Sự ra đời và phát triển ngành công nghiệp Thời trang Bức tranh hang động kỳ đồ đá cũ được tìm thấy ở Lascaux- Pháp cho thấy 50.000 năm TCN, những con người tiền sử đầu tiên Cromagnon đã
Trang 1Chương 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÔNG NGHIỆP THỜI TRANG
1.1 Sơ lược sự hình thành và phát triển Công nghiệp Thời trang
1.1.1 Sự ra đời và phát triển ngành công nghiệp Thời trang
Bức tranh hang động kỳ đồ đá cũ được tìm thấy ở Lascaux- Pháp cho thấy 50.000 năm TCN, những con người tiền sử đầu tiên Cromagnon đã biết cách tìm lá cây, vỏ cây
để tồn tại trong khí hậu lạnh
Xuất phát từ nhu cầu bảo vệ cơ thể, chống lại sự khắc nghiệt của thiên nhiên, người xưa đã biết tìm kiếm những tấm phủ, những mảnh da, mảnh vỏ cây để che cơ thể Những kiểu trang phục ban đầu là các mảnh da thú, các tấm lá,… che vai, che ngực,… sau này phát triển thành các kiểu áo; các mảnh che mông, đùi,…sau này phát triển thành các kiểu váy, quần,…
26.000- 20.000 năm TCN một bộ xương nam giới ở Bắc Nga mặc quần áo đính cườm trang trí cao, điều này cho thấy con người ở thời đại đó đã rất quan tâm đến quần
áo thời trang và các kỹ năng để tạo ra các công cụ xương dùng để may đồ trang trí và da
3.500- 27 năm TCN, Lưỡng Hà nơi sinh ra nền văn minh phương Tây Những khám phá từ các nền văn minh cổ đại cho rằng Akkadian, Assyria, Babylon, người Sumer (3.500- 612 TCN), và Ba Tư (550- 330 TCN) các dân tộc đã dệt vải lanh, len Trong cùng thời gian, người Ai Cập cổ đại (3200- 1070 TCN) đã sử dụng vải lanh và sau
đó là bông từ Ấn Độ để tạo ra sản phẩm may mặc
Các dân đảo Crete và Mycenaean (2800- 1100 TCN) được biết đến nhiều nhất về các loại vải nhuộm và kỹ năng trong việc tạo ra các sản phẩm may mặc mà sau này trở thành tiền thân của cắt và may truyền thống như chúng ta biết ngày nay
Người Etruscan (750- 200 TCN) đã góp cho ngành Công nghiệp Thời trang với nghề thủ công chuyên môn tiêu chuẩn chất lượng cao trong da giầy và quần áo, Toga của người La Mã (509- 27 TCN) ban đầu được tạo ra bởi người Etruscan
Người Trung Quốc đã trở thành bậc thầy có niên đại từ thời đồ đồng với tay nghề cao về dệt, nhuộm, thêu trên gai, bông và lụa
Trang 2Bức họa trên vách hang của dãy núi Pyrênê
Trước đây, quyền lực, sự giàu có và vị thế của 1 giai cấp nào đó được phản ánh qua trang phục Các yếu tố về phong tục tập quán và đạo đức quan trọng hơn quần áo Mãi cho đến thế kỷ 19, giai cấp quí tộc và tư sản mới xác định 1 phong cách thời trang
Ở thời kỳ cổ đại và trung cổ, các kiểu quần áo hầu như không thay đổi trong cả 1 thời kỳ dài Thời trang bắt đầu biến đổi nhanh chóng ở thời kỳ Phục hưng (thế kỷ 14, 15, 16) Khi nền văn minh châu Âu phát hiện ra các nền văn hóa, phong tục và các trang phục mới Khi các chất liệu và ý tưởng trở nên phong phú, con người khao khát nhiều điều mới mẻ hơn Tốc độ thay đổi của thời trang bắt đầu tăng nhanh
- Xuất hiện ngành dệt: sự xuất hiện tầng lớp trung lưu có điều kiện mặc sang trọng hơn
- Xuất hiện trang phục đặc trưng của nam giới
- Phát minh máy khâu
- Sản xuất hàng may sẵn
- Xuất hiện tạp chí thời trang
1.1.2 Quá trình hình thành và phát triển ngành Thời trang
Trong suốt thời kỳ Phục Hưng (thế kỷ 14- 15) đặc biệt là trong 60 năm đầu tiên của thế kỷ 14, Burgundy và Italia được coi là trung tâm lớn của thời trang.Tầng lớp quý tộc ở Anh, Pháp, Đức đã tạo ra phong cách thời trang Xu hướng thời trang di chuyển từ nước này sang nước khác chủ yếu bằng du lịch
Năm 1600 các nước Châu Âu như Anh, Pháp và Italia thay nhau thống trị làng thời trang; Tuy nhiên, sau khi Christopher Columbus hạ cánh ở Mỹ vào năm 1492, thời trang Tây Ban Nha chiếm ưu thế Khi những người Thanh giáo từ Anh đến Mỹ vào năm
1620, họ đã chọn phong cách trang trí ít công phu hơn Khi số lượng các thuộc địa sản xuất bông trên thế giới tăng lên, sản xuất hàng dệt vải có giá cả phải chăng hơn Thương mại giữa các nước phát triển mạnh mẽ tạo ra nhu cầu về quần áo thời trang Các bản vẽ
Trang 3của thời trang mới nhất và việc sử dụng những con búp bê bằng sáp với các kích cỡ mặc quần áo được lưu thông và đã thúc đẩy khái niệm thời trang trên khắp Châu Âu
Tạp chí thời trang đầu tiên của Pháp có tên là Mercure Galant xuất bản năm 1672
đã giúp thúc đẩy thời trang Pháp khắp Châu Âu và thế giới mới Trong khi thời trang của
Mỹ vào thời điểm đó đã chịu ảnh hưởng nặng nề của Châu Âu
Năm 1700 của thế kỷ 18 được coi là thời gian của sự giác ngộ Nghệ thuật là công
cụ đặc biệt trong việc quảng bá thời trang và dệt may của Pháp Ở Anh các ngành công nghiệp tiểu thủ ngày càng nhiều, các nhà tư thương mua hàng dệt may và quần áo Tiến
bộ công nghệ của Anh tăng tốc sản xuất và thay đổi bộ mặt của sản xuất thời trang Mối quan hệ của Anh với Hoa Kỳ và các nguồn tài nguyên phong phú đã đặt nó ở vị trí quyền lực thế giới Đến cuối thế kỷ này nước Anh đã trở thành nhà lãnh đạo cho thời trang nam trên khắp Châu Âu Pháp tiếp tục thống trị với mặt hàng dành cho phụ nữ
Năm 1764, thợ dệt James Hargreaves đã sáng chế ra máy kéo sợi và lấy tên con gái mình là Jenny đặt cho máy Khác với xa quay tay kéo sợi, người thợ chỉ dùng được 1 cọc suốt, máy Jenny đã sử dụng 16-18 cọc suốt và chỉ cần 1 công nhân điều khiển
Đến năm 1769, Thomas Arkwright chế ra máy kéo sợi chạy bằng sức nước 2 năm sau, ông cho xây dựng xưởng dệt đầu tiên của nước Anh trên bờ sông ở Manchester Máy Jenny kéo được sợi nhỏ nhưng không bền, trong khi máy của Arkwright sản xuất được sợi chắc hơn, song lại thô
Năm 1770 tạp chí The Lady xuất bản ấn phẩm thời trang đầu tiên của mình tại Anh
Năm 1774, Marie Antoinette đã được trao vương miện Nữ hoàng của Pháp và cùng với chồng là vua Louis 16 tích cực thúc đẩy Dệt may và thời trang của Pháp Rose Bertin, nhà thiết kế thời trang nổi tiếng đầu tiên của Pháp được thiết kế quần áo cho các Hoàng hậu và nhiều phụ nữ cao quý khác
Năm 1779, Cromton đã cải tiến máy với kỹ thuật cao hơn, kéo được sợi nhỏ l ại chắc, vải dệt ra vừa đẹp vừa bền Nhờ những phát minh trên, năng suất lao động trong ngành kéo sợi tăng lên rất nhiều
Năm 1785 phát minh quan trọng giúp ngành dệt có bước nhảy vọt là máy dệt chạy bằng sức nước của linh mục Edmund Cartwright Máy dệt này có năng suất tăng gần 40 lần so với dệt tay
Năm 1793 Eli Whitney đã phát minh ra máy tỉa bông thay thế cho công đoạn làm bằng tay tăng gấp 3 lần năng suất quá trình sản xuất bông
Năm 1823 Charles Macintosh được cấp bằng sáng chế, chế tạo ra các loại vải chống thấm nước (vải áo đi mưa)
Năm 1830 máy may cơ khí đầu tiên hoạt động được là do Barthelemy Thimonnier, một thợ may người Pháp sáng chế
1789-1890: Cơ khí hoá các ngành kéo sợi, dệt và may
Trang 4Trải qua hàng ngàn năm, những ngành này luôn cần nhiều lao động Chỉ từ khoảng năm 1700, bắt đầu xuất hiện xu hướng cơ khí hóa
- 1773: phát minh máy dệt dùng con thoi
- 1764: phát minh máy kéo sợi
- 1769: phát minh máy kéo sợi chạy bằng sức nước
- 1846: phát minh máy khâu
Mở đầu là các thuộc địa của Mỹ chưa có công nghệ dệt và do đó công nghiệp Thời trang cũng không phát triển Hầu hết các nguyên vật liệu được nhập từ nước ngoài: lụa từ Italia, Pháp, Ấn Độ; len, vải in hoa và Cashmeres được nhập từ Anh
Công nghiệp dệt hiện đại cho phép nhiều vải vóc sản xuất trong khoảng thời gian ngắn hơn, bắt đầu ở Anh với sự phát triển dệt thoi vào năm 1733 của John Kay, phát minh máy quay tơ năm 1764 của Janu Hargreaves, khung nước của Aichard Arkwright năm 1769 và máy dệt chạy điện của Edmund Cart Wright năm 1785
