Đã có một loạt những lý giải tại sao Việt Nam lại không bị ảnh hưởng nhiều, những lý giải đó thiên về tính tích cực như: Có hướng chủ động, Dự báo trước v.v..; nhưng về khía cạnh kinh tế
Trang 1QUAN HỆ KINH TẾ QUỐC TẾ
Chương VIII Phân công lao động quốc tế và liên kết kinh tế quốc tế
Trang 2BUỔI 1
I MỘT SỐ KHÁI NIỆM, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA MÔN HỌC.
1.Một số khái niệm.
1.1 Quan hệ kinh tế đối ngoại
Quan hệ kinh tế đối ngoại là tổng thể những mối quan hệ về kinh tế, thương mại, khoahọc và công nghệ cao của một nền kinh tế với bên ngoài
Lưu ý:
Quan hệ kinh tế đối ngoại là những bộ phận của nền kinh tế các quốc gia
Bên ngoài (có thể hiểu là phần còn lại của thế giới)
1.2 Quan hệ kinh tế quốc tế
Quan hệ kinh tế quốc tế là tổng thể các mối kinh tế đối ngoại của các nền kinh tế xéttrên phạm vi toàn thế giới
Đứng trên góc độ một nước nhìn ra bên ngoài ta có quan hệ kinh tế đối ngoại, đứng trêngóc độ không của riêng một quốc gia nào ví dụ như của các tổ chức quốc tế, của một nhànghiên cứu hay của các chính phủ để khẳng định chính sách nói chung thì các nền kinh tế đốingoại đan xen với nhau tạo thành quan hệ kinh tế quốc tế
2.Đối tượng nghiên cứu của môn học.
2.1 Chủ thể của quan hệ kinh tế quốc tế:
Sẽ đi sâu ở chương VIII – Liên kết kinh tế quốc tế
Trang 3a) Nhóm các quốc gia, vùng, lãnh thổ, các nền kinh tế (ở đây vừa có quốc gia vừa có các nềnkinh tế là do khái niệm quốc gia và nền kinh tế rất khác nhau: trong đa số các trường hợpthì một quốc gia là một nền kinh tế, nhưng một nền kinh tế chưa chắc đã là một quốc gia,
ví dụ như khi nói Nền kinh tế EU ‘nhất là trong điều kiện liên kết kinh tế quốc tế hiệnnay’, Nền kinh tế ASEAN v.v chứ không phải riêng lẻ từng nước Hoặc với lý do tế nhịtrong quan hệ ngoại giao khuôn khổ của APEC thì người ta luôn gọi là các nền kinh tếthành viên chứ không gọi là các quốc gia thành viên như các tổ chức quốc tế khác là dotrong APEC có cả Trung Quốc và Đài Loan, nếu như gọi là các quốc gia thành viên thì cónghĩa là APEC thừa nhận Đài Loan là một quốc gia mà như vậy sẽ làm cho Trung Quốckhông hài lòng) Do vậy khái niệm các nền kinh tế có thể là rộng hơn hoặc hẹp hơn phạm
vi quốc gia tuỳ từng trường hợp và được sử dụng rộng rãi hơn
b) Nhóm các liên kết kinh tế quốc tế mang tính khu vực, liên khu vực, toàn cầu - Số lượngcác liên kết của các chủ thể này ngày càng tăng là do xu hướng tự do hoá cũng như xuhướng hình thành các liên kết kinh tế quốc tế trên thế giới ngày càng gia tăng (Các liênkết mang tính khu vực như: ASEAN, EU, NAFTA – khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹgồm Mỹ + Canada + Mehico; APEC – là liên kết mang tính liên khu vực vừa có Châu Mỹvừa có Châu Á, GATT/WTO – Liên kết toàn cầu v.v )
c) Nhóm các tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế (IMF, WB, ADB, IFC – International FinancialCo-oporation v.v )
d) Nhóm các tổ chức của Liên Hiệp Quốc (FAO, UNDP, UNCTAD –United NationsConference Trade and Development: Diễn đàn của Liên Hiệp quốc về thương mại và pháttriển: Đặc thù của diễn đàn này là đứng về khía cạnh của các nước đang phát triển v.v ).e) Nhóm các công ty, tập đoàn, hãng, xí nghiệp v.v – Một trong những loại hình công ty sẽđược nghiên cứu nhiều trong môn học này là các công ty xuyên quốc gia, vai trò của loạihình công ty này ngày càng đóng vai trò chủ chốt không chỉ trong thương mại mà còntrong lĩnh vực đầu tư quốc tế và chuyển giao công nghệ; Hầu như những tập đoàn lớn nhưIBM, Toyota, Nisan, Misubishi, Intel v.v đều là những tập đoàn xuyên quốc gia, do vậychiến lược hoạt động của các công ty này như thế nào về các khía cạnh như đầu tư, lý do
để tiến hành sáp nhập theo chiều dọc, ngang sẽ là những vấn đề được đi sâu sau này.2.2 Khách thể của quan hệ kinh tế quốc tế
a) Thương mại quốc tế (Di chuyển hàng hoá và dịch vụ trên quy mô quốc tế – sẽ đượcnghiên cứu ở Chương II, III, IV)
b) Đầu tư quốc tế (Sự di chuyển vốn trên quy mô quốc tế)
c) Di chuyển quốc tế về hàng hoá sức lao động (Sức lao động sẽ di chuyển trên quy mô quốc
tế như thế nào)
d) Quan hệ quốc tế về khoa học và công nghệ (Các đối tượng về công nghệ như bí quyết kỹthuật, các vấn đề về sở hữu trí tuệ liên quan tới các nước đang phát triển như Trung Quốc,Việt Nam )
e) Di chuyển quốc tế về tiền tệ
Trang 43.Phương pháp nghiên cứu của môn học.
a) Kết hợp các kiến thức cơ bản đã được học ở các môn học trước như Lịch sử các họcthuyết kinh tế, Kinh tế Vi mô, Kinh tế Vĩ mô - những vấn đề liên quan tới sản xuất, tiêudùng, thặng dư về tiêu dùng, thặng dư về sản xuất, tổng phúc lợi xã hội, khía cạnh thu củachính phủ từ thuế, các khoản chi của chính phủ cho các khoản như trợ cấp, tổng phúc lợi
xã hội (được đo bằng thặng dư người tiêu dùng cộng với thặng dư sản xuất cộng với thucủa chính phủ ‘nếu có khi chính phủ can thiệp vào việc thu thuế’ hoặc trừ đi chi của chínhphủ ‘nếu chính phủ có trợ cấp'
b) Kết hợp lý luận và thực tiễn
II.NHỮNG CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN KINH TẾ ĐỐI NGOẠI CỦA CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI.
1.Hai loại hình chiến lược.
1.1 Chiến lược đóng cửa nền kinh tế
Nội dung:
Khi áp dụng chiến lược đóng cửa nền kinh tế, các quốc gia hạn chế mở rộng các mốiquan hệ kinh tế đối ngoại với bên ngoài, phát triển kinh tế bằng nội lực là chính, thựchiện tự cung tự cấp bằng những nguồn lực trong nước
Mục đích:
Xây dựng một nền kinh tế tự chủ hoàn toàn dựa trên khả năng của mình
Giảm sự phụ thuộc kinh tế vào bên ngoài
Ưu điểm:
Xây dựng một nền kinh tế tự chủ là nền tảng bảo đảm cho sự độc lập về chính trị
Các nguồn lực trong nước được khai thác tối đa để thoả mãn nhu cầu trong nước
Tốc độ phát triển kinh tế ổn định Nền kinh tế ít bị ảnh hưởng bởi những biến động xấu(khủng hoảng) của nền kinh tế thế giới (Ví dụ: trường hợp của Việt Nam khi Khu vực Châu á có cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ năm 1997, khi xảy ra cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ đó thì Việt Nam hầu như không bị ảnh hưởng đến nền kinh tế, trong khi đó cuộc khủng hoảng đó ảnh hưởng rất lớn đến các nước trong khu vực như Thái Lan, Indonesia v.v Đã có một loạt những lý giải tại sao Việt Nam lại không bị ảnh hưởng nhiều, những lý giải đó thiên
về tính tích cực như: Có hướng chủ động, Dự báo trước v.v ; nhưng về khía cạnh kinh tế thì bản chất của vấn đề là do nền kinh tế của Việt Nam khi đó còn rất đóng, chưa hội nhập sâu với các nền kinh tế khác trong khu vực – Hội nhập sâu được thể hiện ở điểm quan hệ với các nhà đầu tư trong khu vực, vay vốn của các ngân hàng ở Thái Lan, Indonesia, quan hệ đầu tư thương mại, công nghệ v.v những đan xen về kinh tế với các nước trong khu vực của Việt Nam còn thấp ở thời điểm đó, do vậy khi những Ngân hàng ở Thái Lan, Indonesia v.v bị phá sản thì Việt Nam không có nhiều những khoản vay ở đó Nếu như bây giờ mà xảy ra cuộc khủng hoảng trong khu vực như vậy thì Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng rất to lớn vì mức độ hội nhập của Việt Nam hiện giờ đã rất cao so với thời điểm đó.
Nhược điểm:
Trang 5 Tốc độ tăng trưởng kinh tế ổn định nhưng chậm.
Nền kinh tế bị tụt hậu so với bên ngoài
Các nguồn lực trong nước được khai thác tối đa nhưng không hiệu quả
Thị trường nội địa nghèo nàn, chật hẹp, giá cả đắt đỏ, hàng hoá kém đa dạng, vàngười tiêu dùng không có điều kiện để thoả mãn nhu cầu của mình một cách tốtnhất
Qua bốn nhược điểm trên ta thấy đối với các nước áp dụng chiến lược này thì tốc độ pháttriển kinh tế ổn định nhưng rất chậm, tụt hậu so với bên ngoài (vd: nền kinh tế của các nướcChâu á những năm 1970 so với Việt Nam không có sự cách biệt là mấy ‘như Sài Gòn đượcmệnh danh là Hòn ngọc Viễn đông đã là một trong những khu vực kinh tế rất sầm uất’ nhưngsau một thời gian tương đối đóng cửa ‘mở cửa với Đông Âu; nhưng đóng với các khu vực khác’tới khi mở cửa năm 1986 thì các nước trong khu vực đã tiến rất xa so với Việt Nam)
Trong một dịp phỏng vấn những Việt Kiều, có một Việt Kiều ở Nhật có trả lời câu hỏi: Aicũng biết rằng đóng cửa hay bảo hộ (đóng cửa nói chung, bảo hộ trong lĩnh vực mậu dịch nóiriêng) là một chiến lược không tốt sẽ làm cho người tiêu dùng thiệt thòi (nếu như đã biết vềkinh tế, quản trị kinh doanh ta đều biết rằng bảo hộ hay đóng cửa sẽ làm cho người tiêu dùng bịthiệt bởi vì giá cả sẽ tăng lên do bảo hộ thì sẽ phải đóng thuế, khi giá tăng thì lượng tiêu dùng sẽgiảm đi trên cơ sở đường cầu) Ông đã lập luận như sau: Nếu không có bảo hộ thì giá thế giới ởmức độ P1, và sản xuất, tiêu dùng ở lượng Q1, giao điểm của P1 và Q1 là H phần tam giác PP1H
là thặng dư của người tiêu dùng (Consumer Surplus) Khi có bảo hộ mà bảo hộ mức độ càngcao thì tác động của nó càng lớn thì sẽ tác động làm mức giá tăng lên P2, do vậy người tiêudùng cắt giảm làm lượng giảm xuống mức Q2, thặng dư giảm đi xuống còn diện tích của PP2H2.Trong xã hội ai cũng là người tiêu dùng (người sản xuất, gia đình, cá nhân, chính phủ v.v ) dovậy nếu nói rằng người tiêu dùng bị thiệt thòi thì ai cũng bị thiệt thòi cả (nhưng trong các vòngđàm phán của WTO, luôn luôn các bên đều mong muốn phải bảo hộ ngành này, ngành kia).Ông nói tiếp: Người ta muốn có tiêu dùng được thì phải có thu nhập thì mới có thể trang trảiđược khoản tiêu dùng của mình Muốn có thu nhập thì phải có công ăn việc làm, mà bảo hộ thìtạo ra công ăn việc làm cho rất nhiều người Nếu tham gia vào WTO, khi các doanh nghiệp cảmthấy mình đã đủ mạnh, nếu không thì mức độ cạnh tranh cao, số lượng các doanh nghiệp phảilao đao sẽ tăng lên rât nhiều và kéo theo là tỷ lệ thất nghiệp sẽ tăng Bảo hộ tạo ra công ăn việclàm chính vì vậy giúp cho nhiều người có thể trang trải được những chi phí của minh, do vậybảo hộ / đóng cửa có tính hai mặt: (i) làm cho người tiêu dùng bị thiệt thòi, thị trường nghèonàn, số lượng hàng hoá thấp, giá cả cao; nhưng ngược lại (ii) về khía cạnh xã hội thì lại tạocông ăn việc làm Do vậy để phát triển trong dài hạn bảo hộ vẫn rất cần
1.2 Chiến lược mở cửa nền kinh tế
Nội dung:
Các nước thực hiện việc mở rộng các quan hệ kinh tế đối ngoại với bên ngoài, trọng tâm
là hoạt động ngoại thương trong đó chú trọng hàng đầu là đẩy mạnh xuất khẩu, tăng cường thuhút và sử dụng vốn, công nghệ bên ngoài để khai thác có hiệu quả các nguồn lực trong nước
Trang 6Ưu điểm:
Tốc độ phát triển kinh tế cao và nhanh do có thể kết hợp sử dụng có hiệu quả các yếu
tố bên trong và bên ngoài phục vụ cho quá trình phát triển kinh tế
Thị trường rộng mở, hàng hoá đa dạng, phong phú có chất lượng và người tiêu dùng cóthể thoả mãn nhu cầu của mình một cách tốt nhất
Tạo ra môi trường cạnh tranh giữa các doanh nghiệp, kích thích được sản xuất pháttriển
Tất nhiên trong điều kiện cạnh tranh như vậy sẽ có những rủi ro, doanh nghiệp nào có thểtồn tại và doanh nghiệp nào không thể tồn tại được Doanh nghiệp nào tồn tại được trong điềukiện mở cửa, hội nhập thì sẽ được hưởng lợi nhiều vì thị trường sẽ rộng mở, không có thuế xuấtkhẩu sang các nước khác thay vì khi chưa có Tối huệ quốc thì bị áp hàng rào thuế quan cao làmcho doanh nghiệp bị kìm hãm về khía cạnh thị trường
Thực tiễn đã chứng minh rằng chiến lược mở cửa nền kinh tế là rất đúng đắn VD: Hiệnnay hàng hoá ở Việt Nam rất phong phú, nhiều hơn hẳn 5 năm trước đây, giá cả cạnh tranh.Người tiêu dùng có thể lựa chọn rất nhiều mặt hàng mà mình cần với mọi mức giá mà họ cóthể Đấy chính là kết quả của chiến lược mở cửa, nhưng cái gì cũng có tính hai mặt, đó là do có
sự dồi dào hàng hoá như vậy nên có rất nhiều loại hàng giả
Nhược điểm:
Nền kinh tế phụ thuộc và chịu tác động gián tiếp hoặc trực tiếp của những biến độngxấu mà nền kinh tế thế giới có thể đưa lại (vd: như giá dầu mỏ trên thế giới mà leo thang thì lập tức Việt Nam cũng có xu hướng tăng giá).
