định
Biểu cầu : là một bảng mô tả mối quan hệ giữa số lượng hàng hoá mà người
tiêu dùng sẵn sàng mua và có khả năng mua ở các mức giá khác nhau trong một thờigian nhất định
Thí dụ : Biểu cầu dầu ăn tại 1 thành phố.
Giá bán (ngàn đồng / lít )
Lượng cầu ( ngàn lít / tháng )
Trang 12b.- Đường cầu : là đường mô tả mối quan hệ giữa số lượng hàng hoá mà
người tiêu dùng sẵn sàng mua và có khả năng mua với các mức giá khác nhau Đặcđiểm chung của các đường cầu là chúng dốc xuống dưới về phía phải
Đường cầu không nhất thiết là một đường thẳng mà có thể là một đường conghay một đường gẫy
c.- Quy luật cầu :
Mối quan hệ tỉ lệ nghịch giữa giá cả và lượng cầu là rất phổ biến và được gọi làluật cầu Luật cầu tồn tại hay đường cầu là dốc xuống bởi các lý do sau:
- Khi giá của hàng hoá hoặc dịch vụ giảm thì số người có khả năng mua sẽ nhiều hơn
- Khi giá của hàng hoá hoặc dịch vụ tăng thì số người có khả năng mua sẽ giảm đi
Mức cầu của một hàng hoá không chỉ phụ thuộc vào giá cả của nó, mà còn phụthuộc vào nhiều yếu tố khác như:
* Thu nhập
* Thói quen tập quán tiêu dùng , sở thích
* Giá cả của các hàng hoá khác ,đặc biệt là hàng hoá có liên quan,
có khả năng thay thế
* Quy mô của thị trường
II.- CUNG HÀNG HOÁ :
a.- Biểu cung và đường cung :
Cung : là số lượng hàng hoá mà người bán có khả năng bán và sẵn sàng bán ở
các mức giá khác nhau trong 1 thời gian nhất định Như vậy, khi nói đến cung phảinhấn mạnh những yếu tố cơ bản ảnh hưởng trực tiếp đến cung là khả năng và ý muốnsẵn sàng bán một hàng hoá hoặc dịch vụ cụ thể của người bán gắn liền với bối cảnhkhông gian và thời gian nhất định
Trang 13Lượng cung : là lượng hàng hoá hoặc dịch vụ mà người bán sẵn sàng bán ở
mức giá đã cho trong một thời gian nhất định
Biểu cung : là một bảng mô tả mối quan hệ giữa số lượng hàng hoá mà
người bán sẵn sàng và có khả năng bán ở các mức giá khác nhau trong một thời giannhất định
Biểu cung dầu ăn của 1 thành phố.
Giá bán (ngàn đồng / lít )
Lượng cung ( ngàn lít / tháng )
b.- Đường cung : là đường mô tả mối quan hệ giữa số lượng hàng hoá mà
người bán sẵn sàng và có khả năng bán với các mức giá khác nhau Đặc điểm chungcủa các đường cung là có độ nghiêng lên trên về phía phải
c.- Quy luật cung :
Mối quan hệ tỉ lệ thuận giữa giá cả và lượng cung là rất phổ biến và được gọi
là luật cung
- Khi giá của hàng hoá hoặc dịch vụ giảm thì số người bán sẽ giảm
- Khi giá của hàng hoá hoặc dịch vụ tăng thì số người bán sẽ tăng
Trang 14Mức cung của một hàng hoá không chỉ phụ thuộc vào giá cả của nó, mà cònphụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như:
- Công nghệ
- Giá của các yếu tố đầu vào
- Chính sách thuế
- Số lượng người sản xuất ( đối thủ cạnh tranh )
III.- TRẠNG THÁI CÂN BẰNG CỦA THỊ TRƯỜNG:
Giá bán
P
(đồng/lít)
Lượng cầu Qd (ngàn lít/tháng)
Lượng cung Qs (ngàn lít/tháng)
Lượng hàng
dư, thừa hay thiếu hụt
Sức ép đối với giá cả
Sự cân bằng cung - cầu đối với một hàng hoá nào đó là trạng thái khi việc cung hànghoá đó đủ thoả mãn cầu đối với nó trong một thời gian nhất định Tại trạng thái cânbằng này chúng ta có giá cân bằng và sản lượng cân bằng Điểm giao nhau giữađường cung và đường cầu, ở đó thể hiện lượng hàng hoá mà các doanh nghiệp sẵnsàng sản xuất bằng với số lượng mà người tiêu dùng sẵn sàng mua được gọi là cânbằng
IV.- SỰ THAY ĐỔI TRẠNG THÁI CÂN BẰNG :
Khi thị trường đạt được sự cân bằng sẽ không còn ảnh hưởng của sự dư thừahay thiếu hụt tác động làm cho giá thay đổi nữa Nhưng mức giá và sản lượng cânbằng của một loại hàng hoá, dịch vụ nào đó sẽ không cố định mà có những thay đổitheo thời gian Thời gian nghiên cứu càng dài sự thay đổi càng rõ nét và thị trườngluôn vận động từ trạng thái cân bằng này sang trạng thái cân bằng khác do ảnh hưởngcủa các nhân tố khác Anh hưởng của các nhân tố này làm cho đường cung và đườngcầu dịch chuyển khỏi vị trí cũ
1.- Sự dịch chuyển của đường cầu, đường cung:
a.- Sự dịch chuyển đường cầu:
Trang 15Khi xem xét số cầu trong mối quan hệ với chỉ một biến số giá cả của chính
nó (giả định các yếu tố khác không đổi) ta có một đường cầu Trong mối quan hệ này,
số cầu phụ thuộc vào mức giá cả Sự thay đổi của số cầu theo giá cả đó chỉ là sự dịch
chuyển dọc theo một đường cầu
có sự thay đổi Sự thay đổi của các nhân tố này làm dịch chuyển cả đường cầu
Tuỳ theo xu hướng vận động của các nhân tố mà đường cầu sẽ dịch chuyểnsang phải hay sang trái Khi đường cầu dịch chuyển sang phải (trái) thì với mọi mứcgiá cũ của thị trường số cầu bây giờ sẽ nhiều (ít) hơn trước
Nhân tố ảnh hưởng chuyển sang phải Đường cầu dịch chuyển sang trái Đường cầu dịch
Cần lưu ý, có thể các nhân tố trên đây thay đổi cùng lúc và có tác động đến sự dịch
chuyển đường cầu theo chiều hướng trái ngược nhau Kết quả sau cùng là đường cầudịch chuyển sang phải hay trái tuỳ thuộc lực tác động của nhân tố nào mạnh hơn
Trang 16Q < Q1 Qd Q1 < Q
Qd
Đường cầu dịch chuyển sang phải Đường cầu dịch chuyển sang trái
b.- Sự dịch chuyển đường cung:
Từ phân tích sự dịch chuyển đường cầu trên đây, ta dễ dàng hiểu được sự dịchchuyển đường cung Đường cung dịch chuyển sang phải hay trái tuỳ thuộc vào xuhướng vận động của các nhân tố sau đây :
chuyển sang phải
Đường cung dịch chuyển sang trái
- Chính sách thuế & quy định của CP Giảm Tăng
S S1 S1 S
Q < Q1 Q1 < Q
Đường cung dịch chuyển sang phải Đường cung dịch chuyển sang trái
2.- Các trường hợp thay đổi của giá cả và sản lượng cân bằng :
Giá cả & sản lượng cân bằng thị trường sẽ thay đổi theo thời gian & theo từng thịtrường, bởi vì các nhân tố làm dịch chuyển đường cung, đường cầu luôn vận động.Trước tiên ta lần lượt xem xét sự thay đổi của giá cả và sản lượng ở trường hợp đơngiản - chỉ có một trong hai đường cung, cầu thay đổi
a.- Đường cầu dịch chuyển, đường cung không đổi :
D D1 S D1 D SP1 P
P P1
Q Q1 Q1 Q
Trang 17Khi đường cung không đổi mà đường cầu dịch chuyển sang phải thì giá cả vàsản lượng cân bằng của thị trường đều tăng so với trước ( P1>P và Q1>Q), ngược lại,nếu đường cầu dịch chuyển sang trái thì mức giá và sản lượng thị trường đều giảm(P1<P và Q1<Q)
b.- Đường cung dịch chuyển, đường cầu không đổi :
Hai trường hợp phân tích sự thay đổi của trạng thái cân bằng trên đây chỉ làtrường hợp đơn giản , chỉ có một trong 2 dịch chuyển Trong thực tế , trong một thờigian dài thì phổ biến là trường hợp cả 2 đường cung , cầu đều dịch chuyển
V.- ĐỘ CO GIÃN CỦA CUNG, CẦU:
1.- Độ co giãn của cầu :
Độ co giãn của cầu cho thấy sự thay đổi trong số cầu một mặt hàng trước sựthay đổi của các biến số : giá cả của chính hàng hoá đó, thu nhập bình quân người tiêudùng và giá của những hàng hoá có liên quan Theo đó, người ta chia độ giãn của cầulàm 3 loại :
• Co giãn của cầu theo giá
• Co giãn của cầu theo thu nhập
• Co giãn của cầu theo giá hàng hoá khác
a.- Độ co giãn của cầu theo giá :
Có 3 trường hợp co giãn của cầu theo giá
- Cầu co giãn nhiều : Khi giá thay đổi một tỷ lệ phần trăm nào đó làm cho số
cầu thay đổi với một tỷ lệ phần trăm lớn hơn
- Cầu co giãn ít : Khi giá thay đổi một tỷ lệ phần trăm nào đó làm cho số cầu
thay đổi với một tỷ lệ phần trăm nhỏ hơn
Trang 18- Cầu co giãn một đơn vị : Khi giá thay đổi một tỷ lệ phần trăm nào đó làm
cho số cầu thay đổi với một tỷ lệ phần trăm tương tự
Để đo lường độ co giãn của cầu theo giá người ta dùng chỉ tiêu hệ số co giãn của cầu theo giá :
Mức thay đổi (%) của số cầu
Hệ số co giãn của cầu =
-Mức thay đổi (%) của giá cả
Q
P x P
Q P P
Q Q
P
Q
Q Q
Q P P P
P
Q Q
P
Q P
Q
D
2 1
2 1 1 2
1 2
2 1
2 1
2 1
2 1
+
∆
∆
=+
∆+
∆
=
Do số cầu và giá nghịch biến nhau hay Q và P luôn trái dấu nhau nên
ED thường mang dấu âm (-) Do vậy, nếu :
ED<−1 hoặc ED >1 : cầu co giãn nhiều %Q > %P
ED>−1 hoặc ED <1 : cầu co giãn ít %Q < %P
ED=−1 hoặc ED =1 : cầu co giãn một đơn vị %Q = %P
ED=∞ hoặc ED =∞ : cầu co giãn hoàn toàn
Trang 19 ED=0 : cầu hoàn toàn không co giãn
Phương pháp tính độ co giãn cầu:
• Phương pháp tính trực tiếp
Thí dụ : Khi giá bánh mì tăng lên 10%, lượng cầu bánh mì trên thịtrường giảm 15% Độ co giãn cầu theo giá được tính theo phương pháptính trực tiếp như sau:
5,1
%10
%15/
Q Q
ED
• Phương pháp tính trung điểm
Khi tính hệ số co giãn cho 1 khoảng nằm giữa 2 đường cầu Thí dụ minh hoạ ở hình dưới đây với đường cầu của 1 thị trường mì gói
Độ co giãn cầu theo giá được tính theo phương pháp tính trung điểmnhư sau:
∆Q
Q
P x P
Q P P
Q Q
P
Q
Q Q
Q P P P
P
Q Q
P
Q P
Q
D
2 1
2 1 1 2
1 2
2 1
2 1
2 1
2 1
+
∆
∆
=+
∆+
Trang 207
91000
1500350
30010002000
2
10002000
2
200500
200
−
++
−
Khi khoảng cách 2 điểm A và B như thí dụ trên trở nên quá nhỏ, ta thấy
co giãn tính cho khoảng cách AB trở thành co giãn tính cho 1 điểm Thí dụ: Biết hàm cầu của kem cây tại trường học có dạng Q = -1/2P + 5.Đơn vị tính Q : 100 cây – P : ngàn đồng/ cây
Tính hệ số co giãn cầu tại mức giá P = 2.000 đ/cây
Q
P x Q
P x dP
dQ Q
P x P
Q P P
Q Q
Mối quan hệ giữa tổng doanh thu (TR) và giá cả (P)
Một doanh nghiệp nếu muốn tăng doanh thu thì nên thực hiện chiến lược giá cảnhư thế nào? Nên tăng giá hay giảm giá? Sẽ không có câu trả lời chính xác nếu chưabiết mặt hàng đang kinh doanh ở mức giá hiện tại có hệ số co giãn cầu thep giá lànhiều hay ít
Nếu co giãn nhiều để tăng doanh thu thì doanh nghiệp nên giảm giá
Nếu co giãn ít thì nên tăng giá để tăng doanh thu
Mối quan hệ giữa tổng daonh thu (TR) và giá cả (P) phụ thuộc vào hệ số cogiãn của cầu ED được tóm tắt như sau :
>1 Nghịch biến GiảmTăng GiảmTăng GiảmTăng
Trang 211 30 30 0.27
b.- Độ co giãn cầu theo thu nhập :
Độ co giãn của cầu theo thu nhập là mối quan hệ so sánh giữa phần trăm thayđổi của số cầu trước phần trăm thay đổi của thu nhập bình quân dân cư
Mức thay đổi (%) của số cầu
Hệ số co giãn của cầu =
-Mức thay đổi (%) của thu nhập dân cư
Q
I x I
Q I
I
Q Q
Q I
Q
I I
Q Q E
Í
∆
=+
∆+
∆
=
2
2 1
• EI <0 : Đây là hàng cấp thấp (thứ cấp)
• EI >0 : Đây là hàng hoá thông thường
• EI <1 : Đây là hàng thiết yếu
• EI >1 : Đây là hàng cao cấp
c.-Độ co giãn chéo (giao đối) của cầu :
Giá cả các mât hàng liên quan có tác động đến sản lượng tiêu thụ được của mộtdoanh nghiệp Độ co giãn chéo (giao đối) của cầu chính là để đo lường mức độ tácđộng này
