Đối với các rẫy bằng ngườiÊ ĐÊ thường đào hào xung quanh ngăn cản thú rừng vào phá hoại hoa màu, họ cònđặt một số bẫy thú xung quanh, trên rẫy thì đặt bù nhìn và mõ nhờ sức gió tạo âmtha
Trang 1Trường Đại Học Văn Hóa Hà Nội Khoa: Văn Hóa Du Lịch
Môn: Văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam
Các thành viên:
Lê Thị Thu Hương
Nguyễn Thị Minh Hiếu
Trang 2D Phương tiện vận chuyển
IV Văn hóa tinh thần
Trang 3Dân tộc Ê Đê thuộc nhóm ngôn ngữ Nam Đảo ( Malayô – Pôlynêđi).Họ tự gọimình là “ANAK Ê ĐÊ” ( người Ê Đê), những dân tộc xung quanh gọi họ là RAĐÊnhưng không phổ biến nên Ê Đê trở thành phổ biến cho một tộc danh Tộc danhnày được giải thích là thuật ngữ chỉ những người sống trong rừng tre, (Ê TÊ hay ÊĐê) hoặc tộc danh đó là một tên gọi của một vị thần tối cao trong tín ngưỡng dângian là EA, DIE… (và còn nhiều cách giải thích khác nữa) Là ngôn ngữ có quan
hệ gần gũi với tiếng Gia rai, Chăm, Malaisia, Inđônêsia, Philipin Tiếng ÊĐê ngàynay phát triển một âm tiết đơn lập, đây là kết quả của sự ảnh hưởng tiếng Môn-khmer, Lào, Việt, Pháp Trong lễ hội họ vẫn sử dụng tiếng Ê Đê kpă (Ê Đê gốc)
So với các dân tộc ít người khác ở Việt Nam người Ê Đê là sắc dân có chữ viếttheo bảng chữ cái La tinh khá sớm, người Ê Đê có chữ viết từ thập niên1920.Người Ê Đê định cư chủ yếu ở các huyện M’Drăk , Ea kar, Krông Pac,Krông Buk, Krông Năng, Ea H’leo, Cư M’gar, Krông Ana, Lăk, Krông Bông,Buôn Đôn, thành phố Buôn Ma Thuột bao gồm các nhóm địa phương khác nhau :
Ê đê Kpă, ADham, M’Dhur, K’Tui, Blô, Krung, Bih, Eeban, Krông, H’Mok,H’Wing, Ê Ning, Kdrao, Arul… với trên 30 dòng họ khác nhau định cư rải rác trênđịa bàn 534 buôn của tỉnh Dak Lak
II, Kinh tế:
1 Nông nghiệp :
Trong nông nghiệp truyền thống,do sống ở Tây Nguyên nên Rẫy( HMA)chiếm vị trí trọng yếu và là nguồn sống chính Ruộng nước chiếm một tỷ lệ khônglớn lắm chỉ có ở vài nơi,đặc biệt là ven các vùng sông suối, hồ…chủ yếu là ngườiBÍH làm theo lối cổ sơ dùng đao canh hoả chủng Nói chung người Ê ĐÊ thườnglàm rẫy ở các khu vực đất bằng phẳng gần nguồn nước Riêng ở phía Tây, rẫyđược làm trên các rừng xavan gọi là HMA H’DRAH Còn ở vùng trung tâm, rẫyđược làm trên các đồi tranh Khi khai phá, đồng bào coi trọng việc quan tâm bảo vệrừng tránh tình trạng làm tất cả trở thành đồi trọc và hủy diệt giun đất Bên cạnhnhững rẫy đang canh tác thì vẫn còn những vạt đất còn nhiều cây ( họ coi đó làcách chống xói mòn đất đồng thời cũng là để khai thác lâu dài)
Phát rẫy là công việc chính đầu tiên khi khai phá nương rẫy vào khoảngtháng 4 bằng cách đốt những cây khô rồi sau đó dọn và cuốc đất rồi cuối cùng làchọc lỗ và tra hạt( đao canh hỏa chủng) Trên rẫy lúa là cây trồng chính nhưngtrước kia cây Bao (một loại kê) được trồng phổ biến Dù rẫy bằng hay rẫy dốc thì
Trang 4người ta hay dùng gậy chọc lỗ để tra hạt do từng cặp nam nữ tiến hành Khoảngcách giữa các lỗ phụ thuộc vào độ phì nhiêu của đất nhưng nói chung các hốc cáchnhau khoảng 0,20× 0,20 m hay 0,30× 0,30 m , hốc có độ sâu từ 0,03 đến 0,05 m.Ngoài lúa, trên rẫy đông bào Ê ĐÊ còn trồng cả ngô, khoai, bí, dưa, ớt, thuốc lá,bông… ngô và khoai lang cũng được trồng trên những mảnh rẫy riêng Các hốc ngô cách nhau 0,80 × 0,80 m ,mỗi hốc có 3 cây Khoai lang trồng ngay trên đấtbằng ít khi đánh luống Riêng các loại hạt giống bầu,bí, dưa,bông thì được trộncùng với lúa giống để gieo một lúc hoặc để riêng gieo vào những chỗ có nhiều tro.Việc xen canh các cây trồng với cây lúa không những tận dụng được đất đai màcòn có thêm sản phẩm và thuận tiện cho việc chăm sóc Đối với các rẫy bằng người
Ê ĐÊ thường đào hào xung quanh ngăn cản thú rừng vào phá hoại hoa màu, họ cònđặt một số bẫy thú xung quanh, trên rẫy thì đặt bù nhìn và mõ( nhờ sức gió tạo âmthanh) để xua đuổi chim muông
Cách sử dụng đất đai của hầu hết các dân tộc Tây Nguyên nói chung mà Ê