Tốc độ phát triển kinh tế cao, nhanh nhưng không ổn định (Gọi là phát triển kinh tế nóng, tuy cao nhưng nếu có khủng hoảng thì lập tức đứng chững lại ngay)
Nền kinh tế dễ rơi vào tình trạng mất cân đối (Là việc quá thiên về khía cạnh sản xuất hàng hoá để xuất khẩu, nếu như thị trường không ổn định, không xuất khẩu được nữa thì các doanh nghiệp xuất khẩu sẽ bị chao đảo)
1.3 Việc lựa chọn chiến lược phát triển kinh tế đối ngoại của các nước trên thế giới hiệnnay
Các nước đều thực hiện chiến lược mở cửa kinh tế nhưng không hoàn toàn (vẫn có sựcan thiệp của nhà nước – bảo hộ một số ngành; mức độ can thiệp đến đâu thì tuỳ vàonền kinh tế của mỗi nước, chiến lược của từng chính phủ)
Mở cửa nề kinh tế là sự lựa chọn tất yếu của các nước trên thế giới hiện nay nếu muốntồn tại và phát triển
1.Đặc điểm 1:
Sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, xu thế chung của thế giới hiện nay là xu thế hoàhoãn, chuyển từ đối đầu sang đối thoại Tuy nhiên, những xung đột quốc tế vẫn còn và
Trang 7ảnh hưởng lớn đến tiến trình phát triển của kinh tế thế giới, và những xung đột chínhtrị thường tạo ra những ảnh hưởng lớn về kinh tế.
Nguyên nhân gì gây ra những xung đột trong môi trường kinh tế quốc tế hiện nay?
Mặc dù số lượng các cuộc chiến tranh lạnh trên thế giới đã giảm nhưng những xungđột vẫn tồn tại ở nhiều nơi Những nguyên nhân gây ra những xung đột đó là nhữngvấn đề về tôn giáo (đạo hồi, thiên chúa giáo), khủng bố (11/9), tranh chấp lãnh thổ(tranh chấp giữa các nước trong khu vực như Việt Nam – Trung Quốc, Indonesia –Malaysia v.v ) Khi còn những xung đột như vậy thì kinh tế bị ảnh hưởng rất nhiều.Như sau khi xảy ra cuộc khủng bố 11/9, thì mọi người rất sợ đi máy bay đã gây ra tìnhtrạng làm cho các hãng hàng không trên thế giới bị lâm vào tình trạng khủng hoảngphải sa thải rất nhiều nhân công lao động
Cách mạng khoa học công nghệ sẽ tác động tới cơ cấu trao đổi, trước kia nước nàogiàu thì là những nước có nền công nghiệp phát triển, nhưng hiện nay cách đo lường
để xem một nước phát triển hay không thì không thể dựa vào chỉ số về đóng góp củacông nghiệp trên tổng GDP nữa mà sẽ được tính trên phần đóng góp của lĩnh vực dịch
vụ cho tổng GDP
3.Đặc điểm 3:
Trong nhiều thập kỷ gần đây, khu vực kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương đã nổi lên, trởthành khu vực có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh nhất, năng động nhất thế giới Cho dù làtrước hay sau cuộc khủng hoảng năm 1997, khu vực này vẫn được coi là khu vực có tốc độ tăngtrưởng nhanh nhất trên thế giới, đây vẫn là khu vực thu hút được đầu tư nước ngoài lớn nhất.Một trong những mô hình mà được thế giới nhắc đến về phát triển ở khu vực này là mô hình
“Đàn sếu bay” – một nước dẫn đầu đi trước (Nhật Bản từ những năm 50, 60), sau đó các nướckhác đi theo (như Hàn Quốc, Hồng Kông, Singapore, Đài Loan) rồi tiếp theo như Thái Lan,Indonesia, Malaysia, Phillipin v.v Cơ chế của mô hình này là chuyển giao công nghệ, theo lýthuyết vòng đời sản phẩm để thực hiện chuyển giao công nghệ, đầu tư nước ngoài, các nướcphát triển xong sẽ chuyển giao cho các nước tiếp theo Tuy nhiên, mô hình này không đượcnhắc tới nữa sau khi xảy ra cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á năm 1997
4.Đặc điểm 4:
WTO giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế thế giới
Trang 8IV TỔNG QUAN VỀ TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI - WTO.
1.Bối cảnh lịch sử.
Cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 (1870-1914), được coi như thời vàng son của tự do hoáthương mại, của mở cửa quan hệ kinh tế quốc tế Sau đó do xảy ra các cuộc chiến tranh trên thếgiới lần thứ nhất , lần thứ hai, trong thời gian chiến tranh (đặc biệt là các nước Châu Âu) tậptrung nguồn lực cho chiến tranh không chú ý tới kinh tế chính vì vậy các chính phủ thực hiệnchính sách bảo hộ chặt chẽ để tiết kiệm tiêu dùng Do vậy, nền kinh tế thế giới chứng kiếnnhững cuộc khủng hoảng kinh tế trầm trọng sau những cuộc chiến tranh thế giới Những cuộckhủng hoảng đó bị đổ lỗi phần lớn là do chính sách bảo hộ mậu dịch của các nước trong thời kỳchiến tranh, tuy nhiên bảo hộ mậu dịch không phải là lý do duy nhất mà còn là do chiến tranhnên các nước không thể có được mối quan hệ chính trị hài hoà
Sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, các nước thấy rằng cần thiết phải tạo lập môi trườngquốc tế mở hơn
Tránh những sai lầm của có thể lặp lại là bảo hộ gây ra khủng hoảng kinh tế trong thời kỳgiữa các cuộc chiến tranh Các nước cố gắng tạo ra một môi trường kinh tế mở hơn để có thểxoá bỏ sự suy thoái cũng như kích thích nền kinh tế Châu Âu Đã có nhiều chương trình phụchồi sau chiến tranh, một trong những chương trình đó chính là Kế hoạch Marshall của Mỹ, đây
là một trong những công cụ mà Mỹ muốn giúp Châu Âu để phục hồi lại nền kinh tế Trong thời
kỳ đó Châu Âu nền kinh tế Châu Âu đang suy kiệt chỉ có Mỹ là hùng mạnh, tuy nhiên chỉ mộtmình Mỹ với kế hoạch đó thì chưa đủ do vậy các nước muốn tìm ra một cơ chế để có thể thúcđẩy thương mại quốc tế phát triển bằng cách xoá bỏ bảo hộ, nhưng vấn để không chỉ có xoá bảo
hộ (tự mình xoá bỏ các hàng rào thuế quan để hàng hoá các nước xâm nhập vào nhưng hànghoá của nước mình lại không thể bán ra các nước khác) do vậy các nước cùng nhau tìm một giảipháp để các nước cùng nhau giảm thuế để các nước cùng có ảnh hưởng tới nhau
Năm 1944 tại Bretton Woods - Mỹ: đưa ra giải pháp
Bốn trụ cột của nền kinh tế thế giới ra đời:
Ngân hàng Quốc tế về tái thiết và phát triển (IBRD – International Bank forReconstruction Development) Có tên gọi này là vì Ngân hàng này có nhiệm vụ táithiết và phát triển Châu Âu – Hiện nay Ngân hàng này đã trở thành Ngân hàng Thếgiới – WB, vì sau khi giúp đỡ Châu Âu trở thành một khu vực có nền kinh tế mạnh củathế giới, Ngân hàng này chuyển mục tiêu để hỗ trợ các nước nghèo trên thế giới nên đãđược đặt lại tên như vậy
Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF – International Money Fund)
Tổ chức thương mại quốc tế (ITO – International Trade Organization; đây chính là tổchức tiền thân của WTO – Tổ chức thương mại thế giới)
Quỹ bình ổn giá cả (PSF – Price Stabilization Fund)
Trang 92.Giới thiệu về GATT.
Hiệp định chung về thuế quan và mậu dịch General Agreement on Tariff and Trade GATT
-GATT được ký tại Geneva vào ngày 30 tháng 10 năm 1947 bởi 23 nước và có hiệu lựcchính thức từ ngày 1 tháng 1 năm 1948
ITO được thành lập tại Havana (1948), ký kết bởi 53 thành viên (nằm trong khuôn khổBretton Wood)
ITO sụp đổ vào năm 1950: chỉ sau hai năm thành lập – lý do sụp đổ là do Thượng nghịviện Mỹ, và Anh đã không phê chuyển về việc cho ra đời ITO; lý do mà Mỹ không phê chuẩn
là bởi hai lý do (i) lúc đó thế giới không thể có 3 cực kinh tế Mỹ – Tây Âu – Nhật Bản như saunày mà chỉ có Mỹ do vậy nếu như có ITO đứng lên để điều phối quan hệ kinh tế toàn cầu thì vôhình chung Mỹ đã trao quyền lực vào tay một tổ chức đứng ra để giải quyết vấn đề trong khuônkhổ quốc tế do vậy Mỹ không muốn, Tuy nhiên tới năm 1995 điều đó không thể tồn tại thêmnữa vì tới thời điểm này không chỉ có Mỹ là cường quốc kinh tế nữa mà phải theo xu thế chungthương mại hội nhập toàn cầu; (ii) Ngoài ra lý do khác nữa là do chiến tranh Do vậy, ITO làmột tổ chức có cơ cấu chặt chẽ đã không tồn tại được, trên cơ sở là một cơ cấu chặt – các nước
sẽ phải cam kết với nhau cái gì thì phải thực hiện cái đó; Các vòng đàm phán trong khuôn khổcủa GATT vẫn được thực hiện – hay nói cách khác ITO bị sụp đổ nhưng GATT vẫn tồn tạidưới dạng “lỏng” qua những vòng đàm phán – do vậy khi nói về GATT người ta thường nói tớinhững vòng đàm phán trong khuôn khổ GATT Việc sụp đổ của ITO mà GATT vẫn tồn tại thểhiện một cơ chế chặt chưa tồn tại được nhưng một cơ chế lỏng thì vẫn có thể tồn tại được đểđàm phán với nhau nhưng không mang tính chất sâu, có những điều có thể thực hiện nhưngkhông phải bắt buộc
Trang 10HOẠT ĐỘNG CỦA GATT
may
123
Dịch vụ, nông nghiệp, hàng dệtmay, nhấn mạnh các đãi ngộ đặcbiệt dành cho các nước đang phát
triển
150
3.Sự ra đời của WTO.
Sự ra đời của WTO được thực hiện trong vòng đàm phán thứ 8 (1986-1994; vòng đàmphán Urugoay tại Geneva)
Sự ra đời của WTO có thể được lý giải bởi một số lý do sau:
Nhiều hình thức bảo hộ mới xuất hiện thay vì hình thức thuế quan trước kia, những ràocản tinh vi hơn ví dụ như những quy định về môi trường, an toàn thực phẩm v.v
Sự phát triển và mở rộng các hoạt động thương mại gắn với đầu tư, dịch vụ, chuyểngiao công nghệ do vậy khuôn khổ của WTO không chỉ dừng lại ở lĩnh vực hàng hoá dovậy còn có nhiều hiệp định khác như: GATT – Thương mại hàng hoá hữu hình; GATS
- thương mại dịch vụ; TRIM's, TRIPs
Thương mại hàng nông sản và hàng dệt may chưa được đề cập tới trong GATT vì đượccoi là những lĩnh vực nhạy cảm
Thể chế và hệ thống giải quyết tranh chấp của GATT quá lỏng lẻo nên bị một số nướcthành viên chỉ trích Cơ chế giải quyết tranh chấp trên cơ sở đồng thuận; thể chế không
Trang 11mang tính ràng buộc do vậy sau khi giải quyết tranh chấp nếu có bên nào không thựchiện xử phạt thì GATT cũng không có biện pháp gì để bắt buộc thực hiện.
Do vậy, tháng 12 năm 1994, tại vòng đàm phán Urugoay ở Marrakesh (Marốc): Hiệp địnhthành lập WTO được ký kết
Ngày 1 tháng 1 năm 1995, WTO chính thức ra đời WTO là sự kế thừa của GATT nhưngchặt chẽ hơn, ràng buộc hơn, mở rộng hơn
Sự khác nhau giữa GATT và WTO
Về tính thể chế: WTO là một tổ chức có tư cách pháp nhân còn GATT thì không, do vậyWTO có thể đứng ra để đàm phán với EU, Mỹ, WB, IMF v.v
Về phạm vi điều chỉnh: WTO có phạm vi điều chỉnh lớn hơn GATT; GATT chỉ điềuchỉnh trong lĩnh vực thương mại dịch vụ; còn WTO điều chỉnh thương mại dịch vụ,thương mại liên quan đến người tiêu dùng, sở hữu trí tuệ, hàng dệt may v.v
Về tính ràng buộc: GATT không có tính ràng buộc; WTO có tính ràng buộc rất rõràng, nếu như quốc gia nào cam kết gì thì phải thực hiện cam kết đó
Về cơ chế giải quyết tranh chấp: WTO có cơ chế giải quyết chặt chẽ và có hiệu quả,không phải thực hiện trên cơ chế đồng thuận mà có hẳn một cơ quan giải quyết tranhchấp DSB (Dispute Settlement Body) tương tự như một toà án của WTO do vậy sốlượng đưa ra tranh chấp nhờ WTO giải quyết rất nhiều Một điều hứa hẹn khi đưa ra đểDSB giải quyết đó là các nước đang phát triển có cơ hội thắng rất cao (vd: TrungQuốc, các nước ở Nam Mỹ và một số nước khác cùng nhau kiện Mỹ về hàng dệt may
và đã thắng –2004)
Trang 12BUỔI 2
Trước kia khi nói tới thương mại quốc tế thì mặc nhiên mọi người chỉ nghĩ tới thương mạihàng hóa quốc tế Tuy nhiên, kể từ thập niên 50 của thế kỷ trước trở lại đây cùng với sự pháttriển của khoa học công nghệ thì thương mại dịch vụ cũng phát triển với tốc độ chóng mặt dựatrên nền là công nghệ thông tin là chủ yếu
I MỘT SỐ KHÁI NIỆM:
1.Khái niệm, đặc điểm và phân loại dịch vụ:
1.1 Hai khái niệm khái quát:
Dịch vụ là những hoạt động nhằm thỏa mãn những nhu cầu của sản xuất, kinh doanh
và sinh hoạt (Từ điển Bách khoa Việt Nam, NXB Hà Nội năm 1995, tập 1, trang 671)
- Dịch vụ là sản phẩm của lao động xã hội mà sản phẩm tạo ra không tồn tại dưới hìnhthái vật chất, trong đó quá trình cung ứng và tiêu thụ diễn ra đồng thời để nhằm thỏamãn một nhu cầu nào đó của con người
Lưu ý:
Mối quan hệ giữa người cung cấp và người tiêu dùng là mối quan hệ biện chứng (mốiquan hệ có đi có lại), là mối quan hệ biện chứng bởi khi người tiêu dùng phát sinh nhu cầu,chuyển nhu cầu đó đến người cung cấp dịch vụ và khi người cung cấp dịch vụ tiếp nhận đượcthông điệp đó (nếu khả năng của họ có thể) thì họ sẽ cung cấp dịch vụ mà người tiêu dùngmong muốn Nghĩa là ban đầu người tiêu dùng chỉ là người có nhu cầu thôi, họ sẽ trở thànhngười tiêu dùng khi người cung cấp dịch vụ cung cấp dịch vụ cho họ Nhà cung cấp dịch vụ vàngười tiêu dùng dịch vụ sẽ thông qua hệ thống cơ sở vật chất để từ đó cả hai bên đều được thỏamãn Người tiêu dùng sẽ nhận được dịch vụ mà họ yêu cầu còn người cung cấp dịch vụ sẽ báncái mà họ có
1.2 Đặc điểm
i) Tính vô hình: Tính vô hình được thể hiện ở chỗ người ta không thể nào dùng các giác quan để cảm nhận được các tính chất cơ lý hóa của dịch vụ (Ví dụ như dịch vụ bưu chính viễn thông: không ai có thể chỉ ra được hình dáng của loại hình dịch vụ đó).ii) Tính không thể tách rời: quá trình cung ứng và tiêu thụ dịch vụ diễn ra đồng thời (Người cung ứng dịch vụ sẽ bắt đầu cung ứng dịch vụ thì đó cũng là lúc người tiêu dùngbắt đầu quá trình tiêu dùng dịch vụ, và khi mà người tiêu dùng dịch vụ chấm dứt quá
Cơ sở vật chất
Người cung cấp
Người tiêu dùng
Trang 13trình tiêu dùng dịch vụ của mình thì đó cũng là lúc mà người cung ứng dịch vụ chấm dứt quá trình cung ứng dịch vụ).