Hệ số co giãn chéo (giao đối) của 2 mặt hàng X & Y là mối quan hệ so sánhgiữa phần trăm thay đổi trong số cầu mặt hàng X trước phần trăm thay đổi giá cả củamặt hàng Y Hệ số co giãn chéo ( giao đối) cho thấy quan hệ giữa X và Y là bổ sunghay thay thế , ở mức độ chặt chẽ hay không chặt chẽ
Gọi EXY là hệ số co giãn chéo giữa 2 mặt hàng X và Y :
Q
P
Q P
Q Q
Q E
X X
Y Y Y
X
Y Y Y
X X X
2 1
2 1
2 1
2 1
∆+
∆
=
Nếu tính độ co giãn chéo tại một mức giá của Y cụ thể
Trang 22Q P P
Q E
X
Y Y
Nếu EXY =0 : X và Y là hai mặt hàng không liên quan
Nếu EXY 0 : X và Y là hai mặt hàng có liên quan
Trong đó :
Nếu EXY <0 : X và Y là hai mặt hàng bổ sung
Nếu EXY >0 : X và Y là hai mặt hàng thay thế
Nếu hai mặt hàng có tính bổ sung cho nhau chặt chẽ thì EXY<0 và trị số tuyệt đối của EXY lớn
Nếu hai mặt hàng có tính thay thế cao thì EXY>0 và trị số tuyệt đối của EXY
lớn, doanh nghiệp kinh doanh hàng X và doanh nghiệp kinh doanh hàng Y là nhữngđối thủ của nhau
2.- Độ co giãn của cung :
Độ co giãn của cung là mối quan hệ so sánh giữa phần trăm thay đổi của sốcung trước phần trăm thay đổi của giá cả hàng hoá đó
Độ co giãn của cung cho thấy độ nhạy của số cung đối với giá hay cho thấymức độ phản ứng của người sản xuất kinh doanh trước sự diễn biến của giá cả
Độ co giãn của cung được đo lường bằng hệ số co giãn cung Es
Mức thay đổi (%) của số cung
Hệ số co giãn của cung =
-Mức thay đổi (%) của giá cả
Q
P x P
Q P P
Q Q
Q
Q P P P
P
Q
Q Q
Q P P P
P
Q Q
P
Q P
Q
S
2 1
2 1 1 2
1 2
2 1
2 1
2 1
2 1
+
∆
∆
=+
∆+
∆
=
Do số cung và giá đồng biến với nhau hay Q và P luôn cùng dấu nhau nên
Es thường mang dấu âm (+) Do vậy, nếu :
o ES <1 Cung co giãn ít %Q < %P
o ES >1 Cung co giãn nhiều %Q > %P
o ES =1 Cung co giãn một đơn vị %Q = %P
o ES =∞ Cung co giãn hoàn toàn
o ES =0 Cung hoàn toàn không co giãn
Trang 23Đối với độ co giãn của cung, yếu tố thời gian đặc biệt quan trọng Vì nhiều loạisản phẩm ( như cây công nghiệp lâu ngày) từ khi quyết định sản xuất đến khi có sảnphẩm đưa ra bán trên thị trường phải qua một thời gian dài, hệ số co giãn của cungcàng lớn, tức phản ứng của người sản xuất kinh doanh mới càng rõ nét
VI.- CHÍNH SÁCH CỦA CHÍNH PHỦ.
1.- Chính sách điều chỉnh giá.
Khi có sự thay đổi đột biến của cung cầu, giá cả hàng hoá thay đổi một cách bấtthường Chẳng hạn, giá xăng dầu tăng vọt hay các mặt hàng nông sản rớt giá Trongtrường hợp như vậy chính phủ sử dụng các chính sách gì để tác động vào thị trườngnhằm điều chỉnh giá
1.1 Quy định giá sàn:
Giá sàn là mức giá tối thiểu bắt buộc, mục đích của giá sàn là nhằm điều chỉnh giá caohơn mức giá cân bằng thị trường hiện tại Hỗ trợ giá nông nghiệp và quy định mứclương tối thiểu là những trường hợp cụ thể về giá sàn
2.- Chính sách ổn định giá.
Dĩ nhiên, chính sách điều chỉnh giá ở trên có tính chất bị động đối với các hàng hoáchịu ảnh hưởng của cung cầu thế giới Các biện pháp có tính chủ động hơn đó là: quiđịnh khung giá và chính sách dự trữ
2.1 Quy định khung giá:
Chính phủ có thể quy định khung giá nhằm ổn định giá cả của một hàng hoá cụ thểtrong một khoảng thời gian nhất định Khung giá là giới hạn phạm vi giá dao độnggiữa giá sàn và giá trần có tính chất bắt buộc Chẳng hạn, chính sách quy định khunglãi suất tiền gửi tiết kiệm của các ngân hàng và các tổ chức tín dụng
Giá Giá Q1 S Q2
PF S
PE E P= 1,2
Trang 24PC D
Sản lượng 0 15 20 25 Lượng Xuất kho Nhập kho
3.- Chính sách thuế và hạn ngạch:
Trong nền kinh tế, nhiều hàng hoá phải chấp nhận được nhập khẩu từ nước ngoài đểđáp ứng nhu cầu người tiêu dùng và sản xuất trong nước Vấn đề đặt ra với các nhàhoạch định chính sách chủ yếu tập trung vào 3 câu hỏi:
o Giá thị trường trong nước sẽ thay đổi như thế nào nếu chính phủ cho phép nhậpkhẩu từ nước ngoài
o Ai là người được lợi từ chính sách thương mại
o Sự khác nhau cơ bản giữa thuế nhập khẩu và quy định hạn ngạch trong cácchính sách của Chính phủ
Để trả lời các cây hỏi trên, các nhà kinh tế vận dụng các công cụ nhằm phân tích cáchthức vận hành của thị trường: Cung, cầu, cân bằng, thặng dư sản xuất, thặng dư tiêudùng… Và hiểu được ảnh hưởng của thương mại quốc tế đối với nền kinh tế
Thuế nhập khẩu: Các quốc gia nhập khẩu khi giá thị trường trong nước cao hơn thị
trường thế giới Đồ thi dưới đây minh hoạ giá và lượng nhập khẩu thép trong trườnghợp không có thuế nhập khẩu và có thuế nhập khẩu
Trong điều kiện thị trường tự do thương mại (nhập khẩu không chịu thuế), cácnhà xuất khẩu thép có giá thấp hơn giá thị trường nội địa Doanh nghiệp trongnước sẽ nhập khẩu lượng thép QD1 – QS1, cho đến khi giá thị trường nội địabằng với giá thị trường thế giới
Giá Nhập khẩu thép không thuế Nhập khẩu thép có thuế
Trang 25Như đồ thi trên minh hoạ giá thép nâng từ Pw lên PT , điều này đã làm hạn chếlượng thép nhập khẩu và làm giảm cung, hay đường cung sẽ dịch chuyển từ Swsang ST Trong trường hợp này các nhà kinh tế nhận thấy 2 ảnh hưởng từ thuế nhậpkhẩu:
o Thuế nhập khẩu làm tăng giá thép, điều này làm các nhà sản xuất trong nướctăng sản lượng thép từ QS1 lên QS2.
