1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

skkn rèn kĩ NĂNG đọc ĐÚNG CHO học SINH lớp 2”

34 450 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 526,72 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Là một giáo viên nhiều năm liền dạy lớp 2, tôithấy việc rèn đọc cho học sinh để học tốt môn tập đọc là vô cùng cần thiết và quan trọng.Người giáo viên không những rèn cho học sinh đọc đú

Trang 1

“RÈN KĨ NĂNG ĐỌC ĐÚNG CHO HỌC SINH LỚP 2”

I : PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Đảng nhận định “ Tiểu học là bậc học nền tảng trong hệ thống giáo dục quốc dân” Nền tảng có chắc có vững thì toàn hệ thống mới tạo nên cấu trúc bền vững và phát triển hài hòa Mục tiêu giáo dục tiểu học nhằm “ Hình thành cho học sinh những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài, về tình cảm, trí tuệ, thể chất và kĩ năng cơ bản” Giáo dục tiểu học tạo tiền đề cơ bản để nâng cao dân trí, là cơ sở ban đầu hết sức quan trọng để đào tạo thế hệ trẻ trở thành người công dân tốt trong giai đoạn mới.

Chúng ta biết rằng: “ Nhân cách của con người chỉ có thể hình thành thông qua hoạtđộng giao tiếp” Để xã hội tồn tại và phát triển, giao tiếp được thuận tiện, mỗi dân tộc, mỗiquốc gia đều có ngôn ngữ riêng Tiếng Việt là một ngôn ngữ thống nhất trên toàn lãnh thổViệt Nam

Nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy trong nhà trường nói chung và trong bậc tiểuhọc nói riêng, hiện nay vấn đề cải cách giảng dạy là mối quan tâm chung của toàn xã hội.Chính sự đổi mới phương pháp giáo dục này sẽ góp phần quan trọng trong việc thực hiệnmục tiêu đào tạo của ngành giáo dục, đào tạo con người mới, con người lao động, tự chủsáng tạo có kỉ luật có năng suất lao động cao trong sự nghiệp công nghiệp hiện đại hóa đấtnước đòi hỏi những chủ nhân tương lai vừa giỏi năng lực chuyên môn, vừa có nhân cáchtốt Để làm việc này ngành giáo dục có sự thay đổi nội dung chương trình để nâng caochất lượng dạy và học Phân môn Tập đọc không nằm ngoài vấn đề đó

Như chúng ta đã biết, giao tiếp bằng ngôn ngữ được thực hiện qua hai hình thức:khẩu ngữ (giao tiếp bằng lời nói) và bút ngữ (giao tiếp bằng chữ viết) Giao tiếp bằng hìnhthức khẩu ngữ bao gồm hai hành vi nói và nghe Giao tiếp bằng bút ngữ gồm hai hành viviết và đọc Cho dù là giao tiếp bằng khẩu ngữ hoặc bút ngữ thì sản phẩm của giao tiếpvẫn chứa đựng nội dung thông tin do người nói hoặc viết sản sinh ra Trong đó đọc là mộthoạt động giao tiếp bằng khẩu ngữ, là hành vi tiếp nhận thông tin qua văn bản Nhờ hoạtđộng đọc mà con người đã chuyển giao cho nhau những kinh nghiệm của đời sống, những

Trang 2

thành tựu văn hoá, khoa học, tư tưởng, tình cảm, thông tin hiểu biết của các thế hệ trước

và của cả những người đương thời, phần lớn được ghi lại bằng chữ viết, làm giàu thêm trithức của mỗi người và thúc đẩy xã hội không ngừng phát triển

- Nếu không biết đọc thì con người không thể tiếp thu nền văn minh của loài người, khôngthể sống một cuộc sống bình thường có hạnh phúc theo đúng nghĩa trong một xã hội hiệnđại ngày nay Vì vậy, đọc là một nhu cầu không thể thiếu đối với mỗi con người

- Trên đây là tầm quan trọng của việc đọc đối với một đời người, nhưng đối với một đứatrẻ thì việc đọc lại càng có ý nghĩa thực tế hơn

