1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bài giảng dư LUẬN xã hội

73 316 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 2,47 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Paderin B.K Падерин: “Dư luận xã hội là tổng thể các ý kiến, trong đó chủ yếu là các ý kiến thể hiện sự phán xét đánh giá, sự nhận định bằng lời hoặc không bằng lời, phản ánh ý nghĩa của

Trang 1

NỘI DUNG Trang

Chương 2: QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ CHỨC NĂNG CỦA

DƯ LUẬN XÃ HỘI

17

2.1.1 Các giai đoạn trong quá trình hình thành của dư luận xã hội 192.1.2 Các yếu tố tác động đến quá trình hình thành dư luận xã hội 22

2.2 Cơ sở nhận thức và cơ sở xã hội của dư luận xã hội 29

Chương 3: TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG ĐIỀU TRA,

NGHIÊN CỨU DƯ LUẬN XÃ HỘI

42

3.1 Vai trò, nhiệm vụ của công tác điều tra, nghiên cứu luận xã hội 423.1.1 Vai trò của công tác nghiên cứu, nắm bắt dư luận xã hội 423.1.2 Nhiệm vụ của công tác nghiên cứu, nắm bắt dư luận xã hội 43

3.2 Phương pháp điều tra, nghiên cứu dư luận xã hội 453.2.1 Quy trình của công tác điều tra, nghiên cứu dư luận xã hội 453.2.2 Các phương pháp điều tra, nghiên cứu DLXH chủ yếu 47

3.3 Ý nghĩa của việc nghiên cứu, nắm bắt dư luận xã hội 553.3.1 Mở rộng và phát huy quyền làm chủ của quần chúng nhân dân 553.3.2 Tăng cường mối quan hệ giữa quần chúng nhân dân với các cơ

quan Đảng, Nhà nước và các tổ chức xã hội

553.3.3 Góp phần hoàn thiện công tác lãnh đạo, quản lý quản lý xã hội 56

Trang 2

trên cơ sở khoa học

3.4 Khái quát về hoạt động nghiên cứu dư luận xã hội 563.4.1 Một số quan điểm tiêu biểu về Dư luận xã hội 56

Trang 3

Dư luận xã hội (hay công luận) là một hiện tượng xã hội đặc biệt biểu thịthái độ phán xét, đánh giá của quần chúng đối với các vấn đề mà họ quan tâm.

Dư luận xã hội đã xuất hiện và tồn tại từ lâu trong lịch sử; nó trưởng thànhcùng với bản thân xã hội loài người

Thuật ngữ “Dư luận xã hội” xuất hiện trong nhiều ngôn ngữ khác nhau,

chẳng hạn: trong tiếng Nga là “Oбщеcтвенное мнение” (Oбщеcтвенное = công

cộng, tập thể, xã hội; мнение = ý kiến, kiến giải, dư luận); trong tiếng Anh là

“Public opinion”, (Opinion = ý kiến, Public = Cộng đồng) Ở Việt Nam thuật ngữ

này được diễn dịch với nhiều hàm nghĩa như: ý kiến cộng đồng, ý kiến công chúng,

ý kiến quần chúng hay ý kiến công luận

Các nhà nghiên cứu lịch sử phát triển xã hội học dư luận xã hội cho rằng:Jonxonberi (nhà hoạt động xã hội người Anh) là người đầu tiên sử dụng thuật ngữnày vào năm 1159, nhưng phải đến thế kỷ 18, thuật ngữ này được mọi người công

nhận Giăng Giắc Rut-xô (Jean Jacques Rousseau, 1712 – 1778) là người sử dụng

phổ biến với nghĩa hiện đại của thuật ngữ này trong các công trình khoa học của

mình, nhất là trong tác phẩm “Khế ước xã hội” Hiện nay thuật ngữ này đã được sử

dụng rộng rãi trong công tác nghiên cứu khoa học, cũng như trong đời sống hàngngày

Dư luận xã hội là hiện tượng tâm lí bắt nguồn từ một nhóm người, biểu hiện bằng những phán đoán, bình luận về một vấn đề nào đó kèm theo thái độ cảm xúc

và sự đánh giá nhất định, được truyền từ người này tới người kia, nhóm này sang nhóm khác Nó có thể được truyền đi một cách tự phát hoặc được tạo ra một cách

cố ý Nếu được lan truyền rộng rãi và lặp lại thì trở thành dư luận xã hội.

Dư luận có mặt tích cực và tiêu cực, dựa vào các nguồn tin mà từ đó nó hìnhthành Nếu nó hình thành dựa vào nguồn tin xác thực thì sẽ trở thành thông tin hữuích khi nói lên những gì mà mọi người nghĩ về sự việc đó, còn nếu hình thành khikhông có căn cứ hoặc dựa vào nguồn thông tin không rõ ràng thì cho dù là cố ý hay

vô ý nó có thể tạo tin đồn nhảm và có thể bị sử dụng cho một mục đích nào đó Dưluận đôi khi có thể xâm phạm rất mạnh vào quyền riêng tư của cá nhân cho dù làđúng hay không

Về mặt bản chất, dư luận xã hội là một hiện tượng thuộc lĩnh vực tinh thần của

xã hội, là một hình thức biểu hiện trạng thái ý thức xã hội một cách toàn vẹn, baoquát cả trí tuệ, cảm xúc và ý chí Khác với triết học, đạo đức, ý thức chính trị,…chỉphản ánh một khía cạnh nào đó của ý thức xã hội; dư luận xã hội thể hiện tính chất

Trang 4

tổng hợp của ý thức xã hội trong một thời gian nhất định, bao gồm cả hệ ý thức tâm

lý xã hội Mặt khác, dư luận xã hội tuy là một hiện tượng tinh thần của xã hội nhưnglại gắn chặt với hoạt động thực tiễn của xã hội như một cầu nối giữa ý thức xã hội

và hành động xã hội Khi dư luận xã hội hình thành, cộng đồng xã hội đi từ phầnđánh giá chung, kiến nghị chung tới lập trường hành động và tùy theo điều kiện màchuyển hóa từ lời nói đến hành động, thúc đẩy quyết định hành động thực tiễn Điềunày thể hiện rõ trong các cuộc trưng cầu ý kiến nhân dân về các chủ trương chínhsách, về các dự án pháp luật, trong các phong trào xã hội của nhân dân

Dư luận xã hội không tồn tại độc lập với các trạng thái ý thức xã hội khác nhưchính trị, tôn giáo, khoa học, nghệ thuật…mà xuyên suốt trong các dạng ý thức xãhội đó Dư luận xã hội không phải là chính trị, nhưng nó có mặt và hoạt động tíchcực trong hành vi, ý thức chính trị của từng cá nhân

Dư luận xã hội không phải là khoa học, nhưng trong rất nhiều trường hợp dưluận xã hội đã lên tiếng về những vấn đề khoa học như: vấn đề biến đổi khí hậu, vấn

đề đa dạng sinh học, vấn đề nhân bản vô tính con người…

1.1.2 Định nghĩa về dư luận xã hội

Mặc dù khái niệm dư luận xã hội đã được sử dụng phổ biến, rộng rãi từlâu, song giữa các nhà khoa học không hẳn có nhận thức giống nhau về nội hàmcủa khái niệm này Do đó, trong thực tế đã và đang tồn tại những định nghĩakhác nhau về dư luận xã hội

- Định nghĩa của các nhà triết học cổ đại:

+ Socrat: “Ý kiến là cái gì đó nằm giữa sự mù quáng và tri thức”

+ E Kant: “Ý kiến nằm ở cấp độ thấp hơn so với kiến thức và niềm tin”

- Định nghĩa của đa số các nhà nghiên cứu dư luận xã hội ở Liên xô (cũ):

“Dư luận xã hội là sự phán xét, đánh giá của các giai cấp, tầng lớp, cộng đồng xã hội đối với các vấn đề mà họ quan tâm”

Ví dụ như định nghĩa của B K Paderin (B.K Падерин): “Dư luận xã hội là tổng thể các ý kiến, trong đó chủ yếu là các ý kiến thể hiện sự phán xét đánh giá, sự nhận định (bằng lời hoặc không bằng lời), phản ánh ý nghĩa của các thực tế, quá trình, hiện tượng, sự kiện đối với các tập thể, giai cấp, xã hội nói chung và thái độ công khai hoặc che đậy của các nhóm xã hội lớn, nhỏ đối với các vấn đề của cuộc sống xã hội có động chạm đến các lợi ích chung của họ”.

- Định nghĩa của các nhà khoa học Mỹ:

Trang 5

+ Young (1923): “Công luận là sự phán xét đánh giá của các cộng đồng xã hội đối với các vấn đề có tầm quan trọng, được hình thành sau khi có sự tranh luận công khai”

+ Warner (1939): “Công luận là kết quả tổng hợp các ý kiến trả lời của mọi người đối với các câu hỏi nhất định, dưới điều kiện của cuộc phỏng vấn”

+ Childs (1956): : “Công luận là các tập hợp ý kiến cá nhân ở bất kỳ nơi đâu

mà chúng ta có thể tìm được”

+ MacKinon: “Dư luận xã hội có thể được xem là tình cảm về bất kì chủ đề gì

mà được những người có nhiều thông tin nhất, trí tuệ nhất và đạo đức nhất của cộng đồng ấp ủ - Dư luận xã hội là ý kiến của nhóm có đủ thông tin”.

+ Folson: “Dư luận xã hội là ý kiến chỉ của nhóm thứ cấp”…

Từ các định nghĩa trên, có thể rút ra rằng: Dư luận xã hội là ý kiến còn lại sau quá trình thảo luận, trao đổi trong xã hội (là kết quả của quá trình thảo luận xã hội)

- Định nghĩa về dư luận xã hội ở Việt Nam:

Trên cơ sở lý luận về dư luận xã hội trong các công trình khảo cứu của giớikhoa học thế giới, kết hợp với thực tiễn của đất nước, các nhà khoa học Việt Namtrong các công trình nghiên cứu của mình đều cố gắng đưa ra những định nghĩariêng về dư luận xã hội, chẳng hạn:

+ Từ điển Xã hội học: Dư luận xã hội là tập hợp các ý kiến của người dân về các chủ đề của mối quan tâm cộng cộng.

+ Chung Á -Nguyễn Đình Tấn và nhiều nhà xã hội học khác: Dư luận xã hội

là một hiện tượng xã hội đặc biệt biểu thị phán xét, đánh giá và thái độ của các nhóm XH đối với những vấn đề liên quan đến lợi ích của các nhóm trong xã hội; DLXH được hình thành qua các cuộc trao đổi, thảo luận.

+ Phạm Chiến Khu (Viện nghiên cứu DLXH): Dư luận xã hội là tập hợp các luồng ý kiến cá nhân trước các vấn đề, sự kiện, hiện tượng có tính thời sự, có liên quan đến lợi ích, các mối quan tâm của công chúng

Khi đưa ra định nghĩa này, tác giả đã lưu ý cần quan tâm đến các nội hàm củađịnh nghĩa như: 1) Mỗi luồng ý kiến là một tập hợp các ý kiến cá nhân giống nhau;2) Dư luận xã hội có thể bao gồm nhiều luồng ý kiến khác nhau, thậm chí đối lậpnhau; 3) Luồng ý kiến có thể rộng (tuyệt đại đa số, đa số, nhiều ý kiến) hoặc hẹp(một số ý kiến); 4) Dư luận xã hội là tập hợp các ý kiến cá nhân, tự phát, chứ không

Trang 6

phải là ý kiến của một tổ chức, được hình thành theo con đường tổ chức (hội nghị,hội thảo…); 5) Dư luận xã hội không phải là một phép cộng các ý kiến cá nhân, tựphát mà là một chỉnh thể tinh thần xã hội, thể hiện nhận thức, tình cảm, ý chí củacác lực lượng xã hội nhất định; 6) Chỉ có những sự kiện, hiện tượng, vấn đề xã hội

có tính thời sự, liên quan đến lợi ích, các mối quan tâm hiện có của nhiều người mới

có khả năng tạo ra dư luận xã hội

1.1.3 Đối tượng(khách thể), chủ thể của dư luận xã hội

- Đối tượng (khách thể) của dư luận xã hội

Dư luận xã hội chỉ nảy sinh khi xuất hiện những vấn đề có ý nghĩa xã hộiđụng chạm đến lợi ích chung của cộng đồng, có tầm quan trọng và tính cấpbách đòi hỏi có ý kiến phán xét, đánh giá phương hướng giải quyết; đó có thể làmột vấn đề chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục hay đạo đức… Đốitượng của dư luận xã hội các sự kiện, hiện tượng, quá trình đang diễn ra trong xãhội gây được sự quan tâm của mọi người bởi mối quan hệ của chúng đến lợi ích củanhóm xã hội đó Song không phải tất cả mọi sự kiện, hiện tượng diễn ra đều trởthành đối tượng của dư luân xã hội mà chỉ có những sự kiện, hiện tượng có đủ cácđiều kiện sau mới được coi là đối tượng của dư luận xã hội:

1) Các sự kiện, hiện tượng xã hội đang diễn ra phải được xem xét trong mốiquan hệ mật thiết với lợi ích của các nhóm khác nhau Đó là những lợi ích vật chấtliên quan chặt chẽ đến hoạt động kinh tế và sự ổn định cuộc sống của đông đảongười dân (như: các chủ trương chính sách của Đảng – Nhà nước về miễn giảmthuế nông nghiệp, về cải cách chế độ tiền lương, giá cả các mặt hàng nhu yếu phẩm,giáo dục, y tế… Hay những lợi ích tinh thần được đề cập đến khi các vấn đề diễn rađụng chạm đến hệ thống giá trị, chuẩn mực, các phong tục tập quán, khuôn mẫuhành vi và ứng xử văn hoá của nhóm xã hội, của cộng đồng Lợi ích là điều kiệncần để thúc đẩy tạo ra dư luận xã hội, còn điều kiện đủ ở đây chính là nhận thức củacộng đồng, nhóm xã hội về lợi ích của mình trong mối quan hệ với sự kiện, hiệntượng đang diễn ra

2) Đối tượng của dư luận xã hội phải là các vấn đề mang tính chất công chúng

và được thông tin một cách rộng rãi cho người dân thông qua các con đường chínhthức và công khai Các con đường chính thức là các kênh thông tin của Nhà nước,chính quyền, các đoàn thể có trách nhiệm liên quan đến vấn đề và qua các kênhthông tin đại chúng Trong xã hội hiện đại các kênh thông tin đại chúng đặc biệt có

Trang 7

ý nghĩa trong việc góp phần hình thành dư luận xã hội Chính vì vậy nơi nào có mật

độ tập trung cao các phương tiện thông tin đại chúng thì nơi đó dư luận xã hội cóđiều kiện hình thành và phát triển tốt hơn

Khi bàn về đối tượng của dư luận xã hội, đa số các nhà nghiên cứu cho rằng

đó là các hiện tượng, sự kiện, quá trình xã hội có tính thời sự, cập nhật trình độ hiểubiết của công chúng, có liên quan đến lợi ích, mối quan tâm của công chúng Ví dụ:Những vấn đề khoa học trừu tượng liên quan đến tương lai xa xôi của loài người sẽkhó trở thành đối tượng phán xét của dư luận xã hội, trong khi đó những vấn đề cụthể, dễ hiểu có liên quan trực tiếp đến lợi ích của công chúng, được công chúng rấtquan tâm như vấn đề giá cả, thiên tai, lũ lụt, vệ sinh môi trường luôn luôn là đốitượng phán xét của dư luận xã hội

- Chủ thể của dư luận xã hội

Chủ thể của dư luận xã hội chính là cộng đồng người hay nhóm người mang

dư luận xã hội Dư luận xã hội bao gồm mọi luồng ý kiến, luồng ý kiến của đa sốcũng như của thiểu số Trong xã hội ở mỗi thời điểm nhất định sẽ có sự tồn tại củanhiều dư luận xã hội thuộc các cộng đồng lớn nhỏ Chủ thể của dư luận xã hội cóthể là tập hợp những người thuộc các giai cấp, tầng lớp khác nhau, thậm chí đối lậpnhau về lợi ích Mặc dù dư luận xã hội được hình thành trên cơ sở ý kiến của các cánhân, nhưng nó không phải là một tập hợp cơ học của các ý kiến cá nhân hay kếtquả trung bình cộng của các ý kiến cá nhân Cá nhân trả lời các câu hỏi trong trưngcầu ý kiến, trong điều tra dư luận xã hội chỉ là người mang dư luận xã hội

Xung quanh vấn đề chủ thể của dư luận xã hội, giữa các nhà nghiên cứu đangcòn những điểm chưa thống nhất, đó là:

1) Chỉ có ý kiến của đa số mới được coi là dư luận xã hội (quan điểm này chủyếu phổ biến ở các nước thuộc Liên xô cũ)

2) Tất cả ý kiến của các nhóm xã hội không phân biệt đa số hay thiểu số đều là

dư luận xã hội (đây là quan điểm phổ biến trong các nước tư bản chủ nghĩa)

Ở nước Nga hiện nay, quan điểm coi dư luận xã hội chỉ là ý kiến của đa sốcũng không còn đứng vững được trước sự phê phán gay gắt kể cả từ dưới góc độngôn ngữ, lý luận cũng như dưới góc độ thực tiễn

Về mặt ngôn ngữ, không có cơ sở để nói rằng dư luận xã hội là ý kiến của đa

số Thuật ngữ “xã hội” không đồng nhất với thuật ngữ “đa số” Không ai cho rằng

đã gọi là tổ chức xã hội thì phải là tổ chức của đa số; đã gọi là chính sách xã hội thìphải là chính sách đối với đa số

Trang 8

Về mặt lý luận, cũng không có cơ sở nào để coi trọng dư luận của đa số hơn dư

luận của thiểu số, đến mức phải loại bỏ dư luận của thiểu số ra khỏi phạm trù “dưluận xã hội” Ví dụ dưới góc độ về khả năng phản ánh chân lý, dư luận của đa sốkhông phải khi nào cũng đúng, dư luận của thiểu số, không nhất thiết khi nào cũngsai Thực tế cho thấy, trước các vấn đề mới, dư luận của thiểu số, nhiều khi, đúnghơn dư luận của đa số Giữa dư luận của đa số và dư luận của thiểu số cũng không

có một hàng rào ngăn cách không thể vượt qua được Dư luận ngày hôm nay làthiểu số, ngày mai có thể trở thành đa số hoặc ngược lại, dư luận ngày hôm nay là

đa số, ngày mai có thể chỉ còn là thiểu số

Về mặt thực tiễn, quan điểm coi dư luận xã hội chỉ là ý kiến của đa số lại càng

không thể chấp nhận được Chúng ta đang phát triển nền kinh tế thị trường địnhhướng XHCN và thực hiện chủ trương “Đại đoàn kết toàn dân tộc” Tiếng nói củamọi thành phần kinh tế, mọi tầng lớp, nhóm xã hội đều cần được coi trọng cho dùthành phần kinh tế, tầng lớp, nhóm xã hội đó chỉ là thiểu số trong xã hội Mặt khác,nếu dư luận xã hội chỉ là ý kiến của đa số không thôi, thì cần gì phải thành lập các

cơ quan làm công tác nắm bắt dư luận xã hội bởi vì ý kiến của đa số là cái mà ngườidân bình thường cũng có thể dễ dàng nắm được, huống hồ là lãnh đạo Báo cáo tìnhhình dư luận xã hội của một số địa phương chưa được lãnh đạo coi trọng, có phầnchính là do mới chỉ phản ánh được ý kiến của đa số Những báo cáo phiến diện,không phản ánh được đầy đủ các luồng ý kiến khác nhau trong xã hội trước một vấn

đề, sự kiện, hiện tượng nào đó, không những ít có giá trị cho sự chỉ đạo của các cấp

uỷ đảng, chính quyền, ngược lại, có khi còn có hại, nhất là trong trường hợp vấn đề,

sự kiện, hiện tượng là cái mới, bởi lẽ, đối với cái mới, dư luận của đa số lúc đầuthường không đúng, thường có tính “bảo thủ”

Dư luận xã hội không phải là lời nói suông của công chúng mà là một sứcmạnh to lớn Sự ủng hộ của dư luận xã hội đối với một chủ trương nào đó của chínhquyền có thể sẽ chuyển hoá thành các phong trào thi đua sôi nổi, thực hiện thắng lợichủ trương đó Những tâm tư, thắc mắc của quần chúng, thể hiện qua dư luận, nếukhông được quan tâm giải quyết có thể chuyển hoá thành các cuộc “phản ứng tậpthể” hoặc dưới các hình thức rất phức tạp khác Dư luận xã hội không chỉ là cácphát ngôn thể hiện sự phán xét đánh giá mà còn là các phát ngôn thể hiện tâm tư,nguyện vọng, đề xuất, kiến nghị, lời khuyên can của công chúng

Dư luận xã hội không phải là các kết luận khoa học nhưng ít nhiều đều có khảnăng phản ánh chân lý, lẽ phải Dư luận xã hội có thể đúng nhiều, đúng ít Dù có

Trang 9

đúng đến mấy thì dư luận xã hội vẫn có những hạn chế, không nên tuyệt đối hoákhả năng nhận thức của dư luận xã hội Dù có sai đến mấy, trong dư luận xã hộicũng có những hạt nhân hợp lý, không thể coi thường, bỏ qua Chân lý của dư luận

xã hội không phụ thuộc vào tính chất phổ biến của nó Không phải lúc nào dư luậncủa đa số cũng đúng, dư luận của thiểu số cũng sai

Không nên coi dư luận xã hội là một dạng thức ý kiến tập thể, có tính tổ chức,bởi vì ý kiến chung của một tổ chức là chính kiến của tổ chức đó chứ không phải là

dư luận xã hội của các thành viên trong tổ chức Ví dụ: không thể gọi chính kiếncủa Hội Nông dân, Hội Phụ nữ hay Hội Người cao tuổi… là dư luận xã hội) Chỉ cócác luồng ý kiến được hình thành theo con đường tự phát mới được gọi là dư luận

xã hội Tuy nhiên, như đã trình bày ở phần trên, dư luận xã hội không phải là mộtphép cộng thuần tuý, không phải là “bao gạo”, gồm các “hạt gạo” ý kiến cá nhân rờirạc, không có mối quan hệ gì với nhau Dư luận xã hội là các luồng ý kiến cá nhân,

tự phát, nhưng có mối quan hệ hữu cơ với nhau, cộng hưởng với nhau Nói cáchkhác, đó là một chỉnh thể tinh thần xã hội, thể hiện nhận thức, tình cảm, ý chí củacác lực lượng xã hội nhất định

1.1.4 Phân biệt dư luận xã hội với tin đồn

Tin đồn cũng là một hiện tượng tâm lí xã hội nhưng khác với dư luận xã hội ởchỗ tin đồn không phải là sản phẩm của tư duy phán xét của cá nhân mang nó Tinđồn chỉ là một tin tức về một sự việc, sự kiện hay hiện tượng có thể có thật, có thểkhông có thật hoặc chỉ có một phần sự thật được lan truyền từ người này sang ngườikhác Ngược lại, dư luận xã hội là sản phẩm tư duy phán xét của cá nhân mang nó,thể hiện quan điểm, thái độ của cá nhân mang nó trước các sự kiện, hiện tượng, vấn

đề mà cá nhân đó quan tâm Tin đồn có thể chuyển hóa thành dư luận xã hội khitrên cơ sở của tin đồn người ta đưa ra những phán xét, đánh giá, bày tỏ thái độ củamình, khi thông tin về sự kiện, hiện tượng được kiểm chứng và các nhóm xã hội cóthể được tiếp cận với nguồn tin, trao đổi, bày tỏ ý kiến của mình thông qua conđường công khai Trong thực tiễn của đời sống xã hội hiện nay vẫn thường xảy

ra sự nhầm lẫn giữa dư luận và tin đồn Giữa tin đồn và dư luận xã hội có nhữngđiểm khác biệt cơ bản sau đây:

1) Nguồn thông tin của tin đồn bao giờ cũng xuất phát từ người khác (tôi nghengười này nói, người kia nói); nguồn thông tin của dư luận xã hội lại xuất phát từchính là bản thân người phát ngôn (theo ý kiến của tôi thì )

Trang 10

2) Tin đồn loang càng xa thì càng có nhiều biến thái, do nó không ngừng đượcthêm thắt Lúc ban đầu, dư luận xã hội thường rất phân tán, nhưng sau đó, thôngqua sự trao đổi, tranh luận, tính thống nhất của dư luận xã hội thường tăng lên; 3) Tin đồn thường có tính “thất thiệt” (mặc dù có những tin đồn về cơ bản là

sự thật), trong khi đó, dư luận xã hội phản ánh trung thực suy nghĩ, tình cảm, thái độcủa chủ thể

Tuy nhiên, giữa dư luận xã hội và tin đồn không có sự ngăn cách không vượtqua được Tin đồn có thể làm nảy sinh dư luận xã hội khi trên cơ sở tin đồn người tađưa ra những phán xét đánh giá bày tỏ thái độ của mình Tin đồn thường xuất hiệnkhi người ta thiếu (hoặc thừa) thông tin

1.1.4.Khuôn mẫu, chuẩn mực xã hội

- Khái niệm

Khuôn, mẫu là những thuật ngữ của lĩnh vực kỹ thuật hay nghệ thuật với ý

nghĩa là những tiêu chuẩn, vật chuẩn được tạo ra từ trước để dựa vào đó và theo đó

mà làm ra những vật phẩm khác giống như nhau theo cái vật chuẩn ban đầu ấy.