o Thuế nhập khẩu làm tăng giá đối với người mua trong nước Vì vậy, ngườitiêu dùng sẽ giảm lượng cầu từ QD1 xuống QD2
Quy định hạn ngạch:
Hạn ngạch : là mức giới hạn về nhập khẩu Cụ thể, chính phủ có thể phân phối
một số lượng giấy phép nhập khẩu Mỗi giấy phép cho phép nhà nhập khẩu nhậpmột số lượng nhất định từ thị trường nước ngoài
Đồ thị dưới đây cho thấy phân tích và ảnh hưởng của quy định hạn ngạch và thuếnhập khẩu thép có vẻ tương tự nhau Thực chất, các ảnh hưởng của hạn ngạch đốivới giá và lượng cung đến hành vi của các nhà sản xuất trong nước và nhập khẩu làgiống nhau
Giá Nhập khẩu thép không có quota Nhập khẩu thép có quota
Trang 26Cả thuế và hạn ngạch đều làm tăng giá hàng hoá trong nước, khuyến khích sản xuấtnội địa, hạn chế tiêu dùng Chỉ có sự khác nhau, đó là thuế làm tăng doanh thu thuếcủa Chính phủ Trong khi hạn ngạch làm tăng doanh thu cho người nắm giữa giấyphép nhập khẩu.
Trong thực tế, quy định hạn ngạch có thể gây ra các vấn đề tiềm năng, đó là cơ chếphân bổ hạn ngạch Mọi người đều hiểu rằng giấy phép sẽ không cấp cho một ai, tuỳthuộc vào chi phí Lobby
CHƯƠNG 3
LÝ THUYẾT LỰA CHỌN CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG
Trong chương trước chúng ta đã biết, đường cầu thể hiện mối quan hệ giữalượng cầu của một mặt hàng với giá cả của chính nó dưới dạng đồ thị Nhưng tại sao
đa số các đường cầu lại có dạng dốc xuống về bên phải? Tại sao độ co giãn của cầutheo giá đối với các loại hàng hoá khác nhau lại khác nhau? Chúng ta chỉ có thể trả lờicâu hỏi này khi nghiên cứu hành vi của mỗi cá nhân tiêu dùng Do ngân sách có hạntrong khi có nhiều nhu cầu cần thoả mãn, nên mỗi người đều phải suy nghĩ và cânnhắc để sử dụng ngân sách này sao cho có lợi nhất Nói một cách khác mỗi người phải
tìm cho mình một “phương án tiêu dùng tối ưu” hay phải tìm cách đạt tới “Cân bằng
tiêu dùng”.
Có nhiều cách tiếp cận để phân tích cân bằng tiêu dùng, ở đây chúng ta chỉ tìmhiểu 2 cách tiếp cận đó là:
o Phương pháp hình học (LT tân cổ điển)
A.- PHÂN TÍCH CÂN BẰNG TIÊU DÙNG BẰNG THUYẾT HỮU ÍCH :
Người tiêu dùng quyết định mua một loại hàng hoá, dịch vụ nào đó khi nó mang lại cho
họ một sự thoả mãn, tức một sự thích thú chủ quan nào đó Như vậy, hàng hoá hay dịch vụ đó
được mua vì nó có giá trị sử dụng nào đó, có nghĩa là nó “hữu ích “ với người tiêu dùng.
Thuyết hữu ích được nghiên cứu dựa trên 3 giả thiết như sau:
o Mức độ thoả mãn của người tiêu dùng có thể đo lường được (Lượng hoá được)
o Người tiêu dùng là con người kinh tế, có nghĩa là người biết tiêudùng hợp lý
o Các sản phẩm tiêu dùng có thể chia nhỏ được
I.- TỔNG HỮU ÍCH VÀ HỮU ÍCH BIÊN :
1.- Tổng hữu ích : (TU - Total utility ) là toàn bộ mức thỏa mãn đạt được của một
người khi tiêu dùng một số lượng sản phẩm hay dịch vụ nào đó trong một khoảng thời
Trang 27gian nhất định Mức độ thỏa mãn này cao hay thấp tuỳ thuộc vào số đơn vị sản phẩmhay dịch vụ này.
Tổng hữu ích là một hàm của số lượng sản phẩm tiêu dùng:
TU = F(Q).