+ Trước hết là trẻ phải đi học, phải học đọc, sau đó trẻ phải đọc để học Việc đọc giúp trẻchiếm lĩnh một ngôn ngữ để dùng trong giao tiếp và học tập Nó là công cụ để học tập cácmôn học khác

+ Đọc sẽ tạo ra hứng thú và động cơ học tập, tạo điều kiện để học sinh có khả năng tự học

và tinh thần học tập cả đời

+ Mục đích cuối cùng của việc đọc là để hiểu và vận dụng những điều đã học vào cuộcsống Vì vậy, sau khi đã hoàn thành việc đọc đúng, đọc trơn ở lớp 2 sang lớp 3 các em sẽtiếp tục được hoàn thiện và tập trung vào việc đọc hiểu và diễn cảm nhiều hơn Chínhnhững điều kiện vừa nêu trên khẳng định sự cần thiết việc hình thành và phát triển mộtcách có hệ thống về năng lực đọc cho học sinh

- Là một giáo viên được phân công giảng dạy lớp 2 bản thân tôi luôn băn khoăn, trăn trở

về việc tìm ra một số giải pháp nào đó nhằm nâng cao kĩ năng đọc cho học sinh, giúp họcsinh dễ dàng hơn trong việc tiếp cận kiến thức Đó cũng là lý do tôi chọn đề tài “Rèn kĩnăng đọc đúng cho học sinh lớp 2” để nghiên cứu, nhằm trao đổi cùng đồng nghiệp trongviệc giáo dục con người mà mỗi giáo viên chúng ta đang đảm nhận nhiệm vụ cao cả đó

2 Những điểm mới của đề tài.

Đề tài “Rèn kĩ năng đọc đúng cho học sinh lớp 2” là một trong những nội dung khámới mẻ, bởi phần lớn đồng nghiệp quan tâm nhiều đến phân môn Luyện từ và câu hayphân môn Tập làm văn nhiều hơn Vẫn có nhiều ý kiến cho rằng đọc chỉ mang tính hìnhthức còn kĩ năng viết mới là quan trọng nên ít quan tâm đến việc rèn kĩ năng đọc cho học

Trang 3

sinh Trong đề tài này bản thân không những chỉ ra những nguyên nhân, giải pháp rèn kĩnăng đọc mà quan trọng hơn là rèn cho các em các kĩ năng: đọc đúng, đọc nhanh, đọchiểu, đọc diễn cảm.

3 Phạm vi nghiên cứu đề tài.

Với đề tài “Rèn kĩ năng đọc đúng cho học sinh lớp 2” tôi áp dụng cho học sinh lớp2C – Lớp tôi giảng dạy năm học 2016 – 2017, và có thể áp dụng rộng rãi đối với học sinhkhối 2 trong trường

II PHẦN NỘI DUNG

Những kinh nghiệm của đời sống, thành tựu văn hoá, khoa học đều được ghi lạibằng chữ viết Nếu không biết đọc chúng ta sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận vớinguồn thông tin, tri thức của con người Vì vậy, dạy đọc có một ý nghĩa to lớn Nó trởthành một đòi hỏi cơ bản, đầu tiên là trẻ phải biết đọc, sau đó đọc để học Nó là công cụ đểhọc các môn học khác, là một khả năng không thể thiếu được của con người trong thời đạivăn minh Đọc một cách có ý thức sẽ tác động tích cực tới trình độ ngôn ngữ cũng như tưduy của người đọc Thông qua việc dạy đọc giúp học sinh phát triển kỹ năng đọc và nghe,

mở rộng vốn hiểu biết, bồi dưỡng lòng yêu cái thiện, cái đẹp, dạy cho các em biết suy nghĩmột cách lôgíc cũng như có hình ảnh Trau dồi vốn Tiếng Việt, vốn văn học, phát triển tưduy, mở rộng vốn hiểu biết về cuộc sống Bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm và tâm hồn lànhmạnh, trong sáng, có thái độ ứng xử đúng trong cuộc sống, hứng thú đọc sách và yêu thíchTiếng Việt Như vậy dạy đọc có ý nghĩa to lớn vì nó bao gồm các nhiệm vụ giáo dục, giáodưỡng và phát triển

