Sự chênh lệch giàu nghèo, sự phát triển không đồng đều giữa các địa phương, đời sống cơ cực của người dân chưa được quan tâm đúng mức,…Đó chỉ là một trong những bất cập mà ai cũng thấy n
Trang 1KHOA KINH TẾ QUỐC TẾ
Bài tiểu luận
VẤN ĐỀ NGHÈO ĐÓI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Trang 2Thế kỉ XXI đánh dấu bước phát triển thần kì của Việt Nam về tăng trưởng và phát triển kinh tế Đời sống người dân nhìn chung thời gian gần đây đã có những chuyển biến
rõ rệt Từ một nền kinh tế thiếu thốn trăm bề vào những ngày mới giải phóng thì đến nay, Việt Nam với cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đang dần vươn lên để đuổi kịp với các nền kinh tế khác Cùng với sự phát triển, sự văn minh thì Việt Nam những bất cập vẫn còn tồn tại rất phổ biến trong xã hội Sự chênh lệch giàu nghèo, sự phát triển không đồng đều giữa các địa phương, đời sống cơ cực của người dân chưa được quan tâm đúng mức,…Đó chỉ là một trong những bất cập mà ai cũng thấy ngoài xã hội kia Có thể chấp nhận rằng quá trình tăng trưởng kinh tế cần có sự đánh đổi, tuy nhiên ở nước ta hiện tại, những bất cập về mức sống và đói nghèo của người dân chưa được quan tâm đúng mức và có chăng đây là một cách lí giải của những người giải quyết chưa tốt những vấn đề trên Bài báo cáo ngắn dưới đây nêu một cách bao trùm nhất về tình hình đói nghèo ở Việt Nam, thực trạng cũng như giải pháp về mặt lí thuyết có thể được áp dụng trong thực tiễn để giải quyết vấn đề đói nghèo
Bài báo cáo tuy đã hoàn thành những chắc chắn không thể tránh được những thiếu sót Rất mong được sự đóng góp của đọc giả và thầy cố vấn để nhóm có thể khắc phục được những sai sót trong những lần soạn thảo tiếp theo
Nhóm xin chân thành cảm ơn quý đôc giả!
Trang 3Mục lục
I Nghèo đói 4
1 Khái niệm 4
2 Xác định đối tượng nghèo và đo lường múc độ nghèo ở Việt Nam: 5
a Chi tiêu hộ gia đình 6
b 2.2 Dựa vào thu nhập 6
c Dựa vào cách phân loại của địa phương 6
II Người nghèo hiện nay sống như thế nào? 7
1 Hệ số chênh lệch thu nhập giữa thành thị nông thôn đang được rút ngắn, nhưng mức chênh lệch tuyệt đối lại đang tăng lên: 8
2 Thống kê những con số về chênh lêch giàu nghèo ở từng khu vực 10
3 Chất lượng an sinh xã hội, y tế, giáo dục ở Việt Nam hiện nay: 12
4 Vê mức sống cơ bản của người dân: 13
III Nguyên nhân của nghèo đói 14
1 Nguyên nhân chủ quan 14
2 Nguyên nhân khách quan: 17
a Khí hậu 17
b Đất đai, thổ nhưỡng 18
3 Hậu quả ( hệ lụy ) của nghèo đói : 18
IV Các chính sách, biên pháp nâng cao chất lượng sống và thành tựu gần đây 20
1 Nhìn lại kết quả của cuộc chiến chống đói nghèo mấy năm qua: 20
a Về vốn (tài chính ) 21
b Về y tế 22
c Về giáo dục 22
d Quan điểm cá nhân 23
Trang 4“ Không có xã hội chắc chắn có thể được hung thịnh và hạnh phúc trong đó đến nay phần lớn các con số là người nghèo và khốn khổ”
Một người nghèo ở Kênia “tất cả mọi thứ là khủng khiếp - bệnh tật, làm nhục, xấu hổ chúng tôi đang làm què quặt, chúng tôi sợ tất cả mọi thứ, chúng ta phụ thuộc vào tất cả mọi người, không ai cần đến chúng tôi chúng ta giống như rác mà mọi người muốn tống khứ ”
Một người phụ nữ ở Tirapol, Moldova
Những định nghĩa về 2 chữ nghèo đói bên trên chính là những quan niệm giản
đơn của chính người nghèo Dường như chính họ cảm thấy “ nghèo đói là sự hổ
thẹn , cảm giác phụ thuộc vào người khác và buộc phải chấp nhận sự bạo hành , sỉ nhục , và thái độ thờ ơ khi tìm kiếm sự giúp đỡ”
Một người nghèo ở Latvia
Nghèo đói không chỉ là vấn đề của một quốc gia riêng biệt nào cả, nó là vấn nạn chung của toàn thế giới Vì vậy, mỗi quốc gia đều có những nhận định riêng của mình Tại hội nghị chống nghèo đói khu vực châu Á –Thái Bình Dương
(9/1993) , Việt Nam cho rằng “ nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư không
có khả năng thỏa mãn những nhu cầu cơ bản nào đó của con người , mà những nhu cầu đó phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế xã hôi , phong tục tập quán của từng vùng và những phong tục ấy được xã hội thừa nhận.”