Thường ban đầu khi số lượng sản phẩm tiêu dùng tăng thì tổng hữu ích cànglớn Nhưng đến một lúc nào đó, khi sản phẩm tiêu dùng tiếp tục tăng thì tổng hữu íchcũng chỉ đạt đến mức tối đa, có nghĩa là người tiêu dùng đã đạt đến trạng thái bão hoàđối với sản phẩm này, rồi sau đó tổng hữu ích không đổi hoặc giảm dần, tuỳ theotrường hợp cụ thể
2.- Hữu ích biên:
Hữu ích biên (MU – Marginal utility) là mức thoả mãn đạt được khi tiêu thụthêm hoặc bớt đi một đơn vị sản phẩm Hiểu theo một cách khác hữu ích biên chính là
sự lượng hoá sở thích của người tiêu dùng đối với một đơn vị sản phẩm
Như vậy : Mun = TU(n) – TU(n-1)= TU / Q
Trong đó :
o Mun là hữu ích biên của sản phẩm thứ n
o TU(n) là tổng hữu ích của n sản phẩm
o TU(n-1) là tổng hữu ích của n-1 sản phẩm
Một cách tổng quát, hữu ích biên được tính theo công thức:
Trang 28Mux Đường Hữu ích biên
3.- Quy luật hữu ích biên giảm dần :
Khi tổng số lượng sản phẩm tiêu dùng tăng, tổng hữu ích sẽ tăng nhưng vớinhịp độ chậm dần (hữu ích biên giảm dần) Tới một lúc nào đó, tổng hữu ích đạt tớimức tối đa (hữu ích biên bằng không) và sau đó giảm dần (hữu ích biên âm)
4.- Những ứng dụng của thuyết hữu ích:
Lý thuyết về hữu ích cho những ứng dụng sau:
a.- Sử dụng để giải thích hành vi tiêu dùng
Có thể bạn đã từng đặt ra câu hỏi: tại sao khi hàng hoá ít, người tiêu dùng sẵn sàngchấp nhận giá cao; tại sao khi hàng hoá nhiều, giá cả anh ta chấp nhận lại phải thấp?Hiện tượng này được giải thích như là hệ quả của quy luật hữu ích biên giảm dần Bảnthân các khái niệm về thuyết hữu ích, giá trị, trả giá hàng hoá đều mang yếu tố tâm lýchủ quan Khi hàng hoá hiếm, người tiêu dùng thấy thích thú hơn, đáng giá hơn khiđược tiêu dùng nó, anh ta chấp nhận trả giá cao Khi hàng hoá trở nên thừa thãi, anh tathấy mức độ thích thú giảm mạnh khi tiêu dùng, do vậy việc trả giá phải ở mức thấp.Cách giải thích này cho phép lý giải hiện tượng một chai nước trong điều kiện đangkhát ở sa mạc có thể đổi được cả một viên kim cương
b.- Giải thích hành vi lựa chọn mua hàng hoá của con người tiêu dùng trên nguyên tắc tối đa hoá độ thoả dụng.
c.- Giải thích đường cầu vì sao dốc xuống.
Đường cầu chính là biểu thị quan hệ giữa giá cả và lượng hàng hoá tiêu dùng Nếu taquy đổi giá cả thành mức hữu ích , ta sẽ có hệ quả là đường cầu trùng với đường hữuích biên Do hữu ích biên có quy luật giảm dần nên đường cầu cũng phải có quy luậtdốc xuống
II.- CÂN BẰNG TIÊU DÙNG:
1.- Mục đích & giới hạn ràng buộc:
Mục đích của người tiêu dùng là tối đa hoá thoả mãn Nhưng họ không thể tiêudùng tất cả hàng hoá, dịch vụ mà họ mong muốn đến mức bão hoà vì họ luôn bị giớihạn về khả năng ngân sách
Giới hạn ngân sách của người tiêu dùng bị giới hạn bởi thu nhập nhất định của
họ và giá cả của hàng hoá
Trang 29Thực tế, người tiêu dùng nào cũng phải chi tiêu cho nhiều loại hàng hoá khácnhau với túi tiền có hạn của mình Vậy mấu chốt của vấn đề ở chỗ là mỗi người sẽchọn cách thức tiêu dùng nào để với khoản thu nhập có hạn của mình mà có thể đápứng được nhiều nhu cầu khác nhau một cách tốt nhất Nói một cách khác người tiêudùng phải chọn được một cách thức tiêu dùng sao cho đạt tới mục tiêu tổng hữu íchtối đa trong giới hạn ràng buộc về ngân sách của mình.
Giả sử sinh viên A mỗi tháng có thể dành ra một số tiền nhất định cho nhu cầugiải trí của mình là xem ca nhạc hoặc xem đá bóng Anh ta phải cân nhắc nên xem canhạc bao nhiêu lần và xem bóng đá bao nhiêu lần trong số tiền giới hạn của mình đểtổng hữu dụng mang lại là tối đa
2.- Nguyên tắc tối đa hoá hữu dụng :
2.1.- Khi người tiêu dùng chỉ mua 1 loại hàng hoá.
Khi chỉ mua 1 loại hàng hoá mà người tiêu dùng không bị giới hạn bởi túi tiền, anh ta
có xu hướng tiêu dùng cho đến khi tổng hữu ích đạt tới mức lớn nhất TUmax
Thí dụ : Một người có nhiều tiền đi uống bia, anh ta sẽ uống cho đến khi nào anh tacòn thấy thỏa mãn và sẽ không uống khi không uống được nũa Khi đó anh ta đã đạtđến mức tổng hữu ích là cực đại TU max Điều kiện để TU max là khi MU = 0
Giả sử ngân sách của người tiêu dùng bị giới hạn, không cho phép mua lượng hànghóa Q = Q*, anh ta sẽ có xu hướng mua hết tiền trong túi
TU TU max
MU
Hàm TU = f (Q)
0 Q* Q
2.2.- Khi người tiêu dùng mua 2 loại hàng hoá.
Điều kiện ở đây là với 1 số tiền hạn chế, người tiêu dùng phải lựa chọn hai hàng hóakhác nhau có mức hữu ích biên khác nhau Trong thực tế điều này thường xuyên xảy
ra, thí dụ : Cá nhân A có thu nhập I = 7 đồng dùng để chi mua 2 sản phẩm X và Y
Vấn đề đặt ra là A cần mua bao nhiêu đồng cho sản phẩm X; bao nhiêu đồngcho sản phẩm Y để tổng hữu dụng của A đạt được là tối đa
Sở thích của A đối với 2 SP X,Y được thể hiện trong bảng sau :
Trang 30Ta so sánh chi tiêu hợp lý cho từng đồng :
Điều kiện cân bằng tiêu dùng :
Để tìm hiểu xem người tiêu dùng tiến hành lựa chọn phương án tiêu dùng theonguyên tắc nào, ta xét thí dụ sau:
Một người tiêu dùng có số tiền là 17.000 đồng trong 1 buổi tối dùng cho việcuống trà và ăn kem Biết giá tiền 1 cốc trà là 2.000đ và tiền 1 cây kem là 3.000 đ Tổng
Trang 31hữu ích của người này tăng lên theo số lần uống trà và ăn kem được thể hiện ở bảngsau:
Ta nhận thấy rằng: 1 đồng đầu tiên chi tiêu cho việc ăn kem sẽ có mức hữu ích
là 18/3 = 6 đvhi, trong khi 1 đồng đó nếu chi tiêu cho việc uống tra sẽ có mức hữu ích