Vì vậy ai đã từng dạy lớp 2 ở trường tiểu học đều phải công nhận rằng dạy lớp 2không phải là dễ, bởi lẽ các em mới từ lớp 1 lên lại phải làm quen với rất nhiều môn học,trong đó có môn Tiếng Việt Ở lớp 1 yêu cầu các em chỉ cần đọc đủ, đọc đúng còn việc

Trang 4

đọc hay và đọc diễn cảm chưa cần thiết Là một giáo viên nhiều năm liền dạy lớp 2, tôithấy việc rèn đọc cho học sinh để học tốt môn tập đọc là vô cùng cần thiết và quan trọng.Người giáo viên không những rèn cho học sinh đọc đúng, đọc rõ ràng từng từ, từng câutrong một đoạn văn, đoạn thơ ngắn, biết dừng hơi ở dấu phẩy, dấu chấm câu mà phải rèncho học sinh bước đầu biết thay đổi giọng đọc phù hợp với bài thơ hoặc bài văn xuôi.Trong tiết Tập đọc, muốn phát huy tính tích cực của học sinh thì giáo viên cần khai tháctriệt để đồ dùng dạy học, tranh ảnh, SGK.

- Cho các em tự phát hiện từ khó đọc nhưng không cần có biện pháp định hướng rõ ràng,

cụ thể không nên cho học sinh tìm lan man, không có trọng tâm.Giáo viên cần nắm chắc

quy tắc ngắt giọng ở những câu dài (hoặc ngắn) ở các văn bản thơ để khi dạy học sinh

không ngắt giọng sai Hay cách giúp học sinh hiểu nghĩa của từ còn gò bó,chưa phong phú.Tất cả những thực tế trên đều làm tăng hiệu quả của các tiết dạy Tập đọc ở lớp 2 hiện nay

II.1.Đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi học sinh lớp 2

Học sinh lớp 2 còn nhỏ,có những hạn chế về tâm sinh lý nên điều kiện tiếp xúc xãhội còn găp nhiều khó khăn Các em còn rụt rè chưa tự tin Chính vì vậy mà trong giờhọc,các em thường ít phát biểu, ngại nói ra những suy nghĩ của mình Một vài em tuy cóbạo dạn hơn song khi đứng lên nói,các em không giám bộc lộ lời nói giọng đọc phù hợpvới văn cảnh vì sợ các bạn và thầy cô giáo chê cười Chính vì vậy mà giờ Tập đọc cònbuồn tẻ, học sinh đọc thêm bớt từ, sai lỗi, chưa diễn cảm, chưa phù hợp với văn cảnh củavăn bản

Từ những đặc điểm sinh lý đó của học sinh lớp 2, người giáo viên khi dạy môn TiếngViệt nói chung, phân môn Tập đọc nói riêng, cần phải thay đổi hình thức giảng dạy, tìmmột số biện pháp tích cực để rèn đọc giúp các em có thể đọc hay, đọc đúng các văn bảntrong sách giáo khoa hay nói rộng hơn là đọc tốt tất cả các văn bản khi gặp

II.2: Mục tiêu của phân môn Tập đọc.

1.Phát triển các kĩ năng đọc,nghe và nói cho HS cụ thể là:

a Đọc thành tiếng:

Phát âm đúng

Trang 5

Ngắt nghỉ hơi hợp lý

Tốc độ đọc vừa phải ( không ê a hay ngắt ngứ) đạt yêu cầu theo từng giai đoạn như sau:

b Đọc thầm và hiểu nội dung:

-Biết đọc không thành tiếng, không mấp máy môi

-Hiểu được nghĩa của các từ ngữ trong văn cảnh( bài đọc)

- Nắm được nội dung của câu, đoạn hoặc bài đọc

c Nghe:

- Nghe và nắm được cách đọc đúng các từ ngữ, câu, đoạn và bài

- Nghe hiểu các câu hỏi và yêu cầu của thầy cô

-Nghe hiểu và có khả năngnhận xét ý kiến của bạn

d Nói:

- Biết cách trao đổi với các bạn trong nhóm học tập về bài đọc

- Biết cách trả lời các câu hỏi của bài đọc

2.Trau dồi vốn Tiếng Việt, vốn văn học, phát triển tư duy, mở rộng sự hiểu biết của họcsinh về cuộc sống cụ thể là:

- Làm giàu và tích cực hóa vốn từ, vốn diễn đạt

-Bồi dưỡng vốn ban học ban đầu, mở rộng hiểu biếtvề cuộc sống, hình thành một số kĩnăng phục vụ cho đời sống và việc học tập của bản thân( như khai lý lịch đơn giản, đọcthời khóa biểu, tra và lập mục lục sách…)

- Phát triển một số thao tác tư duy cơ bản ( phân tích, tổng hợp, phán đoán… )

3 Bồi dưỡng tư tưởng tình cảm và tâm hồn lành mạnh, trong sáng; tình yêu cái đẹp, cáithiện và thái độ ứng xử đúng mực trong cuốc sống; hứng thú đọc sách và yêu Tiếng Việt

Trang 6

-Từ những mẩu chuyện bài văn, bài thơ hấp dẫn trong SGK, hình thành lòng ham muốnđọc sách, khả năng cảm thụ văn bản văn học, cảm thụ vẻ đẹp của Tiếng Việt và tình yêuTiếng Việt.

II.3: Thực trạng của việc dạy Tập đọc ở khối lớp 2

Thực tế qua khảo sát chất lượng đầu năm của học sinh tôi nhận thấy rằng học sinh phát

âm sai quá nhiều, phổ biến là sai các phụ âm đầu vần và dấu thanh Trong đó phổ biến là

các phụ âm đầu như l/n;ch/tr;s/x và các dấu thanh hỏi, ngã Ngoài ra các em chưa biết đọc

diễn cảm, giọng đọc còn đều đều, chưa biết thể hiện lên giọng hoặc hạ giọng, đôi khi cònkéo dài giọng ở các câu thơ, câu văn khiến người nghe không cảm nhận được cái hay củabài văn, bài thơ đó

Các lỗi học sinh thường mắc là :

*Đọc sai do phát âm hoặc tư có vần khó:

- ân/anh: cái cân/dây phanh;

- Lỗi do đọc nhầm dấu huyền thành dấu sắc và ngược lại: cùng/cúng

- Lỗi do đọc nhầm dấu ngã thành dấu sắc và ngược lại:cũng/cúng

*Đọc bớt tiếng hoặc thêm tiếng:

Ở bài tập đọc “Bím tóc đuôi sam”có một câu: “Một hôm, Hà nhờ mẹ tết cho hai bím tócnhỏ, mỗi bím tóc buộc một cái nơ.” câu này học sinh lại đọc là: “ Một hôm, Hà nhờ mẹ tết

cho Hà hai cái bím tóc, mỗi cái bím tóc buộc thêm một cái nơ.”

*Đọc không biết ngắt giọng, nhấn giọng phù hợp:

Ví dụ: ở bài “Người mẹ hiền” có câu khi đọc cần nhấn giọng ở các từ ngữ ; cố lách, nắm

chặt, nghiêm giọng …nghỉ hơi sau dấu phẩy và giữ các cụm từ thì các em lại không thực

hiện được mà tất cả đọc bài với giọng đều đều

Trang 7

Học sinh đọc như sau: “ Đến lượt Nam đang cố lách ra thì bác bảo vệ vừa tới, /nắm chặthai chân em :// “Cậu nào đây?// Trốn học hả?//.Cô giáo xoa đầu Nam/và gọi Minh đangthập thò ngoài cửa lớp vào, nghiêm giọng hỏi:/ “Từ nay các em có trốn học đi chơi nữakhông?”//

*Đọc phân vai còn lúng túng

Trong bài : “Chiếc bút mực” để đọc được bài này, toàn bài đọc với giọng kể chậm rãi,giọng Lan buồn, còn giọng Mai rứt khoát pha chút nuối tiếc, giọng cô giáo dịu dàng, thânmật.Tuy nhiên, khi đọc học sinh thể hiện tất cả giọng các nhận vật như nhau hết Thậm chí

có học sinh còn không biết đâu là lời của nhân vật, đâu là lời người dẫn chuyện

* Đọc mà không hiểu nội dung:

Có nhiều học sinh sau khi đọc xong nội dung một bài văn hay bài thơ, có khi đọc một câuvăn, một đoạn nhưng không hiểu nội dung đó là gì, thậm trí có lúc còn đọc rất nhiều lần