Chẳng hạn: khuôn đúc đồng, khuôn đóng (đúc) gạch, ngói, khuôn làm bánh… haymẫu hoa để vẽ, để thêu, mẫu nhà cửa, mẫu bàn ghế… để làm theo Như vậy có thểcoi khuôn mẫu là vật chuẩn do con người tạo ra và được con người lựa chọn, chấpnhận làm mẫu cho những cái cùng loại khác

Trong lĩnh vực xã hội, khuôn mẫu được hiểu như là những tiêu chí đã được xã

hội thừa nhận, hợp thành những chuẩn mực giá trị dùng làm mẫu để đo đạc những

cái khác Đồng thời, con người khi thực hiện một hành vi xã hội hay thiết lập, tạodựng một việc gì đó đều dựa vào những cái mẫu có trước, dùng nó để làm cái quychiếu cho những cái khác Ví dụ như mẫu hình trong hôn nhân, mẫu hình về ngườiđàn ông, người phụ nữ (theo quan niệm xưa, nay) hay mẫu hình về một gia đình,một dòng họ thuận hoà, thành đạt…

Để kiểm tra một người nào đó có thực hiện đúng vai trò xã hội của mình haykhông, người ta thường xem xét hành vi xã hội của người đó có phù hợp với chuẩn

mực, giá trị của khuôn mẫu xã hội hay không Chuẩn mực là sự thống nhất của xã

hội về những khuôn mẫu hành vi cụ thể, tương ứng với các loại vị thế, vai trò xã hộikhác nhau Mỗi loại nghề nghiệp, vị thế, vai trò xã hội đều có những chuẩn mựcriêng của mình Chuẩn mực xã hội cũng được hiểu là sự mong đợi của xã hội vềmột kiểu hành vi lý tưởng, ứng với một loại địa vị xã hội nào đó Như vậy, chuẩnmực xã hội vừa là khuôn mẫu vừa là áp lực xã hội đối với hành vi cá nhân Khuôn

Trang 11

mẫu xã hội có ảnh hưởng sâu sắc đến nếp nghĩ, nếp cảm và cách hành động của conngười Do đó, ảnh hưởng đến toàn bộ nền văn hoá, sự định hướng giá trị, tínngưỡng của con người trong một xã hội nhất định

- Đặc điểm của khuôn mẫu, chuẩn mực

Những hành vi xã hội, những chuẩn mực, giá trị mà chúng ta hay gặp nhấttrong xã hội và có ảnh hưởng nhiều nhất đến sự phát triển xã hội là những hành vi,

chuẩn mực thuộc khuôn mẫu văn hoá (theo nghĩa rộng) với nội hàm: Một tác phong

xã hội được lặp đi, lặp lại trong cuộc sống đời thường; được nhiều người thực hiện

theo cùng một phong cách giống nhau; được xem là có tác dụng định hướng, có ý

nghĩa mẫu mực cho nhiều người noi theo; đồng thời nó chứa đựng một ý nghĩa xãhội nhất định

Trong đời sống xã hội, mỗi người thường làm theo những gì mà mọi ngườivẫn quen làm, những gì mà xã hội cho là quan trọng Khuôn mẫu xã hội thườngđược thể chế hoá thành các quy định xã hội, được mọi thành viên trong xã hội thừanhận và tuân thủ theo Những quy định như vậy có thể được ghi thành văn bản dướidạng các nội quy, quy chế, điều luật… Nhưng cũng có khi chỉ là những quy ước bấtthành văn như phong tục, tập quán… nhưng rất được xã hội coi trọng và tuân thủthực hiện Trong các khuôn mẫu xã hội thì khuôn mẫu hành vi yêu nước bao giờcũng được đề cao, những ai đi ngược lại khuôn mẫu hành vi này đều bị xã hội lên

án và căm phẫn

- Tính biến đổi của khuôn mẫu, chuẩn mực xã hội

Khuôn mẫu xã hội là những chuẩn mực giá trị, nhưng không phải là nhữngchuẩn mực tồn tại bất biến, vĩnh hằng, mà nó cũng có sự biến đổi cùng với sự biếnđổi của không gian, thời gian, của tính chất và trình độ xã hội Nghĩa là sự biến đổicủa xã hội đã làm cho một số khuôn mẫu, chuẩn mực trở nên lỗi thời, lạc hậu,không còn phù hợp với xã hội Đồng thời có một số khuôn mẫu, chuẩn mực mới,tiến bộ được hình thành và được xã hội thừa nhận, ví dụ: khuôn mẫu mới về giađình, con cái, về các nghi lễ, tập tục trong cưới hỏi, tang ma…

Thực tế cuộc sống cho thấy, khi một tác phong xã hội nào đó được khuôn mẫu hoá thì đều trở thành “con đường tắt” rất tiện lợi và cần thiết cho sự học hỏi làm người của mỗi cá nhân Có thể nói, mọi hành vi xã hội của con người đều là do sáng

tạo của thói quen mà ra Và xét cho cùng thì những chuẩn mực văn hoá chính là

những đáp án có sẵn trong cuộc sống, mỗi con người học hỏi những điều đó là nhờ

bắt chước, nhờ gợi ý của người khác Mọi người đều có thái độ tôn trọng các khuôn

Trang 12

mẫu, chuẩn mực vv́ đó là kết quả được đúc kết nên bởi nhiều thế hệ đời người Đằngsau các khuôn mẫu, chuẩn mực là cả một bề dày truyền thống vững vàng, sâu nặng,lại có được sự hỗ trợ của các quyền uy xã hội Do vậy mỗi cá nhân khi tiếp nhận cácchuẩn mực văn hoá đều cảm thấy tự giác, thoải mái và tự nhiên, coi nó gần như làbản tính thứ hai của con người Khi xã hội phát triển con người có điều kiện tiếpxúc, hội nhập nhiều với các nền văn hoá khác, thì một số khuôn mẫu, chuẩn mựcvăn hoá truyền thống (như phong tục, tập quán) có thể bị coi là những yếu tố lạchậu, trì trệ, bảo thủ và rất dễ bị mọi người có định kiến xấu Trong điều kiện này,đòi hỏi con người phải sáng suốt, khi tiếp thu cái mới phải biết chọn lọc cái hay, cáiphù hợp, tránh sự lố lăng, lai căng, mất gốc Phải biết trân trọng và bảo tồn, pháthuy những khuôn mẫu, chuẩn mực mang vẻ đẹp của thuần phong, mỹ tục Nghĩa là

có tiếp thu, có phê phán, kế thừa cái hay, cái tiến bộ, loại bỏ cái dở, cái lạc hậu, làmcho lối sống văn hoá của xã hội tiến kịp với nền văn minh chung của nhân loại

- Khái niệm

Khuôn, mẫu là những thuật ngữ của lĩnh vực kỹ thuật hay nghệ thuật với ý

nghĩa là những tiêu chuẩn, vật chuẩn được tạo ra từ trước để dựa vào đó và theo đó

mà làm ra những vật phẩm khác giống như nhau theo cái vật chuẩn ban đầu ấy.

Chẳng hạn: khuôn đúc đồng, khuôn đóng (đúc) gạch, ngói, khuôn làm bánh… haymẫu hoa để vẽ, để thêu, mẫu nhà cửa, mẫu bàn ghế… để làm theo Như vậy có thểcoi khuôn mẫu là vật chuẩn do con người tạo ra và được con người lựa chọn, chấpnhận làm mẫu cho những cái cùng loại khác

Trong lĩnh vực xã hội, khuôn mẫu được hiểu như là những tiêu chí đã được xã

hội thừa nhận, hợp thành những chuẩn mực giá trị dùng làm mẫu để đo đạc những

cái khác Đồng thời, con người khi thực hiện một hành vi xã hội hay thiết lập, tạodựng một việc gì đó đều dựa vào những cái mẫu có trước, dùng nó để làm cái quychiếu cho những cái khác Ví dụ như mẫu hình trong hôn nhân, mẫu hình về ngườiđàn ông, người phụ nữ (theo quan niệm xưa, nay) hay mẫu hình về một gia đình,một dòng họ thuận hoà, thành đạt…

Để kiểm tra một người nào đó có thực hiện đúng vai trò xã hội của mình haykhông, người ta thường xem xét hành vi xã hội của người đó có phù hợp với chuẩn

mực, giá trị của khuôn mẫu xã hội hay không Chuẩn mực là sự thống nhất của xã

hội về những khuôn mẫu hành vi cụ thể, tương ứng với các loại vị thế, vai trò xã hộikhác nhau Mỗi loại nghề nghiệp, vị thế, vai trò xã hội đều có những chuẩn mựcriêng của mình Chuẩn mực xã hội cũng được hiểu là sự mong đợi của xã hội về

Trang 13

một kiểu hành vi lý tưởng, ứng với một loại địa vị xã hội nào đó Như vậy, chuẩnmực xã hội vừa là khuôn mẫu vừa là áp lực xã hội đối với hành vi cá nhân Khuônmẫu xã hội có ảnh hưởng sâu sắc đến nếp nghĩ, nếp cảm và cách hành động của conngười Do đó, ảnh hưởng đến toàn bộ nền văn hoá, sự định hướng giá trị, tínngưỡng của con người trong một xã hội nhất định

- Đặc điểm của khuôn mẫu, chuẩn mực

Những hành vi xã hội, những chuẩn mực, giá trị mà chúng ta hay gặp nhấttrong xã hội và có ảnh hưởng nhiều nhất đến sự phát triển xã hội là những hành vi,

chuẩn mực thuộc khuôn mẫu văn hoá (theo nghĩa rộng) với nội hàm: Một tác phong

xã hội được lặp đi, lặp lại trong cuộc sống đời thường; được nhiều người thực hiện

theo cùng một phong cách giống nhau; được xem là có tác dụng định hướng, có ý

nghĩa mẫu mực cho nhiều người noi theo; đồng thời nó chứa đựng một ý nghĩa xãhội nhất định

Trong đời sống xã hội, mỗi người thường làm theo những gì mà mọi ngườivẫn quen làm, những gì mà xã hội cho là quan trọng Khuôn mẫu xã hội thườngđược thể chế hoá thành các quy định xã hội, được mọi thành viên trong xã hội thừanhận và tuân thủ theo Những quy định như vậy có thể được ghi thành văn bản dướidạng các nội quy, quy chế, điều luật… Nhưng cũng có khi chỉ là những quy ước bấtthành văn như phong tục, tập quán… nhưng rất được xã hội coi trọng và tuân thủthực hiện Trong các khuôn mẫu xã hội thì khuôn mẫu hành vi yêu nước bao giờcũng được đề cao, những ai đi ngược lại khuôn mẫu hành vi này đều bị xã hội lên

án và căm phẫn

- Tính biến đổi của khuôn mẫu, chuẩn mực xã hội

Khuôn mẫu xã hội là những chuẩn mực giá trị, nhưng không phải là nhữngchuẩn mực tồn tại bất biến, vĩnh hằng, mà nó cũng có sự biến đổi cùng với sự biếnđổi của không gian, thời gian, của tính chất và trình độ xã hội Nghĩa là sự biến đổicủa xã hội đã làm cho một số khuôn mẫu, chuẩn mực trở nên lỗi thời, lạc hậu,không còn phù hợp với xã hội Đồng thời có một số khuôn mẫu, chuẩn mực mới,tiến bộ được hình thành và được xã hội thừa nhận, ví dụ: khuôn mẫu mới về giađình, con cái, về các nghi lễ, tập tục trong cưới hỏi, tang ma…

Thực tế cuộc sống cho thấy, khi một tác phong xã hội nào đó được khuôn mẫu hoá thì đều trở thành “con đường tắt” rất tiện lợi và cần thiết cho sự học hỏi làm người của mỗi cá nhân Có thể nói, mọi hành vi xã hội của con người đều là do sáng

tạo của thói quen mà ra Và xét cho cùng thì những chuẩn mực văn hoá chính là

Trang 14

những đáp án có sẵn trong cuộc sống, mỗi con người học hỏi những điều đó là nhờ

bắt chước, nhờ gợi ý của người khác Mọi người đều có thái độ tôn trọng các khuônmẫu, chuẩn mực vì đó là kết quả được đúc kết nên bởi nhiều thế hệ đời người Đằngsau các khuôn mẫu, chuẩn mực là cả một bề dày truyền thống vững vàng, sâu nặng,lại có được sự hỗ trợ của các quyền uy xã hội Do vậy mỗi cá nhân khi tiếp nhận cácchuẩn mực văn hoá đều cảm thấy tự giác, thoải mái và tự nhiên, coi nó gần như làbản tính thứ hai của con người Khi xã hội phát triển con người có điều kiện tiếpxúc, hội nhập nhiều với các nền văn hoá khác, thì một số khuôn mẫu, chuẩn mựcvăn hoá truyền thống (như phong tục, tập quán) có thể bị coi là những yếu tố lạchậu, trì trệ, bảo thủ và rất dễ bị mọi người có định kiến xấu Trong điều kiện này,đòi hỏi con người phải sáng suốt, khi tiếp thu cái mới phải biết chọn lọc cái hay, cáiphù hợp, tránh sự lố lăng, lai căng, mất gốc Phải biết trân trọng và bảo tồn, pháthuy những khuôn mẫu, chuẩn mực mang vẻ đẹp của thuần phong, mỹ tục Nghĩa là

có tiếp thu, có phê phán, kế thừa cái hay, cái tiến bộ, loại bỏ cái dở, cái lạc hậu, làmcho lối sống văn hoá của xã hội tiến kịp với nền văn minh chung của nhân loại

1.2 Các tính chất cơ bản của dư luận xã hội

1.2.1 Tính khuynh hướng

Thái độ của dư luận xã hội đối với mỗi sự kiện, hiện tượng, quá trình xã hội cóthể khái quát theo các khuynh hướng nhất định: tán thành, phản đối hay băn khoăn,lưỡng lự, chưa rõ thái độ Cũng có thể phân chia dư luận theo các khuynh hướngnhư tích cực, tiêu cực; tiến bộ, lạc hậu, "cấp tiến", "bảo thủ"…

