1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bài giảng bảo hiểm xã hội

52 167 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 52
Dung lượng 824,74 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hoạt động bảo hiểm xã hội phát triển trong mối quan hệ ràng buộc giữa người tham gia bảo hiểm với tổ chức bảo hiểm xã hội; giữa tổ chức bảo hiểm xã hội với Nhà nước.Hoạt động bảo hiểm xã

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI

BÀI GIẢNG

(Lưu hành nội bộ) BẢO HIỂM XÃ HỘI (Dành cho hệ Cao đẳng chuyên ngành Công tác xã hội)

Tác giả: Lê Thị Mai Hương

Trang 2

MỤC LỤC

CHƯƠNG 1: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA MÔN

HỌC BẢO HIỂM XÃ HỘI ……….4

1.1 Sự cần thiết của bảo hiểm nói chung và bảo hiểm xã hội nói riêng ………4

1.2 Đối tượng nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu của môn học……… 4

1.3 Nội dung cơ bản của chế độ bảo hiểm ……… 6

Câu hỏi ôn tập……… 8

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI ………9

2 1 Tổng quan về bảo hiểm xã hội ……….9

2.2 Khái niệm bảo hiểm xã hội và phân biệt bảo hiểm xã hội với một số bộ phận của bảo đảm xã hội……… 13

2.3 Vị trí, tác dụng của bảo hiểm xã hội………16

2.4 Nguyên tắc của bảo hiểm xã hội ………18

Câu hỏi ôn tập……… 18

CHƯƠNG 3: HÌNH THỨC VÀ CÁC CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM XÃ HỘI ……….20

3.1 Hình thức bảo hiểm xã hội ………20

3.2 Các chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc ………20

3.3 Bảo hiểm xã hội tự nguyện ……… 43

3.4 Bảo hiểm thất nghiệp ………45

3.5 Thủ tục thực hiện bảo hiểm ……… 47

Câu hỏi ôn tập……… 51

TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 52

Trang 3

Lời nói đầu

Bảo hiểm xã hội là một môn khoa học mới được đưa vào chương trình đào tạo Cao đẳng chuyên ngành Công tác xã hội Bài giảng Bảo hiểm xã hội cung cấp những nội dung có chọn lọc về bảo hiểm xã hội Việt Nam Nhằm giúp sinh viên xác định được đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu của môn học bảo hiểm xã hội, hướng dẫn việc thực hiện các chế độ bảo hiểm xã hội

Đặc biệt vận dụng và giải quyết chế độ bảo hiểm cho người lao động Từ những kiến thức đã học trong học phần bảo hiểm xã hội góp phần hỗ trợ sinh viên chuyên ngành Công tác xã hội trong trợ giúp các đối tượng yếu tốt hơn

Bài giảng gồm 3 chương

Chương 1: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu của môn học bảo hiểm

xã hội

Chương 2: Cơ sở lý luận về bảo hiểm xã hội

Chương 3: Hình thức và các chế độ bảo hiểm xã hội

Trong quá trình biên soạn tác giả đã sử dụng nhiều nguồn tài liệu khác nhau nhằm làm phong phú và thể hiện tính thực tế, cập nhật của bài giảng Nhưng chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót, mong đồng nghiệp và bạn đọc góp ý, bổ sung

CN Lê Thị Mai Hương

Trang 4

CHƯƠNG 1: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA MÔN BẢO HIỂM XÃ HỘI (7 tiết)

1.1 Sự cần thiết của môn bảo hiểm nói chung và bảo hiểm xã hội nói riêng

Trong cuộc sống lao động cũng như trong sản xuất kinh doanh, con người dù đã chú ý ngăn ngừa, đề phòng tai nạn nhưng rủi ro vẫn có thể xảy ra Những rủi ro đó do:

- Thiên nhiên gây lũ lụt, bão, động đất, làm thiệt hại về tài sản và con người

- Lực lượng sản xuất phát triển, một mặt tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc sống con người, nhưng mặt khác cũng gây hậu quả không nhỏ cho con người như tai nạn ô

tô, máy bay, tàu hoả, tai nạn lao động

- Môi trường xã hội cũng là một trong những nguyên nhân gây rủi ro cho con người Nếu xã hội tổ chức quản lý chặt chẽ, mọi người sống và làm việc theo pháp luật…thì không xảy ra hiện tượng mất trộm tài sản; nếu tổ chức chăm sóc sức khoẻ tốt

sẽ hạn chế ốm đau, bệnh tật….Những rủi ro đó gây ra cho con người biết bao khó khăn trong cuộc sống, phá hoại tài sản, làm ngưng trệ sản xuất và kinh doanh

Để đối phó với những tổn thất không lường trước do các rủi ro gây ra, cách tốt nhất là tham gia bảo hiểm, nghĩa là chuyển những tổn thất do rủi ro gây ra mà mình có thể gặp phải cho các tổ chức bảo hiểm

Trong thực tế cuộc sống, lao động, không phải lúc nào con người cũng gặp thuận lợi, có đủ thu nhập và mọi điều kiện sinh hoạt bình thường, mà con người thường đứng trước những rủi ro trong sinh hoạt và lao động Chẳng hạn khi ốm đau, tai nạn, già yếu…khi rơi vào các trường hợp nói trên, các nhu cầu thiết yếu của cuộc sống không vì thế mà mất đi, trái lại có cái còn tăng lên Khi kinh tế hàng hoá phát triển, thị trường lao động ra đời, xuất hiện thuê mướn nhân công Từ chỗ chủ chỉ cam kết trả công lao động, qua quá trình đấu tranh của người lao động, người sử dụng lao động đã cam kết, đảm bảo cho người lao động có một khoản thu nhập nhất định, để

họ trang trải những nhu cầu sinh sống thiết yếu lúc ốm đau, tại nạn, tuổi già

Đối với người lao động khi rơi vào các trường hợp nói trên, bị giảm hoặc mất thu nhập theo lao động thì thu nhập từ quỹ bảo hiểm xã hội trả thay tiền lương hoặc tiền công được coi là nguồn thu nhập quan trọng để sống, để khắc phục khó khăn

Như vậy, bảo hiểm xã hội là nhu cầu khách quan của người lao động, đã được pháp luật của nhiều nước ghi nhận, đã trở thành một trong những quyền con người và được Đại hội đồng Liên hợp quốc thừa nhận ghi vào Tuyên ngôn nhân quyền ngày 10/12/1948 như sau: “Tất cả mọi người với tư cách là thành viên của xã hội có quyền hưởng bảo hiểm xã hội Quyền đó được đặt cơ sở trên sự thoả mãn các quyền về kinh

tế, xã hội và văn hoá cần cho nhân cách và tự do phát triển của con người”

1.2 Đối tượng và Phương pháp nghiên cứu của môn học bảo hiểm xã hội

1.2.1 Đối tượng nghiên cứu của môn học

Bảo hiểm xã hội là hoạt động vừa mang tính chất kinh tế, vừa có tính chất xã hội, lại vừa có tính chất dịch vụ Các tính chất này đan xen và bỗ trợ và thức đẩy lẫn

Trang 5

nhau, làm cho hoạt động bảo hiểm xã hội phát triển phong phú Hoạt động bảo hiểm

xã hội phát triển trong mối quan hệ ràng buộc giữa người tham gia bảo hiểm với tổ chức bảo hiểm xã hội; giữa tổ chức bảo hiểm xã hội với Nhà nước.Hoạt động bảo hiểm xã hội có các mối quan hệ sau đây:

- Quan hệ giữa người sử dụng lao động, người lao động và Nhà nước với việc chăm lo đời sống trong và sau quá trình lao động của người lao động tham gia đóng bảo hiểm xã hội

- Quan hệ giữa bên nhận bảo hiểm xã hội với bên được bảo hiểm xã hội và Nhà nước

Bên nhận bảo hiểm xã hội: là tổ chức hoạt động bảo hiểm xã hội độc lập, thực hiện các nghiệp vụ bảo hiểm xã hội (thu, chi, bảo tồn và phát triển quỹ bảo hiểm xã hội)

Bên được bảo hiểm xã hội: là những người lao động có quyền được hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội và họ cũng là những người tham gia đóng bảo hiểm một phần

Nhà nước: tham gia bảo hiểm xã hội với tư cách đặc biệt, vừa là người tổ chức, chỉ đạo, quản lý, bảo hộ quỹ bảo hiểm xã hội trên góc độ quản lý xã hội của Nhà nước Đồng thời lại là người chủ sử dụng lao động lớn nhất có trách nhiệm đóng góp vào quỹ bảo hiểm xã hội theo luật định