ĐÊ nói riêng là luân khoảnh tức là bên cạnh những mảnh đất đang canh tác cónhững mảnh đất bị bỏ hoang trong thời gian dài để khôi phục độ màu mỡ của đất.Tùy thuộc vào chất đất mà có thể canh tác liên tục theo chu kỳ 5 , 10, 15 hay 20năm hoặc lâu hơn nữa Rẫy làm liên tục nhiều năm sẽ bị bạc màu và có nhiều màu.Nhưng rẫy của đồng bào Ê ĐÊ là rẫy cuốc nên không có cỏ nhiều Nhưng ngày nayđồng bào đã biết bón phân hóa học nên đã giảm bớt số rẫy luân khoảnh và yêu cầuđịnh canh thâm canh Người Ê ĐÊ còn gắn mình với sản xuất cây công nghiệp như
cà phê, cao su, hồ tiêu, ca cao…
Cùng với việc canh tác trên rẫy từ lâu nông nghiệp nước đã xuất hiện ở vùng
hồ Lak, ven các con sông Knô và Ana Tại các ruộng nước họ dùng phương phápđao canh thủy nậu tức là khi có mưa phù sa thấm nước nên mềm hơn, bấy giờ họđưa đàn trâu đến quần cho cỏ dập nát và vùi xuống sâu, bùn nhuyễn ra Đó làphương pháp canh tác đơn giản nhất trong lịch sử nông nghiệp Nhưng việc đắp bờgiữ nước ít được chú trọng Lúa nước cũng có nhiều loại tẻ, nếp, dài ,ngắn ngàykhác nhau Khi gặt thì phơi lúa ngay trên gốc rạ rồi vò dần lấy thóc đem về
Cách thu hoạch rất đơn giản,lúa tẻ thì suốt bằng tay,bỏ vào cái giò đeo ởngang hông,lúa nếp thì dùng liềm gặt rồi bó thành cụm mang về, khi cần mới vòlấy hạt, cũng có giống lúa tẻ phải dùng liềm gặt, họ cắt thành từng nắm phơi trênrẫy ít lâu rồi đánh đống lại khi cần mới vò lấy hạt Khi thu hoạch người ta chọnnhững hạt to,mẩy làm hạt giống (giống BLAMA ) hầu hết các giống lúa rẫy đều lànhững giống lúa sinh trưởng dài ngày phù hợp với lối canh tác thô sơ trên đất khô
Trang 5Công cụ làm rẫy cũng như ruộng của người Ê ĐÊ thường giống nhau và ítkiểu loại nhưng cũng rất độc đáo Phổ biến là rìu, chà gạc, wăng briêng, cuốc,wăng wít, gậy chọc lỗ, ống đựng thóc, tra hạt, cào,gùi, giỏ suốt lúa…
- Rìu có cùng một kiểu loại với rìu của các dân tộc ở nước ta dung để chặt
cây, phát rẫy, làm nhà, làm dụng cụ gia đình
- Chà gạc (Kgă) là một lưỡi dao thép tra dựng đứng vào gù một cái cán
cong bằng lồ ô đặc Chà gạc dùng trong sản xuất, chiến đấu, xây dựng nhà cửa vàcũng là một công cụ của nhà bếp
- Wăng briêng là một loại cuốc lưỡi sắt nhỏ, hình trăng lưỡi lèm, tra vào
cán gỗ cong, dùng để xới đất Hiện nay, đồng bào dung cuốc bản ( gọi là wăng cuốc) để xới đất, phần nhiều đã được thay thế công cụ truyền thống: wăng briêng.
Để thích hợp với kinh nghiệm sản xuất của mình, đồng bào cắt hai gốc của rìa tácdụng lưỡi cuốc bản làm cho lưỡi cuốc đó gần giống lưỡi cuốc truyền thống
- Wăng wít là cái nạo cỏ rẫy, lưỡi sắt, được bẻ gập va vạn vỏ đỗ, một đầu
cắm vào cán gỗ Đối với người Ê đê, cuốc đóng vai trò quan trọng trong sản xuất,khiến có thể nói rằng, hình thái nông nghiệm cuốc đã tồn tại ở họ
- Cào cỏ (hwar) là một thân tre nhỏ, dài khoảng 1m50, một đầu trẻ làm 6
hay 8 nan, đan xoè hình giẻ quạt, khi cào thì đứng
- Ống đựng thóc tra lúa (đing nuh) là một khúc lồ ô dài khoảng 0,80m.
Mặc dù phương pháp canh tác thô sơ,công cụ giản đơn nhưng do đất đaimàu mỡ và được làm đúng thời vụ nên thu hoạch được một khối lượng nông sảnđáng kể
Người Ê đê không tính theo lịch dương, lịch âm mà dựa vào sự vận độngcủa mặt trời (ngày), mặt trăng (tháng) và mùa rẫy (năm) Tuy vậy người ta vẫn chia
1 năm thành 4 mùa (yan) có tên gọi : yan mnga (mùa xuân), yan mhang(mùa hạ),yan mjao(mùa thu), yan puit(mùa đông) Còn thời tiết diễn biến theo thực tế thì chỉ
có 2 mùa khô (tháng 1-4 năm sau) và mùa mưa(tháng 5-10).Người ta định lịch làm
ăn 1 năm là 12 tháng (mlan)theo 12 lần trăng.Ví dụ : tháng 1 của người Ê đê tươngứng với tháng 4 dương lịch
So với phương pháp trồng trọt nguyên thủy :phát, đốt tràn lan ,tiện đâu làm
đó thì cách canh tác rẫy theo chế độ luân khoảnh có nhiều ưu điểm hơn nhưng vẫn
là một lối quảng canh chưa đi vào thâm canh tăng năng suất, vẫn còn phụ thuộcvào tự nhiên
Trang 6Lực lượng dân quân dân tộc Êđê tích cực lao động sản xuất, phát triển kinh tế
-xã hội .