Riêng Ngân Hàng Thế Giới, thời gian qua họ cũng có những cách tiếp cận
khác nhau Họ cho rằng “ xét về mặt phúc lợi, nghèo có nghĩa là khốn cùng Nghèo
có nghĩa là đói, không có nhà cửa, quần áo ốm đau và không ai chăm sóc, mù chữ
và không được đến trường Nhưng đối với người nghèo, sống trong cảnh bần hàn còn mang nhiều ý nghĩa hơn Người nghèo đặc biệt dể bị tổn thương trước những
sự kiện bất thường nằm ngoài khả năng kiểm soát của họ Người nghèo thường bị
Trang 5các thể chế của nhà nước và xã hội đối xử tàn tệ, bị gạt ra ngoài lề xã hội nên không có tiếng nói và quyền lực trong các thể chế nói trên”
Từ những khái niệm trên, có thể thấy khái niệm nghèo đói tuy đa dạng nhưng chứa ba khía cạnh cơ bản và quan trọng :
Thứ nhất: người nghèo có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng
đồng dân cư
Thứ hai: người nghèo không được thụ hưởng những nhu cầu cơ bản ở mức độ
tối thiểu dành cho con người
Thứ ba: người nghèo thiếu sự lựa chọn tham gia vào quá trình phat triển của
cộng đồng
(Trích “Kinh tế phát triển–Nguyễn Trọng Hoài)
2 Xác định đối tượng nghèo và đo lường múc độ nghèo ở Việt Nam:
Để nghiên cứu nghèo đói, người ta thường chia thành 2 dạng chính sau đây:
+ Nghèo tuyệt đối: tức người nghiên cứu muốn nhấn mạnh đến khả năng đáp ứng các nhu cầu cơ bản của bản thân hay của hộ gia đình Thường thì nghèo theo dạng này có mức chi tiêu hoặc thu nhập thấp hơn một mức cụ thể nào đó theo tính toán của người nghiên cứu
+ Nghèo tương đối: Liên quan nhiều hơn đến mức sống trung bình của cá nhân hay hộ gia đình thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng thì họ được xếp vào diện nghèo
Riêng 2 mức độ nghèo này còn tùy thuộc vào nhiều điều kiện, bối cảnh khác nhau Giả dụ như 1 người sống ở Mỹ, họ có thể coi là nghèo nếu như thu nhập của họ dưới 10 USD/ngày, còn người Việt Nam được coi là chuẩn nghèo năm
2012 là thu nhập 11.170 USD/năm hoặc 931 USD/tháng (ở bang Hawaii và Alaska
là 12.860 và 13.970 USD/năm), tương đương gần 20 triệu VNĐ mỗi tháng Còn chuẩn nghèo hộ một người ở Trung Quốc năm 2011 quy định là 1500 Nhân dân tệ, tương đương 225 USD (1 Tệ tương đương 0,15 USD), là quá thấp so với chuẩn nghèo 11.170 USD ở Mỹ và còn thấp hơn chuẩn nghèo 365 USD của Liên Hợp Quốc, thậm chí không cao hơn chuẩn nghèo của Việt Nam (4,8 triệu đồng ở nông thôn và 6 triệu đồng ở thành thị) Vì vậy nếu chỉ so sánh tỷ lệ người nghèo giữa các nước với nhau mà không xét chuẩn nghèo của từng nước thì sự so sánh ấy rõ ràng chẳng có ý nghĩa gì Vì vậy, như thế nào là nghèo đói còn tùy thuộc vào hoàn cảnh, kinh tế, sự phát triển… của mỗi quốc gia, mỗi địa phương đó Sau đây là một
số tiêu chí của Việt Nam:
Trang 6a Chi tiêu hộ gia đình
Từ năm 2002, chuẩn nghèo bao gồm tiêu dung tối thiểu về lương thực (70%) và phi lương thực (30%) theo một trình tự gồm 2 bước:
Bước thứ nhất xác định giá của một số lương thực đặc thù của người Việt
Nam đủ để cung cấp dinh dưỡng cần thiết (20kcal/ngày) Mức tiêu thụ thực tế của nhóm 20% hộ gia đình thứ ba là tương đối gần định mức lương thực tối thiểu