iii) Tính không đồng nhất: khó có thể có một tiêu chuẩn chung nào để đánh giá được chất lượng của dịch vụ (Thậm chí cùng một loại hình dịch vụ cũng không có tiêu chí để đánh giá chất lượng bởi vì chất lượng của sản phẩm nói chung sẽ được đánh giá trước tiên thể hiện qua chỉ số kỹ thuật, tuy nhiên vì dịch vụ mang tính vô hình nên rất khó có được những chỉ số kỹ thuật và ở đây chất lượng dịch vụ được thể hiện ở sự thỏa mãn, hài lòng của người tiêu dùng – nhưng sự hài lòng của người tiêu dùng cũng rất khác nhau, nó có thể thay đổi rất nhiều)
iv) Tính không thể cất trữ : Tính không thể cất trữ là hệ quả của tính vô hình và không thể tách rời Ở đây nhà cung cấp dịch vụ không cất trữ những dịch vụ nhưng họ cất trữ khả năng cung cấp dịch vụ cho những lần tiếp theo
Trên đây là 4 đặc điểm của dịch vụ, tuy nhiên, trong khoa học không có gì là tuyệt đối màchỉ mang tính tương đối, 4 đặc điểm trên cũng vậy Ví dụ 1: Một loại hình dịch vụ tồn tại trongnền kinh tế mà không mang những đặc điểm trên đó là: Dịch vụ kiểm toán – Khi một doanhnghiệp thuê một đơn vị kiểm toán độc lập để tiến hành kiểm toán toàn bộ chứng từ của doanhnghiệp thì sản phẩm cuối cùng của đơn vị kiểm toán cung cấp cho doanh nghiệp là những bảngkiểm toán mà công ty sau một quá trình làm việc họ đã tổng hợp và đưa lại cho khách hàng củamình Doanh nghiệp có thể lưu những bảng kết quả kiểm toán đó lại hoặc họ có thể trình, giaocho các cơ quan chức năng khi cần thiết và thậm chí là họ chuyển cho các cơ quan chức năngkhác lưu giữ - ở đây sản phẩm không mang tính vô hình đồng thời có thể cất giữ được Ví dụ 2:Dịch vụ photocopy – Sản phẩm mà khách hàng nhìn thấy được là những văn bản được copy,bản thân khách hàng có bản copy đó có thể chuyển từ tay người này sang tay người khác đồngthời có thể cất đi để sử dụng cho mục đích của riêng mình; sản phẩm là bản copy thì ta có thểnhìn thấy được, hình thù ra sao, đồng thời với những bản copy cũng có tiêu chuẩn chất lượng đểđánh giá bản copy như thế nào là đạt, có chất lượng tốt (như độ sắc nét, chất lượng mực inv.v )
1.3 Phân loại dịch vụ
Có nhiều cách phân loại dịch vụ khác nhau, mỗi quốc gia khác nhau lại có một cách phân loại khác nhau.
Hai cách phân loại:
a) Căn cứ vào tính thương mại Theo căn cứ này thì dịch vụ chia làm hai loại:
1 Dịch vụ mang tính thương mại: là những dịch vụ được cung ứng để nhằm mục đíchkinh doanh và thu lợi nhuận như dịch vụ ngân hàng, phân phối hàng hóa, tài chính, bưu chínhviễn thông v.v ; và
2 Dịch vụ không mang tính thương mại – còn gọi là dịch vụ phi thương mại: là nhữngdịch vụ được cung ứng không nhằm mục đích kinh doanh, thu lợi nhuận Chủ yếu là các dịch
vụ công cộng do các tổ chức, các cơ quan cung ứng trong quá trình các cơ quan tổ chức nàythực hiện chức năng nhiệm vụ của mình như dịch vụ vận tải hành khách công cộng, dịch vụgiáo dục, dịch vụ chăm sóc sức khỏe cộng đồng, v.v
Trang 14Nhưng cũng có rất nhiều loại hình dịch vụ vừa mang tính thương mại vừa không mangtính thương mại trong mỗi hoàn cảnh khác nhau, ví dụ: cùng là trường đại học nhưng TrườngĐại học Ngoại Thương cung cấp dịch vụ giáo dục không mang tính thương mại; tuy nhiênTrường Đại học Dân lập Quản lý và kinh doanh lại cung cấp dịch vụ giáo dục mang tính thươngmại (có tình trạng là những sinh viên chỉ đạt điểm đầu vào 3 môn là 5 điểm nhưng vẫn đượchọc) – là do họ kinh doanh dịch vụ giáo dục, mở trường, bỏ tiền đầu tư vào cơ sở vật chất dovậy họ phải có sinh viên để thu được tiền đã đầu tư vào đó; nhưng ngược lại các trường quốclập khác sử dụng tiền ngân sách nhà nước để thực hiện “Sự nghiệp giáo dục” Trường học,bệnh viện là các cơ quan sự nghiệp sử dụng nguồn ngân sách nhà nước để phục vụ sự nghiệpcủa mình Ví dụ: Dịch vụ chăm sóc sức khỏe – nếu người bệnh vào bệnh viện đúng tuyến, nộpthẻ bảo hiểm y tế v.v thì đó là dịch vụ chăm sóc sức khỏe không mang tính thương mại; Tuynhiên khi một bệnh nhân vào bệnh viện mà không đi theo tuyến, không thẻ bảo hiểm và muốnđược phục vụ nhanh chóng nên vào khám “dịch vụ” với số tiền nhiều hơn, nhanh chóng hơn –lúc này dịch vụ y tế lại mang tính thương mại Có một số loại hình dịch vụ không bao giờ cóthể thương mại hóa được như Dịch vụ hành chính công – dịch vụ này là do các cơ quan chínhquyền các cấp cung cấp nhằm làm giảm thời gian làm các loại thủ tục cho người dân; HoặcDịch vụ Công chứng cũng vậy (ở Việt Nam gọi Công chứng là dịch vụ nhưng trong WTOkhông coi Công chứng là một loại hình dịch vụ; Công chứng nằm ngoài các loại hình dịch vụWTO liệt kê).
b) Phân loại của WTO: Các phân loại này giống như một liệt kê chia các loại hình dịch vụ ralàm 12 ngành với 155 phân ngành
Việc phân chia này rất mang tính khoa học, giả sử ngành đầu tiên (1) là ngành các dịch vụkinh doanh – Business Services; và tiếp theo đó là nhiều ngành dịch vụ khác tới (11), cuối cùng
là (12) Các dịch vụ không kể tên ở trên – như vậy là vô hình chung cách phân loại của WTO đãbao trùm toàn bộ các ngành dịch vụ tồn tại trong xã hội hiện nay
1 Các dịch vụ kinh doanh: dịch vụ kinh doanh bất động sản, đại lý hưởng hoa hồng, môigiới, liên quan đến chuyên môn ‘như luật sư, tư vấn’
2 Các dịch vụ truyền thông: viễn thông, phát thanh truyền hình, đưa thư ‘mailling’
3 Các dịch vụ xây dựng và kỹ sư công trình: kỹ sư công trình xây dựng cao ốc, nhà dândụng, thiết kế nhà cửa, hoàn thiện công trình v.v
4 Các dịch vụ phân phối: dịch vụ bán buôn, bán lẻ, bán hàng đa cấp v.v
5 Các dịch vụ chăm sóc sức khỏe và dịch vụ xã hội: y tế, bệnh viện, dịch vụ xã hội ‘nhưvận tải hành khách công cộng’ v.v
6 Các dịch vụ giáo dục: giáo dục tiểu học, trung học, đại học, sau đại học
7 Các dịch vụ tài chính: ngân hàng, bảo hiểm, tài chính và các dịch vụ tài chính kháckhông phải là bảo hiểm như quản lý quỹ v.v
8 Các dịch vụ môi trường: thu gom rác thải, thoát nước, trồng cây xanh v.v
9 Các dịch vụ du lịch và lữ hành: khách sạn, nhà hàng, hướng dẫn tour, đại lý du lịchv.v
Trang 1510 Các dịch vụ giải trí, thể thao: phát hành báo chí, thể thao, hỗ trợ cho thể thao, bảotàng, thư viện, lưu trữ v.v
11 Các dịch vụ vận tải: vận tải hàng không, đường sắt, đường thủy nội địa, đường bộ,đường vũ trụ, các dịch vụ hỗ trợ cho các loại hình vận tải trên ‘như sửa chữa, bảo dưỡngphương tiên, cung cấp nhiên liệu’ v.v
12 Các dịch vụ không được kể tên ở trên
Trên đây là cách phân loại của WTO, nhưng mỗi quốc gia lại có một cách phân loại khácnhau không nhất thiết phải dựa trên cách phân loại của WTO, ví dụ ở Việt Nam trong WTO cónhóm 3 là nhóm xây dựng và kỹ sư công trình thì Việt Nam không xếp ngành này là ngành dịch
vụ Chính vì cách phân loại của các quốc gia khác nhau như vậy nên xảy ra những tranh chấp
về dịch vụ Ví dụ: Mới đây quốc gia Angtimua, ở Caribe – Trung Mỹ, đã kiện Mỹ vì cung cấpdịch vụ ‘Gambling on Line’, Mỹ nói: Theo WTO – Gambling on Line được xếp vào nhóm dịch
vụ văn hóa giải trí thể thao, tuy nhiên Angtimua lại nói rằng: nhưng với quốc gia này Gambling
on Line không được xếp vào nhóm dịch vụ đó mà đó là hoạt động mà bị cấm trên lãnh thổ quốcgia đó thế mà Mỹ lại cung cấp Gambling on Line cho nên họ có quyền kiện ra WTO – Vìnhững phân loại khác nhau của các quốc gia nên dễ dàng dẫn tới tranh chấp
2.Khái niệm thương mại dịch vụ.
Hiện nay chưa có khái niệm chính xác về thương mại dịch vụ, mà thương mại dịch vụđược hiểu rằng: Thương mại dịch vụ là sự trao đổi mua bán mà ở đây đối tượng là dịch vụ.Trong Hiệp định chung về Thương mại và Dịch vụ – GATS có xác định 4 phương thức cungứng dịch vụ – 4 modes of Supply (Khoản 2 điều 1 của GATS)
i) Phương thức 1 - Mode 1: Cung ứng qua biên giới - Cross Border:
Dịch vụ di chuyển qua biên giới độc lập với người cung ứng và người tiêu dùng dịch vụ
Ví dụ như: dịch vụ viễn thông (gọi điện thoại quốc tế), tư vấn qua email, qua điện thoại, fax.ii) Phương thức 2 - Mode 2: Phương thức tiêu dùng ở nước ngoài - Abroad Consumption:Dịch vụ được cung ứng cho người tiêu dùng dịch vụ trên một lãnh thổ khác mà ở đóngười tiêu dùng dịch vụ không phải là người cư trú thường xuyên như dịch vụ du lịch (khi mộtngười rời khỏi nước mình sang du lịch ở nước khác thì phải sử dụng rất nhiều loại hình dịch vụnhư dịch vụ thu đổi ngoại tệ, dịch vụ khách sạn, dịch vụ nhà hàng, vui chơi giải trí v.v ).Lưu ý: khi tài sản của người tiêu dùng dịch vụ di chuyển ra khỏi biên giới thì sẽ được xếpvào Mode 2 Ví dụ: Hãng hàng không Việt Nam Airline đưa máy bay ra nước ngoài để sửachữa, bảo dưỡng – việc Việt Nam đưa các máy bay của mình sang nước khác để bảo dưỡng,sửa chữa được xếp vào Mode 2 trong tiêu dùng dịch vụ
Ở Mode 1 là dịch vụ di chuyển qua biên giới; Mode 2 người tiêu dùng di chuyển qua biêngiới
iii) Phương thức 3 - Mode 3: Hiện diện thương mại - Commercial Presence (Press Office; Branch; Subsidiaries):
Trang 16Người cung cấp dịch vụ thông qua hiện diện thương mại của mình để cung cấp dịch vụtrên lãnh thổ của một nước thành viên khác.