2.Thủ công:
Hoạt động của các nghề thủ công tuy chưa tách khỏi kinh tế nông nghiệpnhưng đã làm ra những sản phẩm cần thiết Xưa kia,khi giao thông chưa thuậnlợi,sự trao đổi hàng hóa bị nhiều hạn chế nên công cụ sản xuất và đồ dùng phần lớn
là đồng bào tự làm lấy.Phần lớn người dân tự làm đồ đan lát, bát đồng, đồ gỗ, đồtrang sức, đồ gốm…Nghề rèn có thể làm lười rìu, chà gạc , các loại lưỡi cuốc ,mũilao dùng cho săn bắn Người ta còn làm được đồ trang sức bằng đồng,làm đồ giadụng bằng tre,dệt chiếu,dệt và nhuộm vải… một vài nơi còn có nghề làm nồi đất đểnấu cơm làm âu đựng thức ăn Nhưng hiện nay ột số nghề thủ công đang mai mộtdần (như gốm, dệt) ,một số nhóm nghề khác ( rèn, đan lát,đồ gỗ) vẫn còn tồn tại vàđóng vai trò quan trọng trong đời sống ở địa phương
Nghề dệt thổ cẩm của người Ê ĐÊ : để tạo nên những tấm thổ cẩm đẹp thì
sợi bông chính là nguồn nguyên liệu chủ yếu Xưa kia bông thường được trồng ởkhắp nơi trên đất của đồng bào Ê ĐÊ ; đất rẫy, đất thổ, gieo hạt vào tháng 2, 3 thuhoạch vào tháng 6, 7 hàng năm Công đoạn sơ chế gồm nhặt bông, cán bông, lăncon cúi, kéo sợi, chế biến sợi, nhuộm màu, cuối cùng là mắc sợi chỉ vào khung dệtdụng cụ dệt vải là những bộ phận rời go dài trên 1m để luồn sợi dọc và dập sợi
Trang 7ngang Khi dệt họ ngồi trên nền đất, 2 chân duỗi thẳng đạp lên 1 thanh gỗ nằmngang để căng mặt sợi trên khung dệt, tất cả các đầu sợi được gộp lại buộc vào câycột nhà hay một gốc cây Khi dệt người thợ dùng chân và lưng của mình làm căngdàn sợi, 1 tay giật co, 1 tay giật thoi Trong quá trình luồn sợi chỉ vào khung dệt, đểtạo hoa văn người dệt sắp xếp trật tự màu sắc của sợi vải hợp thành thảm dọc ứngvới kiểu trang trí được lựa chọn Chính vì dệt thủ công nên thời gian hoàn thànhsản phẩm rất lâu thậm chí kéo dài tới vài tháng Những hoa văn trên nền vải cónhiều mô típ liên quan đến động vật và thực vật Đó là: chim dang cánh, bọ cạp ấpcon, trứng thằn lằn, bầy ong bám cành cây, trứng chim đại bàng Bên cạnh nhữnghoa văn đó, là những hoa văn phản ánh sinh hoạt kinh tế: hoa ngô, hột dưa, cầnuống rượu, con chỉ, đuôi mũi tên Và cũng có những hoa văn liên quan đến tôngiáo tín ngưỡng như dây treo chiêng, cột nhà mồ, mặt trăng Phần lớn hoa văn trênnền vải là những đường hình học Màu trang trí của hoa văn nổi bật nhất là màu
đỏ, thứ đến là màu trắng đục, nâu tươi, vàng óng, vàng úa, xanh lá cây, xanh nướcbiển, xanh rêu cau
Khung dệt buộc lưng.
Nghệ thuật điêu khắc của người Ê đê: nay còn rất ít, chủ yếu là chạm khắc
tượng nhà mồ, cầu thang, cột Họ chạm khắc bằng các công cụ rất thô sơ như chà
Trang 8gạc, wăng wit, rìu…Trên các xà ngang của các nhà giàu hiện còn chạm khắc rấtnhiều hình các con vật như rùa, kỳ đà,voi… do ngày xưa người Ê đê sống ở gầnbiển (đảo) nên họ chạm khắc các con vật này để lưu giữ lại truyền thống xa xưa,đây cũng là một trong những yếu tố còn lại của biển của người Ê đê Hình khắc đôibầu vú xuất hiện hầu khắp trong nhà của người Ê đê thể hiện uy quyền của người
mẹ trong gia đình, đồng thời biểu trưng cho chế độ mẫu hệ của người Ê đê.Cònhình vầng trăng khuyết khắc trên bậc thang và các đôi cột là để thể hiện sự mongmuốn sự đầy đủ, đi lên, người Ê đê không khắc vầng trăng tròn bởi nếu đã trăng đãtròn thì sau đó sẽ khuyết dần rồi đi xuống vì vậy người ta luôn khắc hình trăngkhuyết.Trên các cột nhà ta cũng thấy các hình cây cỏ thể hiện sự gần gũi với thiênnhiên.Ngày xưa người Ê đê có tục chôn nô lệ theo hầu người chết (đối với nhàgiàu) nhưng sau đó thay bằng tượng nhà mồ với ý niệm về việc cần phải có ngườitheo hầu người chết sau đó ý niệm này không còn mà thay bằng ý nghĩa trang tríxung quanh nhà mồ nên việc thể hiện hình tượng và nội dung các bức tượng cũngphong phú và đa dạng hơn.Phong cách của các bức tượng này một số thể hiện tínhchất hoạt động và trần thuật, một số thể hiện tính gợi tả và sống động như tượngPhụ nữ giã gạo ở easol – eahleo – Đak lak – Bảo tàng Dak lak, tượng người đánhtrống cao 94 cm ở Phú Yên – bảo tàng Mỹ Thuật, tượng múa trống cao 61 cm PhúYên – Bảo tàng Mỹ thuật…
Trang 9Chi tết điêu khắc trên xà nhà của người Ê đê
Do có 2 mùa rõ rệt: mùa khô và mùa mưa nên hoạt động kinh tế cũng theotừng mùa Trước đây vào mùa khô bên cạnh việc làm nghề thủ công thu hái, sănbắt tổ chức các nghi lễ gia đình … vào mùa mưa hoạt động nông nghiệp là chính
và trong mỗi tháng họ phân chia công việc làm cụ thể:
Ví dụ: -Mlan sa (tháng giêng) :phát rẫy,dệt vải,ăn tết Mnăm thun
-Mlan dua (tháng hai) :phát rẫy , dệt vải ,ăn tết bỏ mả