- Quan hệ giữa mức hưởng thụ trong quá trình lao động với mức hưởng thụ sau quá trình lao động

- Quan hệ giữa người đã bước ra khỏi độ tuổi lao động với người đang và sẽ tham gia lao động

- Quan hệ giữa những người thanm gia, hưởng bảo hiểm xã hội ở các thời kỳ Như vậy, hoạt động bảo hiểm xã hội được thực hiện trong mối quan hệ ràng buộc giữa người tham gia bảo hiểm xã hội (người lao động) và người sử dụng lao động với người nhận bảo hiểm xã hội (cơ quan bảo hiểm xã hội) và Nhà nước

Từ đó có thể xác định đối tượng nghiên cứu của môn học bảo hiểm xã hội là các mối quan hệ - xã hội giữa người tham gia bảo hiểm xã hội với người nhận bảo hiểm xã hội và Nhà nước Các mối quan hệ trên được thể hiện thông qua các văn bản pháp qui của Nhà nước

1.2.2 Phương pháp nghiên cứu của môn học

1.2.2.1 Phương pháp duy vật lịch sử

Đây là phương pháp sử dụng bắt buộc trong nghiên cứu của môn học bảo hiểm

xã hội Phương pháp này đòi hỏi nghiên cứu sự vật trong trạng thái biến đổi, dưới sự tác động của các nhân tố khách quan của nền kinh tế - xã hội, trong từng giai đoạn lịch

sử phát triển nhất định

Trang 6

1.2.2.2 Phương pháp duy vật biện chứng

Môn học bảo hiểm xã hội cần phải dựa vào cơ sở khoa học của phương pháp duy vật biện chứng, đặt nó trong sự tác động qua lại với nhau và trong mối quan hệ với các quá trình kinh tế xã hội Việc nghiên bảo hiểm xã hội phải đặt nó trong mối quan hệ lịch sử - cụ thể

1.2.2.3 Phương pháp tổng hợp phân tích

Môn học bảo hiểm xã hội cần phải dựa vào cơ sở khoa học của phương pháp tổng hợp, đó là tiến hành tập trung, chỉnh lý, hệ thống hoá một cách khoa học các tài liệu thu thập được qua các tài liệu báo cáo thống kê định kỳ, qua điều tra về bảo hiểm

xã hội Qua phân tích các tài liệu thu thập được cho phép giải quyết một loạt nhiệm vụ

xã hội quan trọng, có liên quan đến đặc điểm riêng của đối tượng

1.2.32.4 Phương pháp xã hội học

Thông qua kết quả điều tra xã hội học, giúp các nhà khoa học có thể đưa ra các luận cứ khoa học, giúp cho việc hoạch định chính sách bảo hiểm xã hội cho phù hợp với tình hình thực tế, dự báo, dự đoán sự phát triển của bảo hiểm xã hội trong tương lai

Ngoài ra, môn học bảo hiểm xã hội còn sử dụng các phương pháp khác như: phương pháp so sánh, phương pháp lôgic

1.3 Nội dung cơ bản của chế độ bảo hiểm xã hội

1.3.1 Đối tượng được hưởng bảo hiểm xã hội

Đối tượng được hưởng bảo hiểm xã hội bao gồm người lao động trong mọi thành phần kinh tế, trong các doanh nghiệp hoặc cơ quan Nhà nước Có hai loại hình bảo hiểm xã hội: loại hình bảo hiểm xã hội bắt buộc và loại hình bảo hiểm xã hội tự nguyện

Bảo hiểm xã hội bắt buộc là loại hình bảo hiểm xã hội mà người lao động và người sử dụng lao động phải tham gia Bảo hiểm xã hội tự nguyện là loại hình bảo hiểm xã hội mà người lao động tự nguyện tham gia, được lựa chọn mức đóng và phương thức đóng phù hợp với thu nhập của mình để hưởng bảo hiểm xã hội

* Bảo hiểm xã hội bắt buộc gồm các chế độ sau đây:

Trang 7

1.3.2 Quỹ bảo hiểm xã hội

Lợi ích thiết thân của người tham gia bảo hiểm xã hội, dù theo loại hình bảo hiểm xã hội bắt buộc hay loại hình bảo hiểm xã hội tự nguyện là trong trường hợp gặp một loại rủi ro ngẫu nhiên xác định như ốm đau, tai nạn, tuổi già…thì được cơ quan bảo hiểm xã hội trợ cấp kịp thời, nhằm bù đắp một phần thu nhập bị suy giảm hoặc mất đi Nhiệm vụ của cơ quan bảo hiểm xã hội là phải có nguồn tài chính để sẵn sàng đáp ứng nhu cầu đó của mọi người lao động được bảo hiểm Nguồn thu đó được hình thành từ sự đóng góp của người sử dụng lao động, người lao động và sự hỗ trợ của Nhà nước Nguồn thu đó phải vững chắc và đều đặn, phải luôn luôn bảo đảm có lượng

dự trữ để ứng phó với những tình huống đột xuất như dịch bệnh lan tràn, số người thôi việc có yêu cầu lĩnh trợ cấp một lần hoặc số người về hưu lớn trong một năm Trong trường hợp lạm phát, nguồn thu phải được điều chỉnh thích hợp để bù lại sự giảm sút sức mua của đồng tiền Vì thế nguồn thu của bảo hiểm xã hội được tính theo tỷ lệ nhất định so với tổng quỹ lương là tiện lợi, bảo đảm sức sống của cơ chế bảo hiểm xã hội

1.3.3 Các loại chế độ bảo hiểm xã hội

Theo công ước Quốc tế số 102 thì bảo hiểm xã hội có 9 chế độ sau:

- Trợ cấp tuất (tiền tuất)

ở nước ta, từ năm 1961 đến 1993 đã thực hiện 6 chế độ bảo hiểm xã hội:

Trang 8

- Chế độ hưu trí;

- Chế độ tử tuất

1.3.4 Tổ chức quản lý sự nghiệp bảo hiểm xã hội ở Việt Nam

Việc tổ chức thực hiện sự nghiệp bảo hiểm xã hội do Bảo hiểm xã hội Việt Nam đảm nhiệm Bảo hiểm xã hội Việt Nam là cơ quan trực thuộc Chính phủ và có 3 cấp: Trung ương, tỉnh (thành phố trực thuộc trung ương) và huyện (quận) Bảo hiểm xã hội Việt Nam hoạt động dưới sự điều hành của Hội đồng quản lý bảo hiểm xã hội Việt Nam, chịu quản lý Nhà nước của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội Cơ quan bảo hiểm xã hội có nhiệm vụ thu bảo hiểm xã hội, quản lý bảo hiểm xã hội và chi trả các chế độ bảo hiểm xã hội theo luật định

Câu hỏi ôn tập

Câu 1: Trình bày sự cần thiết của bảo hiểm nói chung và bảo hiểm xã hội nói riêng

Câu 2: Trình bày nội dung cơ bản của chế độ bảo hiểm xã hội

Câu 3: Trình bày các phương pháp nghiên cứu của môn khoa học

Trang 9

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI (8 tiết)

2.1 Tổng quan về bảo hiểm xã hội

2.1.1 Khái niệm bảo hiểm

Để bảo đảm an toàn cuộc sống của từng cá nhân, của từng cơ sở kinh tế và toàn

xã hội, họ đã chủ động tìm các biện pháp phòng ngừa để hạn chế do những tổn thất do các rủi ro gây ra Tuy vậy, trong nhiều trường hợp rủi ro vẫn xảy ra một cách ngẫu nhiên ngoài sự kiểm soát của con người, lúc đó con người chỉ còn biết tìm cách khắc phục thiệt hại

Thực tế đó cho thấy, để đối phó với những tổn thất không lường trước được do các rủi ro gây ra nhằm khôi phục và ổn định sản xuất thì phải tham gia bảo hiểm xã hội Nghĩa là chuyển những rủi ro mà con người có thể gặp phải cho các tổ chức bảo hiểm thông qua việc hình thành một quỹ tài chính tập trung, do các bên tham gia bảo hiểm đóng góp Khi thiệt hai do các rủi ro xảy ra, cơ quan bảo hiểm có trách nhiệm đền bù hay bồi thường một phần hoặc toàn bộ tổn thất cho bên tham gia bảo hiểm đã gặp phải rủi ro Nguồn để đền bù này được lấy từ quỹ bảo hiểm xã hội do các bên tham gia đóng góp