II.4 Nguyên nhân dẫn đến việc đọc sai:

1.Đối với giáo viên:

+ Do chất lượng đọc của giáo viên còn ngọng dấu thanh và cách phát âm chưa chuẩn doảnh hưởng của phương ngữ

+ Do còn coi nhẹ việc rèn đọc diễn cảm cho mình và cho học sinh

+ Trong giờ Tập đọc chưa chú trọng đến khâu luyện phát âm và hướng dẫn luyện cáchngắt, nghỉ, nhấn giọng chưa hợp lí

+ Chưa giảng sâu nội dung bài Tập đọc, nhấn mạnh tính cách nhân vật, chưa hướng dẫn

cụ thể cách đọc giọng kể như thế nào, giọng nhân vật ra làm sao Do đó học sinh khôngđịnh hình được cách thay đổi giọng điệu cho phù hợp với nội dung đọc, chưa thực sự gâyhứng thú cho học sinh

+ Do giáo viên chưa thực sự tâm huyết rèn đọc cho học sinh ở mọi lúc, mọi bài học chohọc sinh

+ Do giáo viên chưa động viên, khích lệ kịp thời cho học sinh

2.Đối với học sinh:

+ Do các em chưa đạt chuẩn ở lớp 1, chưa nhận được mặt chữ một cách rõ ràng

Trang 8

+ Do chưa nắm và phân biệt đúng cách đọc các âm vần và thanh điệu.

+ Do ảnh hưởng của gia đình, của phương ngữ

+ Do các em chưa có ý thức luyện đọc

+ Do chưa nắm rõ qui tắc ngắt, nghỉ hơi

+ Do chưa biết cách thể hiện giọng đọc

+ Do đọc diễn cảm các em còn ngượng ngùng xấu hổ

3 Khảo sát điều tra:

Tôi thiết nghĩ đối với học sinh lớp 4-5 việc đọc đúng và đọc diễn cảm đã là một vấn đềrất khó,vậy mà đối với học sinh lớp 2 lại càng khó hơn nhiều Bởi vì các em là những họcsinh của bậc học đầu tiên sau bậc học còn đánh vần ở lớp 1.Các em bắt đầu được làm quenvới cách đọc trơn, đọc liền mạch và nâng cao dần là đọc được diễn cảm Từ những suynghĩ đó mà ngay từ đầu năm học, tôi tiến hành điều tra và khảo sát chất lượng của học sinhlớp 2C để đối chứng bằng cách cho học sinh đọc trực tiếp một đoạn văn hay một đoạn thơrồi tìm hiểu nội dung của đoạn văn đoạn thơ đó, sau đó hệ thống các lỗi mà học sinh cònmắc phải

Kết quả cụ thể:

Lớp Sĩ

số Đọc ngọng

Đọc saiphụ âmđầu

Đọc sai

Đọc diễncảm

Trang 9

Để khắc phục tình trạng này, thì mỗi người giáo viên phải có giọng đọc chuẩn, cótính kiên trì và tự bồi dưỡng cho mình, có phương pháp dạy học phù hợp với khả năngnhận thức của từng học sinh Đây là cả một quá trình nghệ thuật sư phạm mà mỗi giáoviên lớp 2 nói chung và người giáo viên Tiểu học cần phải có, cần nghiên cứu kĩ để thựchiện

* Tham khảo thực trạng việc đọc và rèn đọc của giáo viên và học sinh trong tổ khối

II 5 Một số biện pháp dạy tập đọc cho học sinh lớp 2

Năng lực đọc được cụ thể hoá thành các kỹ năng đọc Chúng chỉ được hình thành khihọc sinh thực hiện hai hình thức đọc: Đọc thành tiếng và đọc thầm Chỉ khi nào học sinhthực hiện thành thạo hai hình thức đọc này mới gọi là biết đọc Vì vậy, tổ chức dạy tập đọccho học sinh chính là quá trình làm việc của thày và trò để thực hiện hai hình thức này,nhằm hướng tới mục đích cuối cùng của việc đọc là thông hiểu nội dung văn bản Cụ thểnhư sau:

II.5.1.Đọc mẫu: Đọc mẫu của GV bao gồm:

Đọc mẫu toàn bài: thường nhằm giới thiệu, gây cảm xúc, tạo hứng thú học đọc cho HS.Đọc câu, đoạn: nhằm hướng dẫn gợi ý hoặc tạo tình huống để học sinh nhận xét, giảithích nội dung bài đọc

Đọc từ, cụm từ: nhằm sửa phát âm sai và cách đọc đúng cho HS

II.5.2.Hướng dẫn tìm hiểu nghĩa của từ trong bài, tìm hiểu nội dung bài đọc:

* Hướng dẫn tìm hiểu nghĩa của từ trong bài:

a.Những từ ngữ cần tìm hiểu nghĩa:

-Từ khó đối với học sinh được chú giải ở sau bài đọc

-Từ phổ thông mà học sinh chưa quen

Trang 10

-Từ ngữ đóng vai trò quan trọng để giúp người đọc dễ hiểu nội dung bài Đối với những

từ còn lại, nếu có học sinh nào chưa hiểu, GV giải thích riêng cho HS đó hoặc tạo điềukiện để học khác giải thích giúp, không nhất thiết phải đưa ra giảng chung cho cả lớp.b.Cách hướng dẫn tìm hiểu nghĩa của từ ngữ:

GV có thể giải nghĩa,nêu ví dụ cho HS hiểu hoặc gợi ý cho HS làm những bài tập nhỏ

để tự nắm nghĩa của từ ngữ bằng một số biện pháp sau:

-Đặt câu với từ ngữ cần giải nghĩa

-Tìm những từ đồng nghĩa với từ ngữ cần giải nghĩa

-Tìm những từ trái nghĩa với từ ngữ cần giải nghĩa

-Miêu tả sự vật, đặc điểm được biểu thị ở từ ngữ cần giải nghĩa Ngoài ra, cũng có thể giúphọc sinh nắm nghĩa của từ bằng đồ dùng dạy học( hiện vật, tranh vẽ, mô hình… ) Điềucần chú ý là dù giải nghĩa từ theo cách nào cũng chỉ nên giới hạn trong phạm vi cụ thể ởbài đọc, không mở rộng ra những nghĩ khác nhất là những nghĩa xa lạ với HS lớp 2

* Hướng dẫn tìm hiểu nôi dung bài:

a.Phạm vi nội dung cần tìm hiểu

-Nhân vật ( số lượng, tên, đặc điểm…), tình tiết của câu chuyện; nghĩ đen và những nghĩabóng dễ nhận ra của các câu văn, câu thơ

-Ý nghĩa của câu chuyện, của bài văn, bài thơ

b.Cách tìm hiểu nội dung bài đọc:

Tìm hiểu nội dung bài đọc thể hiện ở những câu hỏi đặt sau mỗi bài Dựa vào hệ thốngcâu hỏi đó GV tổ chức sao cho mỗi HS đều được làm việcđể tự mình nắm được nội dungbài Để giúp HS hiểu bài GV cần hỏi những câu hỏi phụ, những yêu cầu , những lời giảng

Trang 11

bổ sung Sau khi HS nêu ý kiến, GV sơ kết nhấn mạnh ý chính Trong quá trình tìm hiểubài GV cần chú ý rèn cho Hs cách trả lời câu hỏi, diễn đạt ý bằng câu văn gọn rõ.

HS , GV cần biết nghe HS đọc để có cách hướng dẫn thích hợp với từng emvà cần khuyếnkhích HS trong lớp trao đổi, nhận xét về chỗ được, chỗ chưa được của bạnnhằm giúp HSrút kinh nghiệm để đọc tốt hơn…

b.Luyện đọc thầm: Dựa vào SGK, GV giao nhiệm vụ cụ thể cho HS nhằm định hướng

việc đọc hiểu ( Đọc câu, đoạn hay khổ thơ nào? Đọc để biết, hiểu , nhớ điều gì? ) Cóđoạn văn (thơ) cần cho HS đọc thầm 2,3 lượt với thời gian nhanh dần và thực hiện nhiệm

vụ Yêu cầu từ dễ đên khó, nhằm trau dồi kĩ năng đọc hiểu Cần khắc phục trình trạng họcsinh đọc thầm một cách hình thức GV không nắm được kết quả đọc hiểu của HS để xử lýtrong quá trình dạy học

c.Luyện học thuộc lòng:

Ở những bài dạy có yêu cầu HTL, GV cần chú ý HS luyện đọc kĩ hơn( bước đầu diễncảm); có thể ghi bảng một số từ làm “ điểm tựa”

Trang 12

Để HS tự nhớ và đọc thuộc toàn bộ; hoặc tổ chức cuộc thi hay trò chơi luyện HTL mộtcách nhẹ nhàng, gây hứng thú cho HS.