iv) Phương thức 4 - Mode 4: Hiện diện của cá nhân (hiện diện của tự nhiên nhân) -
Presence of natural persons:
Nhà cung cấp dịch vụ sẽ thông qua sự hiện diện của các tự nhiên nhân để cung ứng dịch
vụ trên lãnh thổ của một nước thành viên khác Phương thức này ứng với dịch vụ mang tính độclập như dịch vụ luật sư (các văn phòng luật sư thường nằm dưới dạng Associates; hoặc Partnership – trong trường hợp này không chỉ có người nước ngoài đến cung cấp dịch vụ độc lập cũng được xếp vào Mode 4 mà việc những người làm công của những người đứng ra cung ứng dịch vụ cũng được xếp vào Mode 4), Dịch vụ giải trí (việc một ca sĩ đi lưu diễn trên lãnh thổ khác cũng được xếp vào Mode4)
II.THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ TRONG KHUÔN KHỔ GATS:
GATS có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 1995, đây cũng là thời điểm WTO đi vào hoạtđộng
1.Cấu trúc của GATS: Gồm 3 phần
1.1 Hiệp định chính : bao gồm 29 điều quy định các nguyên tắc, quyền và nghĩa vụ.
1.2 Phụ lục : những quy định cụ thể liên quan tới một số lĩnh vực như dịch vụ vận tải hàngkhông, đường biển, tài chính, viễn thông và việc đi lại của các nhà cung cấp dịch vụ.1.3 Phần các cam kết : Trong GATS chỉ có cam kết của các nước tham gia vào vòng đàmphán Urugoay, còn các nước trở thành thành viên của WTO sau ngày 1/1/1995 thì sẽdùng bản cam kết riêng Những cam kết này liên quan tới việc mở cửa và tiếp cận thịtrường, mỗi quốc gia khác nhau có một kiểu cam kết khác nhau, tuy nhiên các nướcthuộc liên minh Châu Âu EU dùng chung một kiểu cam kết
2.Nội dung chủ yếu của GATS:
Nội dung chủ yếu có rất nhiều điều như Nguyên tắc Tối huệ quốc, Đãi ngộ quốc gia, Độcquyền và Đặc quyền cung cấp dịch vụ, Minh bạch hóa, Mở cửa thị trường dịch vụ, Tự do hóadần dần, Những quy định liên quan đến liên kết kinh tế v.v Trong khuôn khổ bài học chỉ giớithiệu hai nguyên tắc cơ bản của GATS và cũng đồng thời là hai nguyên tắc cơ bản của WTO
Đó là Nguyên tắc Tối huệ quốc và Nguyên tắc Đãi ngộ quốc gia
2.1 Nguyên tắc MFN – Most Favoured Nation (trong Điều II): Nguyên tắc tối huệ quốc.Đối với những phương thức thuộc phạm vi điều chỉnh của hiệp định này một nước thànhviên phải ngay lập tức và không điều kiện dành cho dịch vụ và các nhà cung cấp dịch vụ củamột nước thành viên sự đối xử không kém thuận lợi hơn sự đối xử mà nước đó dành cho mộtnước thành viên khác bất kỳ
Ví dụ: một quốc gia A dành cho một quốc gia B một sự đối xử thế nào thì quốc gia Acũng phải dành cho quốc gia C một sự đối xử không được kém thuận lợi mà quốc gia A dànhcho B, hay nói một cách khác hai sự đối xử của A dành cho B và C phải tương đương với nhau
Trang 17Ví dụ cụ thể: Hiện nay các ngân hàng nước ngoài cung cấp các dịch vụ liên quan tới ngoại tệchưa được cho phép ở Việt Nam – giả định Việt Nam đã trở thành thành viên của WTO – thìtrong trường hợp này khi Ngân hàng Nhà nước (SBV) đồng ý cho Ngân hàng City Bank (củaMỹ) được cung cấp dịch vụ nhận gửi và cho vay bằng đồng ngoại tệ (Deposit $ Credit in USDollar), trong trường hợp này nếu chiểu theo nguyên tắc MFN thì một loạt các ngân hàng như:Misubishi Bank, Tokyo Bank, ABN Ambro Bank, HFBC Bank, ANZ Bank, Standard ChaterBank (là những ngân hàng đang hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam), nếu như những ngân hàngnày có nhu cầu và đệ trình hồ sơ lên Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thì SBV cũng phải cấpphép để cho tất cả các ngân hàng này được cung cấp dịch vụ cho vay và gửi bằng ngoại tệ(đồng đô la Mỹ) giống như điều mà City Bank được hưởng.
Tuy nhiên trong MFN vẫn có những ngoại lệ nhất định: Đối với trong lĩnh vực thươngmại dịch vụ có hai ngoại lệ sau:
i) Ngoại lệ đối với những hiệp định về ưu đãi dịch vụ được ký kết trước khi GATS có hiệulực
ii) Những ưu tiên nằm trong khuôn khổ hợp tác khu vực (giả sử với ASEAN – ta có AFAS-Asian Free Agreement on Services ‘áp dụng trong thương mại dịch vụ’, nếu dẫn chiếu ra từ ngoại lệ (ii) mà WTO cho phép thì trong khuôn khổ của AFAS khi các nước ASIAN dành cho dịch vụ cũng như các nhà cung cấp dịch vụ của nhau những ưu đãi nào đó thì việc dành ưu đãi đó của Việt Nam cũng như của các nước ASEAN khác sẽ không bị các nước nằm ngoài ASEAN kiện Hoặc ta có khuôn khổ hợp tác khu vực khácnhư Liên minh Châu Âu EU, đối với Liên minh Châu Âu EU họ cũng có một chương trình chung nằm trong khuôn khổ hợp tác liên quan đến lĩnh vực thương mại dịch vụ và trong trường hợp này thì khi các nước đó dành những ưu đãi nhất định cho dịch vụ hay các nhà cung cấp dịch vụ của nhau, các nước thành viên khác nằm ngoài liên kết sẽ không có quyền kiện lên WTO nếu không được dành những ưu đãi đó
Mỗi nước thành viên WTO cũng có quyền đưa ra những ngoại lệ MFN của mình, nhưng
để những ngoại lệ đó được chấp nhận thì nó cần được (i) sự đồng ý của ít nhất 3/4 số thành viêncủa WTO và (ii) ngoại lệ đó sẽ được cơ quan có thẩm quyền của WTO quản lý về lĩnh vựcthương mại dịch vụ (gọi là Hội đồng thương mại dịch vụ) xem xét lại theo từng năm
2.2 Nguyên tắc NT (trong điều 17 và 18): Nguyên tắc đãi ngộ quốc gia
Các nước thành viên phải giành cho dịch vụ và các nhà cung cấp dịch vụ của các nướcthành viên khác ngay lập tức và vô điều kiện sự đối xử không kém thuận lợi hơn sự đối xử mànước đó dành cho dịch vụ và các nhà cung cấp dịch vụ tương tự trong nước
Nếu chiểu theo Nguyên tắc NT, thì khi quốc gia A dành cho dịch vụ và các nhà cung cấpdịch vụ của mình sự đối xử như thế nào thì quốc gia A cũng phải dành cho dịch vụ và các nhàcung cấp dịch vụ tương tự của quốc gia B một sự đối xử không được kém thuận lợi hơn màquốc gia A dành cho dịch vụ và các nhà cung cấp dịch vụ tương tự của mình
Nếu trong MFN được thể hiện ở điểm là các quan hệ đối ngoại là bình đẳng, thì ở NTđược thể hiện ở điểm quan hệ đối nội và quan hệ đối ngoại là bình đẳng với nhau Hai nguyên
Trang 18tắc trên trong WTO được gọi chung bằng một tên là: Non discoumination – không phânbiệt đối xử.
Tuy nhiên phải lưu ý “Dịch vụ tương tự”: Nếu chỉ nói dịch vụ và các nhà cung cấp dịch
vụ thôi thì người ta có thể chỉ hiểu đó là “dịch vụ bất kỳ” – nghĩa là chỉ hiểu là dịch vụ chungchung Theo tiếng Anh có hai từ: “Service” và “Services” ; “Service” được hiểu là dịch vụ nóichung; còn trong GATS sử dụng từ “Services” là cụ thể hóa từng loại dịch vụ Giả sử Dịch vụtài chính, nhưng trong Tài chính ta có nhiều loại dịch vụ nhỏ “Services” Ví dụ: Nhà nước ViệtNam có một quy định như sau: Tất cả các nhà cung cấp dịch vụ thông tin di động khi mới gianhập thị trường sẽ được hưởng mức thuế thu nhập doanh nghiệp ưu đãi là 0% trong vòng 5 nămđầu kể từ khi gia nhập thị trường Bây giờ ta có một nhà cung cấp thông tin dịch vụ di động mới
là Công ty Viễn thông Điện lực – E Telecom Trong trường hợp này khi Nhà nước đã ban hànhmột chính sách như vậy thì tự động Công ty Viễn thông Điện lực sẽ được hưởng mức thuế ưuđãi trong vòng 5 năm đầu kể từ khi gia nhập thị trường là 0% Cùng thời điểm mà E-Telecomcung cấp dịch vụ thì cũng có một nhà cung cấp dịch vụ thông tin di động của Mỹ là Sprint thamgia vào thị trường Việt Nam, trong trường hợp này nếu dẫn chiếu theo nguyên tắc NT thì Sprintcũng sẽ được hưởng mức thuế thu nhập doanh nghiệp ưu đãi trong vòng 5 năm đầu là 0% Tuynhiên điều đó chỉ diễn ra khi Sprint cung cấp dịch vụ có tên là “dịch vụ thông tin di động” màthôi, còn nếu như Sprint lại cung cấp dịch vụ khác cũng là dịch vụ viễn thông nhưng lại là “dịch
vụ gọi điện thoại đường dài quốc tế với giá rẻ – VOIP” thì trong trường hợp này Print không cóquyền được đòi hỏi ưu đãi về thuế giống như E-Telecom
1.Thương mại dịch vụ giúp cải biến cơ cấu kinh tế của một quốc gia.
Vai trò này thể hiện ở chỗ với các nước phát triển thì đương nhiên dịch vụ hiện nay đangchiếm một tỷ trọng rất lớn trong GDP Ví dụ đối với một số nước phát triển cũng như các nướccông nghiệp mới (hay còn gọi là các nền kinh tế mới nổi) thì tỷ trọng của dịch vụ trong GDPluôn chiếm khoảng từ 60% trở lên, Canada: 79% của GDP; Mỹ: 73,7% của GDP; Singapore:71%; Hàn Quốc: 62%; Nhật Bản: 54%; của EU mở rộng: 42% (trước kia EU có 15 nước thành viên chủ yếu là các nước Tây Âu và Nam Âu là các nước tương đối phát triển, khi đó tỷ trọng của dịch
vụ đối với GDP ở khu vực này là 70%, tuy nhiên bây giờ EU kết nạp thêm 10 nước thành viên mới chủ yếu là các nước thuộc khối Đông Âu là các nước thuộc XHCN cũ thì tỷ trọng dịch vụ của toàn bộ khối
EU bị sụt giảm đi); Hiện nay tốc độ tăng trưởng của thương mại dịch vụ của các nước luôn luôncao hơn so với tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế Ví dụ về nền kinh tế toàn cầu thì trong giaiđoạn 1990 đến năm 2005 tốc độ tăng trưởng trung bình của nền kinh tế thế giới từ 3 đến 4% thìtốc độ tăng trưởng của thương mại dịch vụ của thế giới trong giai đoạn này là 10% (gấp 2 lần sovới tốc độ tăng trưởng về kinh tế) Ở Việt Nam, năm 2005 theo con số ước tính thì tỷ trọng của thương mại dịch vụ chiếm 38,9% GDP, Việt Nam phấn đấu đến năm 2010 (trong kế hoạch phát triển kinh tế xã hội Việt Nam giai đoạn 2006 - 2010) mức đóng góp của dịch vụ vào GDP là 45%.
Trang 192.Thương mại dịch vụ phát triển kéo theo sự phát triển của thương mại hàng hóa.
Trước kia để xuất khẩu được một lô hàng thì doanh nghiệp phải tốn rất nhiều thời gian (từviệc vận tải tới việc thanh toán, bốc dỡ, đóng gói v.v ), nhưng bây giờ cùng với sự xuất hiện vàphát triển của nhiều ngành dịch vụ thì quá trình mua bán hàng hóa sẽ diễn ra được nhanh chónghơn và dễ dàng hơn Ví dụ: Trước kia khi những dịch vụ trong các ngân hàng chưa phát triểnthì các doanh nghiệp rất khó mua bán được hàng hóa một cách dễ dàng và nhanh chóng chẳnghạn như một doanh nghiệp muốn xuất khẩu một lô hàng thì doanh nghiệp tối thiểu phải cần cácdịch vụ như: dịch vụ vận tải, dịch vụ bảo hiểm, dịch vụ ngân hàng, chưa kể đến các dịch vụ liênquan đến kiểm định chất lượng Vậy trước kia khi dịch vụ ngân hàng chưa phát triển cùng vớicông nghệ thông tin chưa phát triển thì các doanh nghiệp phải dùng chứng từ thông qua đườngphát chuyển nhanh, bây giờ các ngân hàng bắt đầu chấp nhận chứng từ điện tử để quá trìnhthanh toán diễn ra nhanh hơn, như vậy khi quá trình thanh toán diễn ra nhanh hơn thì khả năngthu hồi vốn (hay khả năng quay vòng vốn của nhà xuất khẩu) sẽ nhanh hơn, như vậy sẽ tránhđược tình trạng là bị bên nhập khẩu chiếm dụng vốn và doanh nghiệp sẽ có tiền để quay vòngcho thương vụ tiếp theo Ngoài ra khi dịch vụ vận tải phát triển thì quá trình vận chuyển hànghóa diễn ra nhanh hơn và an toàn hơn, như vậy là nhà xuất khẩu sẽ có thể xuất khẩu được nhiềuhàng hóa hơn đồng thời rủi ro của họ được giảm xuống trong quá trình xuất khẩu Hoặc mộtnghiệp vụ ngân hàng nữa được áp dụng: Nghiệp vụ Factoring và nghiệp vụ Forfeiting (hainghiệp vụ mới), ở Việt Nam hiện nay mới chỉ có Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu vàNgân hàng Vietcombank áp dụng hai nghiệp vụ này Hai nghiệp vụ này là Nghiệp vụ Bao thanhtoán, Ngân hàng đứng ra thanh toán toàn bộ gói cần phải thanh toán (có thể thanh toán toàn bộhoặc một phần; Factoring là một phần, còn Forfeiting là trọn gói; hiện nay mới chỉ Factoringđược áp dụng) Với hai nghiệp vụ này sẽ tạo được thuận lợi cho cả người nhập khẩu lẫn ngườixuất khẩu Có một điều kiện là: Các ngân hàng nếu muốn cung cấp dịch vụ Factoring vàForfeiting thì họ phải có một dịch vụ trong đó là dịch vụ Option - quyền lựa chọn ngoại tệ, khi
họ cung cấp dịch vụ Option thì họ mới được cung cấp hai dịch vụ kia để giảm những rủi rotrong chênh lệch tỷ giá, biến động quá nhiều về tỷ giá Nhưng khi hai loại hình dịch vụ nàyđược áp dụng thì bên phải chịu rủi ro lớn nhất là bên Ngân hàng nhưng các ngân hàng vẫn chấpnhận bởi trên thị trường có rất nhièu ngân hàng, nếu không làm với ngân hàng này thì kháchhàng có thể lựa chọn ngân hàng khác do vậy các ngân hàng chấp nhận chịu rủi ro lớn để thu hútđược khách hàng
3.Thương mại dịch vụ cải biến cơ cấu đầu tư trực tiếp nước ngoài trên thế giới.