Bước thứ hai là bổ sung thêm các chi phí cho các mặt hàng phi lương thực
khác Chi phí này được xác định bằng mức tiêu thụ hàng phi lương thực của nhóm 20% hộ gia đình thứ ba
Tổng hợp hai bước trên sẽ cho kết quả chuẩn nghèo
b Dựa vào thu nhập
Phương pháp này do Bộ Lao động thương binh và Xã hội (LĐTBXH) đưa
ra để đo mức nghèo Bộ LĐTBXH dựa trên điều tra gồm những câu hỏi về tài sản
và về thu nhập từ các nguồn khác nhau Thu thập các nguồn này cộng lại chia cho
số người trong hộ và so sánh với một trong ba chuẩn nghèo tùy theo xã đó thuộc vùng nào
Trong giai đoạn 2006 đến 2010, chuẩn nghèo được áp dụng ở thành thị là
260 ngàn đồng/người/tháng , trong khi nông thôn là 200 ngàn đồng/người/tháng
Phương pháp này, về lý luận các mốc thu nhập dùng để phân loại hộ nghèo
ở những xã khác nhau có tính chủ quan và chưa chắc chắn so sánh được Đồng thời, phương pháp này của Bộ LĐTBXH không được áp dụng đồng nhất ở các địa phương Điển hình là chỉ một phần trong số các hộ điều tra, chủ yếu là các hộ đã được nhận giấy chứng nhận hộ nghèo và một số hộ khác ở sát mức nghèo Kết quả điều tra thường không được chính quyền địa phương tính đến khi phân bổ những khoản trợ giúp như miễn giảm học phí, bảo hiểm y tế chính quyền địa phương thường không xem xét phương pháp của bộ mà đặt ra tỷ lệ nghèo , rất giống với kiểu giao chỉ tiêu
c Dựa vào cách phân loại của địa phương
Với phương pháp này, ưu điểm lớn nhất là gắn liền với thực tế , liên hệ mật thiết với người dân Theo đó tổ hay thôn sẽ lên danh sách những hộ nghèo, đói Danh sách này sẽ được cập nhập 2 lần/ 1 năm Việc hộ này có nghèo hay không hay là cận nghèo…được quyết định thong qua cuộc họp tổ, thôn Tuy nhiên, trong cuộc họp này nhiều hộ không nằm trong danh sách này có tham gia hay không còn
là một câu hỏi Vì vậy, nhược điểm của phương pháp này là thiếu một quy tắc chặt
Trang 7chẽ để xác định hộ nghèo và liệu cuộc họp xét hộ nghèo có thật sự đúng theo mục đích đề ra, ai là người cần trợ giúp nhất Đồng thời những hộ mà lao động chính lười biếng, không có trách nhiệm với gia đình và xã hội thì liệu có được đưa vào danh sách hộ nghèo Trên thực tế, nếu trường hợp này xảy ra thì người chịu thiệt thòi nhất chính là những người phụ thuộc của gia đình hộ gia đình này
“Lấy ngay thực tế ở nơi tôi sinh sống, người ta đánh giá hộ nghèo cũng bằng phương pháp này Tổ dân phố cũng tiến hành lấy danh sách những hộ được cho là nghèo, những hộ này đa phần “ gần” nhà với ông tổ trưởng hay những người thân của ông ta Nhiều hộ nhà vẫn có xe máy, tivi, tủ lạnh…vậy mà vẫn là
hộ nghèo Bên canh đó vẫn có nhiều gia đình được xét là hộ “giàu” trong khi cái nhà của họ chỉ để che nắng , mưa thì chổ này dột, chổ kia ướt, gia đình thì võn vẹn nữa sào ruộng trong khi phải nuôi 3 đứa đi học.”- Một hộ dân chia sẻ
Qua ví dụ thực tế, ta thấy được trong quá trình xét hộ nghèo của các địa phương , bên cạnh các kết quả đạt được thì còn đó vô vàn bất cập mà những người nghèo biết kêu vào ai
II Người nghèo hiện nay sống như thế nào?