Để bảo vệ ngành công nghiệp của mình Anh đã thông qua những điều luật khắc nghiệt để ngăn không cho máy dệt, máy in hoa, công cụ, các nhà phát minh và thậm chí các thợ máy ra khỏi quốc gia Tuy nhiên, Samuel Slater đã nhớ mọi chi tiết khung nước của Arkwright cũng như các máy móc khác và đã bí mật dời nước Anh
Trong vòng hai năm đến New England ông đã cho xây một nhà máy mới và đưa vào hoạt động Các nhà máy dệt bắt đầu sản xuất quần áo ở Mỹ và New England đã trở thành trung tâm ngành dệt đầu tiên của Mỹ Năm 1814, Francis Cabot Lowell ở Boston
đã cho xây một nhà máy Nhà máy này là nhà máy đầu tiên sản xuất sợi cotton, dệt vải
1.1.3 Sự hình thành và phát triển ngành may công nghiệp
1890- 1950: Phát triển công nghiệp hàng may sẵn
- Hàng may sẵn cho nam giới được phát triển trước từ khoảng giữa thế kỷ XIX, hàng may sẵn của nữ phát triển sau vào khoảng cuối thế kỷ XIX
- Khoảng đầu thế kỷ XX váy và áo sơ mi chiết eo dành cho những phụ nữ trẻ làm việc ở thành phố được bày bán đã tạo nền móng cho công nghiệp hàng may sẵn của nữ giới
- Khoảng đầu thế kỷ XX, đa số hàng may sẵn được sản xuất từ nguyên liệu len và cotton, sau đó sử dụng một số loại sợi tổng hợp
+ 1910 nhà máy sản xuất rayon (lụa nhân tạo, làm từ gỗ) đầu tiên được thành lập - Khởi đầu cho việc sử dụng nguyên liệu nhân tạo cho ngành may
Trang 5+ Kéo theo đó là sự ra đời của các nhà máy nhuộm và hoàn tất vải vào khoảng đầu thế kỷ XX
+ Một số loại phụ liệu khác cũng được phát minh: khóa kéo
- Tạp chí thời trang: Vogue (1892), Daily trade record (1892), giới thiệu về thời trang nam, Women’s wear daily (1910)
- Kết quả của chiến tranh và việc may hàng loạt quân phục
- Những năm 1920, thịnh hành kiểu trang phục không bó sát, rất thuận lợi cho việc sản xuất hàng may sẵn Tuy nhiên những nhà máy dệt thì không hứng thú với kiểu dáng này Đồng thời với sự mở rộng của công nghiệp hàng may sẵn, thông tin thời trang những năm 1920 cũng rất phát triển: Xuất hiện thêm một số tạp chí mới
- Những năm 1930, do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế, ngành công nghiệp may chững lại và chỉ bắt đầu phát triển lại từ chiến tranh thế giới thứ II
Hàng may sẵn (ready - to - wear):
Như tên gọi của nó, hàng may sẵn là hàng hoá đã được hoàn tất và sẵn sàng để mặc (trừ một số khâu chi tiết hoàn thành sau như may gấu tại các hiệu may) tại thời điểm
Sự khác nhau cơ bản giữa một dòng và một bộ sưu tập là về chi phí của sản phẩm Thuật ngữ “bộ sưu tập” thường chỉ những sản phẩm đắt tiền hơn mà chỉ những nhà thiết
kế danh tiếng mới tạo ra được, còn các công ty may khác chỉ cung cấp ra thị trờng những dòng sản phẩm
Mỗi công ty may hàng năm thường cho ra thị trường 4 đến 6 bộ sưu tập hoặc dòng sản phẩm theo các mùa thời trang
Những mùa thời trang này được xác định theo thời gian thích hợp nhất mà người tiêu dùng sẽ mua và sử dụng sản phẩm, chứ không phải thời gian mà công ty sản xuất hoặc phân phối sản phẩm
1950- 1980: Đa dạng hoá và chuyên môn hoá
- Những năm 1950, nhu cầu hàng may mặc của khách hàng tăng lên nhanh chóng
Trang 6- Năm 1950, ngành dệt cũng phát triển rất mạnh do nhu cầu hàng quân phục tăng, kéo theo sự phát minh ra các loại sợi tổng hợp mới:
- Sợi tổng hợp giúp cho người tiêu dùng dễ dàng hơn khi sử dụng sản phẩm không rách, không nhăn, nhẹ và giá thành hợp lý
+1940: acrylic và polyester ra đời, có mặt tại nước Mỹ vào những năm 1950 +1954: Triacetate chịu nhiệt tốt hơn thay thế cho acetate
+1952: Tất quần nylon co giãn được giới thiệu
+ Thập kỷ 60, sợi nhân tạo đã vợt sợi thiên nhiên về số lượng sử dụng
+ 1950 - 1960 là sự ra đời của hàng loạt các công ty lớn
Do người dân Mỹ chuyển sang sinh sống tại các vùng ngoại ô và muốn được mua sắm gần nhà, một loạt các nhà bán lẻ xuất hiện với các chiến lược phí hạ và đã rất thành công: Kmart, Wal-Mart, Target…
Sự tăng chi phí trong hoạt động sản xuất hàng may mặc đã ảnh hưởng tới người tiêu dùng
Sự phát triển khoa học công nghệ tạo nên những phát minh mới về nhuộm và in hoa trong ngành dệt, kèm theo sự xuất hiện của tin học trong ngành dệt may
Tuy nhiên nước Mỹ cũng phải đối mặt với sự cạnh tranh từ bên ngoài và lượng nhập khẩu hàng dệt đã tăng 581% từ năm 1961 đến năm 1976
1.2 Một số nhà thiết kế Thời trang tiêu biểu
1.2.1 Nhà thiết kế Thời trang trên thế giới
Charles Frederick Worth (13/10/1825)
Charles Frederick Worth là nhà thiết kế thời trang
đầu tiên, là người đặt nền móng và là vị cha đẻ của thời
trang hiện đại
Ông sinh ra tại Anh, xuất thân trong một gia đình
nghèo khó
Trong 7 năm tròn, ông làm việc ở cửa hàng Swan và
Edgar tại quê hương, tại đây, ông đã học hỏi rất nhiều cách
đánh giá các loại vải, đặc tính các loại thích hợp cho kiểu
dáng nào, thị hiếu của khách hàng, mối quan tâm của tầng lớp
thượng lưu lúc bấy giờ Cuối cùng, ông chọn Paris để làm
Năm 20 tuổi, Ông sang Paris với một số tiền ít ỏi và vốn tiếng pháp khiêm tốn, ông làm việc tại một cửa hàng tạp phẩm
Năm 1847, ông chuyển sang làm tại cửa hàng vải lụa Gagelin và Opigez có tiếng nhất Paris, sau đó ông đã trở thành thợ may và bắt đầu con đường tìm tòi cải tiến cách may đo lúc bấy giờ và ông đã được nhiều giải thưởng giá trị tại London và Paris
Trang 7Năm 1858, Charles đã mở nhà may riêng tại Paris
mang tên mình, và thực sự thu hút sự chú ý của giới
thượng lưu lúc bấy giờ, và cửa hàng của ông trở thành nhà
may cho hoàng cung Một thời gian sau, cửa hàng của ông
đã trở thành "nhà độc tài "của giới thời trang lúc bấy giờ
Charles là người đầu tiên dám đặt quan điểm may
mặc của ông lên khách hàng, và xã hội bắt đầu có quan
điểm về Brand name (hàng xịn)
Charles chính là cha đẻ của thời trang hiện đại, chỉ
sau ông, couture mới đúng ý nghĩa như hiện nay của nó,
đó ko còn là cửa hàng may mặc nữa, mà là nơi sản xuất
quần áo, tư vấn cho khách hàng, chọn lựa và thỏamãn nhu
cầu thời trang của họ
Những thiết kế mang phong cách hiện đại
Cùng thời đó, sau ông còn có Paquin, Jacques Doucet cũng là một trong những người dẫn đầu và khai sinh ra thời trang hiện đại Đặt nền tảng cho nghành công nghiệp thời trang hiện nay
Paul Pionet
Người đã sáng tạo ra chiếc váy hình ống góp phần giải phóng người phụ nữ khỏi
áo nịt, là nhà thiết kế thời trang cao cấp đầu tiên ở Paris của thế kỷ bấy giờ và là người lăng xê mốt
Gabrielle Chalnel (1883 - 1971)
Còn được biết đến với cái tên Coco Chanel, là một nhà tạo mẫu người Pháp Bà là người nổi tiếng nhất trong giới thời trang Pháp sau chiến tranh thế giới thứ nhất Chanel
đã quảng bá phong cách “Garcon” (Garsohn’) hay còn gọi là phong cách trẻ em với áo
dài tay và các loại quần áo len dài tay và các loại quần áo len Jecxi, Gabrielle Chalnel là
nhà thiết kế đầu tiên sáng tạo ra quần thời trang cao cấp cho phụ nữ
Ngành công nghiệp may sẵn bắt đầu hưng thịnh khi các nhà thiết kế như: Poiret, Vionnet và Chanel đã đơn giản các kiểu cách Từ đó các phong cách thời trang cao cấp được sao chép bởi các nhà sản xuất hàng loạt để đáp ứng nhu cầu của khách hàng ở bất
kỳ mức giá nào.Do đặc điểm cơ thế của tứng cá nhân không phải quá quan trọng với các kiểu dáng suôn thẳng nên việc sản xuất hàng loạt có ý nghĩa và đáp ứng nhu cầu thực tế
Trang 8Mặc dù quần áo may đo vẫn giữ vai trò quan trọng, các kiểu quần áo may sẵn hợp thời trang đã xác định một vị trí vững trắc vào những năm 1920
