thực trạng áp dụng Luật cạnh tranh 2004, những thách thức bất cập và đề xuất sửa đổi Luật cạnh tranh 2004. môn luật cạnh tranh thầy Trần Đức Tuấn. Bình luận 2 video cho bài tập thực trạng áp dụng Luật cạnh tranh 2004, những thách thức bất cập và đề xuất sửa đổi Luật cạnh tranh 2004. môn luật cạnh tranh thầy Trần Đức Tuấn. Bình luận 2 video cho bài tập
Trang 1Video: Kinh doanh và Pháp luật số 201 “Đã đến lúc sửa đổi luật cạnh tranh”
Tóm tắt: Bài tóm tắt dưới đây sử dụng ngôn ngữ của người viết được trích lọc từ các phóng sự, các trình
bày của những Luật sư, Tiến Sĩ, nên sẽ không trích dẫn tên, người đọc có thể xem trong video ngay tại link: https://www.youtube.com/watch?v=utLumZU49Ts&t=1300s
Vấn đề chung được đặt ra trong video: Bất cập trong quá trình thi hành Luật cạnh tranh và việc sửa đổi Luật cạnh tranh là cần thiết
Thực trạng: Giai đoạn từ 2005 – 2015, Cục quản lý cạnh tranh đã điều tra tiền tố tụng 78 vụ việc về tỏa thuận hạn chế cạnh tranh và lạm dụng vị trí độc quyền; Điều tra 8 vụ việc với gần 70 doanh nghiệp, ra quyết định xử lí 5 vụ việc với mức tiền phạt lên đến 5,5 tỷ đồng Luật cạnh tranh có tác động tích cực giúp tạo lập môi trường kinh doanh lành mạnh, thúc đẩy doanh nghiệp định hướng được mục tiêu, đồng thời bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Khi thực hiện các hoạt động MMA, xác lập doanh nghiệp gặp khó khăn bởi các quy định về tỉ lệ thống lĩnh thị trường, không có cơ quan chuyên môn để xác định được đúng tỉ lệ đó Hành vi thông thầu chưa được xử lý trong phạm vi của Luật cạnh tranh, nguồn lợi nhuận bị mất
đi đáng kể từ việc bỏ qua các hành vi này.
Tác động của Luật cạnh tranh đối với Việt Nam nói chung và cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam nói riêng: Việt nam chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung sang kinh tế thị trường, cạnh tranh được xem là nguồn lực thúc đây phát triển kinh tế, mua bán được tự do hơn, người tiêu dùng được hưởng lợi nhiều hơn Từ khi Luật cạnh tranh ra đời cho thấy ý thức của danh nghiệp, của người dân được nâng cao hơn, là công cụ hết sức hữu hiệu bảo vệ môi trường cạnh tranh lành mạnh, công bằng.
Luật cạnh tranh hiện nay có đủ sức để bảo đảm được một môi trường cạnh tranh lành mạnh? Số lượng Doanh nghiệp thực sự am hiểu về luật canh tranh là một con số còn rất khiêm tốn (có tới 78% DN FDI hiểu rõ về Luật cạnh tranh so với con số khá khiêm tốn 20% DN trong nước) bên cạnh đó, sau hơn 10 năm ban hành, có những điều khoản của luật cạnh tranh đã không còn phù hợp nữa ( cơ cấu cơ quan thi hành pháp luật cạnh tranh, sự chồng chéo trong các quy định liên quan đến pháp luật cạnh tranh ),việc sửa đổi bổ sung Luật cạnh tranh được đặt ra kéo theo sau là vấn đề áp dụng như thế nào để có hiệu quả trên thực tế.