Sau khi nền kinh tế chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ tập trung quan liêu bao cấp tiêu cực sang nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa mà dấu mốc quan trọng là Đại Hội Đảng bộ lần thứ VI năm 1986 Nước ta đã có những chuyển biến đáng kể trong nền kinh tế Thời kì từ năm 1986-1996 thì dư âm của chế độ kinh tế tập trung, quan liêu bao cấp chưa thể xóa được dư âm cũng như những hệ lụy còn tồn đọng rất nhiều, đời sống người dân vô cùng cơ cực và đây được coi là một thời kì đen tối trong nền kinh tế nước nhà Với cơ chế kinh tế như trên, nó làm chậm, làm tăng tính ỷ lại, giảm năng suất và hiệu quả kinh tế gần như trở về không, người dân đói khổ cùng cực trong thời kì tem phiếu này, đặc biệt là đồng bào miền Nam Việt Nam Sau khi Việt Nam Cộng Hòa – chế độ chính trị tư bản chủ nghĩa với năng lực sản xuất hàng hóa đáng khâm phục thì sau năm 1975, sau khi thống nhất hai miền Nam Bắc thì
bị đình trệ hoàn toàn, tư liệu sản xuất bị tịch thu khiến người dân mất công ăn việc làm, dẫn đến nền kinh tế không hoạt động Mà kinh tế hoạt động kém hiệu quả thì người dân phải gánh chịu hậu quả nặng nề nhất Thời kì đen tối đã đi qua và kinh tế nước ta thực sự đi vào phải khởi sắc thì phải kể đến khoảng thời gian sau năm 1996
Cụ thể:
Thành tích của Việt Nam về tăng trưởng kinh tế và giảm nghèo trong hai thập kỷ qua rất lớn Nếu sử dụng chuẩn nghèo “dựa theo nhu cầu cơ bản” như thống
Trang 8nhất từ đầu vào năm 1998, tỉ lệ nghèo tính theo đầu người giảm từ 58% vào đầu thập
kỷ 1990 xuống 14,5% năm 2008 Trong 10 năm gần đây (2002 - 2012), Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng khích lệ trên tất cả các lĩnh vực: Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm trong giai đoạn này là 6,5%, tỷ lệ nghèo đã giảm mạnh từ 22,3% năm 2002 xuống còn 11,1% năm 2012 Đời sống của các hộ gia đình đã được cải thiện, thu nhập bình quân đầu người tăng lên nhanh chóng Mặc dù thu nhập của mọi tầng lớp dân cư, các địa phương, các vùng lãnh thổ và khu vực đều tăng lên, nhưng sự gia tăng này lại diễn ra theo các tốc độ và chiều hướng khác nhau Điều này
đã dẫn đến sự gia tăng chênh lệch giàu - nghèo trong từng địa phương, từng khu vực cũng như trên phạm vi cả nước Cụ thể nếu năm 2002 hệ số chênh lệch thu nhập giữa 20% dân số thuộc nhóm giàu so với 20% dân số ở nhóm nghèo của Việt Nam là 8,1 lần, đến năm 2012 thì hệ số này là 9,4 lần Với tốc độ gia tăng khoảng cách giàu nghèo bình quân 1,6% năm như hiện nay, nếu không có các chính sách điều chỉnh hợp
lý thì Việt Nam sẽ nhanh chóng bước vào ngưỡng bất bình đẳng cao Nếu không nhìn nhận và đưa ra biện pháp giải quyết vấn đề này, sự phân hóa giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư, giữa khu vực thành thị và nông thôn lớn Điều này sẽ tạo ra ảnh hưởng không tốt cho sự phát triển của kinh tế, sự phát triển của xã hội
1 Hệ số chênh lệch thu nhập giữa thành thị nông thôn đang được rút ngắn, nhưng mức chênh lệch tuyệt đối lại đang tăng lên:
+ Ở từng giai đoạn khác nhau, tỉ lệ chênh lệch thu nhập bình quân đầu người giữa thành thị và nông thôn có sự khác biệt rõ ràng.Cụ thể, giai đoạn 1992-1998, chỉ tiêu thu nhập bình quân đầu người ở nông thôn tăng 30% (trung bình mỗi năm tăng 5,4%), nhưng ở khu vực thành thị, con số này là 61% (trung bình mỗi năm tăng 9,9%) dẫn đến mức sống của hai khu vực có sự khác biệt lớn Sự phân bố các tiềm lực kinh
tế chưa đồng đều là nguyên nhân chính dẫn đến sự chênh lệch trên là do trong giai đoạn này, sự phân bố tiềm lực phát triển kinh tế chưa đồng đều: Các loại hình công nghiệp, dịch vụ, các doanh nghiệp, khu công nghiệp, khu chế xuất tập trung chủ yếu ở khu vực thành thị Trong khi đó ở khu vực nông thôn, chủ yếu phát triển kinh tế nông nghiệp manh mún, nhỏ lẻ , gặp nhiều rủi ro về thị trường, giá cả, thiên tai Hậu quả là khoảng cách giữa thành thị và nông thôn đã nới rộng từ 1,8 lần lên 2,2 lần
Trước nguy cơ khoảng cách thành thị - nông thôn bị nới rộng, chính sách công nghiệp hóa của đât nước đã và đang hướng sự chú ý vào khu vực nông thôn Các doanh nghiệp, khu công nghiệp, khu chế xuất đang được nhân rộng ở khu vực nông thôn, tạo ra nhiều công ăn, việc làm cho lao động nhàn rỗi nông nghiêp, góp phần tăng thu nhập cho người dân và phát triển kinh tế khu vực Đã có những chuyển biến tích cực trong thu nhập bình quân ở khu vực này Cụ thể như sau:
Trang 9Bảng 1:Thu nhập BQĐN 1 tháng chia theo khu vực thành thị - nông thôn ở Việt Nam
thời kỳ 2002 - 2012
TNBQ ở thành thị (1.000 đ) 622,1 815,4 1058,4 1605,2 2129,5 2989,1 TNBQ ở nông thôn (1.000 đ) 275,1 378,1 505,7 762,2 1070,4 1579,4
Hệ số chênh lệch TT-NT (lần) 2,3 2,2 2,1 2,1 2,0 1,9
Chệnh lệch tuyệt đối TT-NT
(1.000đ) 347,0 437,3 552,7 843,0 1059,1 1409,7
Nguồn:Kết quả điều tra mức sống hộ gia đình -Tổng cục Thống kê
Nếu ở khu vực nông thôn, thu nhập bình quân đầu người (TNBQĐN) năm
2002 là 275,1 (nghìn đồng) thì con số này ở năm 2012 là 1579,4 (nghìn đồng) Chênh lệch so với năm 2002 gần 5,74 lần ); còn ở khu vực thành thị TNBQĐN một tháng năm 2012 là 2989,1 nghìn đồng gấp 4,80 lần so với năm 2002 (622,1 nghìn đồng) Mặc dù thu nhập của thành thị vẫn cao hơn ở nông thôn nhưng tốc độ tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người qua các năm ở giai đoạn này của khu vực nông thôn luôn cao hơn khu vực thành thị Hệ số chênh lệch thu nhập giữa thành thị với nông thôn giảm 17,4%; từ 2,3 lần năm 2002 giảm xuống còn 1,9 lần năm 2012 Riêng thời kỳ từ 2006 đến 2008 hệ số này dường như chững lại, không
có sự biến đổi là do tốc độ tăng thu nhập của 2 khu vực tương đương nhau Tuy nhiên, mức chệnh lệch tuyệt đối về thu nhập bình quân đầu người hàng tháng giữa hai khu vực lại đang ngày càng tăng lên Nếu như năm 2002, chênh lệch này chỉ là
347 nghìn đồng, thì đến năm 2012, nó đã lên đến 1.409,7 nghìn đồng (Bảng 1)
Số liệu thống kê trong thời kì này cũng chỉ rõ ra rằng: 60% dân số có thu nhập thấp (thuộc nhóm nghèo, cận nghèo và trung bình), chủ yếu tập trung ở khu vực nông thôn chỉ chiếm 30% thu nhập của cả xã hội 30% dân số còn lại có thu nhập cao tập trung chủ yếu ở khu vực thành thị đang nắm giữ 70% tổng tài sản của toàn xã hội Đây là một sự bất bình đẳng dẫn đến đói nghèo cao Nắm được điều này, các chính sách kinh tế hiện tại đang có xu hướng phân bổ đều, tăng các hoạt động công nghiệp, thương mại, dịch vụ về vùng nông thôn, xây dựng những chính sách nông thôn mới, cơ giới hóa sản xuất, ban hành các chính sách ưu đãi nhằm thu hút vốn đầu tư,… Tạo điều kiện để gia tăng công ăn, việc làm, gia tăng thu