Bên cạnh đó tình hình chính trị luôn có ảnh hưởng mạnh mẽ tới thời trang Ví dụ trong chiến tranh thế giới thứ II, do khủng hoảng kinh tế mà phụ nữ lúc đó phải mặc quần của chồng mình Sau khi chiến tranh kết thúc, do nhu cầu về một phong cách hiện đại, tiện dụng, thoải mái khiến các kiểu quần dành cho phụ nữ hiện đại trở nên thịnh hành và hợp mốt
Karl Lagerfeld
Karl Otto Lagerfeldt là nhà thiết kế thời trang nổi tiếng, nhiếp ảnh gia và nghệ sĩ người Đức Ông là nhà thiết kế chính của nhiều hãng thời trang danh tiếng như Chanel, Fendi hay hãng thời trang do ông đứng tên sản xuất
Giorgio Armani (Italy)
Giorgio Armani thành lập Armani từ năm 1975 Với tài sản hiện tại là 8,5 tỷ USD, và lợi nhuận thường niên đạt 1,6 tỷ USD, Armani được xem là nhà thiết kế thành công nhất tại
Ý Nổi tiếng bởi các mẫu thiết kế dành cho các quý ông, mạng lưới bán lẻ của Armani đã phủ rộng khắp 37 nước trên thế giới
Trang 9 Yves Saint Laurent (Pháp)
Yves Saint Laurent hay còn gọi là YSL được thành lập bởi nhà thiết kế Yves Saint Laurent và Pierre Bergé Ngay từ khi ra mắt, thương hiệu thời trang này đã có những bước đi táo bạo khi cho phụ nữ mặc áo vest và choàng dài Tuy nhiên, sự cách điệu trong từng ý tưởng của nhà thiết kế này đã giúp nhãn hiệu đến từ Pháp được giới quý tộc yêu thích
Christian Dior (Pháp)
Dior là nhà sáng lập của một trong những nhãn hiệu thời trang hàng đầu thế giới Trong Thế chiến Thứ 2, ông làm việc trong một nhãn hiệu thời trang dành cho các bà vợ của Đức Quốc xã Được hậu thuẫn bởi một người có quyền lực trong làng thời trang, Dior thành lập nên nhãn hiệu Christian Dior vào năm 1946
Bộ sưu tập đầu tiên của Dior có tên là “Corelle” ngay lập tức bị phụ nữ lên tiếng phản đối bởi những chiếc váy này che phủ hết cả đôi chân của họ Hơn thế nữa nhiều người phản đối bởi Dior đã sử dụng quá nhiều vải cho một chiếc váy trong thời buổi khó khăn bởi chiến tranh Nhưng rồi thời khó khăn cũng qua, mọi sự phản đối cũng kết thúc Các
bộ sưu tập với chiếc váy bồng bềnh tôn vinh vóc dáng phụ nữ đã tạo nên một cuộc cách mạng, biến Paris một lần nữa trở thành trung tâm của thế giới thời trang
Ralph Lauren (Mỹ)
Trang 10Lauren đã sáng lập nên thương hiệu thời trang hàng triệu đô Ralph Lauren Corporation
từ năm 1967 Ông từng học chuyên ngành kinh doanh nhưng sau đó đã bước vào quân ngũ rồi từ đó ông chập chững bước vào nghề thiết kế thời trang với ý tưởng tạo ra chiếc
cà vạt theo phong cách châu Âu Ý tưởng này của ông lúc đầu bị từ chối thương mại hoá nhưng sau đó nhờ sức hút trên thị trường đã giúp ông tìm kiếm được nhiều sự hậu thuẫn
về tài chính
Pierre Cardin (Pháp)
Cardin nổi tiếng bởi khả năng thiết kế thời trang dành cho cả 2 giới nam và nữ Người đàn ông tài hoa này đã tiên phong đưa mẫu thiết kế vượt không gian Space Age Thiết kế của Cardin luôn mang tính thử nghiệm và đôi khi không thực tế
Khởi nghiệp, Cardin học việc làm thợ may quần áo, nơi ông đã được học những kiến thức cơ bản về thời trang Sau khi thiết kế thời trang nữ trong một thời gian, Cardin làm việc cho Elsa Schiaparelli và đến năm 1947, ông trở thành giám đốc thiết kế của nhãn thời trang Christian Dior
John Galliano
Juan Carlos Antonio Galliano-Guillénlà một nhà thiết kế thời trang người Anh, ông là giám đốc sáng tạo của nhãn hiệu thời trang Christian Dior từ năm 1997 đến ngày 1 tháng
3 năm 2011
Trang 11 Marc Jacobs
Marc Jacobs là một nhà thiết kế thời trang nổi tiếng người Mỹ Ông là trưởng ban thiết
kế của nhãn hiệu Marc Jacobs, cũng như của dòng sản phẩm Marc by Marc Jacobs
Calvin Klein (Mỹ)
Trang 12Ông Calvin Richard Klein đã sáng lập nên nhà mẫu Calvin Klein từ năm 1968 Klein học tại trường Nghệ thuật và thiết kế thuộc Viện thời trang công nghệ New York Dù không tốt nghiệp nhưng ông được nhận bằng Tiến sỹ danh dự vào năm 2003 Các mẫu quần jean bó sát người của ông ra đời từ năm 1974 và chỉ trong 1 tuần ra mắt đã giúp ông thu về tận 200.000 USD Cũng trong năm đó, Calvin Klein trở thành nhà thiết kế đầu tiên nhận giải thưởng CFDA danh giá vì thiết kế ấn tượng dành cho cả đàn ông và phụ nữ
Gianni Versace
Gianni Versace là một nhà thiết kế thời trang danh tiếng người Ý, người đã sáng lập ra nhãn hiệu thời trang cùng tên năm 1978
Trang 13 Donatella Versace (Ý)
Giữa những năm 1970, Donatella tham gia vào công ty của người anh trai lừng danh Giovanni trong làng mẫu thế giới với vai trò làm người PR nhưng bà đã nhanh chóng được ghi nhận bởi thiên tài trong cả vai trò nhà thiết kế và kinh doanh Sau cái chết bất ngờ của người anh Giovanni, kinh tế gia đình rơi vào cảnh tù túng bởi tất cả đều đau buồn Donatella bừng tỉnh và bộ sưu tập đầu tiên của người đàn bà tài năng biểu diễn tại khách sạn Hôtel Ritz Paris đã làm rúng động cả làng thời trang thế giới Các buổi tiệc của Donatella Versace luôn có sự tham gia của các ngôi sao nổi tiếng như, Catherine Zeta-Jones, Sir Elton John, Kate Moss, Liz Hurley và thậm chí cả Thái tử Charles
Michael Kors
Michael Kors là nhà thiết kế thời trang cao cấp người Mỹ, đi lên từ thiết kế thời trang thể thao
Oscar de la Renta
Óscar Arístides Renta Fiallo, được biết tới dưới nghệ danh Oscar de la Renta, là nhà thiết
kế thời trang người Mỹ gốc Dominica
Trang 14kế dạn dày kinh nghiệm ngay từ khi còn nhỏ Lần đầu tiên cô may cho mình bộ quần áo
là năm 10 tuổi và năm 12 tuổi, cô tự may chiếc áo dài đi học
Tốt nghiệp trường Mỹ thuật Gia Định, Minh Hạnh xin về làm ở tòa báo dù không bước ra từ trường dạy thiết kế báo Sau đó, cô được gợi ý làm trang báo thời trang Lúc bấy giờ, vải có được là vải bao cấp, người mẫu là nhân viên báo Cô tự cắt may, làm bản
vẽ kỹ thuật và chụp hình đưa lên báo Năm 1990, cô được nhận học bổng của khóa thiết
kế đồ lót tại Indonesia Năm 1992, công ty Legamex mời cô về làm giám đốc, triển khai
Trang 15trung tâm thời trang Việt Nam đầu tiên Năm 1994, Viện mẫu thời trang ra đời, cô được mời về làm việc tại đây
Sống tại Sài Gòn, có hơn 20 năm kinh nghiệm trong nghề và sở hữu ê-kíp làm việc tới trăm người, Minh Hạnh được coi là một bậc thầy trong ngành thời trang Việt Nam Cô được hầu hết mọi người, đặc biệt là các nhà thiết kế, yêu mến và tôn trọng vì những cống hiến cho thời trang Trước khi xây dựng Vietnam Designers House, cô đã
"thiết kế "chương trình Fashion Week, Vietnam Collection cùng nhiều chương trình thời trang khác
Dù đã trở thành một giảng viên và thường xuyên đứng ra tổ chức các show diễn thời trang lớn - nhỏ trong nước nhưng Minh Hạnh vẫn không ngừng cho ra các mẫu thiết
kế ấn tượng, Minh Hạnh là nhà thiết kế Việt Nam duy nhất được mời tham dự Lễ hội quốc tế dệt may đặc biệt ở triển lãm Les Métamorphoses tại Bảo tàng Bargoin, Pháp
* Nhà thiết kế Đỗ Mạnh Cường
NTK Đỗ Mạnh Cường là một cái tên "hot" trong làng thiết kế tại TP HCM bởi tài năng và sức sáng tạo Tốt nghiệp PTTH, mơ ước làm nhà báo anh thi vào đại học nhưng không đỗ Sau đó, anh đăng ký thi và đỗ vào ngành Mỹ thuật Năm 2003, khi phong trào
du học nở rộ, anh quyết định sang Pháp - kinh đô của thời trang thế giới, học tại Viện Nghiệp đoàn Thời trang cao cấp Paris Trong thời gian học ở Pháp, Cường không chỉ tham gia chương trình biểu diễn bộ sưu tập ở Đại sứ quán Việt Nam tại Pháp, mà còn tham dự cuộc thi Viet Nam Collection Grand Prix ở quê nhà năm 2005 và 2006
Trang 16Anh từng tham gia nhiều show diễn thời trang lớn trong nước như: Elle Show
2010, Đẹp Fashion Show, đêm Thời trang Pháp - Việt, Fashion Boulevard và gần đây nhất là show The Muse - chương trình kỷ niệm chặng đường 5 năm của nhà thiết kế trẻ với những dấu ấn khó quên trong nghề Ngoài ra, anh đảm nhận vai trò là giám khảo của cuộc thi Vietnam's Next Top Model trong mùa vừa qua