-Mlan tlao (tháng ba) : - nt –
Trang 10-Mlan pa (tháng tư) :đốt và dọn rẫy
-Mlan ema (tháng năm) :dọn rẫy ,xới đất, tria lửa
-Mlan năm (tháng sáu) :trỉa lúa
-Mlan kjuk (tháng bảy) :trỉa lúa,làm cỏ lúa
-Mlan sopăn (tháng tám) :làm cỏ phát và cuốc rẫy mới
3.Chăn nuôi:
Chăn nuôi ở gia đình được chú ý phát triển Đa số đồng bào nuôi gà ,vịt,ngan, ngỗng, lợn dê , trâu, bò, và một số ít gia đình giàu nuôi cả voi Hầu hết cácgia đình có đàn gia cầm nhiều con hàng chục đầu lợn Việc chăn nuôi gia suc , giacầm là để có thực phẩm dùng trong ma chay, cưới hỏi và cúng bái Theo quan niệmcủa người ÊĐÊ hiến sinh nhiều súc vật trong các nghi lễ là vinh dự trọng đại làmục tiêu mà người ta cần đạt tới để khẳng định vị trí xã hội cua mình Trâu bòcàng được chú ý nuôi nhiều vì nó đặc trưng cho sự giàu có và là vật định giá trongmua bán cồng , chiêng, ché Voi cũng là đặc trưng quan trọng cho sự giàu có.Ngưới có voi được coi là có số làm ăn Voi dùng để vận chuyển và làm sức kéođồng thời cũng là vật định giá trong mua bán trao đổi những tài sản lớn
4.Nghề phụ:
a, săn bắn và hái lượm:
Do có điều kiện thuận lợi nên cách đây không lâu , hái lượm và săn bắn cònchiếm vị trí quan trọng trong đời sống kinh tế của người ÊĐÊ Đồng bào lấy raurừng , mật ong hoa quả , tre , gỗ làm nhà và dụng cụ gia đình Săn bắn chim thúcũng đem lại một số lượng thịt đáng kể Nhưng hiện nay đồng bào đã biết trồngtrọt , chăn nuôi tại gia và diện tích rừng , số lượng động thực vật cũng giảm dầnnên việc săn bắn cũng ít đi
Người ÊĐÊ có nhiều cách săn bắn Săn tập thể do Ava Găp –người đứng đầunhóm săn bắn chỉ huy Người ta chỉ săn đêm khi có đèn săn, tổ chúc vay khu vựcchắc chắn có thú, bố trí người lùa 3 phia chặn đầu đón lõng bắn nỏ Đây là lối sănvây Ngoài ra còn có cách săn đuổi thì có một tốp người đuổi thú làm ầm ĩ, gõ mõ ,đập dao kêu la cho chúng sợ và chạy theo lối đã định Tốp còn lại đón thú rồi bắnnỏ
Trang 11Phân chia thú rừng ; người bắn chúng con mồi được phần lớn nhất : đàu , than
bộ lòng …, mọi người đi săn được phần bằng nhau,người bắn trúng cũng đượcmột suất chung này
b Đánh cá:
Đánh cá cũng đem lại nguồn lợi không nhỏ ở những vùng gần sông ,suối ,hồ,
… nhiều gia đình có cá ăn quanh năm và còn có cá sấy khô để đổi lại muối, vải,
lụa,… Săn bắn và đánh cá là những hoạt động được ưa thích đồng thời biểu hiệntài năng của nam giới
III Văn hóa vật chất:
Người Ê Đê sống trong các ngôi nhà dài thậm chí có thể kéo dài tới hàng trăm mét.Tuy nhiên hiện nay chỉ còn dài khoảng 30-40m Khoảng mười nóc nhà quần tụ hai bêncon đường tạo thành buôn (làng)
Nguyên vật liệu để xây dựng ngôi nhà dài ê đê chủ yếu bằng các nguyên liệu có sẵncủa núi rừng: khung nhà bằng gỗ, xương mái và sàn nhà bằng tre, nứa;mặt sàn và váchngăn bao quanh bằng nứa, mái nhà lợp tranh (gần đây lợp tôn)
Nhà ở của người Ê đê có đòn nóc làm theo hướng Bắc- Nam,tránh gió Đông- Bắcvào mùa khô và gió Tây Nam vào mùa mưa, đồng thới tránh gió thổi vào bếp khách gâycháy nhà khác với nhà mồ của họ dựng theo hướng Đông- Tây,một số nhà có mái nhỏ ởhai đầu hồi che cột hiên Mái nhà dài nằm cắt ngang đường đi của Mặt trời nên tránhđược giờ chiếu nắng cao nhất trong ngày Phên dựng ở hai đầu hồi thẳng đứng, còn phêndọc theo chiều dài nhà thì ngả ra hai bên, nên nhìn từ xa ngôi nhà có hình dáng của mộtcon thuyền
Trang 12(Nhà dài phục dựng trong Bảo tang dân tộc học Việt Nam)
Khi nói đến chiều dài thì đồng bào nói đến số lượng dầm ngang (đê) tương ứngvới một đôi cột Nhà bao nhiêu đê thù bấy nhiêu gian.Dựa vào số lần nối đòn tay người
ta có thể biết ngôi nhà đó đã được nối bao nhiêu lần và thông thường một lần người Ê đênối dài thêm là khi gia đình có một thành viên nữ lấy chồng
Đáng chú ý là nhà dài ê đê chỉ có vì cột gồm cột, dầm, quá giang, không có vì kèo
do đó khung nhà và mái nhà là hai bộ phận tách rời nhau ghép lại
Đồng bào khoét ngoàm để đặt đôi xà dọc lên hàng cột cái, quàng quá giang lên đôi
xà dọc,để dầm ngang và cột ốp vào nhau.Xà ngang dài từ 3,2m- 3,4m, cột cao 3,6m –4m, lòng nhà rộng từ 4,5m- 5,3m Bộ xương mái gồm một lớp kèo giả, những hàng đòntay, rui, mè và trên cùng là tranh Tranh lợp từng côm, ngọn thả xuôi mái, gốc bẻ gậpxuống để cây đòn tay che giữ phía trên Bộ khung nhà dài Ê đe cũng hình thành trên cơ
sở các vì cột Do vậy bộ khung nhà với bộ nóc là hai bộ phận riêng Nóc úp trên bộ
Trang 13khung cột, mỗi vì cột chỉ có: hai cột (kmek), một quá giang (ê đa) và các vì cột chungnhau hai đòn tay cái đặt ở đầu cột.