Năm 2002, lượng vốn FDI toàn cầu đạt khoảng trên 2 nghìn tỷ đô la, đến 60% luồng FDI
đó được đầu tư vào các lĩnh vực dịch vụ, các nhà đầu tư thích đầu tư vào lĩnh vực dịch vụ hơn
vì cơ sở hạ tầng ban đầu cần ít vốn và khả năng thu hồi vốn lại cao, nhanh hơn so với đầu tưvào các ngành công nghiệp Ngoài ra khi cải biến được cơ cấu đầu tư như vậy thì khi thươngmại dịch vụ phát triển nó lại kéo theo sự phát triển của các ngành công nghiệp Ví dụ: Dịch vụkho bãi và cảng biển – khi ở đâu đó có ý định xây dựng một cảng biển thì thông thường khôngdựa vào tiêu chí là ở khu vực đó có những khu công nghiệp nào để xây cảng mà việc xây cảng
sẽ được tiến hành trước sau đó các khu công nghiệp mới hình thành quanh đó Ở Việt Nam có
Trang 20khu vực cảng Chân Mây, sau khi hình thành dự án xây dựng cảng Chân Mây thì hình thành mộtloạt các dự án xây dựng các khu công nghiệp quanh đó Mà việc hình thành một loạt các khucông nghiệp quanh đó là rất hợp lý bởi vì (i) các doanh nghiệp có lợi thế khi vận chuyểnnguyên liệu đầu vào từ cảng tới nơi sản xuất, (ii) đồng thời có lợi thế về vị trí khi vận chuyểnhàng từ nơi sản xuất ra cảng để phân phối đi các nơi khác, và khi cự ly, khoảng cách giảm nhưvậy thì rủi ro trong quá trình chuyên chở cũng giảm đi rất nhiều và đồng thời chi phí cũng đượcgiảm theo.
4.Thương mại dịch vụ phát triển giúp tạo ra một lượng công ăn việc làm khổng lồ.
Vai trò này mang ý nghĩa xã hội rất cao Ví dụ ở Mỹ năm 2002, số lao động làm việctrong lĩnh vực dịch vụ chiếm 86% lực lượng lao động Đối với toàn bộ nền kinh tế thế giới thìhiện nay ngành dịch vụ sử dụng nhiều lao động nhất là ngành du lịch với con số là 209,6 triệulao động, chiếm khoảng 10% lực lượng lao động của toàn thế giới Và lực lượng lao động nàycũng tạo ra một lượng GNP xấp xỉ 10% tổng giá trị GNP của toàn thế giới
BUỔI 3
I I KHÁI NIỆM VÀ CÁC HÌNH THỨC CỦA THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ.
1.Khái niệm và các hình thức của thương mại quốc tế.
Thương mại quốc tế là một hình thức của quan hệ kinh tế quốc tế, trong đó diễn ra sự muabán, trao đổi hàng hóa, dịch vụ giữa các chủ thể của quan hệ kinh tế quốc tế
2.Các hình thức của thương mại quốc tế
a) Thương mại hàng hóa: Chính là sự mua bán trao đổi sản phẩm dưới dạng vật chất hữuhình như thương mại hàng nông sản, thương mại hàng máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu,dầu mỏ v.v
b) Thương mại dịch vụ: Mua bán những sản phẩm vô hình, phi vật chất được thể hiệnthông qua các hoạt động của con người, thương mại dịch vụ đóng vai trò ngày càng tăngtrong quan hệ thương mại quốc tế
c) Thương mại liên quan đến đầu tư
d) Thương mại liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ
II.CÁC HỌC THUYẾT VỀ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ.
Chủ nghĩa Trọng thương
Lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith
Lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo
Học thuyết Hecksher – Ohlin
Một số lý thuyết khác
Trang 211.Chủ nghĩa Trọng thương – Mercantilism.
Hoàn cảnh ra đời từ thế kỷ XVI đến giữa thế kỷ XVIII, gắn liền với một số tác giả tiêubiểu người Pháp như Jean Bordin, Melton, Jully, Corbert, và người Anh như Thomax Mun,James Stewart, Josias Chhild v.v
1.1 Nội dung chính của Chủ nghĩa Trọng thương:
Đề cao vai trò của tiền tệ: Chủ nghĩa Trong thương coi tiền tệ là tiêu chuẩn cơ bản củacủa cải, nhà nước càng nhiều tiền thì càng giàu có, và trong tiền tệ thì vàng, bạc, kim loại quýđược đặc biệt coi trọng Thời kỳ đó là thời kỳ tích lũy tư bản do vậy đề cao vai trò của tiền tệđặc biệt là vàng bạc, vàng bạc được các quốc gia phong kiến sử dụng để chi trả như nuôi quânđội, trang trải chi phí chiến tranh v.v Để tích lũy thì các quốc gia phong kiến sử dụng nhiềuphương pháp như xuất siêu, cướp biển, buôn bán nô lệ v.v
Coi trọng thương mại, đặc biệt là ngoại thương, trong ngoại thương phải thực hiệnxuất siêu (xuất khẩu nhiều hơn nhập khẩu), để có thể xuất siêu các quốc gia phải thực hiệnnhững chính sách:
Chính sách với thuộc địa: xuất khẩu những sản phẩm nguyên liệu thô và sơ chế vớigiá thấp, các nhà tư bản giữ độc quyền thương mại trên thị trường các nước thuộc địanhằm ngăn cản các nước này sản xuất, các nước này buộc phải nhập khẩu hàng hoáthành phẩm, sản phẩm công nghiệp chế biến từ các nước chính quốc
Đạt thặng dư mậu dịch bằng cách tăng xuất bằng những công cụ của nhà nước nhưtrợ cấp xuất khẩu, chú trọng xuất khẩu những hàng hoá có hàm lượng chế biến cao(hạn chế xuất những sản phẩm thô, sơ chế), giảm nhập khẩu (riêng mặt hàng vàng bạclại được khuyến khích nhập khẩu)
Lợi nhuận: là kết quả của trao đổi không ngang giá (một hình thức lừa gạt – lợi nhuậncủa quốc gia này có được là nhờ sự nghèo đi của quốc gia khác – thặng dư của quốc gia này làthâm hụt của quốc gia khác)
- Đề cao vai trò của Nhà nước trong việc điều tiết nền kinh tế: Để đạt được xuất siêu,giảm nhập thì các công cụ của nhà nước là rất quan trọng như
Khuyến khích xuất khẩu bằng các biện pháp tài chính như trợ giá cho xuất khẩu,cung cấp tín dụng v.v
Hạn chế nhập khẩu bằng những những công cụ truyền thống như hàng rào thuế quan(đánh thuế thật cao)
Trang 221.2 Ưu điểm của Chủ nghĩa Trọng thương:
a) Lần đầu tiên, các hiện tượng kinh tế được giải thích bằng lý luận Trước kia các hiệntượng kinh tế chỉ được giải thích bằng tôn giáo, bằng kinh nghiệm chứ chưa có học thuyếtkhoa học nào
b) Đề cao được vai trò của thương mại, đặc biệt là thương mại quốc tế Bối cảnh lịch
sử kinh tế thời kỳ đó là tự cung, tự cấp, mà Chủ nghĩa Trọng thương đề cao vai trò củathương mại đặc biệt là thương mại quốc tế thì đó là một cuộc cách mạng trong nhận thức
ở thời kỳ này
c) Nhận thức được vai trò điều tiết của Nhà nước Chủ nghĩa Trọng thương đã nhận thứcđược vai trò của nhà nước với tư cách là một chủ thể chủ đạo trong quan hệ kinh tế quốc
tế và đồng thời cũng nhận thức được tầm quan trọng của các công cụ của nhà nước có thể
sử dụng để điều tiết xuất nhập khẩu cũng như nền kinh tế nói chung
1.3 Nhược điểm:
a) Quan niệm chưa đúng về của cải, về nguồn gốc giàu có của một quốc gia Chủnghĩa này cho rằng muốn giàu có thì phải có nhiều tiền, mà muốn có nhiều tiền thì phảixuất khẩu nhiều hơn nhập khẩu
b) Quan niệm chưa đúng về lợi nhuận trong thương mại Chủ nghĩa Trọng thương coilợi nhuận là kết quả của sự trao đổi không ngang giá (quốc gia này giàu lên nhờ sự nghèo
đi của quốc gia khác) Ta thấy rằng nếu lợi nhuận trong thương mại quốc tế mà cứ nhưvậy thì những quốc gia bị thua thiệt trong thương mại sẽ không tham gia thương mại quốc
tế nữa do vậy thương mại quốc tế sẽ không phát triển lâu dài được
c) Chưa nêu lên bản chất bên trong của hiện tượng kinh tế
Với tất cả những nhược điểm trên đây cùng với sự phát triển của nền kinh tế bước sangnửa cuối của thế kỷ XVIII, Chủ nghĩa Trọng thương dần dần mất đi vị thế của mình, trong tácphẩm nổi tiếng của Adam Smith “Nguồn gốc giàu có thực sự của các dân tộc” đã phê phán chủnghĩa trọng thương và trình bày những quan điểm mới của mình về thương mại quốc tế
Trang 232.Lý thuyết về lợi thế tuyệt đối của Adam Smith (1723-1790).
2.1 Quan điểm cơ bản của Adam Smith về thương mại quốc tế bao gồm:
a) Nguồn gốc của sự giàu có: Không phải do ngoại thương mà do sản xuất côngnghiệp Ông thừa nhận vai trò của thương mại tạo điều kiện cho phát triển kinh tế là rấtquan trọng nhưng không phải là yếu tố quyết định Nguồn gốc của sự giàu có quốc giakhông phụ thuộc vào khối lượng vàng bạc mà quốc gia đó có mà dựa vào sự sẵn có hànghoá, dịch vụ của quốc gia
b) Trong thương mại quốc tế trao đổi phải là ngang giá Sự trao đổi giữa các quốc giaphải dựa trên cơ sở tự nguyện, các bên cùng có lợi - ông phê phán sự phi lý của Chủnghĩa Trọng thương - ông nói rằng mậu dịch sẽ giúp cả hai bên có thể gia tăng số lượngtài sản của mình thông qua nguyên tắc cơ bản là phân công lao động
2.2 Cơ sở mậu dịch giữa các quốc gia: Căn cứ vào lợi thế tuyệt đối của các nước
Lợi thế tuyệt đối của một quốc gia về một sản phẩm: Nghĩa là Quốc gia đó có thể sản
xuất ra sản phẩm đó với các chi phí thấp hơn các nước khác (Ví dụ: Dầu mỏ của Arập Xêút, gỗcủa Canada v.v ). Khi một quốc gia có được lợi thế tuyệt đối về một sản phẩm nào đó thì quốc gia đó thì họ nên chuyên môn hoá vào sản xuất mặt hàng đó, sau đó đem sản phẩm đó trao đổi với các nước khác để nhập khẩu về những sản phẩm họ không có lợi thế tuyệt đối Adam Smith ví các quốc gia như những hộ gia đình – người chủ gia đình không bao giờ sản xuất được hết những cái mà họ cần, có hộ gia đình làm nông nghiệp, có hộ gia đình sản xuất thủ công sau đó họ trao đổi những sản phẩm với nhau.
Nguồn gốc của lợi thế tuyệt đối của một quốc gia:
Lợi thế tự nhiên: tài nguyên, điều kiện khí hậu, đất đai Lợi thế tự nhiên đặc biệt quantrọng đối với các sản phẩm như hàng nông sản, lâm sản, thuỷ sản v.v
Lợi thế do nỗ lực: Sự lành nghề, kỹ thuật của người lao động đặc biệt quan trọng đốivới việc sản xuất những sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao
Ví dụ cho Lợi ích từ chuyên môn hóa
Nước Dầu mỏ (thùng) do một đơn
vị nguồn lực sản xuất ra
Gạo (tấn) do một đơn vịnguồn lực sản xuất ra
Ta thấy, ở Irag 1 đơn vị nguồn lực có thể sản xuất ra được 10 thùng dầu, nhưng ở ViệtNam 1 đơn vị nguồn lực có thể sản xuất được 6 thùng dầu mỏ Irag sản xuất ra được nhiềudầu mỏ hơn Việt Nam với cung một lượng đầu vào như nhau nhưng đầu ra số lượng dầu củaIrag nhiều hơn Irag có lợi thế tuyệt đối về dầu mỏ
Tương tự, đối với Việt Nam 1 đơn vị nguồn lực có thể sản xuất ra được 3 tấn gạo, cònIrag được 2 tấn gạo Việt Nam có lợi thế tuyệt đối trong sản xuất gạo
Trang 242.3 Nước Dầu mỏ (thùng) sản xuất ra
tăng (giảm)
Gạo (tấn) sản xuất ratăng (giảm)
2.4 Các giả định của lợi thế tuyệt đối:
Chỉ có 2 nền kinh tế tham gia sản xuất hàng hóa
Hàng hóa các nước khác nhau sản xuất đồng nhất về đặc tính, chất lượng
Không tính chi phí vận tải
Chi phí là không đổi dù quy mô sản xuất tăng
Các yếu tố sản xuất ở các nước giống nhau
Dễ dàng di chuyển nguồn lực từ ngành này sang ngành khác
Không có sự hiện diện của thuế quan
Tri thức là hoàn hảo
Hạn chế cơ bản của lý thuyết về lợi thế tuyệt đối:
Không giải thích được hiện tượng trao đổi thương mại vẫn diễn ra với những nước có lợithế hơn hẳn các nước khác ở mọi sản phẩm, hoặc những nước không có lợi thế tuyệt đối về tất
cả các sản phẩm Ngay từ thời Adam Smith, lý thuyết của ông cũng không dập tắt được nỗi lo lắng của nhiều người ở Anh thời kỳ đó, họ lo ngại rằng giả dụ nước Đức có thể vươn lên để sản xuất có hiệu quả tất cả các mặt hàng hơn so với nước Anh thì thương mại quốc tế sẽ thế nào? Học thuyết của Adam Smith không giải thích được điều này và nhà kinh tế học David Ricardo đã khắc phục được nhược điểm này.