Ở mỗi khuynh hướng, thái độ tán thành hoặc phản đối có thể phân chia theocác mức độ cụ thể như: thái độ rất tán thành, tán thành, lưỡng lự, phản đối, rất phảnđối Ví dụ: Nếu như quyết định của bộ Giáo dục và Đào tạo về việc tăng học phí cáctrường đại học thì dư luận xã hội ngay lập tức có sự phản đối, còn quyết định tăngtiền học bổng cho học sinh, sinh viên thì sẽ được dư luận ủng hộ

Theo các nhà xã hội học, đồ thị phân bố dư luận xã hội hình chữ “U” biểu thị

sự xung đột (có hai luồng ý kiến chính, trái ngược nhau, tỷ lệ ủng hộ mỗi luồng ýkiến này ngang bằng hoặc xấp xỉ nhau), hình chữ “J” biểu thị sự thống nhất cao(trong số các luồng ý kiến, nổi lên một luồng ý kiến được đa số ủng hộ) Trong xãhội, nếu thái độ của dư luận xã hội đối với phần lớn các vấn đề kinh tế, chính trị, xãhội đều có dạng phân bố hình chữ U thì điều đó có nghĩa xã hội ở trạng thái xungđột ý kiến gay gắt Trong phân bố hình chữ J, chỉ một loại quan điểm có tỷ lệ sốngười ủng hộ cao mà thôi

Trang 15

VD 1: Về việc phụ nữ Việt Nam kết hôn với người nước ngoài, có những,luồng dư luận ý kiến trái ngược nhau - ủng hộ và phản đối Trong nước, những ýkiến phản đối việc phụ nữ Việt Nam kết hôn với người nước ngoài, vì đó thực chất

là buôn bán phụ nữ Còn nhìn từ bên ngoài có những ý kiến ủng hộ cho rằng:

“Chúng ta nên nhìn nhận họ như những người tiên phong trong cuộc sống và tôntrọng họ” (Tuổi trẻ, ngày 5.5.2006) Qua cái nhìn tích cực của tuỳ viên báo chí vàthông tin đại sứ HQ tại Việt Nam “Hàn quốc phải cảm ơn Việt Nam vì đã cho chúngtôi những cô dâu ngoan và tuyệt vời” Trong nước cũng có sự tán đồng Nguyêntổng biên tập báo Tuổi trẻ Lê Văn Nuôi cho rằng “Hôn nhân với người khác quốctịch trong bối cảnh nước ta đang thực hiện quan hệ đa phương và hội nhập toàn cầu

là chuyện bình thường Nhưng chỉ bình thường và đáng ủng hộ khi họ quan hệ hônnhân bình đẳng, đến với nhau qua một quá trình giao tiếp, có tình yêu thật sự và côdâu Việt Nam có đủ trình độ văn hoá để hội nhập văn hoá xứ người” (Tuổi trẻ,6.5.2006) Hai luồng quan niệm trái ngược nhau trước hiện tượng phụ nữ Việt Namkết hôn với người nước người nước ngoài là biểu hiện của biểu đồ dư luận xã hộihình chữ U Trong xã hội nông thôn Việt Nam truyền thống, ý kiến chung của cộngđồng làng xã luôn đề cao việc lấy chồng trong làng hơn là lấy chồng ngoài làng

“Lấy chồng nghèo giữa làng, hơn lấy chồng sang thiên hạ”.

VD 2: Tháng 3/2009, số người ủng hộ Vladimir Putin với vai trò Thủ tướng là78% - không khác so với con số này hồi tháng 2 Cũng tương tự như vậy, DmitryMedvedev với vai trò Tổng thống nhận được sự ủng hộ của 71% dân chúng Sự ủng

hộ đó của người dân Nga là biểu hiện của biểu đồ dư luận xã hội hình chữ J

“Sức căng” của mỗi khuynh hướng thường bộc lộ ở những trạng thái khácnhau Cẳng hạn “sức căng” của khuynh hướng phản đối có thể biểu hiện: phản đốigay gắt; phản đối, nhưng không gay gắt…

1.2.2 Tính cường độ và tính lợi ích

Cường độ của dư luận xã hội quan hệ chặt chẽ với hành vi xã hội của côngchúng Trong nắm bắt và phản ánh dư luận xã hội nhất thiết phải nắm bắt và phảnánh được cường độ của các khuynh hướng đánh giá

Để trở thành đối tượng của dư luận xã hội, các sự kiện hiện tượng xã hội đangdiễn ra phải được xem xét từ góc độ mối quan hệ mật thiết của các nhóm khác nhautrong xã hội Lợi ích vật chất được nhận thức rõ nét khi các hiện tượng diễn ra trong

xã hội có liên quan chặt chẽ đến hoạt động kinh tế và sự ổn định cuộc sống củađông đảo người dân

Trang 16

VD: Chính sách của chính phủ về việc trợ cấp tiền cho các hộ nghèo, phânphát gạo cho người dân một số vùng quê nghèo vào dịp tết được người dân ở đó rấtquan tâm, vì nó liên quan trực tiếp đến lợi ích, quyền lợi của họ… Lợi ích tinh thầnđược đề cập đến khi các vấn đề đang diễn ra đụng chạm đến hệ thống các giá trịchuẩn mực xã hội, các phong tục tập quán, khuôn mẫu hành vi ứng xử văn hóa củacộng đồng xã hội hoặc của cả một dân tộc

VD: Hiện nay, các chương trình phát triển vũ khí hạt nhân của một số cườngquốc đang gây ra dư luận phản đối mạnh mẽ trên thế giới, vì nhân loại nhận thứcđược về một nguy cơ tiềm tàng xảy ra chiến tranh hạt nhân, hủy diệt loài người Trong hoàn cảnh thực tế lợi ích mới chỉ là điều kiện để thúc đẩy việc tạo ra dưluận xã hội Điều quan trọng hơn là sự nhận thức của các nhóm xã hội về lợi ích củamình và mối quan hệ giữa chúng với các sự kiện, hiện tượng, các quá trình xã hộiđang diễn ra Ở đây có hai điểm cần lưu ý:

- Bản thân nhận thức về lợi ích là một tiến trình biến đổi và phát triển giữa cánhân và tính xã hội, giữa tính vật chất và tính tinh thần, giữa tính trước mắt và tínhlâu dài

- Quá trình trao đổi, thảo luận ý kiến để dẫn đến dư luận xã hội là quá trìnhgiải quyết mâu thuẫn lợi ích Trong công việc này, nhóm xã hội nào có tổ chức tốt,hình thành nên lực lượng thì nhóm đó sẽ thành công hơn trong việc bảo vệ quanđiểm, lợi ích của mình và ngược lại

1.2.3 Tính lan truyền

Dư luận xã hội được coi như một biểu hiện của hành vi tập thể, một hiệntượng được các nhà xã hội học rất quan tâm Cơ sở của bất kỳ một hành vi tập thểnào cũng là hiệu ứng phản xạ quay vòng, trong đó khởi điểm từ một cá nhân haynhóm nhỏ sẽ gây nên chuỗi các kích thích của các cá nhân khác, nhóm khác Để duytrì được chuỗi kích thích này luôn cần có các nhân tố tác động lên cơ chế hoạt độngtâm lý của cá nhân và nhóm Đối với dư luận xã hội các nhân tố tác động đó có thểđược coi là các thông tin bằng hình ảnh, âm thanh sống động trực tiếp có tính thời

sự Dưới tác động của các luồng thông tin này, các nhóm công chúng khác nhau sẽcùng được lôi cuốn vào quá trình bày tỏ sự quan tâm của mình thông qua các hoạtđộng trao đổi, bàn bạc, tìm kiếm thông tin, cùng chia sẽ trạng thái tâm lý của mìnhvới người xung quanh

VD: Hồi tháng 5/2003, hàng loạt tấm hình chụp cảnh binh lính Anh làm nhục

tù nhân Iraq tại trại “Sọt Bánh Mì” ở Basra (Iraq), đã lôi cuốn sự quan tâm, bàn luận

Trang 17

của mọi người dân trên thế giới Sự kiện diễn ra ở Iraq nhưng nhờ có sự lan truyềnthông tin, nên sự biểu lộ về thái độ và sự đánh giá của các tầng lớp xã hội trên thếgiới về sự kiện này rất mạnh mẽ.

Hay nhờ có các chương trình truyền hình trực tiếp về tình hình lũ lụt ở miềnTrung mà công chúng cả nước được chứng kiến những đau thương mất mát củađồng bào, để từ đó dấy lên một cách mạnh mẽ và rộng lớn phong trào ủng hộ quyêngóp giúp đỡ đồng bào qua cơn hoạn nạn

1.2.4 Tính tính dễ biến đổi và bền vững tương đối

Dư luận xã hội vừa có tính bền vững tương đối vừa có tính dễ biến đổi Cónhững dư luận xã hội chỉ qua một đêm là thay đổi, nhưng cũng có những dư luận xãhội qua hàng thập niên vẫn không thay đổi Tính bền vững của dư luận xã hội phụthuộc vào nhiều yếu tố Đối với những sự kiện, hiện tượng hay các quá trình quenthuộc, dư luận xã hội thường rất bền vững

VD: Dư luận xã hội sẽ không bao giờ thay đổi trong việc khẳng định nền độclập tự do và chủ quyền lãnh thổ của đất nước, hay thừa nhận một nền kinh tế sẽ bị

“chết” nếu đóng khép, không hội nhập, không tuân theo các quy luật của nền kinh tếthị trường

Cái mới lúc đầu chỉ được số ít thừa nhận và do đó dễ bị đa số phản đối Nhưng

ý kiến của đa số nhanh chóng, dẽ dàng thay đổi khi cái mới vươn lên khẳng địnhmình trong cuộc sống Thời kì bắt đầu chính sách đổi mới ở nước ta, chính sáchkhoán nông trong nghiệp còn xa lạ trong đại bộ phận nhân dân và cán bộ lãnh đạo;thậm chí có những nơi, một số cán bộ chủ trương thực hiện mô hình này bị phản đốigay gắt (trường hợp đồng chí Kim Ngọc – nguyên Bí thư tỉnh ủy Vĩnh Phú) Nhưngdần dần chính sách này đã phát huy tác dụng tích cực thì được người dân và cán bộđồng tình thực hiện

Tính biến đổi của dư luận xã hội thường được xem xét trên hai phương diệnsau:

- Biến đổi theo không gian và môi trường văn hóa: Sự phán xét và đánh giá

của dư luận xã hội về bất kỳ sự kiện, hiện tượng hay quá trình xã hội nào cũng phụthuộc vào hệ thống giá trị, chuẩn mực đang tồn tại trong nền văn hóa của cộng đồng

xã hội Với cùng một sự việc, sự kiện xảy ra, dư luận xã hội của các cộng đồngngười khác nhau lại thể hiện sự phán xét khác nhau

Trang 18

VD: Ở Việt Nam, bò được xem là một con vật nuôi, cung cấp sức kéo, lấy sữa,thịt bò là món ăn ưa thích; nhưng đối với người dân Ấn Độ theo đạo Hindu thì bòđược coi là loài vật thiêng, kể cả khi chúng quấy nhiễu tới cuộc sống của họ, và việctín đồ ăn thịt bò sẽ bị dư luận xã hội lên án gay gắt

- Biến đổi theo thời gian: Cùng với sự phát triển của xã hội, nhiều giá trị,

chuẩn mực văn hóa, phong tục tập quán biến đổi ngay trong một nền văn hóa – xãhội, dẫn đến sự thay đổi trong cách nhìn nhận, đánh giá của dư luận xã hội

VD: Dư luận xã hội nước ta một thời lên án những bài thơ, bài hát mang âmhưởng buồn, văn thơ viết về ẩm thực thì nay những tác phẩm nghệ thuật đó được dưluận xã hội chấp nhận và thậm chí ca ngợi

Phụ thuộc vào bối cảnh cụ thể, dư luận xã hội còn biến đổi theo đối tượng củacác phán xét, đánh giá khi công chúng phát hiện thêm các mối liên quan giữa đốitượng ban đầu với các sự kiện, hiện tượng, quá trình diễn ra kèm theo nó Mặt khác,xuất phát từ các phán xét đánh giá bằng lời, dư luận xã hội có thể chuyển hóa thànhcác hành động mang tính tự phát hoặc có tổ chức để thể hiện thái độ đồng tình hayphản đối của mình

VD: Dư luận xã hội cảm thông, đồng cảm với hoàn cảnh của những trẻ em mồcôi, tật nguyền (thể hiên bằng ý kiến); đồng thời chính những người dân đã quyêngóp từ thiện (thể hiện bằng hành động) để giúp đỡ những trẻ em rơi vào hoàn cảnhnày