Trang 17* Nhà thiết kế Trương Thanh Hải
Nhà thiết kế Thanh Hải sinh năm 1980, tốt nghiệp khoa Ngữ văn Trung Đại học khoa học xã hội & nhân văn TP Hồ Chí Minh Ra trường, làm nhiếp ảnh Sau đó, chuyển sang làm thời trang Năm 2004, sang Pháp học về chuyên ngành Kỹ thuật cắt may và nghiên cứu về nhiếp ảnh của Pháp Từng tham gia Vietnam Fashion Week, Đẹp Fashion Show, gần đây là Malaysia International Fashion Week
* Nhà thiết kế Hoàng Hải
Là nhà thiết kế nổi tiếng trong nước nhưng để tìm được thông tin sâu về Nhà thiết
kế Hoàng Hải là một việc rất khó khăn dù các mẫu váy của anh thu hút sự quan tâm của rất nhiều nghệ sĩ nổi tiếng cùng công chúng bởi vẻ gợi cảm và lộng lẫy
Nhà thiết kế Hoàng Hải sinh ra trong một gia đình 6 anh em trai có truyền thống làm việc trong ngành bưu điện nhưng anh lại không mấy hứng thú với ngành này Một lần tình cờ vào miền nam chơi, anh bén duyên với thời trang và tự tìm tòi học hỏi Sở
Trang 18trường của anh là những kiểu đính cườm, đính đá thủ công và những mẫu trang phục hoành tráng trên sàn diễn
Nhà thiết kế Hoàng Hải từng đưa các mẫu váy, áo của mình "vươn ra ngoài thế giới" khi thiết kế trang phục cho các diễn viên Việt Nam tham dự Liên hoan phim Cannes 2012 diễn ra tại Pháp; thiết kế váy cho Á hậu Việt Nam 2012 - Hoàng Anh tranh tài tại Hoa hậu Trái đất năm 2012 Hay tham gia những show diễn ở nước ngoài như: J Summer Fashion Show tại Pháp hay trên sàn diễn thời trang ở London
* Nhà thiết kế Cao Minh Tiến
Mỗi năm ra hàng loạt những bộ sưu tập lớn - nhỏ và tham dự nhiều show diễn khác nhau, 10 năm lao động trong nghề thời trang, cái tên Cao Minh Tiến được không ít người biết tới Nhà thiết kế này còn từng đoạt giải nhất thiết kế thời trang do tạp chí Mốt
và Cuộc sống tổ chức năm 2003 và lọt vào Chung kết Vietnam collection grand prix
2003
Trang 19Chia sẻ về phong cách thiết kế thời trang của mình, nhà thiết kế Cao Minh Tiến cho biết anh hướng tới sự trẻ trung, hiện đại, giàu tính ứng dụng Ngoài ra, trang phục còn mang hơi hướng lưỡng tính, sử dụng chất liệu phong phú Trong sự yếu đuối
có nét mạnh mẽ, giữa trang phục hiện đại có âm hưởng cổ điển, trong nét Á đông có sự phá cách Nét riêng trong mỗi thiết kế của anh chính là sự đơn giản, điểm nhấn nhẹ nhàng, phom dáng và chất liệu sử dụng phù hợp với người tiêu dùng
Với những trang phục ấn tượng, mang tính nghệ thuật cao, nhà thiết kế Cao Minh Tiến lấy cảm hứng từ những điều hiện hữu ngay trong cuộc sống của mình như: nắng, cỏ cây hoa lá, mặt nạ tuồng hay mọi thứ thuộc về cảm xúc bất chơt xuất hiện
1.3 Đặc thù và xu hướng phát triển công nghiệp Thời trang 1.3.1 Đặc thù của công nghiệp Thời trang
- Là ngành công nghiệp luôn thu hút nhân công lao động
- Ngành công nghiệp của sự sáng tạo: Sáng tạo về màu sắc, chất liệu, loại sợi, dệt, ngoại quan, cảm giác
- Ngành công nghiệp của khoa học dự báo thị hiếu thế giới tiêu dùng Chu kỳ dự báo vượt trước thời gian 1 năm và hơn, các chu kỳ đều có xu hướng rút ngắn lại
- Trung tâm thời trang thế giới thuộc về Pari, New York, Milan, Italya có xu hướng chuyển dần sang các nước châu Á như Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc
- Cung ứng nguyên phụ liệu thuộc về các trung tâm sản xuất (các nước sản xuất)
- Hệ thống bán lẻ là dao diện quan trọng nhất để kết nối và xử lý mọi nhu cầu của thế giới
- Toàn cầu hóa sẽ quyết định sự phân công hóa các doanh nghiệp Dệt may theo hướng chuyên môn hóa sâu hơn và vượt ra khỏi phạm vi một quốc gia
1.3.2 Xu hướng phát triển công nghiệp Thời trang
Trang 20Thời trang là một khái niệm trừu tượng, nó không chỉ là sản phẩm được tạo ra bởi một loại vải nhất định, mà còn là kiểu dáng, chất liệu mang đến cảm giác mới lạ, hấp dẫn cho người mặc Nhu cầu về sản phẩm thời trang là nhu cầu thứ yếu của con người, nó chỉ được quan tâm đến khi các nhu cầu thiết yếu đã được đáp ứng Vì vậy nhu cầu về sản phẩm thời trang có thể thay đổi khi có những biến động xảy ra về kinh tế, chính trị, quân
sự, xã hội
Trong thời kỳ thịnh hành, thời trang vẫn luôn có những cải cách vì theo kịp thời đại là lý do khiến mọi người luôn mua quần áo mới
Công nghiệp thời trang bao gồm 4 nhóm kinh doanh:
- Nhóm cơ sở (nhóm I): Gồm các đơn vị sản xuất tơ, sợi, vải vóc
- Nhóm sản xuất chính (nhóm II): Các đơn vị sử dụng sản phẩm của nhóm I tạo ra các sản phẩm may hoàn chỉnh
- Nhóm bán lẻ (nhóm III): Phân phối sản phẩm do nhóm 2 sản xuất tới tay người tiêu dùng
- Nhóm hỗ trợ (nhóm IV): Gồm các dịch vụ nghiên cứu, cung cấp thông tin về thời trang cũng như các dịch vụ khác cho 3 nhóm trên
Kinh doanh thời trang có thể tiến hành trên phạm vi rất rộng Một doanh nghiệp
có thể thu thập thông tin về xu hướng thời trang từ các sàn diễn ở Pari, tìm nguồn vải ở
Ấn Độ, phụ liệu ở Hồng Kông, sản xuất ở Việt Nam và bán sản phẩm trên toàn thế giới
Công nghiệp thời trang phát triển theo các hướng khác nhau ở các lĩnh vực khác nhau Một nhóm quốc gia (thường là các nước phát triển) theo xu thế thiết kế và phân phối sản phẩm Các đơn vị kinh doanh theo ngành này thường ở nhóm 3 và 4 Nhóm quốc gia khác (đang phát triển) với lợi thế về nguồn nhân công thường thực hiện việc sản xuất rất có hiệu quả VD: Châu Á
Công nghiệp thời trang đòi hỏi trình độ công nghệ mới, đặc biệt là yêu cầu rất cao
về sự sáng tạo Chúng ta đã thấy sự thay đổi là yếu tố hấp dẫn quan trọng nhất của thời trang Vì vậy sáng tạo là phẩm chất quyết định sự thành công của ngành công nghiệp thời trang Nhóm I sản xuất nguyên liệu, nếu có đổi mới sẽ hấp dẫn khách hàng Nguyên
lý rất đơn giản này lặp lại hoàn toàn với các đơn vị kinh doanh thuộc nhóm II, III, IV Sản phẩm may không như các sản phẩm khác, có giá trị sử dụng phụ thuộc phần lớn vào
ý thích của khách hàng Vì vậy sản phẩm phải m ới lạ và hấp dẫn mới có thể được chấp nhận
1.4 Quy luật dịch chuyển của Dệt may toàn cầu
- Công nghiệp Dệt may xuất hiện sớm ở Anh từ giữa thế kỷ 18 và đó cũng là nơi khởi đầu cho ngành Công nghiệp Dệt may phát triển ra các Châu lục khác
- Từ Anh, Công nghiệp Dệt may lan toả ra toàn châu Âu và phát triển cho đến những năm 50 – 60, khi mà chi phí lao động ở đây tăng cao
- Châu Âu chuyển sang nghiên cứu công nghệ; chế tạo thiết bị; hoá dệt và phát triển thời trang cao cấp
Trang 21- Từ châu Âu, dệt may dịch chuyển sang Nhật Bản, nơi có chi phí lao động rẻ và đang khởi đầu công cuộc công nghiệp hoá
- Nhật Bản phát triển dệt may cho đến những năm 60 – 70, khi mà chi phí lao động ở đây cũng tăng cao; Bớc tiếp theo, Nhật Bản cũng phát triển tương tự như Châu Âu: công nghệ – thiết bị – hoá dệt – thời trang
- Từ Nhật Bản, dệt may chuyển dịch sang Hồng Kông, Hàn Quốc, Đài Loan từ những năm 70 – 80 và phát triển đến những năm 90
- Và theo đúng qui luật, từ những năm 90, đặc biệt từ sau cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á, dệt may bắt đầu dịch chuyển từ Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan sang Việt Nam, Trung Quốc, Bangladesh, v.v…
- Mặt khác, hầu hết các nước phát triển khởi đầu công cuộc công nghiệp hoá đều phát triển dệt may trong khoảng thời gian 15 – 20 năm Sau đó chuyển sang phát triển các ngành công nghệ cao khác Riêng dệt may, họ chuyển sang: công nghệ cao – thiết bị – hoá dệt – Thời trang
- Như vậy, Việt Nam, dù muốn hay không muốn, đang tiếp nhận dòng dịch chuyển dệt may từ các nước phát triển chuyển tới Và câu hỏi được đặt ra:
- Việt Nam tiếp nhận dệt may như thế nào ?