Luật cạnh tranh nên được sửa đổi, đặc biệt trong cơ cấu cơ quan thực thi luật cạnh tranh, tách biệt hành vi cạnh tranh không lành mạnh nên được xử lý theo các pháp luật chuyên ngành khác, thủ tục khiếu kiện, xác định thị phần, chế tài xử phạt
Trang 2Kể từ khi Việt Nam chuyển từ kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường hai từ
“cạnh tranh” có thể được xem là khá xa lạ đối với các doanh nghiệp Luật Cạnh tranh được ban hành cuối năm 2004 và có hiệu lực từ giữa năm 2005, đánh dấu một bước chuyển đáng kể trong quá trình phát triển của nền kinh tế, sau hơn 10 năm áp dụng Luật cạnh tranh đã có những thành công nhất định trong “sứ mệnh” xây dựng một môi trường cạnh tranh lành mạnh
ở Việt Nam, xử lý được những hành vi vi phạm gây ảnh hưởng đến sự vận động vốn có của nền kinh tế, chẳng hạn như: “Giai đoạn từ 2005 – 2015, Cục quản lý cạnh tranh đã điều tra tiền tố tụng 78 vụ việc về tỏa thuận hạn chế cạnh tranh và lạm dụng vị trí độc quyền; Điều tra 8 vụ việc với gần 70 doanh nghiệp, ra quyết định xử lí 5 vụ việc với mức tiền phạt lên đến 5,5 tỷ đồng” Luật cạnh tranh ra đời giống như một động lực thúc đẩy các doanh nghiệp tự mình vươn lên hướng đến mục tiêu của chính mình hơn; quyền lợi người tiêu dùng ngày càng được đảm bảo trong việc đa dạng lựa chọn về chủng loại, chất lượng hàng hóa, dịch vụ; ngoài ra Luật cạnh tranh sẽ là công cụ để bảo vệ doanh nghiệp tránh khỏi nhưng tiêu cực của thị trường nếu doanh nghiệp hiểu và sử dụng “công cụ” này đúng cách Nhìn nhận trong mặt bằng chung hệ thống pháp luật Việt Nam, Luật cạnh tranh được xem là khá hoàn chỉnh, tuy nhiên sự hoàn chỉnh về mặt lý thuyết không quyết định được việc thực thi những quy định trên thực tế hiệu quả hay không.
Thừa nhận những kết quả tích cực nhưng không vì thể mà bỏ đi những mặt trái của Luật cạnh tranh kể từ khi được áp dụng cho đến nay Ở đây người viết muốn đề cập đến hai khía cạnh (1) Một văn bản có hiệu quả áp dụng thực tế phụ vào mức độ rõ ràng của các quy định trong văn bản (2) Khả năng của cơ quan thực thi pháp luật và sự am hiểu của các doanh nghiệp
(1) Phạm vi điều chỉnh của luật cạnh tranh bao gồm các hành vi hạn chế cạnh tranh và hành vi cạnh tranh không lành mạnh, tuy nhiên Luật cạnh tranh không hề đưa ra khái niệm của hai loại hành vi này mà thay vào đó là sử dụng hình thức liệt kê, ngoài ra việc xác định một hành vi như thế nào là hạn chế cạnh tranh, hành vi nào là hành vi cạnh tranh không lành mạnh rất chưa rõ ràng, liên quan đến vấn đề này ta thấy hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền đến việc tập trung kinh tế phụ thuộc nhiều vào yếu tố thị phần của doanh nghiệp trên thị trường liên quan vậy mà pháp luật vẫn còn rất “bấp bênh” trong việc xác định tỉ lệ phần trăm thị phần, thị trường liên quan của doanh nghiệp (đặc biệt là