Trang 10nhập cho người dân ở các vùng nông thôn Và thời gian gần đâu đã có những chuyển biến tích cực
2 Thống kê những con số về chênh lêch giàu nghèo ở từng khu vực
Bảng : Thu nhập bình quân đầu người một tháng ở khu vực thành thị và nông thôn
chia theo 5 nhóm thu nhập của thời kỳ 2002 -2012
Năm
Nhóm TN
Thu nhập BQĐN 1 tháng (nghìn đồng) So sánh
2012/2002 (lần)
Trang 11Nguồn: Kết quả điều tra MSHGĐ - Tổng cục Thống kê
Tuy nhiên, theo hệ số chênh lệch thu nhập giữa nhóm giàu với nhóm nghèo trong nội bộ từng khu vực ở bảng 4 có thể rút ra một số điểm chính sau:
Thứ nhất, sự chênh lệch giàu nghèo ở khu vực thành thị đang có xu hướng
giảm trong những năm gần đây Từ năm 2002 đến năm 2008 thu nhập của người giàu luôn gấp hơn 8 lần thu nhập của người nghèo và mức chênh lệch này tăng khá chậm Nhưng từ năm 2008 đến năm 2010 mức chênh lệch này đã giảm tương đối nhanh từ 8,3 lần xuống 7,9 lần và đến 2012 thì giảm mạnh chỉ còn 7,1 lần Mặc dù
sự chênh lệch giàu nghèo ở nội bộ khu vực thành thị vẫn còn tương đối cao nhưng
nó đang diễn ra theo chiều hướng tích cực - giảm dần Đồng thời thu nhập của các nhóm nghèo trong khu vực này ngày càng được cải thiện hơn, tốc độ tăng thu nhập của các nhóm nghèo cao hơn tất cả các nhóm còn lại Điều này đã tác động làm cho bất bình đẳng trong nội bộ khu vực thành thị giảm
Thứ hai, chênh lệch giàu nghèo ở khu vực nông thôn, diễn ra theo xu
hướng trái ngược với khu vực thành thị Trong những năm đầu của giai đoạn 2002– 2012, hệ số chênh lệch thu nhập giữa 2 nhóm giàu - nghèo là hơn 6 lần, thấp hơn hệ số này ở nội bộ khu vực thành thị Tuy nhiên, trong những năm gần đây các nhóm khá và nhóm giàu ở khu vực nông thôn càng trở lên giàu hơn so với dân cư trong khu vực của mình, tốc độ tăng thu nhập của các nhóm này cũng nhanh hơn
và cao hơn các nhóm nghèo khá nhiều Chính điều này đã làm cho hệ số chênh lệch giàu nghèo tăng mạnh, từ gấp 6 lần (năm 2002) lên gấp 8 lần (năm 2012) cao hơn cả ở khu vực thành thị Nghĩa là bất bình đẳng về thu nhập ở nội bộ khu vực nông thôn ngày càng tăng và tăng nhanh Nguyên nhân của sự gia tăng này có thể
do tác động của công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn đã tạo ra nhiều công ăn việc làm và thu hút được nhiều lao động ở khu vực này, do đó nguồn thu nhập từ
tiền lương, tiền công đã làm cho tổng thu nhập của hộ tăng lên Đồng thời Bảng 2
cũng cho biết có sự chuyển dịch mạnh về cơ cấu thu nhập trong khu vực nông thôn theo hướng tăng tỷ trọng thu nhập từ tiền lương, tiền công, giảm tỷ trọng thu nhập
từ nông, lâm, thủy sản Mà thu nhập của nhóm giàu trong khu vực này chủ yếu là