1.2.5 Tính tương đối trong khả năng phản ánh thực tế của dư luận xã hội

Sự phản ánh thực tế xã hội của dư luận xã hội có thể đúng (đúng nhiều, đúngít) có thể sai (sai ít, sai nhiều) Dù có đúng đến mấy thì dư luận xã hội vẫn có nhữnghạn chế, không nên tuyệt đối hóa nhận thức của dư luận xã hội Dù có sai đến mấy,trong dư luận xã hội cũng có những hạt nhân hợp lý, không thể coi thường được VD: Đã tồn tại quan niệm rằng: có thế giới của người sống (“trần gian”) thìcũng có thế giới của những người đã mất (“âm phủ”), nhiều người đã phủ nhậnhoàn toàn quan niệm này, cho rằng con người ta “chết là hết”, điều đó cũng có vẻhợp lý vì đứng trên lập trường của khoa học sinh học Nhưng ý kiến cho rằng có thếgiới của người đã chết cũng không thể nói là không có căn cứ, khi nhiều năm gầnđây, câu chuyện của các nhà ngoại cảm làm công tác đi tìm mộ liệt sỹ đã khiếnchúng ta phải cân nhắc Chân lý của dư luận xã hội không phụ thuộc vào tính chấtphổ biến của nó Không phải lúc nào dư luận của đại đa số cũng đúng hơn dư luậncủa thiểu số Cái mới, lúc đầu thường chỉ có một số người nhận thấy do đó dễ bị đa

Trang 19

số phản đối Đối với những vấn đề trừu tượng, phức tạp, dư luận của giới trí thức,của những người có trình độ học vấn cao thường chín chắn hơn so với những người

có trình độ học vấn thấp

1.2.6 Tính tiềm ẩn

Dư luận xã hội về những vấn đề của cuộc sống xã hội có thể ở trạng thái tiềm

ẩn, không bộc lộ bằng lời Có người dùng thuật ngữ “dư luận của đa số im lặng” đểnói về trạng thái này Trong những xã hội thiếu dân chủ, dư luận xã hội đích thựcthường tồn tại dưới dạng tiềm ẩn Phương pháp thăm dò dư luận xã hội có thể làmbật ra nội dung của các luồng dư luận xã hội tiềm ẩn Đối với những nơi chưa coitrọng quyền dân chủ của nhân dân, để nắm bắt dư luận xã hội chúng ta nên dùngphương pháp phỏng vấn dấu tên (không ghi tên, nơi làm việc, cư trú của người trảlời), nếu không, người trả lời có thể sẽ không dám nói ra sự thật

Trong các chế độ độc tài, phát xít, hệ tư tưởng pháp luật của nó thường mất đitính dân chủ, tính khoa học và tính xã hội, thông tin pháp lý bị bưng bít, các quyền

cơ bản của con người bị chà đạp, xóa bỏ Trong xã hội cũng thường có dư luận xãhội tiềm ẩn về những sự việc, sự kiện sắp tới, chưa xảy ra hiện thời, chưa cấp bách VD: Nếu như có một dự báo về việc trái đất sẽ nổ tung sau 1000 năm nữa, thìhiện tại chưa có nhiều bàn luận, nhưng tiềm ẩn về một sự “bùng nổ dư luận” khigần tới cái mốc mà trái đất sẽ nổ tung

Trang 20

Chương 2 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ CHỨC NĂNG, VAI TRÒ CỦA DƯ LUẬN XÃ HỘI 2.1 Cơ chế hình thành của dư luận xã hội

2.1.1 Các giai đoạn trong quá trình hình thành của dư luận xã hội

Xung quanh vấn đề các bước (giai đoạn) hình thành DLXH cũng có nhiều ýkiến khác nhau:

* Theo A.K.Ulêdốp (nhà tâm lý học người Nga) thì quá trình hình thành dư

luận xã hội bao gồm 3 giai đoạn:

- Giai đoạn 1: Khi trong một nhóm, một cộng đồng xảy ra một sự kiện, một

thông tin nào đó tác động vào nhóm, các cá nhân trong nhóm đó có một thời kỳnghe ngóng bằng vốn sống, hiểu biết của mìnhđể đánh giá sự kiện đó Và xem tácđộng của nó đến quyền lợi của nhóm cộng đồng, của cá nhân ra sao

- Giai đoạn 2: Các cá nhân có sự trao đổi bàn bạc dựa trên cơ sở quan điểm

của các cá nhân, và mỗi cá nhân trình bày ý kiến của mình về sự kiện đó với ngườikhác Sự chuyển hoá từ bình diện cá nhân sang xã hội Để tìm kiếm một giải phápthống nhất chung, sự đồng nhất, tìm ra các ý kiến chung trong việc đánh giá, xemxét các vấn đề để hình thành DLXH

- Giai đoạn 3: Sự thống nhất chung để tạo ra DLXH Đôi kkhi không nhất

thiết phải là ý kiến của toàn bộ mà có thể là ý kiến của đa số các cá nhân

* Theo các nhà xã hội học, trong điều kiện bình thường quá trình hình thành

dư luận xã hội có thể chia thành 4 giai đoạn:

1) Giai đoạn tiếp nhận thông tin

Các cá nhân trong cộng đồng xã hội được tiếp xúc, làm quen, được trực tiếpchứng kiến hoặc nghe kể lại về các sự việc, sự kiện, hiện tượng xảy ra trong xã hội

Họ tìm kiếm, sưu tập thêm các thông tin, trao đổi với nhau về nó, từ đó nảy sinh cácsuy nghĩ, tình cảm, ý kiến bước đầu về nội dung, tính chất của các sự việc, sự kiện.Nhưng lúc này, các suy nghĩ, tình cảm, ý kiến bước đầu là thuộc về mỗi nguời,thuộc lình vực ý thức cá nhân

2) Giai đoạn trao đổi thông tin giữa mọi nguời

Các ý kiến cá nhân được trao đổi, chia sẻ, bàn luận với nhau trong nhóm xãhội Cơ sở cho quá trình thảo luận này là lợi ích chung của cả nhóm và hệ thống các

Trang 21

giá trị, chuẩn mực xã hội đang chi phối các khuôn mẫu tư duy và khuôn mẫu hành

vi của các thành viên trong nhóm Thông qua quá trình trao đổi, bàn luận các suynghĩ, các ý kiến xung quanh đối tượng của dư luận mà ý kiến đã được trao đổi,chuyển dần từ lĩnh vực ý thức cá nhân sang lĩnh vực ý thức xã hội

3) Giai đoạn tranh luận có tính chất tập thể về các vấn đề quan trọng

Ở giai đoạn này, các thông tin, vấn đề không quan trọng, không phù hợp hoặcnhững thông tin nhiễu về đối tượng sẽ bị lược bỏ Các nhóm trao đổi, tranh luận vớinhau về những nội dung quan trọng, đưa ra các ý kiến khác nhau và thống nhất lạixung quanh các quan điểm cơ bản; cùng tìm đến những điểm chung trong quanđiểm và ý kiến Từ đó mà hình thành các phán xét, đánh giá chung thỏa mãn được ýchí của đại đa số các thành viên trong cộng đồng người Cơ sở cho quá trình tranhluận này vẫn là lợi ích chung và hệ thống các giá trị, chuẩn mực xã hội chung cùngđược các nhóm xã hội chia sẻ và thừa nhận

4) Giai đoạn đi từ dư luận xã hội đến hành động thực tiễn

Nếu như luồng dư luận xã hội chỉ hình thành một cách thuần túy rồi để đấy,chẳng có vai trò, tác dụng gì đối với cộng đồng thì có lẽ nó chỉ là hiện tượng vônghĩa Trên thực tế vấn đề không chỉ dừng lại ở đấy Từ sự phán xét đánh giá chung,các nhóm xã hội và cộng đồng xã hội đi tới hành động thống nhất, nêu lên nhữngkiến nghị, những biện pháp về hoạt động thực tiễn của họ trước thực tế cuộc sốngnhất định Như vậy dư luận xã hội là sản phẩm của quá trình giao tiếp xã hội.Không có sự trao đổi, bàn bạc, thảo luận, thậm chí va đập các ý kiến với nhau thìkhông thể có ý kiến phán xét, đánh giá chung được đông đảo mọi người chia sẻ, tánthành và ủng hộ

Khi nghiên cứu sự hình thành dư luận xã hội cần phải chú ý tới hai khía cạnh

sau: Một là, không phải trong bất cứ trường hợp nào sự hình thành dư luận xã hội

cũng trải qua bốn giai đoạn Thông thường sự tuân thủ cả bốn giai đoạn chỉ diễn rakhi đối tượng của dư luận xã hội là các hiện tượng, sự kiện xã hội mới và phức tạp.Khi đa số người dân chưa có hoặc chưa xác định được thái độ, cách ứng xử phù hợpvới thực tế cuộc sống thì khi đó sự hình thành dư luận xã hội có thể kéo dài hangtháng, hàng năm thậm chí lâu hơn Nhiều trường hợp dư luận xã hội hình thành mộtcách tức thời, nhanh chóng, phổ biến, lan truyền mạnh mẽ trước những biến cố đặc

biệt như thiên tai, chiến tranh, các vụ giết người dã man… Hai là, việc duy trì sự

quan tâm của người dân đối với các vấn đề đang diễn ra trong xã hội là một điềukiện tiên quyết cho việc hình thành dư luận xã hội Không phải sự việc, sự kiện nàocũng thu hút được sự quan tâm, chú ý hay gây tranh luận cho tất cả các nhóm xã hộikhác nhau trong xã hội Sở dĩ như vậy là do thiếu các thông tin về sự việc, sự kiện.Các cá nhân hay nhóm xã hội nếu không được tiếp nhận thông tin thì không thể có

Trang 22

bất cứ ý kiến chủ động nào Hoặc có những cá nhân hay nhóm xã hội sẽ rút ra khỏicác cuộc thảo luận khi phát hiện ra rằng lợi ích của họ không có quan hệ gì với vấn

đề đang diễn ra Do đó cần có cách nhìn nhận và hoạt động thực tế nghiêm túc đềđảm bảo cung cấp thông tin một cách rộng rãi tới đông đảo các tầng lớp nhân dân

Sơ đồ 1: Quá trình hình thành dư luận xã hội

- Sơ đồ 2: Các giai đoạn phát triển của dư luận xã hội

Trang 23

2.1.2 Các yếu tố tác động đến quá trình hình thành dư luận xã hội

Sự hình thành dư luận xã hội phụ thuộc vào nhiều điều kiện, yếu tố khác nhau,

cả chủ quan và khách quan về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, trình độ nhậnthức… Dưới đây là những yếu tố chính tác động đến sự hình thành dư luận xã hội:

1) Tính chất của các sự việc, sự kiện, hiện tượng xã hội, quá trình xã hội đang diễn ra trong xã hội

Thực tế xã hội luôn diễn ra đa dạng, phong phú và phức tạp với nhiều sự việc,

sự kiện, hiện tượng xã hội hay quá trình xã hội khác nhau Dư luận xã hội là hiệntượng tinh thần phản ánh tồn tại xã hội Sự phản ánh đó phụ thuộc vào quy mô,cường độ và tính chất của sự việc, hiện tượng xã hội; đồng thời phụ thuộc vào ýnghĩa của chúng đối với các nhu cầu lợi ích về vật chất hay tinh thần của cộng đồngngười mang dư luận Khuynh hướng chung trong các ý kiến đánh giá và thái độ củacông chúng là bày tỏ tán thành, ủng hộ đối với sự việc, sự kiện phù hợp với các nhucầu, lợi ích của mình và lên tiếng phê phán với những sự việc, sự kiện xâm hại tớilợi ích của họ Trong thực tế xã hội có những sự việc, sự kiện xảy ra ban đầu chỉảnh hường tới lợi ích của nhóm xã hội nhất định Nhưng sự phát triển tiếp theo đãcho thấy sự liên quan tới lợi ích của các nhóm xã hội khác Trong bối cảnh đó, cácnhóm xã hội sẽ bước vào cuộc trao đổi ý kiến, thảo luận Bên cạnh đó những sựkiện, hiện tượng có ảnh hưởng mạnh mẽ, trực tiếp đến đại đa số người dân sẽ tạo racác luồng dư luận xã hội chỉ trong thời gian ngắn Như vậy, muốn nghiên cứu, tìm

Trang 24

hiều nguồn gốc phát sinh dư luận xã hội thì phải xuất phát từ chính bản thân các sựviệc, sự kiện, hiện tượng xảy ra trong thực tế xã hội với quy mô, cường độ và tínhchất của chúng

2) Hệ tư tưởng, trình độ học vấn, kiến thức, hiểu biết, kinh nghiệm thực tế xã hội của con người

Sự hình thành dư luận xã hội phụ thuộc vào hệ tư tường, trình độ học vấn, kiếnthức, hiểu biết, kinh nghiệm thực tế xã hội của các cá nhân, các nhóm xã hội trong

xã hội Nói cách khác là mức độ chuẩn bị của cộng đồng người để tiếp nhận các sựviệc, hiện tượng cần thiết Nếu thông tin không đầy đủ thì dẫn đến khả năng tranhluận kéo dài không hình thành dư luận xã hội Hệ tư tường, trình độ học vấn củacon người cũng ảnh hưởng quan trọng tới khuynh hướng, chiều sâu, tính chất phảnánh đúng hay sai của các ý kiến, các quan điểm phán xét, đánh giá đối với sự việc,

sự kiện từ đó mà đưa ra các phán xét, đánh giá phù hợp về sự việc, góp phần hìnhthành những dư luận xã hội tích cực, có lợi ích cho cộng đồng, cho dân tộc hayquốc gia Ngược lại, ở những nhóm xã hội có trình độ học vấn thấp, người ta có thể

dễ dàng tin tưởng vào những điều nhảm nhí, những tin tức thất thiệt, vô tình thamgia vào việc làm lan truyền các những tin đồn nhảm, gây ra hậu quả xấu cho các cánhân, các nhóm xã hội