Hay quy định về các hình thức xử phạt vi phạm pháp luật cạnh tranh chủ yếu thiên về phạt tiền, mang tính hành chính, có những quy định xử phạt mà mức tiền không thật sự có ý nghĩa răn đe các hành vi của doanh nghiệp để họ lựa chọn giữa việc đóng phạt và vi phạm, mặc khác lại có những khoản tiền phạt không “hợp lý”, điển hình việc quy định mức xử phạt lên tới 10% tổng số doanh thu của doanh nhiệp khi có hành vi lạm dụng vị trí độc quyền, trên thực tế con số 10% là quá cao có thể khiến cho một doanh nghiệp đi đến quy cơ phá sản, tại sao lại là 10% tổng doanh thu mà không là phần doanh thu trên lĩnh vực mà doanh nghiệp vi phạm và những quy định
Trang 3khác liên quan đến thủ tục tố tụng trong vụ việc cạnh tranh Hiện nay hành vi vi phạm cạnh tranh được quy định trong khá nhiều các văn bản pháp luật liên quan: Luật quảng cáo, Luật thương mại, pháp lệnh Bảo vệ người tiêu dùng, Luật viễn thông theo ý kiến cá nhân người viết điều này gây ra xự chồng chéo về thẩm quyền giải quyết cung như trong việc áp dụng quy định nào xử lý cho cùng một hành vi đó, trên thực tế có nhiều vụ việc đáng lẽ phải có mặt sự xử lý của cơ quan cạnh tranh nhưng thay vào đó là các văn bản hành
Những điều này làm cho Luật cạnh tranh khó đi sâu vào đời sống hơn, bỏ lọt những hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh, dường như “sứ mệnh” tạo dựng môi trường cạnh tranh lành mạnh cửa Luật cạnh tranh chưa thật sự tốt Ta có thể nhìn nhận thêm qua vấn đề này từ những ví dụ thực tiễn, chẳng hạn: Khi thực hiện các hoạt động MMA, xác lập doanh nghiệp gặp khó khăn bởi các quy định về tỉ lệ thống lĩnh thị trường, không có cơ quan chuyên môn để xác định được đúng tỉ lệ đó Hành vi thông thầu chưa được xử lý trong phạm vi của Luật cạnh tranh, nguồn lợi nhuận bị mất đi đáng kể từ việc bỏ qua các hành vi này (2) Theo quy định của pháp luật cạnh tranh, hiện nay có hai cơ quan chính tiến hành tố tụng cạnh tranh: Cục quản lý cạnh tranh và Hội đồng cạnh tranh, hai cơ quan này được xem là chưa thực sự độc lập và đủ mạnh khi mà Cục quản lý cạnh tranh là một tổ chức trực thuộc Bộ công thương, thành viên cửa Hội đồng canh tranh là những chuyên gia trong một lĩnh vực kinh tế hoặc luật , nhưng điều đó không đồng nghĩa với việc học sẽ am hiểu được hết bản chất vốn phức tạp, đa dạng của hành vi “cạnh tranh” để ra quyết định xử lý đúng đắn.Thứ hai, về quá trình thụ lý hồ sơ khiếu nại, người khiếu nại sẽ không trực tiếp được khiếu nại lên Hội đông cạnh tranh mà phải thông qua Cục quản lý cạnh tranh đối với các hành vi liên quan đến vấn đề hạn chế cạnh tranh, làm cho quá trình xử lý kéo dài, thủ tục phức tạp hóa Nhận thức, am hiểu về Luật cạnh tranh của các doanh nghiệp – chủ thể chính của pháp luật cạnh trạnh góp một phần quan trọng trong việc có hay không sự hiệu quả của các quy định pháp luật cạnh tranh Theo số kiệu báo cáo gần đây nhất (năm 2005) thì chỉ có khoảng 20% doanh nghiệp trong nướ hiểu rõ về Luật cạnh tranh, số còn lại “mơ hồ” hoặc không biết, không nắm được các quy định, trong khi đó cớ tới 78% các doanh nghiệp FDI hiểu và sử dụng Luật cạnh tranh để bảo vệ mình khỏi những tác động xấu cửa thị trường, có phải chăng doanh nghiệp trong nước đang tự mình từ bỏ những quyền lợi đáng ra phải có như các doanh nghiệp FDI.