Kết cấu mặt sàn (tul): dưới cùng là các dầm ngang cũng có tên gọi là đê cũng nhưtên quá giang Đặt trên các dầm ngang là các dầm dọc( gắp) thường là các cây gỗ cóđường kính nhỏ hơn Trên dầm dọc đặt một lớp cây nhỏ (t’rung) song song với các dầmngang ở bên dưới Trên lớp cây này lại được trải một lớp những thanh tre (hoặc lồ ô) nhỏbản (nê) cùng chiều với dầm dọc Trên cùng là lớp dát sàn (trịa) làm bằng lồ ô hay trerừng…bổ banh thành từng phá, và đập dập
Bộ sườn của mái, lớp dưới là các “kèo giả” (kèo không ráp vào đầu cột) (mal).Trên kèo là các đòn tay, trên nữa là rui rồi đến mè, trên cùng là lớp cỏ tranh Tuy máilợp tranh nhưng cách lợp của người ê đe khá chắc chắn: gốc các phên tranh được đặt lêncác đòn tay nhưng quay xuống dưới buộc đè cây mè lên trên, rồi người ta mới bẻ quặtngọn phên tranh xuống phía dưới Đến lượt các phên tranh khác người ta cũng làm nhưvậy Với cách lợp này, các lá tranh không thể tụt ra khỏi phên
Nhà của người ê đê phổ biến là có hai mái chính Nhưng có nhà có thêm hai máiphụ ở hai đầu hồi thụt sâu vào hai mái chính để tránh hắt mưa vào nhà
Đó là kết cấu vì cột, mái và cách lợp mái theo kiểu cổ truyền Hiện nay,ở một sốnơi người ta đã làm nhà theo kiểu, mái lợp “tôn”, hoặc lợp ngói và nóc có bốn mái nhưnhà người Việt
Nhà có hai cửa : cửa phía trước dành cho khách và nam giới, cửa sau dành cho phụ
nữ Sát với hiên là sàn, nhưng sàn khách sàn dài gấp đôi sau sàn Cầu thang (ê nhan)phía sàn khách đối với nhà dân, chỉ là một khúc gỗ đèo khoảng 7 bậc bằng gỗ tốt nhưgiáng hương hay cẩm lai rộng khoảng 0,8-1m : đối với nhà của nhà giàu là những tấmván có bậc đầu đẽo uốn về phía trước như đầu một con thuyền với những hình khắc nổinhư trăng khuyết, đôi vú đàn bà Có nhà dựng ba cầu thang ở phía trước, một chính haiphụ Có khi cầu thang phụ khắc hình ngà voi thay cho đôi vú đàn bà Trên sàn khách ởnhững nhà có thế lực, nuôi voi còn để hai ghế sàn thẳng từ hai cột sàn nhô lên (kpanadring) cao hơn mặt sàn 0,5m.Có gia đình còn làm thêm sàn ở phía Tây có cầu thang lênxuống dành cho trai gái ngồi trò chuyện
Trang 14(Nhà dài của người Ê đê với hai cầu thang đực và cái độc đáo)
Không gian trong nhà theo chiều dọc gồm 2 phần rõ rệt:
Từ cửa chính đi vào là một phần rộng,chiếm 1/3 hoặc 2/5 gọi là gah,phần còn lại là
ôk Gah là nơi tiếp khách, có bếp cho khách (kpur gah) và là nơi sinh hoạt chung của giađình,nơi cúng thần, chỗ ngủ con trai chưa vợ, nơi đặt nhiều đố vật quý Gah và Ôk đượcngăn bởi vì cột kmek kpang có khắc hình, trong đó cột phía Đông là cột chủ, bên cạnh
kê một phản độc mộc để người đứng đầu gia đình ngồi khi có hội họp; cột phía Tây làtrống (kmeh hgor), nơi đặt trống trên ghế kpan, ghế của nhạc công ngồi đánh chiêng,đánh trống.Ghế Kpan làm từ nguyên 1 thân cây cổ thụ lớn cao 0,45m- 0,5m dài 10- 20m,rộng 0,6m- 0,8m; một đầu cong lên như hình mũi thuyền Gầm ghế thường để chiêng,cồng sát vách sau hàng cột phía Đông là nơi để một hàng ché Bên cạnh bếp khách cómột bếp dùng nấu ăn khi có lễ nghi (kpur tuk chim) Xưa kia, ở gian gah nhiều nhà còn
có bếp cho trai gái trò chuyện (kpur êdam êra) Diện tích ôk theo chiều dọc phía Đông lànhững buồng ngủ cho từng cặp vợ chồng, có phên ngăn,theo thứ tự: buồng thứ nhất từcửa sau vào là của vợ chồng người đứng đầu gia đình, tiếp đến là buồng để đồ dùng,cũng là buồng dành cho con gái út, người thừa kế gia đình khi lawys chồng thì sử dụng,rồi mới là buồng của các cô gái cả, thứ Phía trước buồng chủ nhà có bếp nấu ăn chung,nơi để nước Những cặp vợ chồng ăn riêng cũng có bếp ở phía trước buồng mình Khi
Trang 15ngủ,người Ê đê chỉ quay đầu về phía Đông Nhà của người Ê đê không có bàn thờ, họkhông thờ tổ tiên mà họ chỉ thờ người mới chết nghĩa là người thân sau khi chết thì họvẫn ra mộ và để đồ ăn, thức uống, đồ dùng sinh hoạt của người mới chết, sau mộtkhoảng thời gian tùy vào điều kiện gia đình thường từ 1- 3 năm thì họ thực hiện lễ bỏ mảtức là bỏ mặc ngôi mộ, và không còn quan tâm chăm sóc hay nhớ tới nữa Mà người Ê
đê có cột thiêng ở cuối nhà gần bếp chính gia đình để thờ thần linh
Trang 16( Không gian trong nhà dài của người Ê đê)
Phía sau nhà dài là kho lúa (hgiê) thường dựng cao hơn nhà ở,mặt sàn hình vuông,