Ví dụ: Khi nói về chế độ chính trị ở Việt Nam, một số bộ phận phản quốc đãtuyên truyền về việc ở Việt Nam chỉ có một chính Đảng lãnh đạo nên sẽ tạo ra sựđộc quyền, chuyên chế, không mang tính dân chủ Nhưng bộ phận trí thức, có họcđều nhận rõ ra mục đích chống phá của bọn phản cách mạng Những dư luận chúngtạo ra chỉ làm ảnh hưởng đến quốc gia, dân tộc và đi sai lệch định hướng của Đảng

và Nhà nước Chế độ xã hội chủ nghĩa của Việt Nam do một chính Đảng duy nhấtlãnh đạo - Đảng cộng sản Việt Nam Nhà nước Việt Nam là nhà nước của dân, dodân và vì dân, có sự thống nhất chặt chẽ giữa các cơ quan, chuyên ngành và ý chí,nguyện vọng của dân Nhưng một số ít công dân ít học đã tin vào dư luận do bọnphản cách mạng tạo ra, gây ảnh hưởng xấu cho xã hội, lan truyền những dư luận sailệch cho xã hội và chính bản thân họ Như vậy, trình độ học vấn có ảnh hưởng lớnđến dư luận xã hội, nó quyết định tính chất tốt, xấu, lợi hại cho xã hội

3) Thông tin đại chúng

Hoạt động của hệ thống các phương tiện thông tin đại chúng bao gồm báo, tạpchí, phát thanh, truyền hình, ấn phẩm in, mạng máy tính…có tác động ảnh hưởng

Trang 25

mạnh mẽ tới sự hình thành dư luận xã hội Điều đó thể hiện trên ba phương diện cơbản sau:

- Các phương tiện thông tin đại chúng cung cấp thông tin, truyền tải kịp thời

và đầy đủ thông tin về các mặt, các lĩnh vực của đời sống xã hội Việc đáp ứng sởthích và nhu cầu thông tin của công chúng là một trong những tiền đề cơ bản cho sựphát triển của hệ thống truyền thông đại chúng Ở nước ta, các chương trình phátthanh, truyền hình, xuất bản phẩm ngày càng trở nên đa dạng, phong phú hơn, cậpnhật hơn với các thông tin về đời sống chính trị, kinh tê, văn hóa, xã hội của đấtnước và thế giới; sự phản ánh nội dung của các thông tin cũng chân thực và kháchquan hơn

- Các phương tiện thông tin đại chúng là diễn đàn ngôn luận công khai Ngàynay trình độ dân trí của người dân được nâng cao, các tầng lớp nhân dân cũng ngàycàng tham gia rộng rãi hơn vào đời sống chính trị xã hội của đất nước Trong bốicảnh đó, các phương tiện thông tin đại chúng có trách nhiệm truyền tải thông tin vềcác ý kiến phán xét, đánh giá, thái độ của công chúng với các sự kiện, hiện tượng,diễn ra trong đời sống xã hội Các phương tiện thông tin đại chúng điều chỉnh, địnhhướng sự phát triển của dư luận xã hội Hệ thống truyền thông đại chúng phải dànhphần thích đáng cho việc đăng tải các thông tin đã được kiểm chứng chính thức vàmang tính định hướng xây dựng Đặc biệt, khi các sự việc, sự kiện diễn ra và có tầmquan trọng đến lợi ích của đất nước, của dân tộc, đụng chạm đến các giá trị chuẩnmực cơ bản, khi đó định hướng thông tin phải phản ánh được quan điểm của Đảng

và Nhà nước, ý kiến chính thức của các cơ quan chức năng và phản ánh được sự

phán xét, đánh giá chung của xã hội

Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, sự ra đời của phương tiện truyềnthông hiện đại là sự hình thành hệ thống các kênh thông tin đại chúng như một thiếtchế xã hội quan trọng của xã hội hiện đại Truyền thông đại chúng (mass media)ngày nay được hiểu như là toàn bộ những kỹ thuật lan truyền thông tin tới nhữngnhóm xã hội lớn, mà chủ yếu bằng báo in, điện ảnh, phát thanh, truyền hình,internet hoặc các phương tiện khác như sách, áp phích…

Vai trò và chức năng của truyền thông đại chúng trong đời sống xã hội đãđược chứng minh từ lâu Thế nhưng, dưới cái nhìn của xã hội học, cơ chế tác độngqua lại giữa truyền thông đại chúng và dư luận xã hội có ý nghĩa quan trọng, đặc

biệt trong việc hình thành và thể hiện dư luận xã hội.

Trang 26

Khác với truyền thông liên cá nhân, thông tin từ hệ thống truyền thông đại

chúng được truyền đến số đông công chúng một cách nhanh chóng, đều đặn, trực

tiếp hoặc gián tiếp Hệ thống truyền thông đại chúng vừa phải hướng tới các đốitượng công chúng nói chung và các nhóm công chúng cụ thể Hoạt động hệ thốngtruyền thông đại chúng luôn chịu sự tác động từ hai phía: Phía thứ nhất: là các thiếtchế xã hội mà phương tiện đó là công cụ (như các tờ báo của các tổ chức chính trị,

xã hội) Và phía thứ hai là công chúng của báo chí

Với đặc điểm này, việc hình thành hoặc thể hiện dư luận trên hệ thống truyềnthông đại chúng trong cuộc đấu tranh chống tham nhũng cũng gặp những hệ lụy Vídụ: Báo chí chống tiêu cực, tham nhũng sẽ tạo sức ép lên những cơ quan, đơn vị, cánhân có hiện tượng tham nhũng, thậm chí đụng đến những người có chức, có quyền.Rất nhiều trường hợp khi tổ chức, cá nhân có tiêu cực, tham nhũng bị báo chí phanhphui do sợ dư luận xã hội và sợ pháp luật “rờ” tới mình nên họ tìm cách để tác độngđến các cơ quan quản lý cấp trên, cá nhân lãnh đạo cấp trên của cơ quan báo chí đểtạo sức ép hoặc tác động theo hướng ngăn cấm báo chí chống tiêu cực, tham nhũng.Nhưng ngược lại, việc hình thành và thể hiện dư luận xã hội trong quá trìnhđấu tranh chống tham nhũng thường xuất phát từ nhu cầu của công chúng báo chí –truyền thông Nếu không có sự phát hiện và “áp lực” từ phía công chúng báo chí thìnhững vụ tiêu cực nổi cộm như Epco Minh Phụng, Vũ Xuân Trường, Năm Cam,Thuỷ cung Thăng Long, Lã Thị Kim Oanh, Dương Chí Dũng, Nguyễn Đức Kiên,Huyền Như… khó được đưa lên công luận và cũng từ sức mạnh của dư luận nó đã

đi đến việc xử lý triệt để

Sự tác động của các nhóm công chúng đến các phương tiện truyền thông đạichúng hết sức khác nhau, do những khác biệt về địa vị xã hội, quyền lợi giai cấp, vềcác nhân tố tâm lý và về cường độ giao tiếp với các phương tiện truyền thông đạichúng Một người nông dân không thể có cơ hội đọc báo nhiều như một công chức.Một người dân miền núi sẽ khó có điều kiện bắt được nhiều kênh truyền hình nhưmột người ở các thành phố trung tâm Một học sinh ở nông thôn sẽ khó có cơ hộitiếp cận internet tốt hơn một sinh viên ở thành phố Nhu cầu nắm bắt thông tin củacác nhóm công chúng, các nhóm xã hội khác nhau là rất khác nhau Một vụ thamnhũng ở một công ty cụ thể nào đó của một tỉnh cụ thể nào đó sẽ thu hút sự quantâm cao của chính công nhân của công ty đó, người dân của tỉnh đó hơn là một

Trang 27

người dân bình thường ở tỉnh khác Và tất nhiên, sự khác biệt ấy xuất phát từ mốiquan tâm khác nhau giũa họ – những nhóm công chúng khác nhau Tuy nhiên, thamnhũng ảnh hưởng đến sự tồn vong của đất nước, tham nhũng ảnh hưởng trực tiếpđến quyền lợi của người dân và cán bộ, công chức lương thiện, trong sạch Vì lẽ đó,

có một điểm chung trong đại đa số công chúng thuộc nhiều nhóm xã hội khác nhau

là luôn muốn được thông tin về các vụ tham nhũng và muốn cung cấp thông tin,nhập cuộc vào đấu tranh chống tham nhũng trên báo chí, góp phần tạo ra dư luận xãhội

4) Những nhân tố thuộc về tâm lý xã hội

Trạng thái tâm lý xã hội thường biểu hiện ở nhiều nhân tố như thói quen, nếpsống, ý chí, tâm trạng hay tình cảm của nhóm xã hội, cộng đồng người đã được hìnhthành do ảnh hưởng trực tiếp của các điều kiện sống, lao động, sinh hoạt hằng ngàyhoặc do tác động của công tác tuyên truyền giáo dục Tùy từng thời điểm nhất địnhtâm trạng của con người có thề được thể hiện ở các trạng thái khác nhau, thậm chíđối lập nhau, như hưng phấn hoặc ức chế, lạc quan hoặc bi quan, hi vọng hoặc thấtvọng…khi con người đang ở tâm trạng phấn chấn, hồ hởi thì nội dung phán xét về

sự việc, hiện tượng xã hội sẽ có những khía cạnh khác với khi đang ở trong tâmtrạng bi quan, chán nản Những nếp nghĩ bảo thủ, di sản của quá khứ cũng có thểảnh hưởng tới sự hình thành của dư luận xã hội nếu không có sự định hướng đúngđắn

5) Hoàn cảnh sinh hoạt chính trị - xã hội

Mức độ dân chủ hóa đời sống xã hội, khả năng và sự tham gia thực tế củangười dân vào các sinh hoạt chính trị - xã hội của đất nước có ảnh hưởng rất quantrọng tới sự hình thành dư luận xã hội Trong điều kiện xã hội có dân chủ rộng rãi,

có thông tin đa dạng, phong phú thì mọi người dân sẵn sàng thẳng thắn, cởi mở, bộc

lộ các ý kiến, quan điểm của mình, tham gia, bàn bạc các vấn đề chung; do vậy dưluận xã hội có điều kiện hình thành thuận lợi Ngược lại, trong điều kiện xã hộithiếu dân chủ, thông tin nghèo nàn, thậm chí bị cắt xén, xuyên tạc thì dư luận xã hộithường hình thành khó khăn và chậm chạp Dưới các chế độ độc tài, phát xít, mọiquyền dân chủ bị thủ tiêu, dư luận xã hội càng khó hình thành và phát huy tác dụng,khi đó nó thường biểu hiện dưới hình thức biểu tượng, hò vè, tiếu lâm, châm biếm

6) Các phong tục tập quán, hệ thống các giá trị, chuẩn mực xã hội đang hiện hành trong xã hội

Trang 28

Các phong tục tập quán, hệ thống các giá trị, chuẩn mực xã hội đang hiện hànhtrong xã hội luôn có những tác động nhất định tới sự hình thành dư luận xã hội Về

cơ bản các phong tục tập quán, các giá trị, chuẩn mực xã hội hiện hành tạo ra nhữngkhuôn mẫu tư duy, khuôn mẫu hành động làm cơ sở cho việc phán xét, đánh giá của

dư luận xã hội về các sự kiện, hiện tượng, quá trình xã hội đang diễn ra trong xãhội Ngay trong cùng xã hội, các nhóm xã hội có thể đưa ra các phán xét, đánh giákhác nhau về cùng vấn đề Điều này thể hiện rõ nét qua sự nhìn nhận khác nhaugiữa các thế hệ đối với biểu hiện của lối sống hiện đại như cách ăn mặc, các sảnphẩm ca nhạc của phim ảnh, các sinh hoạt, vui chơi về giải trí…

Ví dụ: Trong xã hội phương Đông truyền thống, khi mà ý thức hệ tưởng phongkiến vẫn còn tồn tại sâu đậm trong nếp sống của con người, cách ăn mặc theo lối Âuhóa bị xem là kệch cỡm, lố bịch phê phán, bị chỉ trích gay gắt Hệ tư tưởng phongkiến đã tạo ra chuẩn mực đạo đức trong xã hội như ăn mặc kín đáo, lịch sự, con gáiphải tuân thủ “tam tòng, tứ đức”; con trai phải “tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiênhạ” Nhưng trong xã hội hiện đại, con người lại quan niệm về cách ăn mặc có phầnmới mẻ hơn, trang phục theo kiểu chau Âu trở nên phổ biến Tuy nhiên sự thay đổinày trong chừng mực nhất định vẫn bị hệ tư tưởng và các chuẩn mực truyền thốngchi phối, nếu có sự phá cách lộ liễu, ngay lập tức sẽ bị xã hội lên tiếng phê phán.Cách đây không lâu dư luận xã hội đã xôn xao xung quanh vụ việc tổ chứcđám cưới của hai người đồng tính nữ ở Hà Nội Ban đầu sự kiện này chỉ có ngườithân và bạn bè của hai người biết Nhưng sau khi những cảnh quay của đám cướinày được tung lên mạng đã làm cư dân mạng xôn xao Từ những nguồn tin phongthanh đó đã thu hút nhiều người (đặc biệt là các bạn trẻ) quan tâm và muốn tìm hiểu

rõ về nó Sau khi tìm hiểu rõ thông tin rất nhiều bạn đã có những suy nghĩ khácnhau về vấn đề này Và những cuộc bàn luận, bình luận xung quanh vụ việc bắt đầu