Từ những phân tích sơ bộ trên, một kết luận được đưa ra là cần có sự sử đổi Luật cạnh tranh, đưa Luật cạnh tranh trở thành một công cụ hiệu quả bảo vệ môi trường tự do kinh doanh lành mạnh Những sửa đổi này không chỉ liên qua đến việc làm rõ các quy định trong Luật cạnh tranh
2004 mà còn là các vấn đề về cơ cấu cơ quan thực thi luật cạnh tranh, tách biệt hành vi cạnh tranh không lành mạnh nên được xử lý theo các pháp luật chuyên ngành khác, hạn chê chồng chéo pháp luật, thay thủ tục khiếu kiện, chế tài xử phạt và một điều đặc biệt quan trọng hơn
Trang 4hết là nâng cao nhận thức của doanh nghiệp về pháp luật cạnh tranh, nếu không muốn bị loại khỏi cuộc chơi “thương mại tự do” ngày càng khốc liệt.
Video 2: FBNC - Dự Thảo Luật Cạnh Tranh Sửa Đổi : Còn Nhiều Điểm Cần Làm Rõ
Tóm tắt: Bài tóm tắt dưới đây sử dụng ngôn ngữ của người viết được trích lọc từ ý kiến của các chuyên
gia, doanh nghiệp nên sẽ không trích dẫn tên, người đọc có thể xem video trực tiếp tại link: https://www.youtube.com/watch?v=CvvjaXDnAPw
Vấn đề chính: Dự thảo luật cạnh tranh và các vấn đề cần được làm rõ hơn ữa, hướng tới lành mạnh hóa thị trường
Thiếu vắng bóng dáng của pháp luật cạnh tranh trong các vụ việc được nhận định là có hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh, thay vào đó là các biên bản hành chính của cơ quan Nhà nước (Ví dụ: giá cước vận tải tăng trong khi xăng dầu giảm, thị trường sữa bột luôn có xu hương tăng so với mặt bằng chung nước ngoài) Luật cạnh tranh chưa hoàn thành được “sứ mệnh” tạo lập một môi trường cạnh tranh lành mạnh, sự nhận diện về vai trò của Luật cạnh tranh đối với CQNN, doanh người, người dân còn
mờ nhạt, đối tượng Luật cạnh tranh còn hẹp, thiết chế cơ quan quản lý cạnh tranh chưa đử độc lạp, đủ mạnh và chuyên nghiệp đễ xử lý các vi phạm pháp luật cạnh tranh
Theo ý kiến đóng góp của các doanh nghiệp, dự thảo Luật cạnh tranh mở rộng đối tượng của Luật cạnh tranh, CQNN có thể là chủ thể bị xử lý vi phạm pháp luật cạnh tranh Luật cạnh tranh cần xác định các nguyên tắc cơ bản (chẳng hạn nguyên tắc bảo vệ lợi ích người tiêu dùng) Luật cạnh tranh chưa quy định được quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp khi thực thi pháp Luật cạnh tranh Chính sách khoan hồng gặp nhiều phản đối khi có ý kiến cho rằng điều này có vẻ như khuyến khích doanh nghiệp vi phạm Luật cạnh tranh
Bình luận:
Ở đây người viết sẽ không bàn thêm về những bất cập trong việc áp dụng Luật cạnh tranh 2004 mà thay vào đó sẽ tập chung phân tích một số khia cạnh của Dự thảo Luật cạnh tranh
Dự thảo Luật cạnh tranh do Bộ công thương đưa ra đã có được những bổ sung sửa đồi quan trọng so
Thứ nhất, so với trước kia các doanh nghiệp nước ngoài - đối tượng vốn chưa được quy định rõ ràng
trong luật hiện hành, lo ngại về việc có hay không khả năng mình bị điều chỉnh bởi Luật Cạnh tranh của Việt Nam, thì theo dự thảo Luật Cạnh tranh đã mở rộng phạm vi áp dụng với cả doanh nghiệp nước ngoài, hiểu theo nghĩa được thành lập và hoạt động theo pháp luật nước ngoài Điều này cho phép cơ quan thực thi pháp luật cạnh tranh có căn cứ vững chắc hơn trong việc xử lý các vi phạm của các doanh nghiệp nước ngoài, bảo vệ được các doanh nghiệp trong nước trước những nguy cơ do tự do hóa thương mại mang lại Ngoài ra, đối tượng của Luật cạnh tranh còn được mở rộng ra đối với các cơ quan Nhà nước (Khoản 2 Điều 2 Dự thảo Luật cạnh tranh) Việc mở rộng đối tượng điều chỉnh của Luật cạnh tranh ra cơ quan nhà nước đảm bảo giải quyết được những vấn đề vốn tồn tại trên thực tế, ví dụ như cơ quan Bộ, ngành ở cả Trung ương và địa phương ban