có thể chứa 2- 3 tấn thóc trở lên Các nhà mồ (pưk msat), nhà cúng cơm (sang êsei) dựng
ở nghĩa địa, cũng được làm công phu với nhiều hình khắc đẹp.Nhà cúng cơm đặt trên cột
gỗ có chạm trổ Xung quanh nhà mồ có các cột (gáng klao, gâng môông, gâng mrai…),trên có hình người đội nón duôn bai, hình bầu đựng nước, cối giã gạo, voi, rùa,kỳ đà.Trong một buôn Ê đê có hai khu vưc chính: làng chính cống( khu vực người sống)
và nghĩa địa(khu vực người chết nằm ở phía Tây của khu vực làng chính cống) Nhà mồ
và tượng nhà mồ là một phần vô cùng đặc sắc trong văn hóa cổ truyền của đồng bào dântộc Tây Nguyên Nó vừa là văn hóa vật thể -phi vật thể ,vừa có giá trị nghệ thuật,điêukhắc ,kiến trúc,vừa có ý nghĩa về dân tộc học,tôn giáo học và văn hóa dân gian.Nhà mồ
Ê đê có 2 lớp mái , lợp cỏ tranh, dựng bằng gỗ ván bung kín 4 bên cao khoảng 80cm máicao 40cm,thân mộ dài 2m, có hàng rào bao quanh 4 phía tạo thành khuân viên hìnhthành chữ nhật Nấm mồ được đắp xong người ta úp nhà mồ lên trên , 4 góc nhà mồtrồng 4 cột cút (gong kut) là những thân cây gỗ đường kính khoảng 15-20cm, trên thân
Trang 17có chạm trổ các hình hoa văn hình học và các khối hình :nồi đồng chồng lên nhau, hìnhmặt trăng … tất cả đều tô màu (đen:muội than, trắng: vôi, đỏ: màu vật hiến sinh) Ngọncột treo các dải vải, có khi là các tượng tròn, chim gru, con khỉ, tượng người Nếu khônglàm nhà mô, họ dựng trên mộ 4 cây cột có tạc hình hoa chuối , đều chụm chân và choãiđầu để đỡ và ôm gọn cột “nhà cơm” nhỏ (ngôi nhà minh khí) có dáng một nóc nhà 2 máitrên 1 con thuyền Cũng có nơi “nhà cơm” được đặt ngay trên đỉnh klao, dựng đựng sau
mộ, trong có cơm, bầu nước, gạo rượu cho người chết Nhà mồ Ê đê dùng chủ yếu 3màu đen, đỏ, trắng Tượng mồ Ê đê thì thưa và không được đặc sắc như nhà mồ Bana vàGia rai Hai đầu nóc vươn lên tượng chim cu, hoặc đại bàng Hai cửa ra vào có dựng đốidiện 1 đôi “cột phơi sợi “ (gâng mrai) với xà ngang bắc nối với nhau trên cao, mặt xàhướng ra ngoài thường tạc nổi hình kỳ đà và rùa Theo hướng thẳng đòn nóc nhà mồ,phía trước mồ là cột “hoa chuối”(gâng moông) với hình chiếc hoa chuối chưa nở nhôtrên đầu cột với những trang trí gắn vào thân cột , và ở đoạn đầu thân cột có khi đượctạo hình cái nồ đồng Còn phía sau mộ dựng cột klao , có thể cao 4-5m, đoạn chân cộtthường có hình cối giã gạo , trên đầu cột tạo hình quả bầu,hoặc hình con voi , hay conkhỉ , hình người phụ nữ trong tư thế nào đó Bốn góc hàng rào dựng 4 cột thấp, đầu cộtđều tạc hình chiếc nồi đồng, phía dưới hình cối giã gạo Tượng nào cũng liên quan đếnchế độ mẫu hệ Nhà mồ, tượng mồ như một bảo tàng về văn hóa mỗi tộc người về: kiếntrúc, điêu khắc, trang trí cả vũ quan trong đó Phân biệt với các khoảng đất bên ngoàibằng hào rãnh, lại cắm những mũi chông nhọn (tre, gỗ đẽo) chĩa ra các hướng Cặp sừngtrâu treo trên nóc nhà mồ,cặp ngà voi chĩa từ hai bên nóc ra, những đoạn tre đẽo vátnhọn ở các đầu nhà mồ dài 50- 100cm để chống “xâm nhập từ bên ngoài” tức là chốngtrộm cắp mộ và chống ma rừng hay các con vật hoang đến phá
Trang 18( Nhà mồ)
Cách tổ chức làm nên những công trình kiến trúc của người Ê đê mang tính cộngđồng rõ rệt Trên cơ sở đó, đồng bào làm được những sản phẩm lớn, mất nhiều công sức.Nhà dài những cỗ ghế độc mộc, các hình khắc là những biểu hiện độc đáo của tính sángtạo quần chúng Ê Đê trong văn hóa vật chất Những hình trang trí khắc trên gỗ, ở nhàdài, trên một vài công cụ, nhất là ở khu nghĩa địa mang những nét đặc thù rõ rệt Mô típquen thuộc của nghệ thuật khắc gỗ trong nhà dài là đôi vú sữa, vành trăng non, con rùa,ngà voi, con kỳ đà Đôi bầu sữa và một số hình khác thường khắc nổi,còn vành trăngnon thường khắc chìm ở nghĩa địa, những hình khắc gỗ chủ yếu là trang trí trên đầu nócnhà mồ và trên thân các cây cột với những tượng gỗ: chim diều hâu, trái bầu, tượngngười đội nón, voi khỉ, cối giã gạo Trên thân cột còn có hình bắp chuối, những cáikning hình thuyền Đối với ngôi mộ không có nhà mồ thì trên đinh cây cột ở giữa mộđược gắn mộ hình một nóc nhà trên thuyền gọi là cơm (sang ê soi) Những hình khắc gỗnói trên được trang trí khá công phu và sinh động Các đường nét tuy còn thô sơ nhưng
ổn định, mô tả hiện thực một cách tự nhiên, để lại cho người xem những ấn tượng sâusắc
Trang 19B.Trang phục.