“bùng nổ” Đây chính là minh chứng cho giai đoạn hình thành thuộc ý thức cá nhân

và gia đình trao đổi thông tin giữa mọi người Ban đầu là những cuộc bàn luận xungquanh 2 bạn trẻ đồng giới, đa số các ý kiến cho rằng hai bạn làm như thế là khôngđúng với chuẩn mực đạo đức, xã hội của người Việt Nam là trái với đạo lý Nhưngngay sau đó nội dung của những cuộc bàn luận lại là vấn đề lớn hơn không chỉ làcủa hai người đồng tính nữa mà là bàn luận rộng ra: nên hay không nên có tình yêu,hôn nhân giữa những người cùng giới Nhiều cuộc tranh luận, thảo luận diễn ra vớirất nhiều quan điểm, ý kiến trái ngược nhau Nhưng khi tổng kết lại thì đại đa số dưluận xã hội đều không ủng hộ mối quan hệ giữa những người cùng giới Theo

Trang 29

truyền thống đạo đức của dân tộc Việt Nam từ ngàn đời qua và những phong tục tậpquán, giá trị đạo đức, quan niệm đã ăn sâu vào tiềm thức của người Việt thì khó cóthể chấp nhận được mối quan hệ này Tuy nhiên cũng có những ý kiến ủng hộ, họcho rằng đó là tình yêu chân chính và không gì có thể ngăn cản được Nguyên nhânmột phần của những quan điểm này là do ảnh hưởng của lối sống phương Tây đã dunhập vào nước ta trong những năm gần đây Sau vụ việc này có nhiều câu lạc bộ củanhững người đồng tính trước đây hoạt động “ngầm” thì bây giờ họ đã hoạt độngcông khai cho mọi người biết và bày tỏ những ý kiến, nguyện vọng thực của mình.Mặc dù bị đa số dư luận xã hội lên án và không đồng tình, nhưng những ngườitrong cuộc và những nguời ủng hộ vẫn có những quan điểm riêng bảo vệ cho ý kiếncủa mình Có lẽ đây sẽ là một vấn đề còn gây nhiều tranh cãi và khó đi đến sự thốngnhất

2.2 Cơ sở nhận thức và cơ sở xã hội của dư luận xã hội

2.2.1 Cơ sở nhận thức

Nội dung và sắc thái của dư luận xã hội được quy định trước hết bởi trình độhiểu biết của công chúng, nhóm xã hội Sự hiểu biết nhiều hay ít, sâu sắc hay khôngsâu sắc của công chúng, nhóm xã hội đối với vấn đề, hiện tượng, sự kiện quyết định

sự đánh giá đúng hay sai của công chúng, nhóm xã hội đối với vấn đề, sự kiện, hiệntượng đó Một trong những yếu tố nhận thức có ảnh hưởng khá phổ biến đến sựphán xét của dư luận xã hội, đó là khuôn mẫu tư duy xã hội

Khuôn mẫu tư duy xã hội là những quan niệm, suy lý, phán xét khái quát, giảnđơn, hữu hạn nhưng có tính phổ biến và tương đối bền vững trong một cộng đồng

xã hội Khuôn mẫu tư duy tồn tại trong tất cả các lĩnh vực cuộc sống của con ngườinhư trong tôn giáo, đạo đức, chính trị Ở đâu chúng ta cũng có thể lấy các ví dụ

về khuôn mẫu tư duy Dưới thời bao cấp, trong lĩnh vực tư tưởng chính trị, cáckhuôn mẫu tư duy về chủ nghĩa xã hội là các quan niệm như : “Chủ nghĩa xã hộikhông có kinh tế thị trường”; “Kinh tế kế hoạch hoá đối lập với kinh tế thị trường”.Các khuôn mẫu tư duy về các nước tư bản: “Kinh tế tư bản là kinh tế không có kếhoạch”; “Sự phồn vinh của các nước tư bản chỉ là sự phồn vinh bề ngoài giả tạo” Trong lĩnh vực đạo đức, một thời đã tồn tại các khuôn mẫu tư duy như: “Tiểuthương, tiểu chủ, những người làm ăn cá thể là kẻ xấu”; “Phụ nữ không có chồng

mà có con là thiếu đức hạnh” Trong lĩnh vực tri giác, cũng tồn tại rất nhiều khuônmẫu tư duy, ví dụ: “Nhất lé, nhì lùn”; “Nhất dáng, nhì da”, “Trai tài, gái sắc”, “Đẹpvàng son, ngon mật mỡ”…

Trang 30

Mọi định nghĩa giản đơn, ngắn gọn, phổ cập về các sự việc đều có thể đượccoi là khuôn mẫu tư duy Khuôn mẫu tư duy theo sự vận động của thực tế cuộc sống

sẽ trải qua hai giai đoạn: giai đoạn hợp thời (thời điểm chân lý mà nó phản ánh còntồn tại) và giai đoạn thời điểm lỗi thời (thời điểm chân lý mà nó phản ánh đã quađi) Sự tồn tại của các khuôn mẫu tư duy là cần thiết, không có nó sẽ không có hànhđộng xã hội Cái sai chỉ xuất hiện khi con người tuyệt đối hoá các định nghĩa, cáckhuôn mẫu tư duy, vẫn bám lấy chúng khi chúng đã lỗi thời

Chỉ có các khái quát, phán xét, suy lý phổ biến trong xã hội (hoặc trong mộtcộng đồng, nhóm xã hội) mới có thể trở thành khuôn mẫu tư duy xã hội Dư luận xãhội là phương thức tồn tại của khuôn mẫu tư duy xã hội Để chủ động hình thành dưluận xã hội trước hết phải hình thành các khuôn mẫu tư duy xã hội Khi đã có khuônmẫu tư duy xã hội, dư luận xã hội mà chúng ta muốn có sẽ tự khắc bật ra khi gặpbối cảnh tương ứng

2.2.2 Cơ sở xã hội

Các yếu tố xã hội, trước hết là lợi ích nhóm, tầng lớp, giai cấp, quốc gia, dântộc có mối liên hệ chặt chẽ với nội dung và sắc thái của dư luận xã hội Trong mộtnhà nước mạnh, chính quyền và nhân dân gắn bó với nhau, lợi ích quốc gia, dân tộcthường được coi trọng hơn các lợi ích khác (cá nhân, nhóm, tầng lớp, giai cấp);trước các sự kiện, hiện tượng, vấn đề xã hội, người ta thường lấy lợi ích quốc gia,dân tộc, lợi ích cộng đồng làm cơ sở để đưa ra sự nhận xét, đánh giá, bày tỏ thái độcủa mình Trong một nhà nước yếu, dân chủ không được coi trọng, pháp luật, kỷcương bị buông lỏng, chủ nghĩa cá nhân phát triển, người ta thường nhân danh lợiích quốc gia, dân tộc, cộng đồng để đưa ra ý kiến này, ý kiến kia, nhưng nếu phântích kỹ thì không phải như vậy, lợi ích cá nhân, cục bộ mới chính là căn cứ của các

ý kiến đó

Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, có nhiều lợi íchkhác nhau Về bản chất, các lợi ích này là thống nhất với nhau Tuy nhiên, ngoài cáclợi ích cá nhân, đặc thù hợp lý của các cá nhân, tầng lớp, giai cấp, nhóm xã hội (cáclợi ích gắn liền với lợi ích quốc gia, dân tộc), các cá nhân, tầng lớp, giai cấp, nhóm

xã hội có thể chạy theo các lợi ích cá nhân, đặc thù cực đoan, có lợi cho mìnhnhưng đi ngược lại lợi ích của quốc gia, dân tộc nói chung, của các cá nhân, tầnglớp, giai cấp, nhóm xã hội khác nói riêng

Trong thời bao cấp, luồng dư luận không tán thành quan điểm cho rằng CNXHcũng có kinh tế thị trường, phê phán quan điểm này là “chệch hướng XHCN” không

Trang 31

phải bao gồm toàn những người thiếu hiểu biết về vấn đề kinh tế thị trường mà còn

có cả những người có hiểu biết tốt, hiểu biết được rằng CNXH cũng có kinh tế thịtrường Tuy nhiên, khi phát biểu ý kiến thì họ lại nói khác, “nghĩ một đàng, nói mộtnẻo” Tiếng nói của họ, sự phản đối của họ không phải do yếu tố nhận thức quyếtđịnh mà là do các lợi ích đặc thù cực đoan quyết định: họ lo ngại sự đổi mới sẽ làmmất đi các đặc quyền, đặc lợi gắn liền với cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp mà họđang có

2.3 Chức năng của dư luận xã hội

2.3.1 Chức năng đánh giá

Dư luận xã hội thể hiện thái độ phán xét đánh giá của công chúng đối với các

sự kiện, hiện tượng, sự vật, vấn đề cuộc sống Dư luận xã hội có vai trò quan trọngtrong việc hình thành thang giá trị xã hội Trên thực tế, người ta thường chạy theocác giá trị mà dư luận xã hội đề cao chứ không phải các giá trị do các nhà tư tưởng,

lý luận đề ra Thang giá trị do các nhà tư tưởng, lý luận đề ra, cho dù có đúng đếnđâu, cũng khó có thể đi vào thực tế nếu không được dư luận xã hội tán thành, ủng

hộ Thang giá trị của dư luận xã hội mỗi thời một khác Ví dụ, đầu những năm 60,các giá trị vật chất được dư luận xã hội đề cao là “một yêu anh có pô-giô, hai yêuanh có đồng hồ đeo tay…” Trong những năm 80, các giá trị được đề cao không còn

là xe đạp pô-giô, đài, đồng hồ nữa mà là xe máy, cat-set, ti-vi, tủ lạnh

2.3.2 Chức năng điều tiết các mối quan hệ xã hội

Dư luận xã hội rất nhạy cảm với các hành vi xâm phạm lợi ích chung, lợi íchcủa toàn xã hội, nhất là hành vi của các phần tử, các nhóm cực đoan, lên án kịp thời

và gay gắt các hành vi này, làm cho cho các cá nhân, các nhóm cực đoan phải “chùntay”; dư luận xã hội cũng rất quan tâm đến các hành vi có lợi cho toàn xã hội, kịpthời cổ vũ, các cá nhân, nhóm xã hội thực hiện các hành vi này Nhờ sự can thiệpkịp thời, dư luận xã hội góp phần duy trì trật tự xã hội, mối quan hệ hài hoà giữa cánhân và xã hội cũng như giữa các nhóm xã hội

2.3.3 Chức năng giáo dục

Nhờ có uy tín lớn, sự khen chê, khuyên bảo của dư luận xã hội có tác động rấtmạnh đến ý thức và hành vi của con người, nhất là đối với các thế hệ trẻ Bằng sựkhen, chê, khuyên can kịp thời đối với các hành vi phù hợp hoặc không phù hợp vớilợi ích, các giá trị xã hội, nhất là các giá trị đạo đức, luân lý Dư luận xã hội có vaitrò rất lớn trong việc giáo dục cho các thế hệ ý thức về sự phải - trái, đúng - sai,thiện - ác, đẹp - xấu

Trang 32

2.3.4 Chức năng giám sát

Dư luận xã hội có vai trò giám sát hoạt động của nhà nước và các tổ chức xãhội, gây sức ép lớn đối với tệ tham nhũng, quan liêu, tắc trách Các quan chức thamnhũng, quan liêu, mất dân chủ rất “ghét” báo chí, dư luận xã hội vì báo chí, dư luận

xã hội luôn “nhòm ngó” vào các công việc mờ ám của họ, sẵn sàng lên án, tố cáohọ

2.3.5 Chức năng tư vấn, phản biện

Trước những vấn đề nan giải của đất nước, dư luận xã hội có thể đưa ra nhữngkhuyến nghị sáng suốt mà các cơ quan tham mưu cho chính quyền có thể chưa nghĩ

ra được Dư luận xã hội cũng có khả năng đưa ra các ý kiến phản biện xác đáng đốivới các quyết định của các cơ quan đảng, chính quyền, tổ chức chính trị - xã hội

2.3.6 Chức năng giải tỏa tâm lý xã hội

Theo các nhà tâm lý học, sự bất bình, các nỗi niềm oan ức của con người, nếukhông được giãi bày, nói ra, sẽ không mất đi mà lắng chìm xuống tầng vô thứctrong tâm thức của con người và có thể trở thành những mầm mống bệnh hoạnnghiêm trọng về tinh thần, đến một lúc nào đó sẽ bộc phát thành những hành vi,phản ứng bất thường không thể kiểm soát được Sự giãi bày, bày tỏ thành lời có thểgiải toả nỗi bất bình, uất ức của con người Bị oan ức mà nói ra được người ta sẽcảm thấy nhẹ nhõm