Trang 5hành các chính sách và văn bản hành chính tạo sự phân biệt đối xử, gây cạnh tranh không công bằng giữa DNNN và các doanh nghiệp khác hay đơn cử, vào đầu năm 2015, chính quyền một địa phương đã phát công văn yêu cầu đẩy mạnh sử dụng tiêu thu một sản phẩm bia của DN có nhà máy trên địa bàn tới các cơ quan, DN (yêu cầu vận dộng, ưu tiên sử dụng đích danh tên sản phẩm)
Thứ hai, về hành vi hạn chế cạnh tranh, dự thảo đã điều chỉnh cách tiếp cận trong việc kiểm soát các
hành vi hạn chế cạnh tranh, gồm thoả thuận hạn chế cạnh tranh, lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí độc quyền theo hướng phù hợp với thực tiễn cạnh tranh trên thị trường và thông lệ quốc
tế, nâng cao hiệu quả thực thi, cụ thể không tiếp cận kiểm soát các hành vi hạn chế cạnh tranh chỉ dựa vào tiêu chí thị phần– tiêu chí khó lòng xác định được, mà kiểm soát hành vi trên cơ sở bản chất, tác động hoặc khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể của hành vi
Thứ ba, Dự thảo Luật Cạnh tranh xác định tiêu chí thị phần không phải là tiêu chí duy nhất phản ánh vị
thế, sức mạnh của doanh nghiệp, chẳng han như ở những thị trường có rào cản gia nhập và mở rộng thị trường thấp, doanh nghiệp có mức thị phần cao chưa hẳn đã có sức mạnh thị trường và ngược lại, theo
đó dự thảo đưa ra thêm những tiêu chí đánh giá khác như : cấu trúc thị trường và tương quan thị phần giữa các doanh nghiệp trên thị trường; năng lực công nghệ, cơ sở vật chất, …cung với việc xác định thị phần doanh nghiệp (Điều 10 Dự thảo Luật cạnh tranh)
Thứ tư, bổ sung quy định cấm tổ chức, cá nhân thực hiện các hành vi liên quan đến thoả thuận hạn chế
cạnh tranh như: kêu gọi, dụ dỗ, ép buộc các doanh nghiệp tham gia vào thoả thuận hạn chế cạnh tranh; cung cấp thông tin nhằm hình thành các thoả thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm
Bổ sung quy định về khoan hồng đối với doanh nghiệp tham gia thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, một điểm mới hoàn toàn so với Luật cạnh tranh 2004 (Điều 17 Dự thảo Luật cạnh tranh)
Về chính sách khoan hồng, chúng ta sẽ phân tích kỹ hơn ở phần sau
Thứ năm, tăng cường sự chủ động của doanh nghiệp trong việc thực hiện thủ tục thông báo với cơ quan
cạnh tranh và mở rộng các yếu tố đánh giá một vụ việc tập trung kinh tế Ngoài ra so với Luật cạnh tranh
2004, cơ quan thực thi pháp luật kiểm soát hành vi hạn chế cạnh tranh đã thay đổi quan trọng Theo đó,
Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia (được gọp lại từ Cơ quan quản lý cạnh tranh và hội đồng cạnh tranh) là cơ quan nhà nước thuộc Chính phủ và do Chính phủ thành lập, thực hiện quản lý nhà nước về cạnh tranh; giám sát các hoạt động cạnh tranh trên thị trường; tiến hành điều tra, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về cạnh tranh, điều này đảm bảo cho sự độc lập và nhất quan strong việc điều tra, đưa ra quyết định
xử lý các hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh
Dự thảo Luật cạnh tranh có những tiến bộ đáng kể, vấn đề đặt ra là những điểm sửa đổi này đã thực
sự giải quyết được những vấn đề còn tồn tại ở Luật cạnh tranh hiện hành chưa?