- Việt Nam phát triển dệt may đến lúc nào ?
- Việt Nam sẽ chuyển dệt may cho ai sau đó ?
- Việt Nam sẽ phát triển dệt may tiếp theo ra sao ?
1.5 Sơ lƣợc sự hình thành và phát triển ngành Dệt may Thời trang Việt Nam 1.5.1 Hiện trạng ngành Dệt may Thời trang Việt Nam
1.5.1.1 Vị trí của ngành trong nền kinh tế
Cùng với sự phát triển của xã hội loài người, các sản phẩm về may mặc ngày càng hoàn thiện Từ những nguyên liệu thô sơ, con người đã sáng tạo ra những nguyên liệu nhân tạo để phục vụ cho nhu cầu sử dụng các sản phẩm may mặc ngày càng phổ biến Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật cùng với những phát minh khoa học trong lĩnh vực công nghiệp đ giúp cho ngành dệt may có sự phát triển vượt bậc Quá tr.nh phát triển của ngành dệt may trên thế giới gắn liền với sự phát triển của các nước công nghiệp Do đó, các nước công nghiệp vẫn luôn thực hiện các biện pháp bảo vệ ngành dệt may nội địa trước sự cạnh tranh ngày càng gay gắt của các nước đang phát triển Cùng với đó, dệt may cũng luôn là một lĩnh vực nhạy cảm khi đàm phán và giải quyết các tranh chấp trong quan hệ thương mại giữa các quốc gia
Ở Việt Nam, dệt may cũng là một trong những ngành được chú trọng phát triển khi Việt Nam thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa Với những ưu thế về nguồn nhân công dồi dào, lượng vốn đầu tư không lớn, khả năng thu hồi vốn nhanh, Việt Nam có thể đẩy mạnh hoạt động của ngành dệt may để vừa thu về giá trị xuất khẩu lớn, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế của đất nước, vừa giải quyết được việc làm cho phần lớn người lao động
Trang 221.5.1.2 Điểm mạnh của ngành Dệt may Thời trang Việt Nam
- Nguồn lao động dồi dào, khéo léo, cần cù chịu khó
- Tiền gia công sản phẩm rẻ, chi phí nhân công thấp;
- Chất lượng các sản phẩm may mặc của Việt Nam được các nước nhập khẩu đánhh giá cao;
- Kim ngạch xuất khẩu của ngànhh Dệt may Việt Nam ngày công tăng và thị trường xuất khẩu ngày càng được mở rộng;
- Các doanh nghiệp may đang dần chú trọng và có kế hoạch đầu tư nâng cao năng lực thiết kế, năng suất lao động, ứng dụng công nghệ vào sản xuất nhằm giảm lãng phí
về nguyên vật liệu
1.5.1.3 Điểm yếu của ngành Dệt may Thời trang Việt Nam
- Công nghệ của các doanh nghiệp trong ngành vẫn còn lạc hậu;
- Lao động có tay nghề cao, giàu kinh nghiệm còn chiếm tỷ lệ nhỏ Bên cạnh đó mức độ ổn định của nguồn lao động trong ngành may mặc không cao khiến cho các doanh nghiệp may thường xuyên phải quan tâm đến việc tuyển dụng lao động mới
- Chủ yếu là thực hiện may gia công cho các doanh nghiệp nước ngoài nên giá trị gia tăng của ngành may còn thấp
- Chưa xây dựng được thương hiệu riêng cho ngành may của Việt Nam tại thị trường nước ngoài nên không chủ động được kênh phân phối và thị trường tiêu thụ,
- Phần lớn nguyên liệu cho ngành may mặc hiện nay vẫn phải nhập khẩu dẫn đến giá trị thực tế thu được của ngành chưa cao
- Ngành may mặc Việt Nam hiện chưa chú trọng nhiều đến thị trường nội địa;
- Khả năng tự thiết kế còn yếu, phần lớn là làm theo mẫu mã đặt hàng của phía nước ngooài để xuất khẩu
1.5.1.4 Cơ hội của ngành Dệt may Thời trang Việt Nam
- Dân số Việt Nam đông sẽ cung cấp một nhu cầu lớn cho ngành may mặc Việt Nam
- Mức sống và thu nhập của người dân ngày càng tăng lên sẽ khiến cho nhu cầu đối với các sản phẩm may mặc ngày càng tăng, đặc biệt là các sản phẩm trung và cao cấp
- Hàng may mặc của Việt Nam ngày càng nhận được sự tín nhiệm của các nước nhập khẩu (Mỹ, EU, Nhật Bản…) do chất lượng sản phẩm cao nên sẽ có thể mở rộng hơn thị phần xuất khẩu cũng như tăng giá trị xuất khẩu
- Việt Nam trở thành thành viên của WTO sẽ được hưởng những ưu đãi về thuế suất khi xuất khẩu hàng may mặc vào các nước khác
- Ngành may mặc trong thời gian tới được coi là ngành ưu tiên và khuyến khích phát triển nên sẽ nhận được những nguồn vốn đầu tư lớn cả trong và ngoài nước
1.5.1.5 Thách thức của ngành Dệt may Thời trang Việt Nam
Trang 23- Các quốc gia nhập khẩu thường có những yêu cầu nghiêm ngặt đối với chất lượng của hàng may mặc nhập khẩu vào, bao gồm cả hàng hóa của Việt Nam
- Hàng hóa Việt Nam cũng như của một số quốc gia khác có nguy cơ bị kiện bán phá giá và áp mức thuế chống bán phá giá nhằm bảo vệ ngành may mặc của nước nhập khẩu
- Để thu được lợi nhuận cao thì Việt Nam cần phải đầu tư các sản phẩm thiết kế thời trang để đáp ứng yêu cầu của thị trường trong nước cũng như để xuất khẩu
- Những biến động bất lợi về giá dầu thế giới, giá lương công nhân có thể làm tăng giá thành sản xuất của doanh nghiệp may Nếu giá sản phẩm may mặc của Việt Nam tăng lên và cao hơn các nước khác thì các nước nhập khẩu sẽ chuyển hướng sang những nước có giá thành rẻ hơn và không nhập khẩu hàng may mặc của Việt Nam nữa,
do đó sẽ làm giảm sút kim ngạch xuất khẩu
- Sự cạnh tranh mạnh mẽ của hàng may mặc Trung Quốc với giá thành rẻ và kiểu dáng mẫu mã đa dạng, phù hợp với thu nhập của người dân Việt Nam và các nước trên thế giới
1.5.2 Định hướng phát triển của Dệt may Thời trang Việt Nam
1.5.2.1 Vấn đề xây dựng thương hiệu
Đưa thương hiệu Dệt may “Made In Vietnam” vào tầm thức người tiêu dùng Những năm qua, ngành Dệt may Việt Nam đã khá thành công trong việc xây dựng thương hiệu, phát triển nhãn hiệu có tính bền vững, và đã đi được vào tâm thức người tiêu dùng trong và ngoài nước Có đơn vị có nhiều loại nhãn hiệu đều XK được ra thị trường nước ngoài Chẳng hạn Việt Tiến đã xuất khẩu sang Pakistan, Campuchia, Lào Tại Campuchia, khi Việt Tiến mới mở tổng đại lý được một tháng thì đã có hàng chục cơ sở kinh doanh Campuchia đến xin làm đại lý Việt Tiến đã mở đại lý tại Thái lan, Malaysia, Indonesia và Singapore cùng với công tác xây dựng và quảng bá thương hiệu
Qua nghiên cứu thị trường, để từng bước chinh phục người tiêu dùng, các doanh nghiệp dệt may đang tập trung đầu tư vào công tác xây dựng thương hiệu, thiết
kế mẫu mã, tổ chức mạng lưới bán lẻ và đẩy mạnh quảng bá sản phẩm Nếu như trước đây, hệ thống cửa hàng, đại lý của các doanh nghiệp dệt may chỉ có mặt ở các trung tâm thương mại hay các vị trí đắc địa tại các thành phố lớn thì bây giờ, người tiêu dùng đã dễ dàng tìm thấy hệ thống bán lẻ hàng may mặc Việt Nam ở khắp các tỉnh, thành trên cả nước Tập đoàn Dệt May Việt Namcòn có riêng một hệ thống siêu thị Vinatex Mart của Công ty kinh doanh hàng thời trang với 57 điểm bán hàng
Bên cạnh đó, Tổng Công ty cổ phần May 10 đã mở riêng một hệ thống gồm 3 siêu thị mang tên M10 Mart ở Hà Nội, Hải Phòng và Thanh Hóa Riêng Việt Tiến, hệ thống cửa hàng, đại lý đã phủ khắp vùng sâu, vùng xa Ông Phan Văn Kiệt, Phó Tổng Giám đốc Tổng Công ty cổ phần may Việt Tiến cho biết: "Vấn đề cốt lõi để khai thác tối đa thị trường nội địa, ngoài đầu tư cho thương hiệu và sản phẩm là đầu tư vào hệ
Trang 24thống phân phối Chúng tôi đã có trên 1.300 đại lý cửa hàng khắp 64 tỉnh thành, mỗi
thương hiệu có hệ thống nhận dạng riêng Kể cả vùng sâu vùng xa, biên giới hải đảo
như Phú Quốc cũng có cửa hàng Như thế, người tiêu dùng có thể mua sản phẩm Việt
Tiến ở bất kỳ đâu"
Đi đầu trong việc xây dựng thương hiệu, có thể kể đến các công ty hàng đầu
của ngành Dệt May như Việt Tiến, May 10, Nhà Bè… Bên cạnh dòng sản phẩm cao
cấp, năm qua, Việt Tiến đã rất thành công khi đưa ra thị trường sản phẩm dành cho
người lao động có thu nhập trung bình thấp mang thương hiệu Việt Long Sản phẩm ra