2.4 Tác động của dư luận xã hội

2.4.1 Tác động của dư luận xã hội đến đời sống xã hội

Dư luận xã hội dựa vào chuẩn mực xã hội để đánh giá Chuẩn mực xã hội cóthể thay đổi theo không gian, thời gian, do đó, đánh giá của dư luận xã hội cũngthay đổi theo Dư luận xã hội còn sắp xếp, điều hòa các quan hệ xã hội, chỉ ra nhữngviệc nên làm và những việc không nên làm, phát huy những truyền thống tốt đẹptrong quá khứ để hoàn chỉnh hiện tại (ôn cố tri tân) Dư luận xã hội không đơnthuần là ý kiến mà là tổng hợp ý thức xã hội nên nó tác động mạnh vào ý thức cánhân, buộc ý thức cá nhân hòa với cộng đồng Trong thực tế, không phải lúc nàocũng có sự can thiệp của pháp luật, nhất là những vấn đề thuộc về cá nhân, gia đìnhnhưng dư luận xã hội sẽ có ý kiến để điều chỉnh hành vi sai lệch

Thời phong kiến, dân ta đánh giá tư cách con người qua các chuẩn mực đạođức Nho giáo, người quân tử phải đủ “tam cương, ngũ thường”, người phụ nữ phảigồm “tam tòng, tứ đức”, ai vi phạm các chuẩn mực ấy thì bị xã hội khinh rẻ, xem

Trang 33

thường Xã hội hiện đại ngày nay không còn gò bó theo tiêu chuẩn ấy mà được mởrộng thêm những tiêu chuẩn mới như: năng động, sáng tạo, tác phong công nghiệp,v.v… và dư luận xã hội cũng lên án những thói hư tật xấu như: lười biếng, ăn chơi

sa đọa, thực dụng, đua đòi… Người ta sợ bị xã hội, người thân, bạn bè, làng xóm…khinh khi, rẻ rúng hơn là sợ bị chính quyền trừng phạt, tù đày cho chúng ta thấy sứcmạnh của dư luận xã hội Thực tế, đã từng xảy ra nhiều trường hợp vì áp lực dưluận xã hội làm cho nạn nhân phải tự tử hoặc bỏ làng biệt xứ

Dư luận xã hội còn kiểm soát, kiểm tra không chính thức bộ máy Nhà nước vàcác cán bộ có cương vị lãnh đạo xem hoạt động có phù hợp với lợi ích tập thể haykhông, cần thiết phát hiện ra những vấn đề giúp cơ quan tư pháp, hành pháp thihành tốt nhiệm vụ Điều này thể hiện rõ nhất là người dân có thể biết rất rõ vị cán

bộ nào có bao nhiêu tài sản của chìm của nổi, mấy vợ mấy con, “hành tung bí ẩn”như thế nào; trong khi đó, bản kê khai tài sản của cán bộ nọ không hề thể hiện và tất

cả các vụ việc tham nhũng được phát hiện từ trước đến nay là từ phía quần chúng vàbáo chí, không có vụ nào do cơ quan, tổ chức Đảng hay đoàn thể vị cán bộ đó pháthiện

Dư luận xã hội thống nhất ý kiến và kiến nghị nên cũng làm luôn chức năng tưvấn cho Chính phủ Cụ thể là Chính phủ vẫn kêu gọi nhân dân góp ý các bản dựthảo Luật, các nước tư bản đều có luật trưng cầu ý dân

Thông thường, sự kiện càng lớn thì quy mô hình thành dư luận xã hội càngcao Tuy nhiên, cũng có trường hợp ban đầu có nhiều người tham gia do tưởng rằng

có liên quan đến lợi ích của mình, nhưng sau đó hiểu rằng không liên quan thìngười ta không tham gia nữa

Xã hội càng mở rộng dân chủ thì dư luận xã hội càng có điều kiện phát huy.Ngược lại, nếu xã hội không dân chủ thì thay vào chổ của dư luận xã hội sẽ lànhững tin đồn ảnh hưởng đến đời sống chính trị, xã hội do người ta không đượccông khai bàn bạc, thảo luận, không có điều kiện kiểm chứng thực hư sự kiện xãhội Xã hội đang phát triển thì dư luận xã hội cũng mang tính tích cực, ngược lại, xãhội đang khủng hoảng thì dư luận xã hội cũng mang tính tiêu cực

Do đó, dư luận xã hội có ý nghĩa là thước đo bầu không khí chính trị, xã hội;

là tấm gương phản hồi đường lối, chính sách, pháp luật của Chính phủ; phản ánh

Trang 34

tâm tư, tình cảm, nguyện vọng của nhân dân; đánh giá năng lực, phẩm chất củangười lãnh đạo; có thể dựa vào dư luận xã hội để dự báo được những diễn biến sắptới của đời sống xã hội; phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân, tăng cườngmối quan hệ giữa chính quyền và nhân dân, ngăn ngừa tệ quan liêu, xa rời quầnchúng, v.v… Vì vậy, người làm công tác quản lý phải biết điều tra dư luận xã hội,phải biết thu thập, xử lý và phân tích thông tin để có quyết định đúng đắn, chấnchỉnh kịp thời các khiếm khuyết trong đường lối, chính sách, đáp ứng yêu cầu củaquần chúng nhân dân.

Như vậy, biện pháp tốt nhất để điều chỉnh dư luận xã hội theo hướng lànhmạnh là Chính phủ phải công khai, minh bạch tất cả các loại thông tin Khi ngườidân biết rõ vấn đề một cách chính xác, được quyền công khai thảo luận vấn đề đóbất cứ nơi đâu thì người ta không cần phải rỉ tai, nói nhỏ lén lút, “sai một ly đi mộtdặm”, sự kiện trở thành tin đồn tai hại

Trong thời đại bùng nổ thông tin từ Internet toàn cầu, người ta có thể tìm thấybất cứ thông tin nào từ một cái click chuột, thì việc cấm đoán, giới hạn, siết chặtquản lý truyền thông… chỉ làm cho truyền thông Nhà nước mất sức cạnh tranh vớitruyền thông tự do Ngày nay, truyền thông tự do (các website, blog cá nhân) là mộtkiểu dư luận xã hội thời kỹ thuật số Không thể nói tự do trên báo chí chính thống,người dân tìm đến những phương tiện khác, và các website, blog cá nhân là công cụđắc lực giúp họ thực hiện quyền tự do ngôn luận dù đôi khi để giành quyền đượcnói, người nói phải ẩn danh

Dân gian có câu: “Nắm người có tóc, ai nắm kẻ trọc đầu” Nếu cùng phản ánhmột sự kiện với quan điểm và cách thể hiện giống nhau, giữa truyền thông Nhànước và truyền thông tự do, người đọc sẽ tin truyền thông Nhà nước hơn bởi haichữ “Nhà nước” như một thứ “tem bảo đảm chất lượng hàng hóa” có “cầu chứng tạiTòa”, khi quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm hại còn có chỗ để kiện ra Tòa, còn căn

cứ vào truyền thông tự do thì khi bị xâm hại biết kiện ai nếu người viết ẩn danh.Tuy nhiên, khi truyền thông Nhà nước cứ nói mãi một chiều hoặc không nóiđến sự việc nổi bật mà người dân đang nhìn thấy diễn ra trước mắt mình; trong khitruyền thông tự do thông tin với đầy đủ bằng chứng, hình ảnh minh họa thì ngườidân đương nhiên sẽ tin vào truyền thông tự do và quay lưng với truyền thông Nhà

Trang 35

nước Đến một lúc nào đó, đại đa số người dân tin vào truyền thông tự do thì khi đótruyền thông tự do đã giành quyền kiểm soát, định hướng dư luận xã hội.

Ai cũng biết quy luật cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng, kiến trúcthượng tầng tác động trở lại cơ sở hạ tầng, khi cơ sở hạ tầng thay đổi sẽ tác độnglàm thay đổi kiến trúc thượng tầng Khi dư luận xã hội không đồng tình với mộtquyết sách nào đó thì dùng biện pháp cứng rắn đến mấy ép buộc cũng khó lòng thựchiện được, mà lại gây nên sự căm phẫn, tức giận trong nhân dân thì hậu quả khônlường

Hoặc khi dư luận xã hội thờ ơ với chính quyền, không quan tâm đến các hoạtđộng của chính quyền, người dân hành xử kiểu đối phó với các chính sách củachính quyền thì chính quyền đó có vấn đề không bình thường, cần phải được xemxét, chấn chỉnh, kiện toàn…

Hoặc khi một sự kiện xâm hại đạo đức, xâm hại conngười, xâm hại xã hội nào

đó đáng lên án lại bị dư luận xã hội xem là “chuyện thường ngày ở huyện” thì dưluận xã hội tự nó bộc lộ cho chúng ta thấy sự băng hoại đạo đức xã hội, Nhà nướccần có biện pháp can thiệp thích hợp để điều chỉnh tình hình, làm lành mạnh hóađời sống xã hội

“Dân ý như Thiên ý”, “Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh” là nguyêntắc bất di bất dịch đối với một Chính phủ của dân, do dân, vì dân Vì vậy, nếu mộtChính phủ biết quan tâm, biết lắng nghe dư luận xã hội để điều chỉnh đường lối,chính sách đáp ứng dư luận xã hội, cũng là đáp ứng mong mỏi của nhân dân là việclàm chính đáng, phúc đức chung cho cả dân tộc, quốc gia

2.4.2 Tác động của dư luận xã hội đến lĩnh vực pháp luật

Trong lịch sử xã hội loài người, dư luận xã hội đã từng đóng vai trò điều hoàcác mối quan hệ xã hội, định hướng hành vi xã hội của con người ngay cả khi trong

xã hội chưa có sự phân hoá giai cấp, chưa xuất hiện nhà nước và pháp luật, cũng cónghĩa là chưa có ý thức pháp luật đó là xã hội nguyên thuỷ Ph.Ăngghen đã nhận xétrằng, trong chế độ xã hội này không hề có các phương tiện ép buộc nào khác ngoài

dư luận xã hội Cơ chế tác động, điều tiết được thực hiện dựa trên phương pháp tác

Trang 36

động xã hội và phụ thuộc vào mức độ chín muồi của dư luận xã hội, mức độ xâmnhập và ảnh hưởng của nó, cũng như trình độ phát triển của xã hội.

Từ lập trường của chủ nghĩa duy vật lịch sử, triết học Mác – Lênin đã chỉ rõvai trò to lớn, sự tác động mạnh mẽ của các yếu tố tinh thần đối với hoạt động sốngcủa con người, trong đó có dư luận xã hội Sức mạnh to lớn của dư luận xã hội xuấtphát từ vai trò quyết định của quần chúng nhân dân trong lịch sử Sự gia tăng vai tròcủa các tầng lớp nhân dân trong xã hội đã dẫn đến sự gia tăng hiệu lực và tính hiệnthực của dư luận xã hội, tạo nên sức mạnh vật chất và tinh thẩn làm cải biến xã hội.Nhận thức rõ sức mạnh lớn lao của dư luận xã hội trong công cuộc cải tạo xã hội,

Ph.Ăngghen cho rằng, “để có thể chí ít nghĩ đến việc hoàn thành được cuộc cải tạo

đó, thì trước hết phải diễn ra sự tiến bộ lớn lao trong dư luận xã hội” Kế thừa tư

tưởng này của Ph.Ăngghen, V.I.Lênin khẳng định rằng, để chiến thắng, cách mạngcần phải dựa vào sức mạnh vật chất và tinh thần của dư luận xã hội Sau thắng lợicủa Cách mạng tháng Mười Nga, tiếp tục nhấn mạnh sự cần thiết phải sử dụng sứcmạnh to lớn của dư luận xã hội để củng cố kỷ luật lao động, đấu tranh với những

tàn dư của xã hội cũ, V.I.Lênin khẳng định: “Chúng ta muốn rằng chính phủ bao giờ cũng phải được dư luận công chúng của nước mình kiểm soát” Điều đó cho

thấy, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin luôn ghi nhận vai trò to lớn của

dư luận xã hội đối với các lĩnh vực của đời sống xã hội

Dư luận xã hội là sự biểu hiện trạng thái ý thức của một cộng đồng người, làmột phương thức tồn tại đặc biệt của ý thức xã hội Trong cấu trúc của dư luận xãhội luôn có mặt tất cả các thành phần, các yếu tố cấu thành ý thức xã hội: nhận thức,tình cảm và ý chí, tâm lý xã hội và hệ tư tưởng, ý thức chính trị, ý thức pháp quyền,

ý thức đạo đức và thẩm mỹ… Dư luận xã hội với tư cách một hiện tượng xã hội đặcbiệt không tồn tại độc lập như là một thành phần trong kết cấu nói trên, mà nó thamgia, có mặt trong tất cả các bộ phận, các thành phần của ý thức xã hội Vấn đề là ởchỗ, khi có một sự việc, sự kiện, hiện tượng xã hội nào đó, dù là thuộc ý thức xã hộithông thường, ý thức xã hội lý luận, tâm lý xã hội hay thuộc hệ tư tưởng xã hội, cóđụng chạm đến lợi ích của cộng đồng xã hội và thu hút được sự quan tâm chú ý của

họ, thì khi đó sẽ nảy sinh dư luận xã hội

Ý thức pháp luật là một hình thái của ý thức xã hội, là sự phản ánh tồn tại xãhội từ góc nhìn pháp luật, là toàn bộ các tư tưởng, quan điểm của một giai cấp về

Ngày đăng: 19/11/2017, 19:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w