Đầu tiên, liên quan đến vấn đề về đối tượng của Luật cạnh tranh Doanh nghiệp là chủ thể chủ yếu của
Luật cạnh tranh, tuy nhiên trong dự thảo lại không có điều khoản nào quy định về quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp nói chung, nhất là doanh nghiệp vừa và nhỏ, khiến cho những doanh nghiệp gặp khó khăn khi tham gia thị trường không biết mình được và không được làm gì
Điểm thứ hai, dự thảo sửa đổi phạm vi điều chỉnh rộng hơn so với Luật Cạnh tranh 2004 và việc xem xét
cả các yếu tố định tính đối với một hành vi thì doanh nghiệp và ngay cả cơ quan nhà nước đều có thể gặp
Trang 6khó khăn trong quá trình thực thi quy định mới (nếu được thông qua) Chẳng hạn là việc đánh giá “tác động hoặc khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể trên thị trường” theo Điều 24,
dự thảo Luật Cạnh tranh sửa đổi Bởi lẽ, việc đánh giá có thể mang tính chủ quan dựa trên mức độ tác động hạn chế cạnh tranh hay mức độ tác động thúc đẩy cạnh tranh, gây tranh cãi giữa các bên Chính vì vậy, tính ứng dụng của điều khoản mới sẽ phụ thuộc rất nhiều vào các hướng dẫn chi tiết của Chính phủ tại nghị định khi triển khai thực hiện Luật Cạnh tranh sửa đổi
Cuối cùng, quay lại vấn đề chính sách khoan hồng trong hạn chế cạnh tranh, nhiều ý kiến cho rằng chính
sách khoan hồng này chính là khuyến khích các hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh của các doanh nghiệp, khi mà họ đã cố tình vi phạm, sau đó ra “đầu thú” để được nhận chính sách khoan hồng Để trả lời cho việc có hay không lợi ích mà chính sách khoan hồng mang lại Ta đi trả lời những câu hỏi sau: (1) Chính sách khoan hồng là gì? Theo quy định tại Điều 17 Dự thảo sửa đổi Luật cạnh tranh ta có thể hiểu đơn giản chính sách khoan hồng là chính sách miễn, giảm hình phạt mà nhà nước dành cho các doanh nghiệp tham gia vào thỏa thuận hạn chế cạnh tranh theo những điều kiện nghiêm ngặt nhằm đổi lấy sự hợp tác và/ hoặc cung cấp thông tin có giá trị để giúp cơ quan nhà nước có thẩm quyền phá vỡ các
(2) Chính sách khoan hành có áp đảo được hành vi của doanh nghiệp? Một thị trường có quá nhiều doanh nghiệp tham gia thật sự sẽ có rất ít hành vi thoản thuận hạn chế cạnh tranh xảy ra, bởi lẽ, khó mà hòa hợp được một lợi ích nhóm quá đông, tồn tại quá nhiều thành phần doanh nghiệp Việc thỏa thuân đồng nghĩa với việc doanh nghiệp tham gia vào một cuộc chơi mà quy luật do các bên đặt ra, điều gì sẽ xảy ra khi một trong các doang nghiệp phá vỡ quy tắc của trò chơi đó, sẽ không một doanh nghiệp nào biết người đang “hợp tác với mình” là tốt hay xấu, trong một thỏa thuận một doang nghiệp sẽ có hai lựa chọn hoặc là sử dụng chiến lược bị áp đảo – luôn trong mối lo lắng rằng đối phương có tố cáo hành vi của mình hai không hoặc là chiến lược áp đảo – chiến lược này cho phép doanh nghiệp ở thể chủ động,