Bảo hiểm là hoạt động mà mục đích là bồi thường những thiệt hại về của cải hay sức khoẻ, tính mạng của con người, bằng cách đảm nhiệm những rủi ro và đền bù những rủi ro ấy

Người muốn được bảo hiểm phải mua bảo hiểm và khi thiệt hại thì được đền bù Việc bồi thường được quy định bằng một hợp đồng giữa tổ chức bảo hiểm và người được bảo hiểm Tổ chức bảo hiểm có thể do Nhà nước đảm nhiệm hoặc do công ty tư nhân đảm nhiệm có sự kiểm soát của chính phủ

2.1.2 Các loại hình bảo hiểm và những đặc trưng cơ bản

Ở nước ta hiện nay có ba loại hình bảo hiểm: Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế, Bảo hiểm thương mại

- Bảo hiểm xã hội (BHXH)

Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng góp vào quỹ bảo hiểm xã hội

Bảo hiểm xã hội được coi là một bộ phận cơ bản nhất trong hệ thống bảo hiểm nói chung Nó có những đặc trưng cơ bản sau đây:

Bản chất của bảo hiểm xã hội là bảo vệ nguồn thu nhập của người lao động khi

bị mất hoặc giảm thu nhập từ nghề nghiệp do bị mất hoặc giảm khả năng lao động hay mất việc làm

Bảo hiểm xã hội ra đời xuất phát tự lợi ích chung của người lao động và người

sử dụng lao động Nó thể hiện sự chia sẽ rủi ro giữa những người lao động, người tham gia bảo hiểm xã hội

Trang 10

Nguồn tài chính của bảo hiểm xã hội phổ biến dựạ trên cơ sở đóng góp của các bên tham gia bảo hiểm xã hội Trong đó, sự đóng góp của người sử dụng lao động là chủ yếu và có sự hỗ trợ của Nhà nước

Khoản tiền đóng góp được đưa vào quỹ riêng và hình thành quỹ bảo hiểm xã hội, độc lập với ngân sách Nhà nước Quỹ này được dùng để chi trả các chế độ trợ cấp bảo hiểm xã hội và các hoạt động sự nghiệp bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật

Thông thường, mức đóng góp và mức hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội đều gắn với mức tiền lương hoặc thu nhập của người lao động Quyền hưởng bảo hiểm xã hội phụ thuộc vào sự đóng góp của người lao động, không gắn với các chỉ tiêu về nhu cầu hoặc tài sản

Phương thức hoạt động vừa mang tính chất xã hội vừa mang tính dịch vụ Thời hiệu phát sinh và chấm dứt quan hệ bảo hiểm xã hội thường tồn tại lâu dài và mang tính kế thừa

- Bảo hiểm y tế (BHYT)

Bảo hiểm y tế là một loại hình bảo hiểm do Nhà nước tổ chức thực hiện trên cơ

sở huy động sự đóng góp của các cơ quan, tổ chức và cá nhân để thanh toán chi phí khám, chữa bệnh cho người có thẻ BHYT khi ốm đau nhằm bảo đảm an toàn sức khoẻ của con người trước những rủi ro xã hội do bệnh tật gây ra

BHYT có những đặc trưng cơ bản sau:

Bản chất của BHYT là bảo vệ sức khoẻ của con người trước những rủi ro xã hội

Phương thức hoạt động mang tính chất dịch vụ và nhân văn Thời hiệu phát sinh

và chấm dứt quan hệ BHYT thường diễn ra trong một thời gian xác định (thông thường là 6 tháng hoặc 1 năm)

- Bảo hiểm thương mại (BHTM)

BHTM còn có tên gọi khác như bảo hiểm rủi ro, bảo hiểm Nhà nước hay bảo hiểm kinh doanh Kinh doanh bảo hiểm là hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích sinh lợi, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro của người được bảo hiểm, trên cơ sở bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm

BHTM có những đặc trưng cơ bản sau:

Trang 11

BHTM thực chất là sự san sẻ rủi ro giữa các tổ chức và các cá nhân tham gia bảo hiểm Nội dung bảo hiểm bao gồm: bảo hiểm con người, tài sản và trách nhiệm dân sự

Nguồn thu BHTM chủ yếu do bên được bảo hiểm đóng góp Mức phí bảo hiểm

và phương thức đóng phí bảo hiểm được thoả thuận khi giao kết hợp đồng bảo hiểm

Quá trình kinh doanh bảo hiểm được tiến hành thông qua hợp đồng bảo hiểm Bên mua bảo hiểm có thể chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm theo thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm

Đối tượng, phạm vi, điều kiện bảo hiểm và số tiền bảo hiểm, phương thức trả tiền bảo hiểm được thoả thuận khi giao kết hợp đồng bảo hiểm

Thời hiệu phát sinh bảo hiểm và chấm dứt quan hệ bảo hiểm có thời hạn xác định, tuỳ theo từng nghiệp vụ bảo hiểm và hợp đồng bảo hiểm đã giao kết

2.1.3 Chức năng, vai trò của bảo hiểm

2.1.3.1 Chức năng cơ bản của bảo hiểm

- Chức năng phân phối

Chức năng phân phối được thể hiện thông qua quá trình lập và sử dụng quỹ bảo hiểm Quan hệ phân phối của bảo hiểm là quan hệ phân phối lại thu nhập giữa những người tham gia bảo hiểm Quỹ bảo hiểm xã hội do người tham gia bảo hiểm đóng góp

và sự bảo trợ của Nhà nước Quá trình phân phối quỹ bảo hiểm phụ thuộc vào khả năng đóng góp của các bên tham gia bảo hiểm, vào tính chất và mức độ thiệt hại khi rủi ro xảy ra Về nguyên tắc, người tham gia bảo hiểm xã hội có quyền nhận được sự phân phối của quỹ bảo hiểm, nhưng không phải ai tham gia cũng được hưởng và mức hưởng như nhau mà chỉ những người gặp rủi ro mới được hưởng và mức hưởng tuỳ thuộc vào mức đóng, thời gian đóng bảo hiểm và mức độ thiệt hại khi xảy ra rủi ro đối với người tham gia bảo hiểm

Như vậy, quỹ bảo hiểm được lập do sự đóng góp của số đông nhưng được sử dụng để phân phối lại cho một số ít người tham gia bảo hiểm không may bị rủi ro, thiệt hại đến sản xuất và đời sống Quá trình phân phối lại thu nhập cũng có nghĩa là phân phối sự rủi ro giữa những người tham gia bảo hiểm Đồng thời cũng là quá trình phân phối lại thu nhập quốc dân

- Chức năng giám đốc

Được thể hiện ở chỗ giám sát và đôn đốc việc thực hiện các chính sách bảo hiểm đối với các đối tượng tham gia bảo hiểm Đồng thời, giám sát việc thực hiện các khâu nghiệp vụ trong quá trình hoạt động bảo hiểm Trong quá trình hoạt động bảo hiểm, việc giám sát quá trình lập quỹ, sữ dụng quỹ bảo hiểm và thực hiện quyền lợi của người tham gia bảo hiểm có vai trò rất quan trọng đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển bảo hiểm

- Chức năng bảo vệ quyền lợi của người tham gia bảo hiểm

Trang 12

Nó được thể hiện ở bản chất của bảo hiểm, thông qua các hoạt động của bảo hiểm, khi tham gia bảo hiểm xã hội, người lao động được bảo đảm an toàn đời sống khi bị ốm đau, thai sản, tai nạn, già yếu nhờ có sự bù đắp thu nhập bị giảm hoặc mất

từ quỹ bảo hiểm xã hội Khi tham gia bảo hiểm y tế được khám chữa bệnh không phải trả tiền Khi tham gia bảo hiểm thương mại được bồi thường thiệt hại nếu rủi ro xảy ra Như vậy, khi tham gia bảo hiểm, đời sống kinh tế và tinh thần của bản thân và gia đình

họ được bảo đảm an toàn

- Chức năng tái sản xuất xã hội

Việc bồi thường thiệt hại cho người tham gia bảo hiểm xã hội mỗi khi rủi ro, hiểm hoạ xảy ra đã giúp họ nhanh chóng phục hồi sức khoẻ, phục hồi sản xuất, ổn định đời sống Nhờ đó sản xuất được diễn ra bình thường, liên tục

2.1.3.2 Vai trò của bảo hiểm

- Ổn định đời sống của người tham gia bảo hiểm

Khi gặp khó khăn trong cuộc sống, trong lao động cũng như trong sản xuất vì hậu quả của những rủi ro gây ra, người tham gia bảo hiểm được cơ quan bảo hiểm bồi thường thiệt hại tuỳ thuộc vào mức đóng góp vào quỹ bảo hiểm và mức độ tổn thất do những rủi ro gây ra Vì vậy, đời sống vật chất và tinh thần của người tham gia bảo hiểm và gia đình họ được ổn định

- Thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển

Với tư cách là một ngành kinh tế xã hội tổng hợp, bảo hiểm có vai trò lớn trong việc tạo ra thu nhập quốc dân Một mặt, nó là một bộ phận trong hệ thống chính sách kinh tế xã hội của một quốc gia, góp phần vào sự bình ổn xã hội và tạo ra một xã hội

có tính nhân đạo cao Mặt khác, lượng tiền nhàn rỗi của quỹ bảo hiểm được đầu tư vào việc kinh doanh, dịch vụ để sinh lời

2.1.4 Vai trò của Nhà nước trong việc tổ chức và quản lý hoạt động bảo hiểm

Thông qua chức năng lập pháp, Nhà nước ban hành các đạo luật để quản lý và điều hành thống nhất các hoạt động bảo hiểm Các đạo luật về bảo hiểm đều xuất phát

từ những nguyên tắc cơ bản trong Hiến pháp của từng quốc gia Do vậy, các đạo luật

về bảo hiểm phải do Quốc hội thông qua để nâng cao tính chế định của luật, bảo đảm lợi ích của tất cả mọi công dân, đồng thời bảo đảm lợi ích chung của xã hội, của Nhà nước

Tuy nhiên, trên thực tế cho thấy, trong lĩnh vực bảo hiểm cũng như trong các lĩnh vực khác, pháp luật luôn lạc hậu so với sự phát triển, sự biến động đa dạng của đời sống, kinh tế và xã hội Do đó, ở nước nào cũng có hiện tượng lạm dụng và lợi

Trang 13

dụng những kẽ hở, sự lạc hậu đó để mưu lợi cho cá nhân hoặc một nhóm cá nhân Để khắc phục tình trạng trên đây, nhằm bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp của công dân, mọi thành phần kinh tế, thì ngoài luật về bảo hiểm, Nhà nước thông qua các luật khác, như Luật Lao động, Luật Dân sự, Luật bảo vệ sức khỏe nhân dân, Luật Bảo hộ lao động…để điều chỉnh các hạt động bảo hiểm

Thông qua chức năng hành pháp, Nhà nước ban hành các văn bản pháp quy (dưới luật); xây dựng các chương trình, dự án quốc gia, tài trợ cho một số lĩnh vực cần thiết trong các hoạt động bảo hiểm ở đây, Nhà nước thông qua bộ máy của mình, cụ thể hoá các luật về bảo hiểm đã được Quốc hội thông qua; tổ chức thực hiện các luật, các chính sách bảo hiểm; thực hiện sự kiểm tra, kiểm soát trong lĩnh vực này

Trong việc thực hiện chức năng hành pháp, vai trò của các cán bộ trong bộ máy Nhà nước từ Trung ương đến địa phương là rất quan trọng, nhiều khi quyết định sự thành bại của chính sách, pháp luật trong cuộc sống Xây dựng một Nhà nước pháp quyền, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả trên cơ sở Hiến pháp và Luật là điều kiện không thể thiếu được trong quản lý và điều tiết các hoạt động bảo hiểm

Thông qua chức năng tư pháp, Nhà nước thực hiện sự bảo trợ tư pháp, tạo ra sự công bằng, bình đẳng trong quá trình hoạt động bảo hiểm Một mặt, Nhà nước thực hiện bảo trợ; mặt khác, thông qua bộ máy tư pháp, Nhà nước giải quyết các tranh chấp

và xử lý các vi phạm của các công dân, các cơ quan, tổ chức trong quá trình tham gia quan hệ bảo hiểm Thông qua hệ thống tư pháp, Nhà nước thực hiện chức năng tư pháp trong hoạt động bảo hiểm, nhằm hướng tới sự công bằng, bình đẳng đối với mọi công dân, mọi tổ chức trong hoạt động bảo hiểm

2.2 Khái niệm bảo hiểm xã hội và phân biệt bảo hiểm xã hội với một số bộ phận của bảo đảm xã hội

2.2.1 Khái niệm bảo hiểm xã hội

Cho đến nay, đã có nhiều tác giả đề cập đến khái niệm này Trong cuốn “một số vần đề về chính sách bảo đảm xã hội ở nước ta hiện nay” có viết “Bảo hiểm xã hội chính là quá trình tổ chức và sử dụng một quỹ tiền tệ tập trung được tồn tích dần do sự đóng góp của người sử dụng lao động và người lao động dưới sự điều tiết của Nhà nước, nhằm bảo đảm phần thu nhập để thoả mãn những nhu cầu sinh sống thiết yếu của người lao động và gia đình họ, khi gặp phải những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng thu nhập theo lao động

Trong cuốn từ điển Bách khoa Việt Nam, tập 1 viết: “Bảo hiểm xã hội là sự thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi họ bị mất hoặc giảm thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, tàn tật, thất nghiệp, tuổi già, tử tuất dựa trên cơ sở một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia bảo hiểm xã hội có sự bảo hộ của Nhà nước theo pháp luật Nhằm bảo đảm an toàn đời sống cho người lao động và gia đình họ, đồng thời góp phần bảo đảm an toàn xã hội”

Trong điều lệ bảo hiểm xã hội kèm theo Nghị định số 12/CP của Chính phủ viết: Bảo hiểm xã hội nhằm bảo đảm vật chất, góp phần ổn định đời sống cho những

Trang 14

người tham gia bảo hiểm xã hội và gia đình trong các trường hợp người tham gia bảo hiểm xã hội bị ốm đau, thai sản suy giảm khả năng lao động hoặc bị chết”

Bảo hiểm xã hội thực chất là một phương thức phân phối lại thu nhập bằng các

kỹ thuật nghiệp vụ, nhằm góp phần cân bằng thu nhập bị mất hoặc bị giảm từ hoạt động nghề nghiệp bằng khoản trợ cấp từ bảo hiểm xã hội

Theo Luật bảo hiểm xã hội năm 2006 có hiệu lực 1/1/2007 thì Bảo hiểm xã hội

là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng góp vào quỹ bảo hiểm xã hội

2.2.2 Phân biệt bảo hiểm xã hội với một số bộ phận của an toàn xã hội

2.2.2.1 Bảo hiểm xã hội với an toàn xã hội

Từ “An toàn xã hội” có tài liệu dùng tên gọi “Bảo đảm xã hội” hoặc “Bảo trợ xã hội” hoặc “An sinh xã hội” để tránh nhầm lẫn với cụm từ “Trật tự an toàn xã hội” xuất hiện chính thức lần đầu tiên ở tiêu đề một đạo luật của Hoa Kỳ - Luật 1935 về an toàn

xã hội, để chỉ sự bảo vệ trong 4 trường hợp: tuổi già, chết, tàn tật và thất nghiệp

Trên thực tế, an toàn xã hội là tổng hợp những sự bảo vệ đa dạng, vốn đã thực hiện rải rác ở nơi này, nơi khác, lúc này, lúc khác, từ lâu trong lịch sử loài người, nhất

là được bổ sung làm phong phú thêm khi công nghiệp xuất hiện Các cơ chế bảo vệ chủ yếu trong hệ thống an toàn xã hội bao gồm:

- Bảo hiểm xã hội;

- Cứu tế xã hội;

- Các chế độ trợ cấp từ quỹ công cộng;

- Các chế độ trợ cấp gia đình;

- Các quỹ dự phòng;

- Sự bảo vệ do những người sử dụng lao động cung cấp;

- Các dịch vụ xã hội liên quan đến an toàn xã hội

Như vậy bảo hiểm xã hội chỉ là một bộ phận của an toàn xã hội và được coi là trụ cột của an toàn xã hội

2.2.2.2 Bảo hiểm xã hội với bảo hiểm thương mại

Bảo hiểm thương mại có những đặc trưng khác với bảo hiểm xã hội trên nhưng điểm chủ yếu sau đây:

- Nội dung bảo hiểm rất rộng: bù đắp những tổn thất, thiệt hại về thân thể, sinh mạng, tài sản, công trình nhà cửa, nhà xưởng, hàng hoá, phương tiện sản xuất kinh doanh và sinh hoạt do những tai nạn bất ngờ hoặc thiên tai, hoả hoạn gây nên cho người được bảo hiểm