từ tiền công, tiền lương và một số nguồn thu khác như được đền bù do đất nông nghiệp bị thu hồi vào hoạt động công nghiệp, Bên cạnh đó thu nhập của các hộ gia đình thuộc nhóm nghèo trong khu vực chủ yếu là từ nông, lâm nghiệp, thủy sản (chiếm khoảng 50% đến 60% tổng thu nhập của hộ) Sự phát triển không đều của các vùng nông thôn trong cả nước cũng là một nguyên nhân của tình trạng trên Trong khi nhiều vùng nông thôn ở các khu vực đồng bằng đã có sự phát triển khá mạnh, thì tại các vùng sâu, vùng xa, miền núi, vùng đồng báo các dân tộc ít
Trang 12người… trình độ phát triển còn rất thấp, người dân còn gặp nhiều khó khăn thiếu thốn, tỷ lệ hộ nghèo còn rất cao Đây chính là những lý do dẫn đến chênh lệch giàu nghèo trong nội bộ khu vực nông thôn ngày càng cao và tốc độ gia tăng mạnh Sự gia tăng chênh lệch giàu/nghèo ở khu vực nông thôn, nơi chiếm gần 70% dân số cả nước đã làm cho tình trạng chệnh lệch giàu/nghèo của cả nước ngày càng tăng lên, tuy không nhiều
Thứ ba, sự chênh lệch giữa thành thị với nông thôn đang dần được rút ngắn
lại Tuy nhiên, nếu so sánh thu nhập trong cùng nhóm giàu hoặc cùng nhóm nghèo giữa hai khu vực này với nhau, cho thấy dù là người giàu hay người nghèo, thì thu nhập ở thành thị luôn cao gấp 2 lần thu nhập của các hộ gia đình cùng nhóm ở khu vực nông thôn Nguyên nhân chủ yếu của tình trạng này là ở khu vực nông thôn phần lớn các hộ gia đình có thu nhập chủ yếu dựa vào hoạt động sản xuất nông nghiệp Đồng thời nơi đây có tỷ lệ nghèo cao (năm 2012 là 22,1%), tập trung nhiều người nghèo (năm 2012 tỷ trọng người nghèo ở nông thôn chiếm 90,8% trong tổng
số người nghèo của cả nước) và hơn một nửa số họ là người dân tộc thiểu số Trong khi đó tỷ lệ nghèo của thành thị chỉ bằng ¼ tỷ lệ nghèo nông thôn (5,4% năm 2012) và tỷ trọng người nghèo chỉ có 9,2% trong tổng số nghèo Do đó sự chênh lệch thu nhập giữa nhóm nghèo thành thị với nghèo nông thôn có xu hướng tăng lên Năm 2002 thu nhập của nhóm nghèo ở thành thị vẫn cao gấp 1,84 lần so với nhóm nghèo ở nông thôn, đến năm 2010 con số này là 1,92 lần và năm 2012 là 2,11 lần Rõ ràng là, mặc dù đều thuộc nhóm có thu nhập thấp nhất nhưng khả năng thoát nghèo của người nghèo ở nông thôn ngày càng khó khăn hơn so với khu vực thành thị, thu nhập của họ rất thấp và tốc độ tăng thu nhập cũng rất chậm Như vậy, dựa trên thu nhập bình quân đầu người chung của hai khu vực thành thị - nông thôn thì thấy khoảng cách giữa hai khu vực này dường như đang rút ngắn Nhưng khi so sánh trực tiếp giữa các nhóm giàu, nghèo của hai khu vực này với nhau, kết quả cho thấy có sự chênh lệch giàu nghèo tương đối lớn và ngày càng tăng Điều này cho thấy sự khác biệt về mức sống giữa các nhóm dân cư, các tầng lớp xã hội và phân hóa giàu nghèo chung ở Việt Nam có xu hướng tăng lên
3 Chất lượng an sinh xã hội, y tế, giáo dục ở Việt Nam hiện nay:
Việt Nam là một nước có truyền thống lâu đời về nông nghiệp Tuy rằng trong thời gian vừa qua, thu nhập, đời sống của người dân đã có những chuyển biến tích cực Tuy nhiên, so với mặt bằng chung, những chuyển biến chưa đáp ứng kịp mức sống , nhu cầu cơ bản của người dân Tình trạng đói nghèo vẫn chưa được cải thiện nhiều Trên số liệu thống kê của các cơ quan ban ngành tuyệt đại đa số chưa phản ánh