đời đúng vào dịp kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long- Hà Nội có chất lượng tốt, giá thành
hợp lý đã thỏa mãn được nhu cầu mặc đẹp của tầng lớp bình dân Bên cạnh những dòng
sản phẩm thông dụng đã có từ trước, thời gian gần đây, nhiều doanh nghiệp lớn đều đầu
tư cho những thương hiệu mới thuộc dòng thời trang cao cấp như Mattana, De Celco của
Nhà Bè, Eternery Gruz của May 10 Liệu có mạo hiểm khi đưa ra thị trường những sản
phẩm thời trang cao cấp có giá lên tới cả triệu đồng một sản phẩm trong bối cảnh nền
kinh tế gặp nhiều khó khăn
Vinatex cũng đã xây dựng các phòng nghiên cứu thông số chuẩn về vóc dáng
người Việt Nam, từ đó sản xuất ra sản phẩm phù hợp với nhu cầu người tiêu dùng Đây
là cách làm được nhiều nước có nền dệt may tiên tiến áp dụng và rất thành công
Bên cạnh đó, ngành dệt may cũng đã tổ chức các cuộc thi thiết kế thời trang trong
sinh viên nhằm phát hiện tài năng trẻ thiết kế thời trang, tạo động lực khuyến khích các
nhà thiết kế thời trang Việt sáng tạo, đáp ứng nhu cầu của nhiều đối tượng khách hàng,
từ đó động viên các tầng lớp người tiêu dùng hướng về hàng nội
1.5.2.2 Vấn đề xuất nhập khẩu
Năm 2010 được coi là một năm thành công đối với lĩnh vực dệt may Việt Nam
với doanh thu xuất khẩu hơn 11,2 tỷ USD, trở thành ngành kinh tế trọng điểm của quốc
gia Đã vượt mục tiêu đặt ra năm 2010: Xuất khẩu đạt 10,5 tỷ USD
Sau cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2009, ngành dệt may đã khắc phục khó khăn
và khởi sắc vào năm 2010 với xuất khẩu đạt 11,2 tỉ USD tăng hơn 23% so với năm 2009
Năm 2011 đặt ra của ngành là đạt 12,5 tỉ USD đến 13 tỉ USD
Căn cứ vào kết quả trên, mục tiêu của ngành dệt may Việt Nam là muốn trở thành
ngành xuất khẩu chủ lực của đất nước với doanh thu xuất khẩu từ 18-20 tỷ USD vào
năm 2015
Tập đoàn Dệt may Việt Nam (Vinatex) đã nói rằng trong năm 2010, tập đoàn đã
duy trì tăng trưởng xuất khẩu cao (tăng 23% so với năm trước) và mục tiêu doanh thu
xuất khẩu đạt được 11,2 tỷ USD, đóng góp đáng kể vào doanh thu xuất khẩu của quốc
gia và vẫn giữ đuợc trong top 10 nhà xuất khẩu sản phẩm dệt may của thế giới
Trong đó, xuất khẩu dệt may của Việt Nam vào thị trường Mỹ đã đạt được 6 tỷ USD
(tăng 22% so với năm 2009), đưa thị phần ngành dệt may của quốc gia từ 4,6% lên 5,1%
ở thị trường Mỹ và tiếp tục nằm trong top 5 nhà xuất khẩu sang thị trường Mỹ Đây là tin
Trang 25tốt cho xuất khẩu sản phẩm may mặc của Việt Nam do thị phần xuất khẩu của một số quốc gia khác vào thị trường Mỹ đã sụt giảm
Việt Nam vẫn đạt được tốc độ tăng trưởng cao (khoảng 20%), chiếm 55% thị phần của thị trường này
Các sản phẩm dệt may của Việt Nam xuất khẩu vào thị trường EU đã tăng trưởng 20%, đạt khoảng 1,8 tỷ USD, tăng 14% so với năm trước và chiếm 2,02% thị phần trong thị trường này
Các sản phẩm dệt may của Việt Nam xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản cũng tăng khoảng 20%, đạt 1,2 tỷ USD
Với lợi thế về hiệp định thương mại đã được ký kết, Việt Nam đã mở rộng thị trường xuất khẩu cho các sản phẩm may mặc đến nhiều thị trường tiềm năng khác Ở thị trường lớn như Mỹ và Nhật Bản, ngành dệt may của Việt Nam đã tiếp tục là nước xuất khẩu lớn thứ hai đối với mặt hàng này và chiếm khoảng 2,5% thị phần của thị phần toàn cầu
Hiệp hội Dệt may Việt Nam (Vitas) đã khẳng định rằng mục tiêu kim ngạch xuất khẩu khoảng 13 tỷ USD năm 2011 sẽ là khả thi
Giai đoạn 2011-2015, ngành dệt may Việt Nam chủ trương tăng cường XK, xác định lại chiến lược về thị trường nhằm thiết lập thị trường XK ổn định Đặc biệt, trong giai đoạn mới, ngành dệt may không chỉ phải cạnh tranh về chất lượng, về giá cả mà phải cạnh tranh ngay từ khâu đấu giá trên mạng Bây giờ, kiểu đặt hàng mang mẫu đến rồi bảo anh làm cho tôi mẫu mã như thế này, giá cả thế kia… đã quá lạc hậu, mà phải đấu giá trực tiếp trên mạng Chẳng hạn một công ty thời trang ở Pháp ra một mẫu thiết
kế mới, mời đấu giá ngay trên mạng internet Hàng loạt đối thủ từ các nước có thế mạnh trong làng dệt may trên thế giới cùng đấu giá Do vậy, phải có nguồn nhân lực đáp ứng được những yêu cầu này Phải có những chuyên gia tính toán được ngay trong thời gian ngắn, với mẫu mã như vậy thì cần những nguyên phụ liệu gì, thời gian thực hiện bao lâu
và đưa ra giá hợp lý, có như vậy mới có thể giành được những hợp đồng may giá trị cao
Do vậy, khâu quan trọng nhất đối với ngành dệt may trong thời gian tới vẫn là tạo được nguồn nhân lực chất lượng cao
ha trồng bông có nước tưới vào năm 2015, cần có tổng vốn đầu tư khoảng 3.500 tỷ đồng cho đền bù đất, hệ thống thủy lợi, sản xuất giống Ngoài ra, Vinatex phối hợp cùng Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam xây dựng nhà máy sản xuất xơ polyeste đầu tiên ở Việt Nam, với công suất 400 tấn xơ thông thường, 50 tấn xơ đặc biệt và 50 tấn hạt chip/ngày,
Trang 26với tổng mức đầu tư khoảng 3.000 tỷ đồng Dự kiến, năm 2011 sẽ đi vào sản xuất, đến năm 2020 đáp ứng 40% nhu cầu trong nước về
xơ sợi tổng hợp
Việc đầu tư phát triển nguồn nguyên phụ liệu dệt may trong nước sẽ từng bước nâng cao tỷ lệ nội địa hóa từ mức 30% hiện nay lên 50% vào năm 2010 và 60% vào năm 2015; hướng đến mục tiêu đạt 12 tỷ USD xuất khẩu trong năm 2010 và 18 tỷ USD trong năm 2015 Năm 2007, trị giá nhập khẩu bông, sợi, vải gần 5 tỷ USD Trong khi đó, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may đạt khoảng 7,8 tỷ USD
Ông Vũ Đức Giang, Tổng Giám đốc Tập đoàn Dệt May Việt Nam cũng đã đưa ra
3 giải pháp để vượt qua khó khăn và đạt được các mục tiêu tăng trưởng của ngành dệt may giai đoạn 2011- 2020 về sản xuất từ 12 đến 14%; về xuất khẩu hơn 15%; đến năm
2020 đạt 25 tỷ USD kim ngạch xuất khẩu tỷ lệ nội địa hóa hơn 70%, trong 5 năm tới Trong đó, ông Vũ Đức Giang cũng nhấn mạnh đến việc triển khai hiệu quả ba chương trình chiến lược về cây nguyên liệu, vải và nguồn nhân lực
Ông Giang cũng cho biết thêm, trong chương trình nâng cao giá trị gia tăng của hàng dệt may Việt Nam, Vinatex đã đầu tư vào sản xuất nguyên liệu bông, xơ tổng hợp, kéo sợi, dệt vải, nhuộm hoàn tất, sản xuất quần áo và các lĩnh vực phụ trợ khác với tổng
số vốn hơn 15.297 tỷ đồng Qua đó, nâng tỷ lệ nội địa hóa từ gần 25% năm 1995 lên 47% năm 2009, và sẽ sớm đạt hơn 50% vào năm 2011
Như vậy, Dệt may sẽ trở thành mặt hàng có sức cạnh tranh cao trong cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam, đem lại nguồn ngoại tệ quý giá cho đất nước khi sự phát triển của ngành dựa trên giá trị gia tăng trên mỗi sản phẩm
1.6 Trung tâm thương mại, hội trợ quốc tế - Các hãng Thời trang tiêu biểu 1.6.1 Trung tâm thương mại
New York là trung tâm dệt may của Mỹ Người mua từ khắp nơi thường về New York một đến 2 lần trong năm để xem và mua sản phẩm cần thiết cho cửa hàng của họ Đại diện bán hàng của các công ty cũng thường mời những nhà bán lẻ địa phương tới xem mẫu được trưng bày tại các khách sạn hoặc mang mẫu trực tiếp giới thiệu tại các cửa hàng bán lẻ Nhưng từ những năm 1950, với sự mở rộng của hoạt động sản xuất và hoạt động phân phối hàng may mặc, thị trường may mặc tại các địa phương cũng phát triển mạnh mẽ Hiện nay, bất cứ thành phố nào nơi sản phẩm may được bày bán đều có thể trở thành thị trường phân phối của các dòng sản phẩm may Thuật ngữ thị trường thời trang được dùng để chỉ các thành phố có cả nghành sản xuất và phân phối sản phẩm may Ví dụ: New York, Los Angeles, Dallas, Atlanta, Chicago