II.5.4.Ghi bảng:

Nội dung ghi bảng càn phải ngắn gọn, xúc tích đảm bảo tính khoa học và tính sư phạm.Hình thức trình bày bảng mang tính thẩm mĩ, có tác dụng giáo dục học sinh.Việc ghibảngcần được kết hợp nhẹ nhàng với tiến trình dạy học nhằm đem lại hiệu quả trực quantốt nhất

Ngoài các biện pháp thông thường trên để từng bước cập nhật chương trình dạy học theo

mô hình mới VNEN khối chúng tôi cũng từng bước thực dạy học theo mô hình trên cũngkhông thiếu phần:

II.5.5.Phối hợp giáo dục tay ba:

Sau khi đi sâu tìm hiểu hoàn cảnh gia đình của từng em học sinh Tôi thấy trình độ vàcũng như sự hiểu biết của phụ huynh cũng còn hạn chế nên việc giúp các em học cũng khókhăn Vì thế sau khi họp phụ huynh, tôi thông qua kết quả việc đọc của các em cho PHnghe và phổ biến một số yêu cầu giúp các em học tốt môn tập đọc

Ví dụ: PH chỉ cần chịu khó ra ít thời gian ở nhà yêu cầu các em đọc một bài tập đọc ít

nhất là 10 lần, sau đó có thể cho các em đọc cho mẹ nghe truyện tranh, truyện thiếu niênsau dần đọc báo cho cả nhà nghe…

Cứ như thế tôi luôn kết hợp phương pháp giáo dục tay ba: gia đình, nhà trường và xã hội

để nâng cao chất lượng học tập cho các em Trong quá trình dạy trên lớp tôi luôn quan tâmgiúp đỡ các em như tranh thủ giờ ra chơi giúp các em rèn đọc bằng cách cùng đọc truyệncho nhau nghe…

Trang 13

Còn phía bản thân, tôi luôn tự bồi dưỡng nâng cao tay nghề, đầu tư nghiên cứu tài liệu dạy học và các tài liệu tham khảo khác Nghiên cứu thiết kế bài dạy một cách cụ thể,

có khoa học Tìm hiểu nội dung bài dạy trước khi lên lớp

Cụ thể như thế qua dự giờ vài tiết dạy theo chương trình VNEN qua đồng nghiệp,bồi dưỡng chuyên môn hè và qua học hỏi trên mạng.Tôi dựa vào đó để hình thành xâydựng vài tiết học theo chương trình VNEN và nhận thấy có một số ưu điểm như sau:

Theo quan sát thực tế của chúng tôi tại một giờ học của học sinh, do đã quen vớicách học mới nên trong suốt quá trình học không khí lớp học khá sôi nổi; việc trao đổigiữa học sinh và giáo viên tỏ ra đơn giản và thường xuyên; các em học sinh được chiathành các nhóm nhỏ để cùng học, khi có gì khó không thể giải đáp được, học sinh sẽ yêucầu sự trợ giúp từ giáo viên bằng cách sử dụng thẻ cứu trợ

Sự phân công công việc trong một nhóm rất rõ ràng, mỗi người một nhiệm vụ,những học sinh yếu cũng được tham gia và bình đẳng như các bạn khác trong nhóm Điểmkhác biệt lớn nhất là trước kia để đánh giá được mức độ hiểu bài của học sinh sau mỗi tiếthọc giáo viên cũng chỉ có thể kiểm tra một vài học sinh; nhưng ở mô hình này, tất cả cáchọc sinh đều được các bạn khác trong nhóm kiểm tra nên không xảy ra tình trạng “giấudốt” Nhiều em học sinh của trường cũng đánh giá là mô hình này rất thú vị, dễ học và dễhiểu Đầu tiên là học sinh được chủ động, sáng tạo trong việc học của mình Các em đượchoạt động theo nhóm rất vui vẻ Giáo viên chỉ tổ chức hướng dẫn các em thực hiện các nộidung của bài học Với cách thức hoạt động như vậy nên vai trò của GV trong lớp học chỉ

là định hướng và theo dõi hoạt động nhóm của HS Khi phát hiện có nhóm cần sự trợ giúpthì lúc đó GV mới tham gia hướng dẫn Nói một cách khác là GV gần như là giao lớp học