là 10/2=5 Rõ ràng khi so sánh hai tỉ lệ này, người tiêu dùng sẽ thấy chi tiêu cho việc
ăn kem là hợp lý hơn Như vậy tỉ lệ MU/P sẽ được so sánh giữa các loại sản phẩmkhác nhau và sẽ là căn cứ để người tiêu dùng quyết định nên chi tiêu cho sản phẩmnào Do có MU/P cao nhất, một sản phẩm nào đó sẽ được chọn và sau đó MU của nó
sẽ nhỏ đi theo quy luật hữu ích biên giảm dần Nhờ vậy, tỉ lệ MU/P của sản phẩm sẽgần với tỉ lệ MU/P của các sản phẩm khác
Theo cách thức lựa chọn đã nêu, người này sẽ quyết định 3 lần ăn kem và 4 lầnuống trà, mức tổng hữu ích đạt được là 66 đvhi là mức tối đa ứng với số tiền hiện có,
và ta coi là đã đạt tới cân bằng tiêu dùng, tỷ lệ
P
MU
bằng nhau = 1,5
Khái quát lại ta sẽ có nguyên tắc sau:
o Người tiêu dùng luôn sử dụng tiền để mua hàng hóa nào có khả năng mang lạimức hữu ích biên trên 1 đơn vị tiền tệ là cao hơn
Trang 32o Điều kiện để cơ cấu hàng hóa đạt mức tối ưu là khi tiêu hết tiền thì mức hữu íchbiên trên 1 đồng chi phí ở 2 hàng hóa phải ngang bằng nhau
P
MU P
MU
2
2 1
2.3 Mở rộng trường hợp tổng quát:
Khi người tiêu dùng phải lựa chọn một cơ cấu gồm nhiều hàng hóa X1, X2…. Xn có giátương ứng là P1, P2…Pn và các mức hữu ích biên khác nhau là MU1, MU2… MUn Nhưvậy, điều kiện để đạt được cân bằng tiêu dùng là :
p
MU P
MU P
1
2
2 1
MU nếu các hàng hoá không thể chia nhỏ được
Trong đó :
I : Ngân sách của người tiêu dùng
X X
P P
Đây là nguyên tắc tổng quát để giải thích hành vi lựa chọn của người tiêu dùng
Kết luận: Qua phân tích hành vi lựa chọn của người tiêu dùng, có thể rút ra ba kết
B.- PHÂN TÍCH CÂN BẰNG TIÊU DÙNG BẰNG HÌNH HỌC :
Phân tích cân bằng tiêu dùng bằng phương pháp hình học được V Pareto sửdụng để phân tích các yếu tố quyết định hành vi tiêu dùng mà không cần sử dụngthuyết hữu ích
Khi dùng thuyết hữu ích để giải thích hành vi tiêu dùng, ta đã coi như sự thoảmãn, thích thú chủ quan của mỗi người là có thể định lượng được Điều này thật trừutượng, nhận thức được nhược điểm này của thuyết hữu ích nên các nhà kinh tế còndùng một phương pháp khác để phân tích cân bằng tiêu dùng Đó là phương pháp phântích bằng hình học, có liên quan đến một khái niệm mới : Đường đẳng ích
I.- ĐƯỜNG ĐẲNG ÍCH :
Đường đẳng ích (hay còn gọi là đường bàng quan) được xây dựng dựa vàonhững nghiên cứu về sở thích của người tiêu dùng chứ chưa quan tâm tới khả năng tàichính của họ
Trang 331.- Một số giả thiết về sở thích của người tiêu dùng
Người tiêu dùng có thể sắp xếp các tập hợp hàng hoá khác nhau theomức độ thoả mãn mà chúng mang lại cho mình
Người tiêu dùng thích nhiều hơn ít
Tỷ lệ thay thế biên giữa 2 hàng hoá giảm dần
Vì người tiêu dùng thích nhiều hơn ít nên nếu tăng số lượng một loại sản phẩmtiêu dùng lên trong khi vẫn giữ nguyên số lượng loại kia thì nhất định mức độ thoảmãn sẽ tăng lên Vì vậy, muốn giữ cho tổng hữu ích không đổi, khi tăng số lượng loạinày thì bắt buộc phải giảm số lượng loại kia
Tỷ lệ thay thế biên giữa 2 sản phẩm (MRS: Marginal rate of substitution)
còn gọi là tỷ lệ đánh đổi giữa 2 sản phẩm – được định nghĩa là số đơn vị sản phẩm loạinày phải giảm đi để tăng số sản phẩm loại kia lên 1 đơn vị mà không làm thay đổi tổnghữu ích
Thí dụ:: Một người có 5 phương án tiêu dùng A-B-C-D-E với mức hữu ích như nhau
TUA= TUB= TUC= TUD= TUE Khi biết số lượng sản phẩm tiêu dùng của mỗi phương
án, ta có thể tính được các giá trị MRS theo công thừc sau :
MRS
X (Quần áo)
Y (Thực phẩm)
1 sản phẩm X mà tổng hữu ích không đổi
Tại phương án B, sản phẩm Y đã ít đi (chỉ còn 8) và X đã nhiều hơn (lên 2).Nhu cầu về sản phẩm X không còn mạnh như trước nữa, nếu tiếp tục đánh đổi mà vẫngiữ nguyên mức thoả mãn của mình, người tiêu dùng lần này chỉ chấp nhận tỷ lệ 4 Ylấy 2X (2lấy1) chứ không còn là 5Y lấy 1X nữa Cũng với lý do như vậy mà khichuyển phương án D sang E, tỷ lệ đáng đổi được chấp nhận ở đây chỉ còn là 3 x lấy 1
Y bởi vì số sản phẩm Y được tiêu dùng bây giờ lại quá ít (2) trong khi X lại quá nhiều(7) Tỷ lệ thay thế biên còn có thể được thể hiện bằng tỷ số giữa 2 mức hữu ích biên:
MUx (X) + MUy (Y) = 0
- (Y/X) = MUx / MUy
MU
MU MRS
Trang 34Nếu ta biểu diễn các phương án tiêu dùng A,B ,C ,D, E trong thí dụ trên lêntrục toạ độ XOY, thì chúng sẽ năm trên cùng một đường đẳng ích
Sở thích của mỗi người tiêu dùng có thể được biểu diễn trên một hệ trục tọa độbằng một tập hợp những đường đẳng ích, ứng với các mức thoả mãn khác nhau.Đường đẳng ích càng xa toạ độ sẽ có mức thoả mãn càng cao
3.- Đặc điểm của đường đẳng ích :
• Đường đẳng ích dốc xuống về bên phải
• Đường đẳng ích có dạng lõm (lồi về phía gốc tọa độ) Tỷ lệ MRS đặc trưng cho
độ dốc của đường đẳng ích
• Các đường đẳng ích không bao giờ cắt nhau
Mỗi mức hữu ích được biểu diễn bằng một đường đẳng ích nhất định nên cácđường đẳng ích khác nhau sẽ phải thể hiện các mức hữu ích khác nhau và chúngkhông bao giờ cắt nhau Nếu có hai dường nào đó đã gặp nhau tại một điểm thìchúng sẽ phải trùng nhau hoàn toàn
Y Y
4.- Hai trường hợp đặc biệt của đường bàng quang:
Thay thế hoàn toàn.
Trang 35Khi 2 hàng hoá có thể thay thế hoàn hảo, các đường bàng quan là những đường thẳng.Đối với 1 người tiêu dùng, 2 hàng hoá này là hàng thay thế hoàn toàn vì anh ta hoàntoàn bàng quang trong việc lựa chọn uống 1 ly nước cam hay 1 ly nước táo.