- Người được bảo hiểm không chỉ là người lao động, ai thấy cần được bảo hiểm

về loại rủi ro trong những nội dung bảo hiểm của cơ quan bảo hiểm thương mại thì đều có thể mua phí bảo hiểm loại đó

Trang 15

- Mỗi loại bảo hiểm có một hoặc một số mức phí cụ thể, xác định trên cơ sở xác suất phát sinh rủi ro, bao gồm cả chi phí quản lý và lãi suất cho cơ quan bảo hiểm thương mại, do cơ quan này tính

- Thời gian phát sinh quan hệ bảo hiểm và hiệu lực bảo hiểm có thời hạn, thường là một năm, một chu kỳ hoạt động (như bảo hiểm tài sản, bảo hiểm tai nạn) hoặc một chuyến máy bay, một chuyến tàu vận chuyển, một chuyến du lịch cơ quan bảo hiểm thương mại chi trả tiền bù dắp, bồi thường khi có rủi ro xảy ra Tiền bù đắp, bồi thường chỉ trả một lần hoặc một số lần đầu kỳ, thanh toán xong là chấm dứt hiệu lực bảo hiểm Nếu trong suốt thời hạn phát sinh quan hệ bảo hiểm mà không có rủi ro xảy ra thì đến hạn vẫn chấm dứt hiệu lực bảo hiểm và cơ quan bảo hiểm không phải hoàn trả tiền cho người đã mua phí bảo hiểm

- Mức bù đắp, bồi thường phụ thuộc vào giá trị bảo hiểm, mức độ thiệt hại, tổn thất thực tế, mức phí bảo hiểm chọn mua

- Quỹ bảo hiểm được đầu tư vào kinh doanh sinh lời, kể cả đầu tư cải thiện hoàn cảnh cho bên mua bảo hiểm để giảm thiểu tối đa những rủi ro phải được bù đắp, bồi thường

Ngược lại, dù là bảo hiểm xã hội tự nguyện hay bắt buộc thì nội dung bảo hiểm

xã hội cũng hẹp hơn nhiều Quan hệ bảo hiểm xã hội là lâu dài, những người tham gia bảo hiểm xã hội trong các trường hợp rủi ro khó tránh như: sinh, lão, bệnh, tử Quỹ bảo hiểm xã hội chỉ được phần tiền nhàn rỗi để đầu tư sinh lời theo quy định của Chính phủ và chủ yếu là đầu tư vào công trình phục vụ công cộng, tạo ra nhiều việc làm Trong phí nbảo hiểm xã hội không tính lãi suất cho cơ quan quản lý bảo hiểm xã hội

2.2.2.3 Bảo hiểm xã hội với cứu trợ xã hội

Cứu trợ xã hội là sự giúp đỡ của Nhà nước và xã hội về thu nhập và các điều kiện sinh sống, bằng các hình thức và biện pháp khác nhau cho mọi thành viên của xã hội khi họ lâm vào hoàn cảnh rủi ro bất hạnh, nghèo đói, không đủ khả năng lo liệu được cuộc sống tối thiểu của bản thân và gia đình

Đối tượng của cứu trợ xã hội rất rộng, gồm tất cả mọi người, người được cứu trợ không phải đóng góp trực tiếp vào nguồn cứu trợ, mức cứu trợ không đồng nhất giữa các cá nhân mà tuỳ vào từng hoàn cảnh cụ thể và loại nhu cầu, có thể cứu trợ bằng tiền, bằng hiện vật hoặc vừa bằng tiền vừa bằng hiện vật Đó cũng chính là những khác biệt với cơ chế bảo hiểm xã hội

2.2.2.4 Bảo hiểm xã hội với trợ cấp thôi việc

Trợ cấp thôi việc là khoản tiền của người sử dụng lao động trả cho người lao động thuộc quyền quản lý khi người lao động thôi việc theo các hợp đồng đã có quy định của pháp luật: mãn hạn hợp đồng, người lao động đơn phương chất dứt hợp đồng một cách hợp pháp, người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng không phải vì lý do người lao động vi phạm lỗi nặng bị sa thải

Trang 16

Trong nhiều thập kỷ nay, giữa giới chủ và công đoàn ở nhiều nước đã có những cuộc tranh luận sôi nổi về lý do tồn tại của loại trợ cấp này Giới chủ cho rằng mình phải trả nhiều khoản đối với người lao động, đóng góp vào quỹ bảo hiểm xã hội, kể cả bảo hiểm về thất nghiệp Nếu lại trả thêm các khoản trợ cấp thôi việc là trùng lặp, đóng góp hai lần, vì vậy sẽ làm giảm lợi nhuận Công đoàn thì lập luận rằng đây là khoản tiền thưởng cho người lao động trong quá trình làm việc với người sử dụng lao động vì đã chung thủy với những cam kết trong hợp đồng; là khoản tièn lương bổ sung; là một phần giá trị mới mà người lao động đã góp công sức tạo ra trong doanh nghiệp của người sử dụng lao động; là khoản tiền coi như đã bắt buộc người lao động

đã tiết kiệm để lĩnh sau Còn các khoản mà người sử dụng lao động đóng góp vào quỹ bảo hiểm xã hội hoặc quỹ an sinh xã hội thì người lao động chỉ được hưởng trợ cấp trong những trường hợp gặp những rủi ro đã có quy định trước, trường hợp thôi việc bình thường không thuộc những trường hợp được hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội hoặc trợ cấp an toàn xã hội, vì vậy không thể nói là trùng lặp

Cho nên năm 1924 nước ý đã đặt ra loại “trợ cấp thâm niên” thoạt đầu áp dụng đối với viên chức, nhưng sau đó theo Bộ Luật Dân sự năm 1942 thì áp dụng cho tất cả mọi người lao động Đây cũng thêm một lập luận của công đoàn về bảo vệ sự tồn tại của loại trợ cấp thôi việc

2.2.2.5 Bảo hiểm xã hội với trợ cấp mất việc làm

Bộ luật Lao động năm 1994 đã tách những trường hợp người sử dụng lao động phải cho người lao động thôi việc do doanh nghiệp thay đổi cơ cấu hoặc công nghệ Vì vậy đã khiến cho người lao động chưa đến hạn hoặc chưa đến lúc chấm dứt hợp đồng lao động đã bị mất việc làm một cách bị động Trong trường hợp này, người sử dụng lao động phải trợ cấp mất việc làm đối với người lao động

Trợ cấp mất việc làm được trả với hai ý nghĩa: người lao động phải thôi việc thì khoản trợ cấp mất việc làm phải chứa đựng có phần trợ cấp thôi việc như bình thường, ngoài ra vì khiến người lao động bị động, phải lo tìm việc làm khác mà không được dự tính trước, sinh hoạt bị đảo lộn do mất thu nhập đột xuất, cho nên trong trợ cấp mất việc làm còn chứa đựng thêm phần trợ cấp có tính chất bồi thường, bù đắp thiệt thòi

do người sử dụng lao động đơn phương gây ra cho người lao động Vì vậy, mức trợ cấp mất việc làm phải cao hơn mức trợ cấp thôi việc bình thường

Trong Bộ luật Lao động (Điều 17) quy định người sử dụng lao động phải lập quỹ dự phòng về trợ cấp mất việc làm, khi phải cho người lao động thôi việc do thay đổi cơ cấu hoặc công nghệ thì phải trợ cấp mất việc làm Như vậy trợ cấp mất việc làm tuy có cùng mục đích bảo vệ người lao động, nhưng khác với bảo hiểm xã hội là nguồn chi trả trợ cấp do tài chính của từng doanh nghiệp đài thọ, không có phần đóng góp trực tiếp của người lao động, không có sự tham gia đóng góp, bảo hộ của Nhà nước, mà quỹ này được trích từ lợi nhuận của doanh nghiệp Nhà nước chỉ hỗ trợ về tài chính cho những địa phương, ngành có nhiều người mất việc làm do thay đổi cơ cấu hoặc công nghệ

Trang 17

2.3 Ý nghĩa, tác dụng của bảo hiểm xã hội

2.3.1 Ý nghĩa của bảo hiểm xã hội

Bảo hiểm xã hội là bộ phận quan trọng của chính sách xã hội, mà công bằng xã hội là hạt nhân của chính sách xã hội, là cái đích mà chính sách xã hội cần đạt đến Sự can thiệp, điều tiết của Nhà nước đối với các vấn đề xã hội trong nền kinh tế thị trường

là điều hết sức cần thiết Trước đây việc bảo vệ người lao động trước những rủi ro ngẫu nhiên là do cá nhân và xã hội tự điều chỉnh, nằm ngoài phạm vi, tác động của Nhà nước nhưng càng về sau quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động, trong cơ chế bảo hiểm xã hội, đòi hỏi Nhà nước phải có sự can thiệp và điều tiết nhất định Nhà nước sử dụng pháp luật và bảo đảm việc thực hiện những quyền xã hội của người lao động Trong cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta đã định hướng rõ phương hướng lớn của chính sách xã hội là phát huy nhân tố con người trên cơ sở bảo đảm công bằng, bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ công dân, kết hợp tốt giữa tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội

Bảo hiểm xã hội xuất hiện đã huy động một khối lượng tiền tệ đáng kể, đó cũng chính là một trong những nguồn vốn để đầu tư phát triển kinh tế - xã hội

2.3.2 Tác dụng của bảo hiểm xã hội đối với người lao động

Mục đích của bảo hiểm xã hội là đảm bảo những điều kiện vật chất, tinh thần cho người lao động và gia đình họ, nhằm giảm bớt những khó khăn, ổn định đời sống khi gặp phải những tai nạn rủi ro

Người lao động là những người tham gia vào quá trình sản xuất để tạo ra sản phẩm vật chất và dịch vụ, phục vụ lợi ích xã hội Bởi vậy, xã hội phải có trách nhiệm chăm lo đến đời sống vật chất, tinh thần cho họ không chỉ khi khoẻ mạnh, tham gia lao động sản xuất, mà ngay cả khi họ gặp tai nạn, rủi ro, làm giảm hoặc mất nguồn thu nhập Thông qua bảo hiểm xã hội, thể hiện sự quan tâm của Nhà nước, của cộng đồng

xã hội đối với người lao động

2.3.3 Tác dụng của bảo hiểm xã hội đối với người sử dụng lao động

Bảo hiểm xã hội cũng phụ vụ lợi ích của người sử dụng lao động vì góp phần duy trì quan hệ và ổn định trong lao động, ổn định trong xã hội

Người sử dụng lao động trả lương cho người lao động là để đáp ứng nhu cầu của người lao động khi họ làm việc cho người sử dụng lao động, nhưng cả khi họ không còn đủ sức để được hưởng lương Chính thông qua cơ chế bảo hiểm xã hội mà

sự chuyển giao tiền lương giữa hai hoàn cảnh đó được thực hiện

Người lao động là lớp người dễ rơi vào hoàn cảnh rủi ro nhất Số người may mắn trong số người lao động không thể lớn đủ mức đùm bọc kín được số người ở hoàn cảnh rủi ro Gánh nặng đó được trải rộng ra, càng rộng càng tốt cho người lao động Người sử dụng lao động là lớp người thường ở vào hoàn cảnh may mắn Sự đóng góp thêm của người sử dụng lao động chính là nhằm san sẽ bớt gắnh nặng đó, là nhân danh tình đoàn kết xã hội Phần phí bảo hiểm xã hội mà người sử dụng lao động đóng thêm cho người lao động được tính vào giá thành sản phẩm, người sử dụng lao động có thể

Trang 18

nâng thêm giá bán hàng hoá và cuối cùng là người tiêu dùng phải gánh chịu chứ không phải người sử dụng lao động gánh chịu Người lao động được bảo hiểm thì yên tâm phấn khởi làm việc, nâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm, góp phần giữ vững, thậm chí làm tăng lợi nhuận cho người sử dụng lao động, có lợi cho cả đôi bên

2.4 Nguyên tắc của bảo hiểm xã hội

2.4.1 Tất cả mọi người lao động đều có quyền tham gia và hưởng bảo hiểm xã hội

Đây là nguyên tắc rất quan trọng, nguyên tắc này quy định tất cả mọi người lao động đều có quyền tham gia và hưởng bảo hiểm xã hội Luật pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ghi nhận điều này Bảo hiểm xã hội phải đảm bảo quyền lợi cho người lao động

2.4.2 Nhà nước, người sử dụng lao động phải bảo hiểm xã hội cho nguời lao động

Về nguyên tắc, người sử dụng lao động phải bảo hiểm xã hội cho người lao động Đồng thời, cũng vì lợi ích của mỗi người lao động, nghĩa là để bảo hiểm lúc tuổi già, hoặc khi mất sức lao động tạm thời về nguyên tắc người lao động cũng phải tự bảo hiểm xã hội cho mình

Đối tượng nghiên cứu của bảo hiểm xã hội là các mối quan hệ kinh tế - xã hội giữa người tham gia bảo hiểm xã hội với người nhận bảo hiểm xã hội và Nhà nước Vì vậy, về nguyên tắc bảo hiểm xã hội phải đảm bảo lợi ích hài hoà giữa các bên tham gia vào bảo hiểm xã hội, giữa những người cùng tham gia bảo hiểm xã hội, giữa người về nghỉ hưởng bảo hiểm xã hội ở các thời kỳ khác nhau

2.4.3 Mức hưởng bảo hiểm xã hội phải thấp hơn mức lương khi đang làm việc

Mức hưởng bảo hiểm xã hội phải thấp hơn mức lương khi đang làm việc, những

phải bảo đảm mức sống tối thiểu cho người lao động được hưởng bảo hiểm xã hội Có nghĩa là phải đảm bảo cuộc sống tối thiểu cho người lao động không còn khả năng tham gia vào quá trình lao động

2.4.4 Bảo hiểm xã hội thực hiện trên cơ sở lấy số đông bù số ít

Người lao động tham gia bảo hiểm xã hội, có người ốm đau nhiều, có người ốm đau ít, có người bị tai nạn rủi ro, có người không bị, có người về hưu sống lâu, trong khi đó có người chết trước tuổi về hưu Vì vậy, việc quy định người được bảo hiểm xã hội phải đóng phí bảo hiểm xã hội vào quỹ bảo hiểm xã hội, tạo ra tiền đề thực hiện nguyên tắc lấy số đông bù số ít

Câu hỏi ôn tập

Câu1: Trình bày các loại hình bảo hiểm và những đặc trưng cơ bản của nó Câu 2: Phân tích bản chất kinh tế và xã hội của bảo hiểm

Trang 19

Câu 3: Phân tích chức năng, vai trò của bảo hiểm

Câu 4: Phân biệt bảo hiểm xã hội với một số bộ phận của an toàn xã hội

Câu 5: Trình bày vị trí, ý nghĩa, tác dụng của bảo hiểm xã hội

Câu 6: Trình bày các nguyên tắc của bảo hiểm xã hội

Trang 20

CHƯƠNG 3: HÌNH THỨC VÀ CÁC CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM XÃ HỘI

(15 tiết) 3.1 Hình thức bảo hiểm xã hội

Có hai loại hình bảo hiểm xã hội: bắt buộc và tự nguyện

3.1.1 Bảo hiểm xã hội bắt buộc

Ở loại hình bắt buộc, đối tượng tham gia là tất cả những người lao động làm việc trong các tổ chức và người sử dụng lao động tương đối ổn định để có thể kiểm soát được phí bảo hiểm xã hội do cả người lao động và cả người sử dụng lao động đóng góp Vì vậy, nguồn thu của quỹ bảo hiểm xã hội lớn và tương đối ổn định, mức trợ cấp khá

3.1.2 Bảo hiểm xã hội tự nguyện

Ở loại hình tự nguyện, đối tượng tham gia là những cá nhân tự nguyện, người tự nguyện tham gia chỉ tự đóng phí bảo hiểm xã hội cho mình Vì vậy, khó xác định mức phí bảo hiểm xã hội, quỹ bảo hiểm xã hội không lớn, mức trợ cấp không lớn, việc chi trả trợ cấp khó kịp thời Tuy nhiên, loại hình bảo hiểm xã hội tự nguyện vẫn là cần thiết để bảo vệ những người nông dân cá thể, buôn bán nhỏ, thợ thủ công, do có nơi làm việc và thu nhập không ổn định

3.2 Các chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc

Bộ luật Lao động và Luật bảo hiểm xã hội của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định bảo hiểm xã hội bắt buộc gồm 5 chế độ bảo hiểm xã hội sau

3.2.1 Chế độ trợ cấp ốm đau

Trợ cấp ốm đau là khoản trợ cấp bằng tiền đối với người được bảo hiểm khi bị

ốm đau nhằm bù đắp một phần thu nhập mất đi do bị ốm đau phải nghỉ việc không có lương