tố cáo đối phương, giành phần thiệt hại ít hơn về mình Cái mà người viết muốn nói đến ở đây chính là ứng dụng quy tắc trò chơi và chính sách “cây gậy và củ cà rốt” vào việc xây dựng chính sách khoan hồng
Để các doanh nghiệp trong một thỏa thuận hợp tác với cơ quan cạnh tranh trong quá trình điều tra một thỏa thuận hạn chế cạnh tranh đồng nghĩa với việc doanh nghiệp sử dụng chiến lược áp đảo, tuy nhiên khi sử dụng chiến lược này, doanh nghiệp luôn sẽ đắng đo cân nhắc xem lợi ích giữa việc tuân thủ các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh và nguy cơ bị xử lý vi phạm là thế nào, mặc khác việc một doanh nghiệp phản bội các doanh nghiệp khác thông qua việc hợp tác và cung cấp thông tin cho cơ quan cạnh tranh xử
lý các doanh nghiệp còn lại, doanh nghiệp hoặc các cá nhân có liên quan này có thể đứng trước nguy cơ
bị trả thù/ trả đũa, bởi lẽ việc kinh doanh là chuyện lâu dài Đây là những lý do có thể khiến chính sách khoan hồng khó có khả năng thực thi Vì vậy, khi đưa ra quyết định áp dụng chính sách khoan hồng, nhà làm luật cần cân nhắc và đảm bảo đưa ra những chế tài nghiêm khắc đối với các doanh nghiệp tham gia vào các hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh nghiêm trọng và không tự khai báo Điều này tạo ra sức
ép cho doanh nghiệp, là động cơ để họ khai báo, xin khoan hồng; phải có tính minh bạch và khả năng dự đoán được trong phạm vi rộng nhất có thể trong suốt chương trình thực thi pháp luật chống các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, để các doanh nghiệp có thể tiên đoán với mức độ chắc chắn cao về cách họ sẽ được đối xử như thế nào nếu họ tìm kiếm sự khoan hồng, và hậu quả sẽ ra sao nếu không hợp tác; bảo đảm bí mật về tài liệu, thông tin các danh nghiệp cung cấp, tránh hệ quả về sau cho các doanh nghiệp
Trang 7này khi tham gia thị trường Ngoài ra trong dự thảo Luật cạnh tranh còn quy định, để có thể được hưởng chính sách khoan hồng, các doanh nghiệp phải thỏa mãn được những điều kiện cụ thể khác
Như vậy sẽ là không có bất cứ sự khuyến khích vi phạm pháp luật cạnh tranh nào ở đây nếu như việc ban hành chính sách khoan hồng đi kèm với những điều khoản siết chặt chế tài, ép buộc sự lựa chọn của doanh nghiệp, đồng thời chính sách này còn khuyến khích và giúp ích cho cơ quan quản lý cạnh tranh phát hiện và xử lý các hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, những hành vi mà vốn được tiến hành một cách bí mật và cơ quan cạnh tranh hầu như không có hoặc có rất ít chứng cứ về thỏa thuận
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Luật Cạnh tranh 2004
Dự thảo Luật cạnh tranh
Luật sư Nguyễn Thanh Hà – Dự thảo Luật cạnh tranh sửa đổi hướng đến lành mạnh thị trường
Chính sách khoan hồng trong Dự thảo Luật Cạnh tranh nhìn từ lý thuyết trò chơi - Ths.Phạm Hoài Huấn
Và một số tài liệu tham khảo khác