Hàng hoá thay thế hoàn toàn có tỷ lệ thay thế cận biên là một số không đổi và có giátrị bằng 1
Y1
Y2
Y2 Y1
X1 X2 X1 X2
Thay thế hoàn toàn Bổ sung hoàn toàn
Bổ sung hoàn toàn.
Khi 2 hai hoá là bổ sung hoàn toàn, các đường bàng quang là những đường có hìnhdạng chữ L hành hoá bổ sung hoàn toàn có tỷ lệ thay thế cận biên bằng 0 Thí dụ
chiếc giày trái và giày phải
II.- ĐƯỜNG NGÂN SÁCH :
Khả năng mua sắm của một người phụ thuộc vào 2 yếu tố: thu nhập của bảnthân người đó và giá cả của các loại hàng hoá trên thị trường Nếu người mua tiêudùng 2 loại hàng hoá khác nhau Y và X , sự ràng buộc về ngân sách có thể được biểudiễn bằng biểu thức sau :
Với I : Là thu nhập của người tiêu dùng (ngân sách tiêu dùng)
Px : Là giá của 1 đơn vị sản phẩm X
Py : Là giá của 1 đơn vị sản phẩm Y
X : Là số lượng sản phẩm X được tiêu dùng
Y : Là số lượng sản phẩm Y được tiêu dùng
P
P
X Y
X I
Biểu diễn phương trình này lên trục tọa độ XOY, ta được đồ thị đường ngân sách
1.- Định nghĩa đường ngân sách :
P
P
X Y
X I
Từ phương trình trên ta có thể hình dung đường ngân sách là một đường thẳngdốc xuống về bên phải , cắt trục tung tại điểm (o,I/Py) và cắt trục hoành tại điểm(I/Px, o) và có hệ số gốc tgα = Px/Py
Y
I/Py
Trang 36α
I/Px X
Đường ngân sách hay còn gọi là đường giới hạn tiêu dùng là đường biểu diễntất cả những phối hợp tối đa giữa 2 sản phẩm Y và X mà người tiêu dùng có thể muađược với nguồn ngân sách tiêu dùng và mức giá nhất định
2.- Sự thay đổi đường ngân sách :
Đường ngân sách được thiết lập khi có một mức thu nhập của người tiêu dùng
và 2 mức giá nhất định của 2 sản phẩm Y và X Vì vậy phương trình đường biểu diễnđường này sẽ thay đổi và đồ thi của nó sẽ dịch chuyển khi có ít nhất 1 trong 3 yếu tốtrên thay đổi
Nếu giá các mặt hàng không đổi mà thu nhập thay đổi , đường ngân sách sẽ tịnhtiến song song với dường ngân sách ban đầu
Nếu thu nhập không đổi mà một trong 2 giá của 2 sản phẩm thay đổi sẽ có 2trường hợp :
o Giá sản phẩm Y cố định của sản phẩm X thay đổi hoặc ngược lại
o Giá sản phẩm X và sản phẩm Y cùng thay đổi
Y Y Y
I/Py I/Py1
I/Py2
X X X
I/Px1 I/Px2 I/Px1 I/Px2
III._ CÂN BẰNG TIÊU DÙNG :
Khi nghiên cứu về đường đẳng ích, chúng ta chỉ quan tâm tới việc các hàng hoáthoả mãn sở thích của người tiêu dùng như thế nào chứ chưa xét tới việc người tiêudùng ấy có khả năng mua những hàng hoá đó hay không Ngườc lại khi xét về đườngngân sách chúng ta chỉ nghiên cứu những tập hợp hàng hoá mà người tiêu dùng có thểmua với túi tiền của mình mà không biết chúng mang lại hữu ích là bao nhiêu
Theo quan điểm thông thường, một người tiêu dùng hợp lý sẽ phải tìm cách đểđạt tới mức thoả mãn tối đa trong điều kiện ràng buộc về ngân sách của mình Vì thếcần phải phối hợp đường ngân sách và đường đẳng ích trên cùng một đồ thị để tìm rađiểm cân bằng tiêu dùng này
Y
A
0
I1
Trang 37Py nhất định
Vì tại điểm này đường ngân sách là đường tiếp tuyến của đường đẳng ích nên
độ dốc của 2 đường bằng nhau Độ dốc của đường bàng quan là tỷ lệ thay thế cậnbiên, còn độ dốc đường ngân sách là gia tương đối của hai hàng hóa mà tại đó thịtrường sẵn sàng đổi hàng hóa này lấy hàng hóa khác Vậy điểm tối ưu chính là đánhgiá của người tiêu dùng về hai hàng hóa ( tính bằng tỷ lệ thay thế cận biên) bằng vớiđánh giá của thị trường (tính bằng giá tương đối)
MRS XY = tgα
Y
X Y
x
P
P MU
Y X
X
P
MU P
MU P
MU
Trang 38cứ sự thua lỗ nào trong kinh doanh.
Luật về tổ chức và thành lập doanh nghiệp ở Việt Nam hiện có Luật Doanhnghiệp Luật doanh nghiệp Nhà nước, Luật Hợp tác xã, Luật các tổ chức tín dụng …Theo đó, Doanh nghiệp được tổ chức theo nhiều loại hình khác nhau Mỗi loại hìnhdoanh nghiệp có đặc trưng và từ đó tạo nên những hạn chế hay lợi thế của doanhnghiệp
Vì vậy, việc lựa chọn hình thức doanh nghiệp trước khi bắt đầu công việc kinhdoanh là rất quan trọng, nó có ảnh hưởng không nhỏ tới sự tồn tại và phát triển củadoanh nghiệp
2.- Phân loại doanh nghiệp.
2.1.- Doanh nghiệp tư nhân
Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu tráchnhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp Chủ sở hữuduy nhất của doanh nghiệp tư nhân là một cá nhân Doanh nghiệp tư nhân không có tưcách pháp nhân
Chủ doanh nghiệp tư nhân là đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp Chủdoanh nghiệp tư nhân có toàn quyền quyết định đối với tất cả hoạt động kinh doanhcủa doanh nghiệp; có toàn quyền quyết định việc sử dụng lợi nhuận sau khi đã nộpthuế và thực hiện các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật Chủ doanhnghiệp tư nhân có thể trực tiếp hoặc thuê người khác quản lý, điều hành hoạt độngkinh doanh Trường hợp thuê người khác làm giám đốc quản lý doanh nghiệp, thì Chủ
Trang 39doanh nghiệp tư nhân vẫn phải chịu trách nhiệm về mọi hoạt động kinh doanh củadoanh nghiệp.