3.2.1.1 Mục đích, ý nghĩa

- Ổn định đời sống cho người lao động và gia đình họ trong lúc tạm thời không

có thu nhập theo lao động do nghỉ việc vì ốm đau

- Tạo điều kiện để người lao động an tâm điều trị, nhanh chóng phục hồi sức khoẻ trở lại sản xuất, công tác, góp phần duy trì và thúc đẩy sản xuất phát triển

- Thể hiện sự quan tâm của Nhà nuớc, của người sử dụng lao động, của cộng đồng đối với lao động và gia đình họ

3.2.1.2 Điều kiện để hưởng trợ cấp

Người lao động được hưởng trợ cấp ốm đau phải đảm bảo hai điều kiện sau:

- Có tham gia đóng bảo hiểm xã hội;

- Có giấy nghỉ ốm do cơ quan y tế có thẩm quyền cấp

Ở Việt Nam theo Luật Bảo hiểm xã hội có hiệu lực 01/01/2007 quy định như sau:

Trang 21

- Người lao động nghỉ việc vì ốm đau, tai nạn rủi ro phải nghỉ việc và có xác nhận của cơ sở y tế

- Có con dưới bảy tuổi bị ốm đau có xác nhận của cơ sở y tế thì được nghỉ việc hưởng chế độ trợ cấp chăm sóc con ốm đau

(Trường hợp ốm đau, tai nạn phải nghỉ việc do tự huỷ hoại sức khoẻ, do say rượu hoặc sử dụng chất ma tuý thì không được hưởng chế độ ốm đau)

3.2.1.3 Thời gian nghỉ việc được hưởng trợ cấp ốm đau

a Bản thân người đóng bảo hiểm xã hội

Các nước trên thế giới khi quy định thời gian nghỉ việc được hưởng trợ cấp ốm đau đều căn cứ vào:

+ Thời gian đóng bảo hiểm xã hội: thời gian đóng bảo hiểm càng nhiều thì số ngày được hưởng trợ cấp càng cao và ngược lại

+ Tính chất của bệnh tật: các bệnh cần điều trị dài ngày, thời gian được hưởng trợ cấp nhiều hơn bệnh có tính chất thông thường

* Ở Việt Nam, ngoài hai căn cứ trên, còn căn cứ vào điều kiện làm việc: người làm việc trong điều kiện nặng nhọc, độc hại hoặc làm việc nơi có điều kiện sinh hoạt khó khăn thì thời gian được hưởng trợ cấp sẽ nhiều hơn người lao động trong điều kiện bình thường

- Thời gian tối đa hưởng chế độ ốm đau trong một năm đối với người lao động được tính theo ngày làm việc không kể ngày nghỉ lễ, Tết, ngày nghỉ hằng tuần và được quy định cụ thể như sau:

+ Làm việc trong điều kiện bình thường thì được hưởng 30 ngày nếu đã đóng bảo hiểm xã hội dưới mười lăm năm; 40 ngày nếu đã đóng từ đủ từ mười lăm năm đến dưới ba mươi năm; 60 ngày nếu đã đóng đủ từ ba mươi năm trở lên;

+ Làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do

Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Bộ y tế ban hành hoặc làm việc thường xuyên nơi có phụ cấp khu vực hệ số từ 0,7 trở lên thì được hưởng 40 ngày nếu đã đóng bảo hiểm xã hội dưới mười lăm năm; 50 ngày nếu đã đóng từ đủ từ mười lăm năm đến dưới ba mươi năm; 70 ngày nếu đã đóng đủ từ ba mươi năm trở lên

- Người lao động mắc bệnh thuộc danh mục bệnh cần chữa trị dài ngày do Bộ Y

tế ban hành thì được hưởng chế độ ốm đau như sau:

+ Tối đa không quá 180 ngày trong một năm tính cả ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng tuần;

+ Hết thời hạn 180 ngày mà vẫn tiếp tục điều trị thì được hưởng chế độ ốm đau với mức thấp hơn

- Thời gian hưởng chế độ ốm đau đối với người lao động làm việc trong quân đội và công an nhân dân thì tuỳ thuộc vào thời gian điều trị tại cơ sở y tế thuộc quân đội nhân dân và công an nhân dân

Trang 22

b Thời gian nghỉ việc chăm sóc con ốm

Phụ thuộc vào một yếu tố duy nhất là độ tuổi của con:

- Con dưới 3 tuổi, được nghỉ 20 ngày trong một năm

- Con từ 3 tuổi đến dưới 7 tuổi, được nghỉ 15 ngày trong một năm

- Trường hợp cả cha và mẹ cùng tham gia bảo hiểm xã hội, nếu một người đã

hết thời hạn hưởng chế độ mà con vẫn ốm đau thì người kia được hưởng chế độ nghỉ

việc chăm sóc con ốm theo quy định

3.2.1.4 Mức và cách tính

* Mức hưởng chế độ ốm đau:

- Mức trợ cấp ốm đau và nghỉ việc để chăm sóc con ốm đau bằng 75% mức tiền

lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội của tháng liền kề trước khi nghỉ việc

* Cách tính:

Ví dụ: Bà C làm việc trong điều kiện bình thường, vào 12/2007 bà C bị ốm và

phải nghỉ việc, bà C đã tham gia bảo hiểm xã hội được 27 năm, mức lương hiện tại của

bà C là 1.800.000 đồng/tháng

Mức hưởng chế độ ốm đau của bà C được tính như sau:

Bà C làm việc trong điều kiện bình thường, đã tham gia bảo hiểm xã hội được

27 năm nên bà C được nghỉ việc hưởng chế độ ốm đau 40 ngày và mức hưởng bằng

75% mức lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội của tháng liền kề trước khi nghi

việc áp dụng vào công thức ta có:

1.800.000

Mức hưởng chế độ ốm đau = x 75(%) x 40

26

= 2.076.923 (đồng)

- Riêng đối với quân nhân và công an nhân dân mức trợ cấp ốm đau, nghỉ việc

chăm sóc con ốm đau 100% mức tiền lương đóng bảo hiểm xã hội của tháng liền kề

trước khi nghỉ việc

- Đối với những người lao động mắc bệnh cần chữa trị dài ngày sau khi đã nghỉ

hết 180 ngày mà vẫn tiếp tục điều trị thì mức hưởng trợ cấp được quy định như sau:

độ ốm đau

Trang 23

+ Bằng 65% mức tiền lương, tiền công đóng bảo hiểm xã hội của tháng liền kề trước khi nghỉ việc nếu đã đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 30 năm trở lên;

+ Bằng 55% mức tiền lương, tiền công đóng bảo hiểm xã hội của tháng liền kề trước khi nghỉ việc nếu đã đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 15 đến dưới 30 năm;

+ Bằng 45% mức tiền lương, tiền công đóng bảo hiểm xã hội của tháng liền kề trước khi nghỉ việc nếu đã đóng bảo hiểm xã hội dưới 15 năm

Các tính mức hưởng chế độ ốm đau đối với người lao động mắc bệnh cần chữa trị dài ngày

Ví dụ:

* Dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ sau khi ốm đau:

- Người lao động sau thời gian hưởng chế độ ốm đau mà sức khoẻ còn gầy yếu thì được nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ từ 5 đến 10 ngày trong một năm

- Mức hưởng một ngày bằng 25% mức lương tối thiểu chung nếu nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ tại gia đình; bằng 40% mức lương tối thiểu chung nếu nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ tại cơ sở tập trung

3.2.2 Chế độ trợ cấp thai sản

3.2.2.1 Mục đích, ý nghĩa

Trên thế giới cũng như ở nước ta phụ nữ tham gia lao động và hoạt động xã hội ngày càng đông đảo Ngoài chức năng năng lao động, hoạt động xã hội, phụ nữ còn có một chức năng không thể thiếu mà nam giới không thể thay thế được là chức năng làm

mẹ và sinh con Vì vậy, chế độ trợ cấp thai sản là nhằm mục đích bảo đảm cho người lao động nữ và trẻ sơ sinh được chăm sóc và được bảo vệ mức sống đủ cho hai mẹ con trong thời kỳ người mẹ sinh nở phải nghỉ việc Điều này thể hiện sự quan tâm chăm sóc bảo vệ bà mẹ trẻ em của Nhà nước, của cộng đồng đối với lao động nữ

3.2.2.2 Đối tượng và điều kiện

Hầu hết các nước trên thế giới đều quy định lao động nữ có tham gia đóng bảo hiểm xã hội khi có thai, sinh con phải nghỉ việc được hưởng trợ cấp thai sản

ốm đau (%)

x

Số ngày nghỉ việc hưởng chế độ

Trang 24

ở nước ta, Luật bảo hiểm xã hội năm 2006 có hiệu lực từ 01/01/2007 quy định người lao động nữ được hưởng chế độ thai sản khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