Mart (trung tâm buôn bán)
Trang 27New York nơi có các phòng trưng bày và đại diện bán hàng trưng bày sản phẩm
cho các nhà bán lẻ, có các buổi triển lãm được sử dụng cho việc tổ chức các tuần lễ thời trang
Quan hệ bán hàng
Những trung tâm lớn có thể mở cửa hàng thường xuyên (trong cả năm) 5 ngày/tuần và 52 tuần/năm, khiến cho những nhà bán lẻ có thể mua hàng tại mọi thời điểm chứ không nhất thiết phải mua vào thời điểm diễn ra tuần lễ thời trang
Các trung tâm hiện nay đều có các chương trình bồi dưỡng quan hệ bán hàng, bao gồm việc tổ chức các dịch vụ trợ giúp công việc của các nhà bán lẻ ví dụ như: tổ chức các hội thảo giáo dục (về cách thức trưng bày sản phẩm, về các đặc tính chất lượng của sản phẩm mới), tổ chức trình diễn thời trang, thực hiện các biện pháp hỗ chợ tài chính, khấu trừ chi phí đi lại, cung cấp các dịch vụ giải trí (các buổi hoà nhạc, dịch vụ ăn uống…)
Những năm gần đây, một số trung tâm có tổ chức các seminar về thời trang quốc
tế Những nội dung chính của các seminar này có thể là: Làm thế nào để kinh doanh ở Mêxicô, những yêu cầu mới về nhãn hiệu hàng hoá cho hàng xuất khẩu, các vấn đề khác liên quan đến hoạt động xuất khẩu sản phẩm…
Mặc dù các trung tâm này được tổ chức ở các thành phố thuộc các bang khác nhau nhưng phạm vi bán hàng thì không hạn chế, có thể bán hàng sang các vùng lân cận Ngoài ra còn có các trung tâm thời trang lớn khác như London, Milan, Tokyo
1.6.2 Tuần lễ Thời trang và hội chợ thương mại
Tuần lễ thời trang là khoảng thời gian mà các nhà bán lẻ tới phòng trưng bày hoặc hội chợ thương mại để tìm hiểu xu hướng và xem xét các dòng sản phẩm mới được đưa
ra Trong tuần lễ này, các nhà bán lẻ sắp đặt các cuộc gặp với đại diện bán hàng của các nhà sản xuất, xem xét dòng sản phẩm mới, dự các buổi trình diễn thời trang, mua sản phẩm Mart thường tại trợ cho các tuần lễ thời trang trong năm, mỗi lần tổ chức sẽ tập trung vào một số nội dung nhất định Những nội dung đó có thể là sản phẩm (nam, nữ, trẻ em, cưới, đồ bơi…) hoặc có thể là các mùa thời trang (thu, nghỉ lễ, nghỉ mát, xuân, hè…) Thời gian tổ chức các tuần lễ thời trang được ấn định trước hàng năm tại hội đồng mart ở New york Nói chung các tuần lễ thời trang cho mùa thu thường diễn ra vào tháng
3 hoặc tháng 4 còn tuần lễ thời trang xuân hè thường được tổ chức vào tháng 10 hoặc tháng 11
Tuần lễ này được tổ chức là yếu tố thuận lợi cho cả các nhà sản xuất và nhà bán
lẻ Với các nha sản xuất thì có thể quảng cáo về sản phẩm mới của mình cho nhiều nhà bán lẻ trong thời gian rất ngắn, nhận những ý kiến phản hồi và đưa ra các điều chỉnh cần thiết trước giai đoạn sản xuất Với các nhà bán lẻ: có thể xem xét những dòng sản phẩm mới được tập trung và có thể thu thập được thêm nhiều kiến thức về thời trang qua việc tham dự các seminar, được giới thiệu về sản phẩm mới mà họ định mua cho các cửa
Trang 28hàng bán lẻ Như vậy hoạt động tổ chức các tuần lễ thời trang là một trong các hoạt động rất quan trọng đối với quá trình phát triển dòng sản phẩm mới
Bên cạnh các tuần lễ thời trang còn diễn ra các hội chợ thương mại Các hội chợ này thường do các hiệp hội tổ chức nhằm giới thiệu về thời trang, thị trường… được tổ chức tại các khách sạn lớn, có thể kéo dài từ 3 – 8 tuần lễ
1.6.3 Các hãng Thời trang tiêu biểu
1.6.3.1 Trên thế giới
Nike
Biểu tượng của hãng thời trang Nike rất nổi tiếng bởi sự có
mặt của nó trên cánh của twowgn thần chiến thắng của thần thoại Hi
Lạp Logo này được tạo ra năm 1971 bởi Carolyn Davidson, một
sinh viên khoa thiết kế đồ họa của trường đại học Portland State Và
thù lao cho chàng sinh viên này chỉ là…35 (khoảng gần 700.000
vnđ)
Adidas
Nhãn hiệu thời trang Adidas được thành lập vào năm 1948
bởi Adolf Dassler sau khi tách ra khỏi công ty của cha Thoạt đầu,
công ty có tên là Addas, là chữ viết tắt của Adolf Dassler Tuy
nhiên, một vài tháng sau đó, Addas đã được đổi lại thành Adidas
Adolf thường được bạn bè gọi với cái tên Adi) Và 3 đường sọc đặc
trưng của hãng được mua từ công ty Karhu Sports trong những năm 50 Nó cũng thể hiện sự phát triển của hãng thời trang Adidas trên 3 châu lục
Puma
Theo đó, anh trai của Adolf Dassler là Rudolf Dassler
đã thành lập nên nhãn hiệu Puma mà thoạt đầu có tên là Ruda
Logo ban đầu của hãng thời trang này rất khác với logo hiện
tại Người ta nói rằng chính Rudolf là người đã tạo ra logo
này, Và chỉ đến năm 1960, logo này mới được thiết kế lại và được lưu giữ cho đến ngày hôm nay
Gucci
Công ty Gucci được thành lập bởi Guccio Gucci năm 1921 tại
Florence Năm 1933, một trong 6 người con của ông đã thiết kế nên
biểu tượng Gucci, đó là hình ành 2 chữ G lồng vào nhau Tuy nhiên,
đó không đơn thuần chỉ là 2 chữ G mà còn tượng trưng cho 2 chiếc
bàn đạp ngựa thể hiện cho xuất xứ của thương hiệu boeir Guccio
Gucci đã từng bán phụ tùng
cho ngựa
Levi’s
Trang 29Levi Strauss & Co được sáng lập vào năm 1853 khi Levi Straus
chuyển đến San Francisco sinh sống và mở thêm một chi nhánh
bán đồ khô cho cửa hàng của anh trai tại New York Nhưng đến
năm 1870 họ bắt đầu bán thêm cả đồ yếm bò Cho đến năm 1920,
mới bắt đầu snar xuất quần jean Logo đầu tiên của công ty xuất
hiện năm 1886 Đó là hình ảnh 2chus ngựa chạy về 2 hướng đang cố xe một chiếc quần jean thành 2 mảnh
Louis Vuiton
Hãng thời trang Louis Vuiton được sáng lập năm 1854 và cho tới nay
nó vẫn rất nổi tiếng với những sản phẩm thời trang cao cấp Logo của
công ty là một bông hoa cách điệu, lấy cảm hứng từ motif Nhật Bản, thể
hiện những chữ cái đầu của tên công ty
Trang 301.6.3.2 Tại Việt Nam
Các hãng thời trang trong tập đoàn Dệt may Việt Nam (Vinatex): Việt Tiến, May 10, Nhà Bè…
Các hãng thời trang tư nhân: Nem, Trali, Kico, Nefertiti, Chic-land……
Cty May
Việt Tiến
Cty Đức Giang
Nem
Trali Nefertiti Kico
Trang 3131
CHƯƠNG 2: QUÁ TRÌNH SẢN XUẤT SẢN PHẨM THỜI TRANG
2.1 Thiết kế mẫu mỹ thuật
2.1.1 Nghiên cứu thị trường
Một trong những yếu tố quan trọng nhất đối với sự thành công trong ngành công nghiệp may đó là nên hiểu khách hàng của mình và cung cấp những dịch vụ sản phẩm mà khách hàng muốn có, địa điểm khách hàng sẽ mua sản phẩm
Nói cách khác, nhu cầu của người tiêu dùng là lực đẩy cho sự phát triển của ngành công nghiệp may mặc Sự thành công của một công ty phụ thuộc vào việc xác định các nhu cầu và mong muốn của người tiêu dùng Để xác định khách hàng sẽ cần
và muốn gì, thời điểm và địa điểm mà khách hàng muốn sản phẩm đó thì các công ty may phải tiến hành rất nhiều loại nghiên cứu khác nhau Quá trình này gọi là nghiên cứu thị trường
Nghiên cứu thị trường có thể được định nghĩa là “Bước tiếp cận có hệ thống và khách quan đối với sự phát triển và cung cấp thông tin về quá trình đưa ra quyết định quản lý hoạt động Maketing” Nghiên cứu thị trường được chia ra làm 2 loại cơ bản sau:
(1) Nghiên cứu cơ bản liên quan tới việc mở rộng kiến thức về hệ thống Maketing
(2) Nghiên cứu ứng dụng giúp các nhà quản lý có các quyết định đúng hơn Những người thuộc bộ phận điều hành công ty, các Machandisers, các nhà thiết kế giúp giám đốc thực hiện việc nghiên cứu thị trường như một phần của việc lập kế hoạch
Nghiên cứu thị trường ứng dụng gồm ba bước nghiên cứu:
B1 Nghiên cứu khách hàng, cung cấp thông tin về các đặc điểm người tiêu dùng và hành vi của người tiêu dùng