Trang 253.Lý thuyết về lợi thế so sánh của David Ricardo (1772 – 1823)
3.1 Nội dung về lý thuyết lợi thế so sánh:
a) Mọi nước đều có thể có lợi ích khi tham gia vào thương mại quốc tế Ví dụ: Irag sảnxuất dầu mỏ có hiệu quả hơn Việt Nam, Việt Nam sản xuất gạo có hiệu quả hơn Irag khihai nước tham gia thương mại quốc tế buôn bán với nhau thì cả hai bên đều có lợi ích.Nhưng ngay cả khi Irag sản xuất có hiệu quả hơn Việt Nam tất cả các mặt hàng, cả Irag
và Việt Nam đều có lợi khi tham gia vào thương mại quốc tế Với quan điểm này, Ricardokêu gọi tất cả các quốc gia tham gia vào thương mại quốc tế và xoá bỏ rào cản bảo hộ.b) Lợi ích trong thương mại quốc tế bắt nguồn từ lợi thế so sánh Xuất hiện khái niệm
về lợi thế so sánh chứ không còn chỉ là lợi thế tuyệt đối nữa
c) Mỗi nước đều có lợi thế so sánh trong sản xuất một mặt hàng nào đó (và kém lợithế so sánh trong mặt hàng khác)
Một quốc gia có lợi thế so sánh khi quốc gia đó có khả năng sản xuất một hàng hóa vớimức chi phí cơ hội (Chi phí để sản xuất ra một sản phẩm được tính bằng một sản phẩm khác) thấphơn so với các quốc gia khác
Chi phí cơ hội của việc sản xuất ra một hàng hóa là số lượng hàng hóa khác mà chúng taphải hy sinh khi chúng ta sử dụng nguồn lực để sản xuất thêm một đơn vị hàng hóa đó
Đơn vị sảnphẩm
Tương tự với Mỹ Lợi thế sản xuất trong máy tính
Nếu đề bài cho theo chiều ngược lại:
quy đổi về năng suất lao động để tính chi phí cơ hội
Đơn vị sản phẩm Số giờ lao động
sử dụng ở Mỹ
Số giờ lao động sửdụng ở Trung Quốc
Đơn vị sản phẩm 1 giờ lao động 1 giờ lao động Trung
Trang 26Mỹ tạo ra Quốc tạo ra
Chi phí cơ hội sản xuất quần áo ở Trung Quốc: 1/28 : 1/4 = 4/28 = 1/7
Chi phí cơ hội sản xuất quần áo ở Mỹ: 1/5 : 1 = 1/5
Trung Quốc: Trong nước 7 bộ quần áo tương đương 1 chiếc máy tính, nếu chuyên mônhóa thì cần bán 5 bộ quần áo đủ để đổi một chiếc máy tính dôi ra 2 bộ quần áo
Mỹ: tương tự, Mỹ sẽ có lợi khi chuyên môn hóa vào sản xuất máy tính
3.2 Hạn chế:
a) Chỉ chú ý đến cung sản xuất sản phẩm mà mình có lợi thế so sánh, không chú ýđến cầu tiêu dùng Tất cả các học thuyết cổ điển chỉ tập trung vào cung chứ không đềcập tới cầu, Cầu chỉ được tập trung trong kinh tế học hiện đại
b) Chưa tính đến chi phí vận tải, bảo hiểm, thuế quan và các hàng rào bảo hộ mậudịch
c) Giá tương đối trong trao đổi chỉ dựa vào đầu vào là lao động
d) Chưa tính đến yếu tố chi phí sản xuất giảm dần theo quy mô và năng suất lao độngtăng dần theo quy mô
e) Chưa tính đến vòng đời sản phẩm, thị hiếu tiêu dùng
4.Học thuyết Hecksher – Ohlin (H-O)
4.1 Giới thiệu chung về học thuyết:
Khác biệt về nguồn lực là nguồn gốc duy nhất của thương mại
Giải thích lợi thế so sánh là do:
Sự khác biệt về nguồn lực giữa các quốc gia
Hàng hóa khác nhau thì hàm lượng các yếu tố sản xuất cũng khác nhau
Còn được gọi là Học thuyết về tỷ lệ các yếu tố sản xuất
Trang 274.2 Nội dung cơ bản của học thuyết H – O.
a) Trong một nền kinh tế mở cửa, mỗi nước tiến đến chuyên môn hóa ngành sản xuất màcho phép sử dụng nhiều yếu tố sản xuất đối với nước đó là thuận lợi nhất Theo học thuyết này có hai vấn đề (a) sự khác biệt về nguồn lực giữa các quốc gia ‘vd: các nước phát triển có tiềm lực mạnh về vốn, công nghệ; các nước đang phát triển thì mạnh về lao động, đất đai’ – Khi ta nói một quốc gia có thể dư thừa tương đối về yếu tố nào đó ‘vd: về vốn; ; lao động’ là quan điểm tương đối, chẳng hạn khi ta so sánh quy mô dân số giữa Việt Nam và Mỹ – ta thấy mặc dù dân số
Mỹ nhiều hơn Việt Nam nhưng ta vẫn nói Việt Nam dư thừa lao động hơn so với Mỹ là ta so sánh
tỷ lệ lao động trên vốn của Việt Nam so với tỷ lệ lao động trên vốn của Mỹ; (b) Ngành sản xuất
sử dụng nhiều yếu tố sản xuất Ví dụ khi nói tới ngành sản xuất dệt may là ngành sử dụng nhiều lao động so với ngành sản xuất lương thực – ở đây ta tính tỷ lệ lao động, hàm lượng lao động trong sản phẩm đó cao hơn so với hàm lượng lao động trong sản xuất lương thực.
b) Trao đổi quốc tế là sự trao đổi các yếu tố dư thừa lấy các yếu tố khan hiếm Các nướcchuyên môn hóa sản xuất các sản phẩm cần nhiều yếu tố dư thừa của nước mình để xuấtkhẩu và nhập khẩu những sản phẩm mà để sản xuất ra nó đòi hỏi nhiều yếu tố khan hiếm
Các yếu tố của sản xuất: vốn, công nghệ, lao động, tài nguyên ở các nước phát triển thì có thế mạnh về vốn, công nghệ, còn các nước đang phát triển thì mạnh về lao động, tài nguyên (Dư thừa
có nghĩa tương đối), học thuyết của H – O giải thích tại sao một nước, giả như một nước phát triển họ xuất khẩu sản phẩm công nghệ – sản phẩm chiếm hàm lượng vốn nhiều – chính là những yếu tố sản xuất của họ là dư thừa Tương tự, ta thấy Trung Quốc được coi là công xưởng của thế giới, Trung Quốc xuất khẩu nhiều hàng dệt may, giày dép, đồ chơi trên thế giới – những sản phẩm này sử dụng nhiều những yếu tố rất dư thừa của Trung Quốc Hoặc ngay trong các nước đang phát triển và phát triển cơ cấu xuất khẩu cũng rất khác nhau, ta thấy như Canada xuất khẩu sản phẩm
gỗ vì họ có lợi thế về nguồn tài nguyên phong phú.
c) Định luật xu hướng cân bằng về thu nhập của các yếu tố sản xuất:
Khi các nước tự do hóa thương mại, không có nước nào chuyên môn hóa hoàn toàn thìthu nhập của các yếu tố sản xuất giữa các nước có xu hướng cân bằng nhau
Ví dụ:
Sản xuất ô tô tăng nhu cầu vốn tăng thừa
vốn được giải quyết lãi suất tăng
Sản xuất ô tô giảm cầu về vốn giảm giảm tình trạnh thiếu vốn lãi suất giảmCân bằng lãi suất
Sản xuất quần áo cầu lao động giảm
lương giảm
Sản xuất quần áo tăng cầu lao động tăng lương tăng
Cân bằng lươngThương mại quốc tế làm tăng thu nhập thực tế của các yếu tố dư thừa và giảm thu nhập thực tếcủa các yếu tố khan hiếm
Giả thiết có hai nước là Mỹ và Việt Nam, ta thấy Mỹ có yếu tố sản xuất dư thừa là vốn,còn Việt Nam yếu tố sản xuất dư thừa là lao động Sản xuất ô tô là ngành cần nhiều vốn còn sảnxuất hàng dệt may là ngành cần nhiều lao động Ở Mỹ là nước dư thừa về vốn do đó sản xuất ô
Trang 28tô (ngành sản xuất ra sản phẩm có chứa hàm lượng vốn cao) tăng lên, khi sản xuất ô tô tăng nhucầu về vốn tăng mà Mỹ là nước đang có tình trạng dư thừa về vốn tương đối (dư thừa ở đâyđược hiểu tương đối khi so với Việt Nam tỷ lệ vốn trên lao động – chứ không nói quy mô tuyệtđối của số vốn đó), khi dư thừa về vốn tăng thì lãi suất tăng sẽ vay nhiều hơn để đầu tư để sảnxuất (chẳng hạn là ô tô) Với Việt Nam thì việc sản xuất ô tô là ngành cần nhiều vốn mà vốn làyếu tố khan hiếm ở Việt Nam do đó việc sản xuất ô tô giảm, sản xuất ô tô giảm thì cầu về vốngiảm do đó tình trạng thiếu vốn sẽ được giải quyết do vậy lãi suất giảm, như vậy có sự cân bằng
về lãi suất – xu hướng cân bằng thu nhập các yếu tố sản xuất là như vậy Lãi suất chính là thunhập của các yếu tố sản xuất là vốn
Tương tự như vậy với sản xuất quần áo, ngành sản xuất quần áo là ngành cần nhiều laođộng Mà lao động là yếu tố khan hiếm ở Mỹ do vậy việc sản xuất quần áo sẽ giảm, khi sảnxuất quần áo giảm thì cầu về lao động giảm, cầu về lao động giảm thì dẫn tới tiền lương giảm –không cần nhiều nhân công như trước kia nữa, tình trạng khan hiếm lao động tương đối ở Mỹ
có thể được giải quyết một phần Ngược lại ở Việt Nam, là nước dư thừa về lao động (tươngđối: tỷ lệ lao động trên vốn) mặc dù về mặt lao động quy mô dân số nhỏ hơn Mỹ, ngành sảnxuất quần áo ở Việt Nam sẽ tăng do vậy cầu về lao động tăng, mà cầu về lao động tăng thì tiềnlương sẽ tăng (khi doanh nghiệp có nhu cầu tuyển dụng lao động tăng thì giá cả lao động đượcbiểu hiện bằng tiền lương tăng) và dẫn tới việc cân bằng lương
Kết luận: Thương mại quốc tế làm tăng thu nhập thực tế của các yếu tố dư thừa và làmgiảm thu nhập thực tế của các yếu tố khan hiếm ví dụ: đối với Việt Nam – tăng lương – lươngyếu tố dư thừa ở Việt Nam; Lãi suất yếu tố dư thừa ở Mỹ
Chính vì thế những người lao động ở các nước đang phát triển rất thích các quốc gia của
họ tham gia vào thương mại quốc tế, như vậy thì giá cả của tiền lương sẽ tăng, trong khi đó laođộng ở các nước phát triển lo ngại bị mất việc làm
1.Giá cả quốc tế
1.1 Khái niệm
Giá cả quốc tế là biểu hiện bằng tiền giá trị quốc tế của hàng hóa Giá trị quốc tế của hànghoá chính là hao phí lao động cần thiết để sản xuất ra hàng hoá đó trong điều kiện trung bìnhtrên quy mô quốc tế quyết định
Lưu ý: Giá cả quốc tế của hàng hoá được dùng để chỉ mức giá có tính chất đại diện cho
một mặt hàng nhất định trên một thị trường nhất định trong một thời điểm nhất định Ví dụ: ta không thể chỉ nói là Giá cà phê, mà phải nói giá xuất khẩu loại cà phê nào trên một thị trường nhất định, trong một thời điểm nhất định (Giá FOB Hải Phòng, giao ngày 26/3/2006) Không thể là mức giá nào cũng là đại diện cho mặt hàng đó vào thời điểm đó trong tại thị trường đó mà phải có tiêu chuẩn để xác định giá cả của hàng hoá.
Các tiêu chuẩn xác định giá quốc tế:
Trang 29a) Giá đó phải là giá của những hợp đồng mua bán được thực hiện trong những điều kiệnthông thường Hợp đồng thương mại thông thường là những hợp đồng mua thực bán thựctrên cơ sở tự nguyện, các bên quan hệ giao dịch có quan hệ bình đẳng, độc lập với nhau,hợp đồng không có những điều khoản đặc biệt khiến việc xác định giá trở nên không đángtin cậy (Những hợp đồng mua bán không thông thường: giao dịch nội bộ trong công ty thìmức giá không phản ánh đúng như nhu cầu trên thế giới, mua bán hình thức hàng đổihàng ‘4 tấn cà phê đổi lấy 1 chiếc ô tô; hợp đồng mua bán bù trừ, hợp đồng mua bán trả
nợ ‘Việt Nam xuất khẩu một số mặt hàng trong chương trình trả nợ cho Liên bang Nga).b) Giá đó phải là giá của những hợp đồng mua bán với khối lượng lớn, mang tính chấtthường xuyên, trên các thị trường tập trung phần lớn khối lượng giao dịch hàng hóa đó.Các loại hợp đồng như vậy mới phản ánh đúng cung cầu trên thị trường thế giới và có tácđộng tới cung cầu trên thị trường thế giới (trên thực tế các mặt hàng như vậy sẽ được gắnvới các trung tâm giao dịch truyền thống của nó như lấy giá kim loại màu ở Luân Đôn,New York, giá bông lấy ở Bom Bay, Chicago, khi mua máy móc thiết bị bao giờ cũngtham khảo giá của các hãng nổi tiếng trên thế giới v.v )
c) Giá đó phải là giá được tính bằng các đồng tiền mạnh, có thể tự do chuyển đổi (nhưUSD; EU, Yên Nhật v.v những đồng tiền này có thể chuyển đổi ra những đồng tiềnkhác dễ dàng, không gặp phải những hạn chế Việc chuyển đổi những đồng tiền nàykhông bị phụ thuộc vào những chủ thể chuyển đổi, mức độ chuyển đổi, hay đòi hỏi nguồnthu nhập từ đâu mà ra Những đồng tiền này cũng là của những quốc gia chiếm tỷ trọnglớn trong thương mại)
1.2 Đặc điểm của giá quốc tế
a) Giá cả quốc tế của hàng hóa có xu hướng biến động rất phức tạp vì giá quốc tế phải chịutác động của rất nhiều những nhóm yếu tố:
i) Những yếu tố ảnh hưởng tới giá trị của hàng hóa Như sự tăng lên của năng suất lao động, do áp dụng những tiến bộ khoa học công nghệ (vd: màn hình AUCIDI trước đây 1năm có giá 1000$ nhưng hiện nay giá chỉ 300$, trong khi đó tính năng lại tiến bộ hơn nhiều)
ii) Những yếu tố ảnh hưởng tới quan hệ cung cầu Như thu nhập của người dân (tăng lên ảnh hưởng tới cầu – sức mua tăng hoặc giảm xuống), sự thay đổi điều kiện tự nhiên ảnh hưởng tới cung hàng hóa (sản xuất cà phê gặp hạn hán – dẫn tới cung giảm), các yếu tố chính trị xã hội (dầu mỏ lên xuống rất phức tạp, không theo một quy luật nào) v.v
iii) Những yếu tố ảnh hưởng tới giá trị quốc tế của đồng tiền Như lạm phát, thay đổi tỷgiá hối đoái, khủng hoảng tài chính tiền tệ
b) Có hiện tượng nhiều giá đối với một mặt hàng Khi điều tra, tìm hiểu thì ta thấy cùng mộtloại hàng hóa trên thị trường sẽ có rất nhiều mức giá khác nhau Nguyên nhân bắt nguồn
là từ:
i) Phương thức mua bán khác nhau Nếu mua bán trực tiếp thì giá quốc tế của hàng hóa
sẽ khác khi mua qua trung gian, qua đại lý, môi giới, hoặc mua bán trao đổi hàng – tiền
Trang 30bình thường sẽ khác hơn là mua bán hàng – hàng, hoặc các giao dịch tạm nhập tái xuất, mua bán theo hình thức hội chợ, triễn lãm, đấu thầu v.v
ii) Phương thức thanh toán khác nhau Nếu trả tiền ngay thì giá sẽ khác hơn là trả tiền sau, trong buôn bán quốc tế thì người bán và người mua ở hai nước khác nhau do vậy việc việc thanh toán rất phức tạp – nếu thanh toán qua ngân hàng có thể chọn nhiều hìnhthức như chuyển tiền, thư tín dụng, trả tiền thông qua LC, nhờ thu v.v – khi sử dụng ngân hàng để thực hiện các dịch vụ chuyển tiền theo các hình thức khác nhau thì ngân hàng phải tính phí do vậy giá cả hàng hóa có sự thay đổi
iii) Phương thức vận chuyển khác nhau Khi lựa chọn phương thức vận chuyển khác nhau thì giá quốc tế sẽ phải khác nhau Các phương thức vận chuyển như đường bộ, đường thủy (đường biển mặc dù chi phí rẻ nhất nhưng mức độ rủi ro lại cao nhất), đường hàng không (có chi phí cao nhưng bù lại rất nhanh), đường sắt, đường ống (xăng,dầu)
iv) Điều kiện cơ sở giao hàng khác nhau Giá FOB (mức giá chưa tính phí bảo hiểm), giá SHIP (bao gồm cả vận tải và bảo hiểm) Mức giá giao tại chân công trình sẽ rất khác
so với giao hàng tại xưởng Quyền lợi và nghĩa vụ của người bán và người mua trong các trường hợp khác nhau thì trách nhiệm, rủi ro sẽ ảnh hưởng tới giá của hàng hóa.c) Có hiện tượng “giá cánh kéo” đối với giá cả hàng hóa trên thị trường
Giá cánh kéo là hiện tượng khác nhau trong xu hướng biến động giá của hai nhóm hàng:Nhóm 1: Hàng thành phẩm công nghiệp, máy móc thiết bị
Nhóm 2: Hàng nguyên vật liệu, hàng thô sơ chế, nông sản
Giá cánh kéo
Khi giá cả trên thị trường thế giới
có xu hướng tăng thì giá của nhóm
hàng 1 luôn có xu hướng tăng nhanh
hơn so với giá cả của nhóm hàng 2
* Khi giá cả trên thị trường thế giới
có xu hướng giảm thì giá cả của nhóm
hàng 1 có xu hướng giảm chậm hơn so
với giá cả của nhóm hàng 2
Lưu ý:
Giá cánh kéo được nghiên cứu trong thời gian dài Trong ngắn hạn thì giá cả hàng hóachịu tác động của rất nhiều yếu tố nhất thời do vậy không thể khẳng định được giá củanhóm 1 tăng mạnh hơn nhóm 2 hay giảm chậm hơn nhóm hàng 2
Hiện tượng giá tăng là phổ biến
Trang 31 Giá cánh kéo ngày càng có xu hưóng “doãng ra” (khoảng cách giữa nhóm hàng 1 và 2ngày càng rộng ra).