1,Trang phục phụ nữ Ê Đê
Phụ nữ Ê đê chải tóc rồi búi thành độn sau gáy, dùng trâm bằng đồng hay bằng ngàvoi để cài cho chắc và cho đẹp Khăn màu chàm đậm quấn ra bên ngoài tóc theo haicách: quấn hình chữ “nhân” trước trán rồi buộc thành mối ra sau gáy và bịt khăn kín cảtrán và đầu, mối vòng ra sau gáy phủ lên độn tóc Phụ nữ Ê đê còn trang sức bằng nhữngloại vòng tay, vòng chân, nhẫn, dây chuyền bằng đồng hay hạt cườm Cách đây chưa lâuphụ nữ còn đội thứ nón đan,có quai giữ ở cằm gọi là duôn bai
Phụ nữ Ê đê mặc loại áo cánh ngắn,may kiểu chui đầu Loại sang và đẹp gọi là aođếch theo tên của dải hoa văn nơi gấu áo Không giống như áo chui đầu của nam giới, áochui đầu của phụ nữ khoét cổ cao hơn, mở rộng cổ để chui đầu ở phía vai, có đơm thêmvài hàng khuyu để cài Tay áo thường ngắn và hẹp, gấu áo chỉ chấm thắt lưng nên khimặc làm nổi những đường nét khỏe khoắn củ cơ thể phụ nữ trang trí trên áo thường ởđường bờ vai, nách bả vai, cửa tay Ao băl là loại áo mặc thường ngày khi đi lao động,tay ngắn không có trang trí hoa văn Những người già lão còn ưa mặc một loại áo lóttrong gọi là ao yên, chỉ có phần vải che ngực tuy không phổ biến nhưng phụ nữ cũng cóthói quen khoác thêm tấm mền choàng khi tiết trời lạnh
Trang 21Thường ngày đến buôn làng Ê đê, ta thấy phụ nữ quấn váy ở trần Váy của họ cũngnhư váy của hầu hết các dân tộc ở Tây Nguyên, là loại váy mảnh, may bằng vải bôngmàu chàm hay đen, tùy theo loại váy mà trang trí nhiều hay ít đường nét hoa văn Khimặc, người ta đặt mép váy ở sườn bên trái, quấn một vòng quanh người từ eo bụng trởxuống, dắt mép váy ngoài về phía sườn bên phải Để cho chặt có thể dùng thêm thắt lưngbằng vải hay bằng kim loại Đó cũng là vật trang trí cho bộ nữ phục.
Căn cứ vào chất lượng vải may và nhất là hoa văn trang trí trên váy mà người taphân chúng ra làm nhiều loại với tên gọi khác nhau:
+Váy đếch và đrai may bằng vải tốt, có nhiều dải hoa văn trang trí trên thân váy.
Loại váy này mặc trong những dịp hội hè long trọng, trong cưới xin, nhất là của nhữnggia đình khá giả
+Váy kdruech pieck cũng là loại váy sang nhưng không đẹp bằng hai loại váy kể
trên Còn váy bơng thì may bằng vải thô, không trang trí gì, thường mặc khi đi làm.Những đàn bà nghèo khó vẫn mặc loại váy này Hiện nay, ở vùng trục lộ hay gần thị
trấn, thị xã, các cô gái ưa mặc loại váy ống uyêng mút, đã khâu kín hai mép bên của váy
lại, khi mặc gấp phần thừa thành đường nếp phía trước Loại váy này thường may bằngvải công nghiệp, chất lượng tốt và đẹp hơn, cũng có khi trang trí thêm những đường thêuthùa cho đẹp
2.Trang phục nam giới
Xưa đàn ông Ê Đê để tóc dài rồi búi tó sau gáy, nay đã cắt tóc ngắn, Những người
từ trung niên trở lên ưa chit khăn vải chàm hay khăn vàng nhạt, khăn thầy cúng màu đỏ.Tay phải thường đeo vòng đồng, vừa làm đẹp vưà mang ý nghĩa nghi lễ, bằng chứng củacuộc kết nghĩa hay giao ước với thần linh Nam giới ra khỏi nhà thường đeo gùi, ngậmtẩu, đó cũng là một cách trang sức thêm cho bộ trang phục cổ truyền
Đàn ông Ê đê đóng khố và mặc áo cánh, choàng tấm mền, mang một số đồ trangsức Áo của nam giới là loại áo cánh, may mặc kiểu chui đầu, tay dài hay tay ngắn,gấu
áo phủ quá mông, thân sau áo dài hơn thân trước áo, xẻ tà, cổ áo tròn, mở rộng hơn vềphía ngực áo trước, giữa ngực mở ra một đoạn, có hàng khuyết và khuy cài bằng chỉđỏ.Trên áo cánh này, những đường chỉ máu trang trí thường thấy ở rìa hai nách áo, gấu
áo, vai và cổ tay áo Aó cánh đẹp nhất là áo kteh hay còn gọi là đếch kvưh grư, trướcngực áo có mảng hoa văn được gọi là “đại bàng dang cánh” Gấu áo phía sau viền đườngchỉ màu, gài thêm những hạt cườm trắng và tua chỉ màu dài tới 12cm Mảng trang trítrước ngực được mệnh danh là cánh đại bàng Dọc đường xẻ cổ ngực, có dính thêu nhiềukhuy đồng, là những đoạn sợi chỉ đỏ đan sít vào nhau thành mảng hình thang lộn ngược
Trang 22Loại áo cánh mặc thường ngày, tuy cách may cắt giống hệt như áo Kteh kể trên,nhưng không có trang trí cánh đại bàng, viền chỉ màu, hạt cườm và tua chỉ Loại áo đó
Trang 23gọi là ao bal Loại áo không có tay mặc thường ngày gọi là ao kok, áo làm bằng vỏ câygọi là ao kroh, mà ngày nay hạn hữu còn thấy ở vùng xa xôi.