Do là chủ sở hữu duy nhất của doanh nghiệp nên doanh nghiệp tư nhân hoàntoàn chủ động trong việc giải quyết các vấn đề liên quan đến hoạt động kinh doanh củadoanh nghiệp Chế độ trách nhiệm vô hạn của Chủ doanh nghiệp tư nhân tạo sự tintưởng cho đối tác, khách hàng và giúp cho doanh nghiệp ít chịu sự ràng buộc chặt chẽbởi pháp luật như các loại hình doanh nghiệp khác Tuy nhiên Do không có tư cáchpháp nhân và tính chịu trách nhiệm vô hạn và tài sản nên mức độ rủi ro của Chủ doanhnghiệp tư nhân cao, Chủ doanh nghiệp tư nhân phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tàisản của doanh nghiệp và của chủ doanh nghiệp chứ không giới hạn số vốn mà chủdoanh nghiệp đã đầu tư vào doanh nghiệp
2.2 Công ty hợp danh.
Công ty hợp danh là doanh nghiệp, trong đó :
• Phải có ít nhất hai thành viên hợp danh; ngoài các thành viên hợp danh, có thể
có thành viên góp vốn;
• Thành viên hợp danh phải là cá nhân, có trình độ chuyên môn và uy tín nghềnghiệp và phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụcủa công ty;
• Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trongphạm vi số vốn đã góp vào công ty Công ty hợp danh có tư cách pháp nhân kể
từ ngày được cấp đăng ký kinh doanh và không được phát hành bất kỳ loạichứng khoán nào để huy động vốn
Thành viên hợp danh có quyền quản lý công ty; tiến hành các hoạt động kinhdoanh nhân danh công ty; cùng liên đới chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ của công ty.Thành viên góp vốn có quyền được chia lợi nhuận theo tỷ lệ được quy định tạiĐiều lệ Công ty; không được tham gia quản lý công ty và hoạt động kinhdoanh nhân danh công ty Các thành viên hợp danh có quyền ngang nhau khi quyếtđịnh các vấn đề quản lý công ty
Ưu điểm của Công ty hợp danh là kết hợp được uy tín cá nhân của nhiều người
Do chế độ liên đới chịu trách nhiệm vô hạn của các thành viên hợp danh mà công tyhợp danh dễ dàng tạo được sự tin cậy của các bạn hàng, đối tác kinh doanh Việc điềuhành quản lý công ty không quá phức tạp do số lượng các thành viên ít và nhữngngười có uy tín, tuyệt đối tin tưởng nhau Hạn chế của Công ty hợp doanh là do chế độliên đới chịu trách nhiệm vô hạn nên mức độ rủi ro của các thành viên hợp danh là rấtcao
Loại hình Công ty hợp danh mới chỉ được quy định trong Luật doanh nghiệpnăm 1999 nên trên thực tế loại hình doanh nghiệp này chưa phổ biến
2.3.- Công ty trách nhiệm hữu hạn có hai thành viên trở lên.
Công ty trách nhiệm hữu hạn có hai thành viên trở lên là doanh nghiệp trong đóthành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanhnghiệp trong phạm vi số vốn đã cam kết góp vào doanh nghiệp Thành viên của công
ty có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng thành viên tối thiểu là hai và tối đa không vượt
quá năm mươi Công ty trách nhiệm hữu hạn có tư cách pháp nhân kể từ ngày được
cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh Tuy nhiên, Công ty trách nhiệm hữu hạnkhông được quyền phát hành cổ phiếu để huy động vốn
Trang 40Công ty trách nhiệm hữu hạn có từ hai thành viên trở lên phải có Hội đồngthành viên, Chủ tịch Hội đồng thành viên, Giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn cótrên mười một thành viên phải có Ban kiểm soát.
Công ty trách nhiệm hữu hạn là loại hình doanh nghiệp phổ biến nhất ở ViệtNam hiện nay Hoạt động kinh doanh dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn đemlại cho nhà đầu tư nhiều lợi thế như :
• Do có tư cách pháp nhân nên các thành viên công ty chỉ chịu trách nhiệm về cáchoạt động của công ty trong phạm vi số vốn góp vào công ty nên ít gây rủi rocho người góp vốn;
• Số lượng thành viên công ty không nhiều và các thành viên thường là ngườiquen biết, tin cậy nhau, nên việc quàn lý, điều hành công ty không quá phứctạp;
• Chế độ chuyển nhượng vốn được điều chỉnh chặt chẽ nên nhà đầu tư dễ dàngkiểm soát được việc thay đổi các thành viên, hạn chế sự thâm nhập của người lạvào công ty
Tuy nhiên, hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn cũng có những hạn chế nhất địnhnhư :
• Do chế độ trách nhiệm hữu hạn nên uy tín của công ty trước đối tác, bạn hàngcũng phần nào bị ảnh hưởng;
• Công ty trách nhiệm hữu hạn chịu sự điều chỉnh chặt chẽ của pháp luật hơn làdoanh nghiệp tư nhân hay công ty hợp danh;
• Việc huy động vốn của công ty trách nhiệm hữu hạn bị hạn chế do không cóquyền phát hành cổ phiếu
2.4.- Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên.
Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là một hình thức đặc biệt củaCông ty trách nhiệm hữu hạn Theo quy định của pháp luật Việt Nam, công ty tráchnhiệm hữu hạn một thành viên là doanh nghiệp do một tổ chức hoặc một cá nhân làmchủ sở hữu; chủ sở hữu chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản kháccủa doanh nghiệp trong phạm vi số vốn điều lệ của doanh nghiệp
Chủ sở hữu công ty có quyền chuyển nhượng toàn bộ hoặc một phần vốn điều
lệ của công ty cho tổ chức, cá nhân khác Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên
có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh Công
ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên không được quyền phát hành cổ phiếu vàkhông được giảm vốn điều lệ
Chủ sở hữu công ty không được trực tiếp rút một phần hoặc toàn bộ số vốn đãgóp vào công ty Chủ sở hữu công ty chỉ được quyền rút vốn bằng cách chuyểnnhượng một phần hoặc toàn bộ số vốn cho tổ chức hoặc cá nhân khác Chủ sở hữucông ty không được rút lợi nhuận của công ty khi không thanh toán đủ các khoản nợ
và các nghĩa vụ tài sản khác đến hạn phải trả
Tùy thuộc quy mô và ngành, nghề kinh doanh, cơ cấu tổ chức quản lý nội bộcủa Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên bao gồm : Hội đồng quản trị và Giámđốc hoặc Chủ tịch công ty và Giám đốc
Nhìn chung, Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên có đầy đủ các đặc thùcủa Công ty trách nhiệm hữu hạn có ít nhất hai thành viên trở lên Điểm khác biệt duynhất giữa Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên và Công ty trách nhiệm hữuhạn có ít nhất hai thành viên trở lên là Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên chỉ
có một thành viên duy nhất và thành viên này có thể là tổ chức hoặc cá nhân