Tác động của giá cánh kéo đến các nước
Hiện tượng giá cánh kéo chỉ có lợi cho các nước tham gia vào thị trường thế giới khi họthực hiện xuất khẩu nhóm hàng 1 và nhập khẩu nhóm hàng 2, và không có lợi cho những nướcxuất khẩu nhóm hàng 2 và nhập khẩu nhóm hàng 1
Thực tế:
Gây thua thiệt cho các nước đang phát triển
Mang lại lợi ích cho các nước công nghiệp phát triển
Để khắc phục tình trạng “giá cánh kéo” thì các nước buộc phải thay đổi cơ cấu xuất nhậpkhẩu, phải tăng cường năng lực cạnh tranh của mình, không thể xuất khẩu các sản phẩm thô sơchế mãi được, phải tăng dần hàm lượng chế biến trong sản phẩm, chuyển dịch cơ cấu xuất nhậpkhẩu
2.Tỷ lệ trao đổi trong thương mại quốc tế
(Tỷ lệ trao đổi còn được gọi là Điều kiện thương mại - Terms of Trade)
2.1 Khái niệm và công thức tính
Là tỷ số so sánh giữa chỉ số biến động của giá hàng hóa xuất khẩu với chỉ số biến độngcủa giá hàng hóa nhập khẩu của một quốc gia trong một thời gian nhất định, thường là mộtnăm
Xuất khẩu 10 tấn gạo với giá 200$/tấn; Nhập khẩu 1 xe máy với giá 2000$/chiếc
- P e : Chỉ số biến động của giá hàng xuất khẩu;
- P i : Chỉ số biến động của giá hàng nhập khẩu.
- P e1 : Giá hàng hóa xuất khẩu thứ e ở kỳ nghiên cứu.
- P e0 : Giá hàng hóa xuất khẩu thứ e ở kỳ gốc.
- Q e0 : Lượng hàng hóa xuất khẩu thứ e ở kỳ gốc.
- P i1 : Giá hàng hóa xuất khẩu thứ i ở kỳ nghiên cứu.
- P i0 : Giá hàng hóa xuất khẩu thứ i ở kỳ gốc.
- Q i0 : Lượng hàng hóa xuất khẩu thứ i ở
kỳ gốc.
- Q e0 : Lượng hàng hóa xuất khẩu thứ e ở
kỳ gốc
Trang 32Xuất khẩu 10 tấn gạo giá 240$/tấn; Nhập khẩu 1 xe máy với giá 3000$/chiếc
2.2 Ý nghĩa của tỷ lệ trao đổi
Cho biết một nước đang ở vị trí thuận lợi hay bất lợi trong trao đổi quốc tế khi gặp biếnđộng về giá cả
T > 1: nước đó đang ở vị trí thuận lợi Khi giá hàng xuất khẩu tăng nhanh hơn sovới giá hàng nhập khẩu (trường hợp cả hai mặt hàng đều tăng); có thể là giá giảm trongtrường hợp giá hàng xuất khẩu giảm ít hơn so với giá hàng nhập Thông qua trao đổiquốc tế vẫn có thể xuất khẩu với sản lượng như cũ, nhưng có thể nhập về với lượngsản phẩm nhiều hơn trước
T < 1: nước đó đang ở vị trí bất lợi
T = 1: sự biến động của giá cả không có ảnh hưởng gì tới đất nước
Tỷ lệ trao đổi gắn liền với xu hướng “giá cánh kéo” thì đối với các nước đang phát triển
sẽ bị rơi vào tình trạng bất lợi, với “giá cánh kéo” thì giá hàng thành phẩm, máy móc thiết bịtăng nhanh hơn rất nhiều so với nhóm hàng nguyên vật liệu, hàng thô sơ chế, nông sản là nhữngmặt hàng xuất khẩu chủ lực của các nước đang phát triển Rất nhiều nước đang phát triển đã cảibiến được cơ cấu xuất khẩu của mình và họ đã tăng dần tỷ trọng của mình trong cơ cấu xuấtkhẩu các sản phẩm máy móc thiết bị, các mặt hàng chế biến trên thế giới Ví dụ: các nước côngnghiệp mới như: Hàn Quốc, Singapore, Thái Lan, Hồng Kông
Các quốc gia khắc phục tình trạng bất lợi trong tỷ lệ trao đổi bằng cách:
a) Chuyển dịch cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu Tăng cường xuất khẩu các sản phẩm cóhàm lượng chế biến cao
b) Đa dạng hóa mặt hàng và đa phương hóa thị trường Trong ngành Tài chính tiền tệ cócâu: Không bỏ toàn bộ trứng vào một giỏ thì sẽ phân tán được mức độ rủi ro
c) Tham gia vào các tổ chức, hiệp hội Việt Nam và Thái Lan dự định thành lập một CácTen để liên kết các nhà cung cấp trong thị trường gạo Các Ten nổi tiếng nhất trên thế giới
là OPEC - điều khiển hầu như toàn bộ hoạt động cung ứng dầu thô trên thế giới
Thương mại quốc tế là hình thức ra đời sớm nhất trong quan hệ kinh tế quốc tế, từ thời xaxưa đã có “con đường tơ lụa” vận chuyển các sản vật phương đông tới các nước phương tây.Đặc biệt trong thế kỷ XX, thương mại quốc tế có sự thay đổi cả về chất lẫn về lượng, có thể liệt
kê ra rất nhiều đặc điểm của thương mại quốc tế ví dụ như về các công ty xuyên quốc gia,thương mại điện tử, vai trò của các quốc gia v.v Trong khuôn khổ bài học ta liệt kê các đặcđiểm đó trên các phương diện như Quy mô và tốc độ tăng trưởng; Tính chất của thương mạiquốc tế; Tự do hóa và toàn cầu hóa trong thương mại quốc tế; Chủ thể tham gia (bao gồm các
Trang 33quốc gia và các công ty xuyên quốc gia) vai trò của các nước đang phát triển; Khách thể – cáchình thức, đối tượng mua bán hàng hóa, sự thay đổi cơ cấu nhóm hàng có sự thay đổi dichuyền, thương mại điện tử được áp dụng rộng rãi; Bối cảnh của thương mại quốc tế ngày naydiễn ra trong mâu thuẫn và cạnh tranh gay gắt.
1.Thương mại quốc tế có quy mô và tốc độ tăng trưởng nhanh.
1.1 Thương mại hàng hóa
Thương mại quốc tế tăng nhanh hơn so với tăng trưởng của nền kinh tế thế giới
Ta thấy: Xuất khẩu hàng hóa hữu hình luôn cao hơn GDP của toàn thế giới nghĩa là xuấtkhẩu hàng hóa hữu hình luôn tăng nhanh hơn tăng trưởng GDP của nền kinh tế thế giới (thườngxuyên cao hơn gấp 2 lần) Năm 2001, có sự khác biệt (tăng trưởng âm), bản thân GDP thế giớinăm đó cũng tăng rất ít so với các năm khác là do kự kiện Khủng bố ngày 11 tháng 9 Sau khiBil Clinton kết thúc nhiệm kỳ thì lúc đó kinh tế Mỹ cũng bắt đầu đi qua chu kỳ của nó hết thời
kỳ hưng thịnh và bắt đầu đi vào giai đoạn suy thoái, tăng trưởng chậm lại, mà kinh tế Mỹ là đầutàu kinh tế thế giới do vậy nó kéo theo tốc độ tăng trưởng của kinh tế thế giới chậm lại Vàtrong giai đoạn này, Nhật Bản và EU kinh tế cũng rất trì trệ, nhưng tác động của nó tới xuấtkhẩu còn mạnh hơn rất nhiều vì ta thấy Mỹ là nước nhập khẩu lớn nhất thế giới, khi kinh tế của
Mỹ tăng trưởng chậm thì ảnh hưởng ngay tới hàng hóa của những nước xuất khẩu cho thịtrường Mỹ (như Singapore – xuất khẩu sản phẩm điện tử chiếm vị trí rất lớn và sản phẩm điện
tử xuất khẩu phần lớn là sang Mỹ) Đối với Việt Nam xuất khẩu giai đoạn này không nhiều nhưcác nước khác là do Việt Nam chưa có Hiệp định thương mại Việt Mỹ, sản phẩm xuất khẩu củaViệt Nam rất ít
Nguyên nhân thương mại quốc tế tăng trưởng nhanh hơn tăng trưởng GDP của thếgiới:
Trang 34a) Phân công lao động quốc tế ở mức sâu hơn dẫn tới Chuyên môn hóa sản xuất pháttriển ở mức cao Do tác động của khoa học kỹ thuật nên việc phân công lao động quốc tếrất phát triển chứ không chỉ chuyên môn hóa đến từng thành phẩm cuối cùng mà chuyênmôn hóa đến từng chi tiết, từng công đoạn của sản phẩm (vd: một chiếc máy tính, ô tô -các thành phẩm được sản xuất ở nhiều nơi trên thế giới; hoặc đơn giản như một chiếc áo
sơ mi – bông ở một nước, dệt ở một nước, thiết kế may mặc lại ở một nước khác v.v ) –
do vậy khi chuyên môn hóa sản phẩm tất yếu phải có sự trao đổi; thương mại quốc tế pháttriển nhanh hơn sự phát triển của kinh tế thế giới
b) Sản xuất phát triển, vượt quá nhu cầu nội địa Khi các doanh nghiệp trong nước pháttriển tới một mức độ nào đó tới khi thị trường trong nước trở nên quá hạn hẹp so với khảnăng của các doanh nghiệp, ngay cả một nước lớn như Trung Quốc thì thị trường nội địacũng không đủ để đáp ứng cho những tham vọng của các doanh nghiệp trong nước.c) Xu thế tự do hóa thương mại
1.2 Thương mại dịch vụ tăng trưởng nhanh
Nguyên nhân:
Kinh tế thế giới có xu hướng chuyển dịch từ kinh tế sản xuất vật chất sang kinh tế dịch
vụ, đặc biệt là ở các nước phát triển (Sự mềm hóa trong cơ cấu kinh tế của các nước,
ta thấy ở các nước công nghiệp phát triển tỷ trọng thương mại dịch vụ ngày càng tănglên trong cơ cấu kinh tế thế giới 60-70%)
Do nhu cầu về dịch vụ của xã hội ngày càng tăng Khác với các mặt hàng là hàng hóa,khi mức sống ngày càng tăng thì thu nhập người dân tăng dẫn tới nhu cầu về các sảnphẩm dịch vụ ngày càng tăng – nhu cầu về giáo dục, tư vấn, để bảo đảm an toàn chobản thân thì có dịch vụ bảo hiểm v.v
Do sự phát triển của khoa học công nghệ
Mở cửa thị trường dịch vụ của các nước
Thương mại dịch vụ là một nhân tố thiết yếu gắn liền với thương mại quốc tế về hànghóa và đầu tư quốc tế Khi xuất nhập khẩu hàng hóa thì ta phải sử dụng các dịch vụnhư vận tải, bảo hiểm, thanh toán qua ngân hàng Các nhà đầu tư quốc tế muốn sửdụng các dịch vụ của các công ty nước ngoài như dịch vụ kiểm toán, tư vấn, ngân hàngnước ngoài – ví dụ: nhà đầu tư Nhật Bản bao giờ cũng thích sử dụng dịch vụ của ngânhàng Nhật chứ không thích sử dụng ngân hàng của nước bản địa
Trang 35BUỔI 4
2.Xu hướng toàn cầu hóa và tự do hóa trong hoạt động thương mại.