- Lao động nữ mang thai;

- Lao động nữ sinh con;

- Người lao động nhận con nuôi dưới 4 tháng tuổi;

- Người lao động đặt vòng tránh thai, thực hiện các biện pháp triệt sản

(Người lao động nữ sinh con hoặc nhận con nuôi dưới 4 tháng tuổi phải đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 6 tháng trở lên mới được hưởng chế độ thai sản)

3.2.2.3 Thời gian được nghỉ hưởng trợ cấp

Cơ sở để xác định thời gian thai sản ở các nước đều dựa trên các cơ sở khoa học sau:

- Yếu tố sinh học: theo kết quả nghiên cứu khoa học của ngành y tế cho biết, sau

60 ngày sinh nở, thì sức khoẻ của người phụ nữ trở về trạng thái bình thường

- Điều kiện kinh tế xã hội:

Đối với những nước có nền kinh tế phát triển, tỷ lệ gia tăng dân số thấp, thường là khuyến khích sinh đẻ ở những nước này thường quy định thời gian nghỉ đẻ hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội dài hơn

+ Đối với những nước có nền kinh tế chậm phát triển, tỷ lệ dân số đang ở mức

độ cao, thường thực hiện chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình nhằm giảm tỷ lệ sinh Vì vậy ở các nước này quy định thời gian nghỉ thai sản hưởng trợ cấp bảo hiểm

xã hội thường ngắn hơn

- Điều kiện lao động: lao động nữ làm việc trong điều kiện đặc biệt nặng nhọc, độc hại hoặc làm việc ở những nơi khó khăn gian khổ thì thời gian được nghỉ đẻ hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội nhiều hơn lao động nữ làm việc trong điều kiện bình thường

ở nước ta Luật bảo hiểm xã hội 2006 có hiệu lực từ 01/01/2007 quy định:

* Thời gian hưởng chế độ khám thai:

Trong thời gian mang thai, lao động nữ được nghỉ việc để khám thai 5 lần, mỗi lần một ngày; trường hợp nếu nơi làm việc cách xa cơ quan y tế hoặc người mang thai

có bệnh lý, thai không phát triển không bình thường thì được nghỉ hai ngày cho mỗi lần khám thai (Thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản không tính cả ngày nghỉ lễ, Tết, ngày nghỉ hằng tuần)

* Thời gian hưởng chế độ khi sẩy, nạo, hút thai hoặc thai chết lưu

Khi sẩy thai, nạo, hút thai hoặc thai chết lưu thì lao động nữ được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản mười ngày nếu thai dưới một tháng; hai mươi ngày nếu thai từ một tháng đến ba tháng; bốn mươi ngày nếu thai từ ba tháng đến dưới sáu tháng; năm

Trang 25

mươi ngày nếu thai từ sáu tháng trở lên (Thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản được tính cả ngày lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng tuần)

* Thời gian nghỉ hưởng chế độ khi sinh con

+ Bốn tháng đối với người làm việc trong điều kiện bình thường;

+ Năm tháng đối với người làm việc thường xuyên trong các nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ Lao động - Thương binh và

Xã hội và Bộ Y tế ban hành; làm việc theo chế độ ba ca; làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số 0,7 trở lên hoặc là nữ quân nhân, nữ công an nhân dân;

+ Sáu tháng đối với lao động nữ là người tàn tật theo quy định của pháp luật về người tàn tật

+ Trường hợp sinh đôi trở lên, ngoài thời gian nghỉ việc theo quy định thì tính

từ con thứ hai trở đi, cứ mỗi con được nghỉ thêm ba mươi ngày

+ Trường hợp sau khi sinh con, nếu con dưới sáu mươi ngày tuổi mà bị chết thì người mẹ được nghỉ việc chín mươi ngày tính từ ngày sinh con; nếu con từ sáu mươi ngày tuổi trở lên bị chết thì mẹ đựơc nghỉ việc ba mươi ngày tính từ ngày con chết, nhưng không được vượt quá thời gian nghỉ thai sản quy định cho các trường hợp con bình thường

+ Trường hợp chỉ có cha hoặc mẹ tham gia bảo hiểm xã hội hoặc cả cha và mẹ đều tham gia bảo hiểm xã hội mà mẹ chết sau khi sinh con thì cha hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng được hưởng chế độ thai sản cho đến khi con đủ bốn tháng tuổi

(Thời gian nghỉ hưởng chế độ thai sản được tính cả ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng tuần)

* Thời gian nghỉ hưởng chế độ khi nhận con nuôi

Người lao động nhận nuôi con nuôi dưới bốn tháng tuổi thì được nghỉ hưởng chế độ thai sản cho đến khi con đủ bốn tháng tuổi

* Thời gian nghỉ hưởng chế độ khi thực hiện các biện pháp tránh thai

+ Khi đặt vòng tránh thai người lao động được nghỉ việc bảy ngày

+ Khi thực hiện biện pháp triệt sản người lao động được nghỉ việc mười lăm ngày

(Thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản khi thực hiện các biện pháp tránh thai được tính cả ngày lễ, Tết, ngày nghỉ hằng tuần)

3.2.2.4 Mức hưởng chế độ thai sản

+ Người lao động hưởng chế độ thai sản theo quy định thì mức hưởng bằng 100% mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội của sáu tháng liền kề trước khi nghỉ việc Thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản được tính là thời gian đóng bảo hiểm xã hội Vì vậy, trong thời gian đó người lao động và người sử dụng lao động không phải đóng bảo hiểm xã hội

Trang 26

+ Lao động nữ khi sinh con hoặc người lao động nhận nuôi con nuôi dưới bốn tháng tuổi thì được trợ cấp một lần bằng hai tháng lương tối thiểu chung cho mỗi con Trường hợp chỉ có cha tham gia bảo hiểm xã hội mà mẹ chết khi sinh con thì cha được trợ cấp một lần bằng hai tháng lương tối thiểu chung cho mỗi con

3.2.2.5 Cách tính mức hưởng chế độ thai sản

* Mức bình quân tiền lương, tiền công đóng bảo hiểm xã hội làm cơ sở tính hưởng chế độ thai sản là mức bình quân tiền lương, tiền công của 6 tháng liền kề trước khi nghỉ việc Nếu thời gian dóng bảo hiểm xã hội không liên tục thì được cộng dồn

Ví dụ: Chị A sinh con vào 2/2007, có qua trình đóng bảo hiểm xã hội như sau:

Từ tháng 8/2006 đến tháng 9/2006 (2 tháng) đóng bảo hiểm xã hội với mức lương 900.000 đồng/tháng

Từ tháng 10/2006 đến tháng 01/2007 (4 tháng) đóng bảo hiểm xã hội với mức lương 1.200.000 đồng /tháng

Vậy mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của 6 tháng liền kề trước khi nghỉ việc của chị A được tính như sau

xã hội của 6 tháng liền kề

trước khi nghỉ việc

x

Số tháng nghỉ sinh con hoặc nghỉ nuôi con nuôi theo chế

x 100% x

Ngày đăng: 17/11/2017, 16:52

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Giáo trình: Bảo hiểm xã hội, NXB Lao động - Xã hội, Hà Nội 2004 Khác
2. Một số vấn đề về chính sách xã hội ở nước ta hiện nay. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, 1993 Khác
3. Ngyễn Văn Phần, Đặng Đức San. Tìm hiểu về chế độ bảo hiểm xã hội Khác
4. Tập thể tác giả. Góp phần đổi mới và hoàn thiện chính sách bảo đảm xã hội ở nước ta hiện nay. NXB Chính trị quốc gia, 1996 Khác
5. Các văn bản pháp luật về bảo hiểm. NXB chính trị quốc gia, 1996 Khác
6. Luật Lao động năm 1994 (sửa đổi bổ sung 2002) 7. Luật Bảo hiểm xã hội 2007 Khác
8. Thông tư Bộ lao động - Thương binh và Xã hội ngày 30 tháng 01 năm 2007: Hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 152/2006/NĐ - CP ngày 22 tháng 12 năm 2006 của Chính phủ hướng dẫn một số điều của Luật bảo hiểm xã hội bắt buộc Khác
9. Thông tư 18/2007/ TT - BLĐTBXH ban hành ngày 10/9/2007,hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 110/2007/NĐ - CP ngày 26/6/2007 của Chính phủ về chính sách đối với người lao động dôi dư do sắp xếp lai công ty nhà nước Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w