B2 Nghiên cứu sản phẩm, cung cấp thông tin về thiết kế sản phẩm được ưa chuộng và các đặc điểm của sản phẩm đó
B3 Phân tích thị trường, cung cấp thông tin về các xu hướng chung của thị trường
B1 Nghiên cứu khách hàng
Cung cấp các thông tin về đặc điểm khách hàng và thái độ khách hàng Người
ta sẽ nghiên cứư về nhân khẩu học và tâm lý học để có thể có được các thông tin về khách hàng của mình: giới tính, lứa tuổi, tình trạng hôn nhân, nghề nghiệp, dân tộc, nơi cư trú hoặc: thói quen, thái độ, giá trị, động cơ thúc đẩy, ý thích, cá tính, hoạt động giải trí…
- Chưa có gia đình, đang làm việc
- Chất lượng và giá trị là ưu tiên số 1
Trang 32- Ưa thích cuộc sống năng động, phóng khoáng
Một số doanh nghiệp làm hồ sơ khách hàng rất chi tiết, có thể có cả hình ảnh điển hình của một khách hàng, mẫu sản phẩm để giúp cho đội ngũ phát triển sản phẩm
có được hình dung rõ ràng về khách hàng mục tiêu mà họ đang hướng tới
Họ cũng có thể mở rộng lứa tuổi này hoặc chọn mới một lứa tuổi khác tuỳ theo tình hình thay đổi thực tế về dân số Khi công ty đã có được khách hàng trung thành, sẽ có thể điều chỉnh kiểu dáng sản phẩm để làm hài lòng khách hàng của họ đang cao tuổi dần lên mà lại rất tiết kiệm được chi phí
Phong cách sống và nơi ở
Phong cách sống của khách hàng: nghề nghiệp, địa vị xã hội, nơi sống, số dân, mật độ dân số, khuynh hướng chính trị, giáo dục, ý thích về thời trang (thích cổ điển hay thích hiện đại) và ý thức về giá cả Phong cách sống cũng có thể định hướng về đặc điểm của sản phẩm: thích sự thú vị hay thích sự tiện lợi của công nghệ cao
Một số công ty tập trung vào phát triển dòng sản phẩm cho một số địa điểm nhất định Ví dụ nghỉ mát ở Florida có thể trở thành một địa điểm để hướng tới khách hàng mục tiêu Những sản phẩm bán chạy ở Florida có thể không bán được ở những nơi khác
Vùng giá
Doanh nghiệp có thể lựa chọn cung cấp sản phẩm ở các vùng giá khác nhau: giá thiết kế, giá khiêm tốn, giá tốt hoặc giá bắc cầu
Giá thiết kế: Là mức giá cao nhất đối với những nhà bán buôn Vùng giá này
bao gồm một số bộ sưu tập của các tên tuổi như: Calvin Klein, Donna Karan, Yves Saint Lauren, Bill Blass, Giogio Armani và Chanel Đôi khi những hàng hoá này được coi là haute couture vì mức giá của nó, do vậy cần xác định chính xác haute couture chỉ là những bộ trang phục được may đo theo số đo cụ thể của người đặt may
Giá bắc cầu: Là mức giá ở giữa của giá thiết kế và giá tốt Những sản phẩm
trong vùng giá này bao gồm những dòng sản phẩm của những nhà thiết kế như: Emporio, Donna Karan Signature, Ellen Tracy, Dana Buchman, Adrienne Vittadini
Giá tốt: Là vùng giá của những sản phẩm nổi tiếng trong phạm vi quốc gia
Trang 3333
Giá khiêm tốn: Là vùng giá dành cho những sản phẩm nổi tiếng trong phạm vi
quốc gia là hàng thể thao, hoặc cũng có thể là những thương hiệu nổi tiếng nhưng được sản phẩm được sản xuất ở mức giá thấp hơn (Lizwear)
Giá ngân sách hoặc giá đổ đống: Dành cho những sản phẩm thường thấy ở
trong các quầy giảm giá Đôi khi người ta sử dụng mức giá này như một chiến lược để cạnh tranh với các đối thủ khác
Các nhà thiết kế thường xuyên trao đổi với nhân viên bán hàng để tìm ra những
gì đang diễn ra tại quầy hàng bán lẻ, bao gồm cả việc cắt, hoàn tất sản phẩm trước khi khách hàng sử dụng sản phẩm Đây là nguồn thông tin bổ ích cho các nhà thiết kế trong quá trình hoàn thiện sản phẩm mà mình sáng tạo ra
B3 Phân tích thị trường
Cung cấp thông tin về xu hướng chung của thị trường, sản phẩm của các đối thủ cạnh tranh, những đối thủ mới…Trong công nghiệp may người ta chia việc phân tích thị trường thành phân tích thị trường dài hạn (dự đoán xu hướng trước 5 năm) và phân tích thị trường ngắn hạn (dự đoán trước trong vòng 1 năm) Những yếu tố có thể ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp đều được cân nhắc: tỉ lệ lãi xuất tiền gửi tại các ngân hàng, các loại thuế có ổn định hay không, tỉ lệ lạm phát có ảnh hưởng đến mức sống, chi phí nhân công…Ngoài ra người ta cũng phân tích các yếu tố kinh tế
vĩ mô và những yếu tố liên quan: tâm lý, chính trị và xu hướng trên thế giới…
Một vấn đề nữa dễ bị bỏ qua nhưng thực tế có tác động nhiều đến xu hướng tâm
lý người tiêu dùng đó là: xuất bản phẩm Nó có thể ảnh hưởng đến các quyết định của người tiêu dùng về các loại sản phẩm mà họ có nhu cầu
2.1.2 Nghiên cứu xu hướng thời trang
Các yếu tố nghiên cứu xu hướng thời trang :
Nghiên cứu kiểu dáng:
Trước tiên các nhà thiết kế sẽ nghiên cứu kiểu dáng hiện có trên thị trường và sau đó tiên đoán xu hướng Khi quyết định kiểu dáng cho một dòng sản phẩm
Khi nghiên cứu về kiểu dáng của trang phục cần chú ý nghiên cứu về:
- Lứa tuổi
- Phong cách trang phục lựa chọn
- Nhà thiết kế ảnh hưởng đến quá trình nghiên cứu (NTK nổi tiếng, là người định hướng cho thời trang thế giới)
- Phom dáng của một trang phục: Phom hình Ovan, hình thang, chữ nhật
Trang 34- Kết cấu trang phục: Sự kết hợp của các chi tiết với nhau
- Công nghệ may
Sau khi nghiên cứu xong phải đưa ra được kết cấu trang phục của BST hoặc phải mô tả được kết cấu của trang phục Đồng thời xây dựng biểu tượng cho BST (có thể có hoặc không cần)
Nghiên cứu hoạ tiết:
Việc nghiên cứu họa tiết cho thấy những kiểu mẫu họa tiết nào được thịnh hành trong thời điểm đó và có những hình thức nào để tạo nên những họa tiết trang trí đó
Họa tiết là một kiểu hình thể nào đó được sáng tạo chọn lựa để trang trí Có họa
tiết chính, họa tiết phụ, đóng vai chò chủ yếu trong các mặt phẳng để trang trí
Có nhiều hình thức tạo họa tiết để trang trí cho trang phục:
Hình thức thủ công:
- Bằng các hình thức tác động như vẽ (màu acrinic), đính hạt (kim xa, dát
bạc…), nhuộm
- Đắp vải: là hình thức ghép các miếng vải nhỏ đắp lên bề mặt của nền vải cần
trang trí Những mẫu vải này được kết hợp nhiều chất liệu và màu sắc khác nhau tạo nên một bố cục hài hòa được coi như một bố cục tranh hội họa
Hình thức tạo họa tiết nhờ sự hỗ trợ của máy móc:
- Sử dụng máy may, may diễu tạo họa tiết hoa văn trên nền vải theo ý đồ của NTK
- Hình thức in thêu nhờ sự hỗ trợ của máy tính trên các phần mềm chuyên dụng:
CorelDraw, Illustrator, Photoshop, CAD, Lectra, Accumark để thiết kế những mẫu trang trí trực tiếp trên vải, hay những mẫu thêu
Nghiên cứu màu sắc:
- Chúng ta thường thấy màu sắc chủ đạo (staple colors) trong thời trang là: đen, trắng, đỏ, xanh đậm, màu be là những màu liên tục xuất hiện trong các mùa thời trang
- Có thể sử dụng các sắc độ khác nhau của màu sắc để phản ánh xu hướng thời trang Mùa này xanh đậm được sử dụng cũng có thể là xanh tím, mùa sau lại là xanh đen
- Những màu sắc khác được gọi là các màu thời trang (fashion colors) xuất hiện
ít hơn so với màu chủ đạo Những màu sắc này thường xuất hiện theo chu kỳ, lặp đi lặp lại với các sắc độ khác nhau Nó không lặp lại y hệt mà luôn mang sắc độ khác nhau, thời gian thịnh hành cũng rất ngắn
- Một số màu thời trang khác thì xuất hiện lại tương đối thường xuyên
- Một số màu sắc thì có xu hướng lặp lại ở từng khu vực khác nhau
- Trên thế giới cũng có dịch vụ dự báo về xu hướng màu sắc trong thời trang
Có một số dịch vụ có thể dự đoán trước một năm rưỡi hoặc 2 năm Người ta đưa ra kết quả dự đoán màu sắc thể hiện bằng bảng màu hay những bìa màu nhỏ hoặc những mảnh vải, những gói sợi…
- Các công ty may có thể mua kết quả dự đoán này của một hoặc nhiều cơ sở khác nhau để có thể so sánh và lựa chọn