2.1 Tự do hóa và bảo hộ trong thương mại quốc tế
a) Tự do hóa là xu hướng chính trong thương mại quốc tế
Nội dung của tự do hóa thương mại:
Tự do hóa thương mại là quá trình các quốc gia cắt giảm và tiến tới xóa bỏ các rào cảnthương mại, bao gồm quá trình cắt giảm thuế quan và hàng rào phi thuế quan, xóa bỏ sự phânbiệt đối xử, tạo lập sự cạnh tranh bình đẳng nhằm tạo ra môi trường thuận lợi cho thương mạiphát triển
Qua các vòng đàm phán của WTO, mức thuế quan trung bình ngày càng giảm: cụ thể thập
kỷ 50 thuế nhập khẩu trung bình của các nước thuộc GATT là 40% Những năm 80 chỉ còn15%, hiện nay ở các nước phát triển trong WTO chỉ ở mức 4-5% Hàng rào phi thuế quan thôngqua các biện pháp như dỡ bỏ các hạn chế định lượng như hạn ngạch hàng dệt may Xóa bỏ sựphân biệt đối xử tạo lập sự cạnh tranh bình đẳng, thuận lợi cho doanh nghiệp (phân biệt đối xử
có thể diễn ra giữa các công ty, hàng hóa của các nước khác nhau như phân biệt hàng của Mỹvới Đức khi vào thị trường Việt Nam; giữa hàng nhập khẩu và hàng sản xuất trong nước – ViệtNam đánh thuế tiêu thụ đặc biệt đối với ô tô nhập khẩu còn ô tô sản xuất trong nước thì thấphơn)
Tự do hóa thương mại có thể có nhiều hình thức biểu hiện khác nhau:
i) Tự do hóa thương mại đơn phương Các quốc gia đơn phương, chủ động cắt giảm, xóa
bỏ hàng rào thuế quan của họ, gỡ bỏ dần những hạn chế phi thuế quan như hạn ngạch, các hạn chế định lượng khác Như Hồng Kông, Singapore, Australia chủ động đơn phương tự do hóa thương mại
ii) Tự do hóa thương mại thông qua việc ký kết các Hiệp định thương mại song phương (PTA) Như Việt Nam ký kết Hiệp định thương mại song phương với Mỹ
iii) Tự do hóa thương mại thông qua Hội nhập khu vực Như Việt Nam tham gia Hiệp hội ASEAN, Khu vực mậu dịch tự do ASEAN được gọi là AFTA – năm 2006 là mốc mà Việt Nam phải thực hiện những cam kết với AFTA: hầu hết (96%) những mặt hàng trong biểu thuế xuất nhập khẩu của Việt Nam sẽ có thuế xuất nhập khẩu từ 0 đến 5%, nhưng cũng có một số mặt hàng mang tính nhạy cảm mà Nhà nước ta vẫn muốn bảo hộ như ô tô, đường nên những mặt hàng này sẽ có lộ trình cắt giảm lâu hơn những mặt hàng khác Tự do hóa thương mại không chỉ ở cấp độ khu vực, châu lục mà còn được
mở rộng liên châu lục như Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương – APEC
iv) Tự do hóa thương mại đa phương Nổi bật nhất đó là vai trò của Tổ chức Thương mại Quốc tế – WTO Qua vòng đàm phán của mình, WTO đã rất thành công trong việc cắt giảm mức thuế quan, dỡ bỏ dần các hạn chế định lượng Ví dụ: mức thuế trung bình đã giảm xuống còn 4-5% từ mức 40% những năm 50 đối với các sản phẩm công nghiệp trong các nước của GATT, đối với sản phẩm nông nghiệp thì mức thuế vẫn còn cao
Trang 36chưa được tự do hóa như sản phẩm công nghiệp Không chỉ có mức thuế quan trung bình được giảm mà WTO cũng có nhiều nỗ lực để dỡ bỏ những rào cản phi thuế quan như hạn ngạch, WTO cấm tất cả những biện pháp bảo hộ có thể dẫn tới hạn chế về định lượng đối với hàng nhập khẩu, sau một khoảng thời gian rất dài tồn tại hạn ngạch hàng dệt may đã cản trở thương mại quốc tế của hàng dệt may, cuối cùng năm 2005 đã được
dỡ bỏ
Nguyên nhân xu thế tự do hóa thương mại diễn ra mạnh mẽ:
Các quốc gia ngày càng nhận thức rõ vai trò quan trọng của thương mại quốc tế đối với
sự phát triển kinh tế Theo tính toán của Phòng thương mại Mỹ thì Hiệp định thươngmại giữa Mỹ và Australia có thể làm cho giá trị hàng xuất khẩu của Mỹ tăng thêm 1,8
tỷ USD cũng như giúp GDP của Mỹ tăng thêm hơn 2 tỷ USD, hoặc theo tính toán của
WB thì nếu xóa bỏ các chương trình hỗ trợ giá và chương trình xóa bỏ thuế các khoảntrợ giá trong nước thì có thể làm lợi cho nền kinh tế thế giới khoảng 300 tỷ USD vàonăm 2015, trong đó 2/3 lợi ích thu được sẽ thuộc về các nước đang phát triển
Do sự phát triển của các khối liên kết quốc tế và hình thành các khu vực mậu dịch tựdo
b) Bảo hộ vẫn tồn tại dưới nhiều hình thức tinh vi hơn
Bảo hộ thị trường nội địa là việc các nước sử dụng hàng rào thuế quan, phi thuế quan và/hoặc các rào cản thương mại khác nhằm hạn chế hàng nhập khẩu vào thị trường nội địa
Một số hình thức bảo hộ tiêu biểu: Trợ cấp cho sản xuất nội địa (những doanh nghiệp nhận được trợ cấp có thể bán được hàng hóa với giá thấp hơn, có thể tăng được lượng hàng hóa xuất ra; các doanh nghiệp từ các nước khác nếu không nhận được trợ cấp sẽ phải chịu sự cạnh tranh bất bình đẳng hơn), Hàng rào kỹ thuật trong thương mại quốc tế (là những yêu cầu tiêu chuẩn kỹ thuật đối với hàng hóa: yêu cầu về vệ sinh an toàn thực phẩm – tiêu chuẩn dư lượng chất kháng sinh trong sản phẩm, cấm nhập khẩu những sản phẩm biến đổi gien; tuy nhiên rào cản kỹ thuật cũng có những ưu điểm như bảo vệ sức khỏe con người, động thực vật, tạo sức ép buộc các doanh nghiệp phải nâng cao chất lượng sản phẩm), Chống bán phá giá, Quy định về xuất xứ của sản phẩm (một số sản phẩm có tên tuổi,
có đặc tính tốt gắn liền với xuất xứ của nơi sản xuất ra nó – chẳng hạn như EU đã đưa ra danh mục 41 sản phẩm cần được bảo hộ trên toàn cầu như Pho mát Pacma, rượu vang Pacma v.v quy định này của
EU đã gây ra bất bình cho nhiều nước xuất khẩu các mặt hàng tương tự như Mỹ chẳng hạn)
Các lĩnh vực tiêu biểu thường được bảo hộ: Nông nghiệp, dệt may v.v
2.2 Toàn cầu hóa
Gắn liền với tự do hoá là toàn cầu hoá - toàn cầu hoá về kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hộiv.v… - Sự hội nhập của các nền kinh tế, bình đẳng, bất bình đẳng truyền thông, nhãn hiệu, tăngtrưởng , nghèo đói, môi trường, độc quyền, chủ nghĩa tư bản, tự do thương mại, internet, khủng
bố v.v…
Khái niệm: Toàn cầu hóa kinh tế là hiện tượng / quá trình liên kết kinh tế quốc tế trên
phạm vi toàn cầu
Trang 37Liên kết kinh tế quốc tế là quá trình nền kinh tế dân tộc của các quốc gia xích lại gầnnhau, hòa nhập vào nhau, đan xen vào nhau trong một nền kinh tế thống nhất cả về kinh tế vàchính sách.
Khái niệm khác về toàn cầu hoá kinh tế: Nhà Báo nổi tiếng, Friedman, của tờ Thời báo Newyork trong cuốn: “The lexus and Olive Tree": Toàn cầu hoá là sự hội nhập không gì ngăn được của các thị trường các quốc gia, các nền kinh tế và công nghệ khiến cho các cá nhân, các công ty các xã hội và quốc gia có thể vươn đến thế giới một cách xa hơn, nhanh hơn, sâu hơn
và rẻ hơn trước kia; Thế giới cũng xâm nhập trở lại và từng cá nhân, công ty, quốc gia đó xa hơn, nhanh hơn, sâu hơn và rẻ hơn trước.
Một nhà kinh tế học, Jojep Spitnith, đã từng đoạt giải Nobel nói về Toàn cầu hoá: Việc xoá bỏ các hàng rào cản tự tạo, hạn chế việc di chuyển tự do dòng hàng hoá, dịch vụ, vốn tri thức và mức độ thấp hơn là lao động.
OECD – Tổ chức hợp tác kinh tế và phát triển của Quỹ tiền tệ quốc tế – IMF- nhìn chung cũng thống nhất với quan điểm trên đây: Toàn cầu hoá kinh tế là sự vận động tự do của các yếu
tố sản xuất như vốn; lao động; kỹ thuật cộng nghệ giữa các quốc gia, khu vực nhằm phân bổ tối
ưu các nguồn lực trên phạm vi toàn cầu.
Toàn cầu hoá mang lại rất nhiều cơ hội và thách thức cho các doanh nghiệp, các quốc gia
Cơ hội: thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hoá của các nướcđang phát triển, tạo cơ hội lớn để các nước tham gia dễ dàng hơn vào mạng lưới sản xuất vàthương mại toàn cầu để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, truyền bá và chuyển giao trên quy môngày càng lớn những thành quả mới về đột phá khoa học công nghệ, tổ chức quản lý và sảnxuất kinh doanh v.v… Nhờ có toàn cầu hoá mà các nước đang phát triển có thể tiếp cận đượcvới khoa học công nghệ, kinh nghiệm quản lý hơn, gây sức ép cạnh tranh mạnh hơn - đối vớitoàn cầu hoá không thể ỷ lại vào hàng rào bảo hộ mà phải đối mặt trực tiếp với sự cạnh tranhcủa rất nhiều các công ty xuyên quốc gia, thúc đẩy sự xích lại gần nhau của các dân tộc, thúcđẩy sự giao lưu trên mọi lĩnh vực
Nhưng đồng thời Toàn cầu hoá cũng mang lại rất nhiều thách thức, như sẽ gia tăngkhoảng cách giàu, nghèo, bất công, bất bình đẳng trong xã hội, quyền lực có thể bị rơi vào một
số ít nước, một số nhóm người, nền kinh tế toàn cầu dễ bị ảnh hưởng xấu theo dây chuyền, toàncầu hoá kinh tế và vấn đề chỉnh đốn chất xám đang là vấn đề thách thức
Một số biểu hiện của toàn cầu hóa trong thương mại quốc tế
i) Sự gia tăng nhanh chóng về số lượng của các thỏa thuận thương mại tự do
Số lượng các RTAs (Regional Trade Agreements) khu vực từ năm 1948 đến 2002, sốlượng này ngày càng tăng đã được thông báo cho GATT/WTO:
Trang 38Tới tháng 1 năm 2005 đã có 312 thoả thuận khu vực được thông báo cho GATT/WTO,trong đó có 170 thoả thuận hiện đang có hiệu lực.
ii) Các liên kết kinh tế khu vực và liên khu vực ngày càng đóng vai trò quan trọng
iii) Các liên kết và tổ chức kinh tế mang tính chất toàn cầu ngày càng đóng vai trò quan trọng
GATT/WTO: GATT: ra đời năm 1947 gồm 23 thành viên tới năm 1960 số lượng thànhviên tăng lên 34; WTO: Được thành lập năm 1995 gồm 132 thành viên hiện nay số lượng thànhviên đã tăng lên tới 150 nước chính thức Thương mại giữa các nước thành viên của WTOchiếm khoảng 95% tổng giá trị thương mại của toàn thế giới Đồng thời cũng có những tổ chứckinh tế mang tính chất toàn cầu khác đóng vai trò quan trọng đó là WB và IMF được thành lậpnăm 1944 với 44 thành viên, hiện nay đã cớ tới 184 thành viên
3.Các công ty xuyên quốc gia có vai trò rất lớn trong thương mại quốc tế.
Công ty xuyên quốc gia: TNCs = Transnational Corporations; Công ty đa quốc gia:MNCs/MNEs
Công ty xuyên quốc gia là một tập đoàn tư bản bao gồm có 2 bộ phận chính:
Trang 39 Công ty mẹ (đóng tại một nước)
Các công ty con (các chi nhánh ở nước ngoài)
Các công ty xuyên quốc gia được xếp hàng đầu trên thế giới, được xếphạng theo tài sản của công ty ở nước ngoài, năm 2003 - The World’s topnon-financial TNCs, ranked by foreign assess, 2003
10 France Telecom France 81,370 126,083 21,574 52,202 218,523
(Source: UNCTAD, World Investment Report 2005-Báo cáo tại Hội nghị của Liên Hiệp Quốc về phát triển)
Theo UNCTAD: Có khoảng 70.000 công ty xuyên quốc gia với hơn 690.000 chi nhánh.Các công ty xuyên quốc gia này có doanh số đạt hơn 19.000 tỷ USD/năm gấp 2 lần xuất khẩutoàn cầu (năm 2004, xuất khẩu hàng hoá toàn cầu của thế giới khoảng 8.880 tỷ USD)
Ước tính: Các công ty xuyên quốc gia này tạo ra 60% sản lượng thế giới, kiểm soát trên80% tổng giá trị thương mại, nắm giữ trên 90% tổng nguồn vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài(FDI), nắm giữ trên 90% kết quả nghiên cứu về khoa học công nghệ tiên tiến trên thế giới Các công ty xuyên quốc gia có năng lực nổi trội về năng lực tổ chức sản xuất, về nghiên cứu khoa học công nghệ, tiềm lực kinh tế tài chính Thương mại quốc tế không chỉ diễn ra giữa các công ty xuyên quốc gia với nhau mà còn trong nội bộ các công ty xuyên quốc gia (giữa công ty mẹ và công ty con; giữa các công ty con với nhau) Có nhiều công ty xuyên quốc gia có doanh thu rất lớn, lơn hơn GDP của nhiều quốc gia Ví dụ: Doanh thu của Tập đoàn bán lẻ Gold-Mark là 220 tỷ USD trong khi đó GDP của Indonesia là 213 tỷ USD; hoặc Đan Mạch có GDP là 205 tỷ USD Hãng Ford Motor có doanh thu là 162
tỷ USD lớn hơn GDP của Phần Lan, Ireland, Thái Lan (132 tỷ USD).
Trang 404.Thương mại quốc tế tập trung chủ yếu ở các nước phát triển, tuy nhiên vai trò của các nước đang phát triển có xu hướng tăng.
a) Thương mại quốc tế tập trung ở các nước phát triển:
10 nước xuất khẩu hàng đầu trên thế giới năm– thương mại hàng hóa,2004
Số Nước xuất khẩu Giá trị Phần % thay đổi hàng năm
10 nước nhập khẩu hàng đầu trên thế giới – thương mại hàng hóa,2004
Số Nước xuất khẩu Giá trị Phần % thay đổi hàng năm