Về mùa đông lạnh đàn ông Ê đê thường khoác thêm tấm mền Abăn dệt bằng sợibông, nhuộm chàm, trên đó trang trí những đường hoa văn Theo lời kể của các cụ già,xưa kia chiến binh Ê đê đi ra trận gấp tấm choàng rồi quấn chéo hình chữ thập trướcngực, một tay cầm lao hay cầm chà gạc, tay kia cầm khiên
Khố (Kpin) được dệt sẵn trên khung dệt Chất liệu vải, trang trí hoa văn và độ dàingắn có khác nhau Màu nền của khố là màu chàm sẫm, trang trí hoa văn dọc rìa khố,haiđầu vạt khố Loại khố sang và đẹp nhất của đàn ông Ê Đê là khố kteh và đrai, dệt bằngsợi vải đẹp,dài, hai đầu khố có trang trí hoa văn và đính thêm tua khố dài tới 25cm Đây
là loại khố dùng trong ngày hội của những người có vị trí cao trong buôn làng Khi mặc,hai đầu khố rủ dài phía trước và sau đùi Loại khố pirêk trang trí hoa văn trên hai vạtkhố, nhưng không có tua màu.Hai loại khố dùng thường ngày trong nhà hay đi nương làkhố bơng và mlang, dùng loại này ngắn, ít hoa văn trang trí, không có tua màu Ngàynay chỉ còn những người già sinh sống ở vùng xa đường giao thông, đô thị thì mới đóngkhố, còn lại đã chuyển sang mặc quần như người Kinh
C.Văn hóa ẩm thực của người Ê Đê
1.Ăn
Với những điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế xã hội nhất định,trong lịch sửngười Ê đê đã tạo ra cho mình một cuộc sống vật chất tương đối ổn định và có nhiều yếu
tố đặc thù.ở họ cơm tẻ là nguồn lương thực chủ yếu; cơm nếp dùng trong các dịp lễ tết
và những khi có khách Gần đây ngô, khoai, sắn là nguồn lương thực quan trọng Mỗingày đòng bào ăn hai bữa, và 3 bữa vào những ngày làm lụng vất vả Trước đây, đồngbào ăn bốc nhưng hiện nay phổ biến đũa bát, thìa Ngoài cơm nấu, xôi đồ đồng bào cònlàm nhiều loại bánh trong các dịp lễ tết Thức ăn thì có rau quả, cá và thịt gia súc hay thịtthú rừng Con vật sau khi cắt tiết, thường thui rồi mới vặt lông kể cả gà vịt(ghang), thịtluộc(tuk), thịt nấu với rau quả (tuk djam), thịt kho hay thịt ninh nhừ, thịt hầm trong ốngtre có ướp gia vị (chim brông) Ngoài tiết canh lợn và thịt chín băm nhỏ hay thịt tươibăm nhỏ nhúng nước sôi trộn với huyết tươi (priêng láp), còn mtal là huyết tươi trâu, bò,
dê trộn với thịt sống băm nhỏ ăn liền Cá thường nướng (ăm và ghang), luộc (tuk djam),gói lá nướng( kơum) Đồng bào cũng thường làm mắm(lih) tôm, cua, cá với gia vị trongcác vò sành để ăn dần
Trang 24Rau quả cùng làm thực phẩm thì có các loại như: bầu bí, mướp, cà, đu đủ, raumuống, bắp chuối, lá sắn…Gần đây, nhiều nơi đồng bào trồng thêm một số loại như :cải
củ, cải bắp,cải thìa…Nhưng rau rừng vẫn là nguồn cung cấp những thực phẩm có vịngọt, chua mát, ngăm ngăm đắng (món cà đắng) có tác dụng làm trung hào một số loạichất tanh Lạc, vừng và một số loại đỗ xanh, đỗ đen cũng thường thấy trong các bữa ăn
Gỏi cà đắng là một món ăn bình dị của đồng bào Ê đê, ngày nay, nó trở thành đặc
sản trong các nhà hàng Tây Nguyên Ảnh: Khánh Hòa.
2 Hút
Người Ê Đê nam cũng như nữ vốn có tập quán ăn trầu vỏ, trầu thuốc và hút thuốc
lá Ngày nay, tập quán ăn trầu chỉ còn ở những người ngoài 40 tuổi, trái lại,hút thuốc lácuốn hay thuốc lá sợi bằng ống điếu hiện vẫn còn phổ biến Ngoài những lúc phải làmcác công việc nặng nhọc, người Ê Đê thường ít khi rời khỏi cái ống điếu của mình.Khách đến nhà nhiều khi được bà chủ nhà tặng 1 dúm thuốc sợi lấy trong vỏ sành để tỏlòng hiếu khách của gia đình
3 Uống
Trươc đây ở gia đình ê đê mỗi người đều có riêng một trái bầu khô để đựng nướcuống mà không ai dùng chung va dùng lẫn của nhau Đồng bào có nhiều kiêng cữ để bảo
Trang 25vệ nguồn nước tự nhiên được trong sạch Hiện nay, ở nhiều nơi đồng bào đã có thóiquen uống nước đung sôi để nguội Việc dùng nước trà và cà phê cũng không còn là hiệntượng mới lạ trong sinh hoạt đồng bào.
Nhà nào cũng có nhiều ché để ủ rượu cần Rượu cần được dùng trong các dịp cúngthần hay trong các dịp nghi lễ- lễ hội:rước hồn lúa, cúng bến nước,…Có những gia đình,rượu cần được dùng uống thường xuyên trong lúc khát Để làm ra những ché rượu ngondùng cho những lễ cúng thần linh hoặc đãi khách quý, bằng gạo pha với củ riềng,nếptrắng khi đã lên men người ta trộn thêm trấu vào để sau này khi uống bằng cần dễ hút,sau đó cho vào ché, bịt kín miệng ché bằng lá chuối khô rồi đem chôn trước hiên nhà.Rượu càng chôn lâu càng ngon Người Ê đê có nhiều loại ché quý khác nhau như chétuk, ché tang thường để đựng rượu ngon Các cuộc nghi lễ - lễ hội hay sinh hoạt cộngđồng, rượu cần được xem là lễ vật (thực uống) quan trọng để dâng hiến thần linh và mờikhách quý, bà con cộng đồng thưởng thức Có thể nói văn hóa ẩm thực của đồng bào Ê
đê độc đáo nhất là rượu cần, thịt nướng, cơm lam và cà đắng