Trang 14

cho chính các em HS tự quản Cả giáo viên, học sinh và phụ huynh đều sử dụng chungmột loại sách giáo khoa nên thuận tiện trong việc trao đổi và kiểm tra mức độ hiểu bài củahọc sinh Khi áp dụng phương pháp này, giáo viên là người vất vả nhất Để một giờ họcthành công thì giáo viên phải luôn nhạy bén, ví dụ như việc tìm ra các nhóm trưởng có họclực tốt nhất nhóm, chia các nhóm sao cho đồng đều về học lực, quan sát việc học vàthường xuyên kiểm tra khả năng tiếp thu kiến thức của các em để kịp thời hỗ trợ, khôngphải lúc nào cũng để cho học sinh tự học”.

II.6 Quy trình 5 bước theo dạy học mô hình VNEN.

Bước 1 Tạo hứng thú cho HS:

* Yêu cầu cần đạt:

- Kích thích sự tò mò, khơi dậy hứng thú của HS về chủ đề sẽ học; HS cảm thấy vấn đề nêu lên rất gần gũi với họ

- Không khí lớp học vui, tò mò, chờ đợi, thích thú

* Cách làm: Đặt câu hỏi; Câu đố vui; Kể chuyện; Đặt một tình huống; Tổ chức trò chơi; Hoặc sử dụng các hình thức khác

Bước 2 Tổ chức cho HS trải nghiệm

* Yêu cầu cần đạt:

- Huy động vốn hiểu biết, kinh nghiệm có sẵn của HS để chuẩn bị học bài mới

- HS trải qua tình huống có vấn đề, trong đó chứa đựng những nội dung kiến thức, những thao tác, kỹ năng để làm nảy sinh kiến thức mới

* Cách làm: Tổ chức các hình thức trải nghiệm thú vị, gần gũi với HS

Trang 15

Bước 3 Phân tích - Khám phá - Rút ra kiến thức mới

* Yêu cầu cần đạt:

- HS rút ra được kiến thức, cảm nhận được bài văn

* Cách làm: - Dùng các câu hỏi gợi mở, câu hỏi phân tích, đánh giá để giúp HS thực hiện tiến trình phân tích và rút ra bài học

- Sử dụng các hình thức thảo luận cặp đôi, thảo luận theo nhóm, hoặc các hình thức sáng tạo khác nhằm kích thích trí tò mò, sự ham thích tìm tòi, khám phá phát hiện của HS

- Nên soạn những câu hỏi thích hợp giúp HS đi vào tiến trình phân tích thuận lợi và hiệu quả

Các hoạt động trên có thể thực hiện với toàn lớp, nhóm nhỏ, hoặc cá nhân từng HS

luyện đọc thêm hay giờ ra chơi đọc báo cho nhau nghe…

Trang 16

Bước 5 Ứng dụng

* Yêu cầu cần đạt:

HS củng cố, nắm vững các nội dung kiến thức trong bài đã học

HS biết vận dụng kiến thức đã học trong hoàn cảnh mới, đặc biệt trong những tình huống gắn với thực tế đời sống hàng ngày

Cảm thấy tự tin khi lĩnh hội và vận dụng kiến thức mới

- Trong mỗi phòng học của VNEN đều treo 10 bước học tập

II.7 Tiến trình 10 bước học tập

1 Chúng em làm việc nhóm ( nhóm trưởng lấy tài liệu và đồ dùng)

2 Em đọc tên bài học và viết vào vở

Trang 17

7 Chúng em đánh giá cùng thầy, cô giáo

8 Em thực hiện Hoạt động ứng dụng ( với sự giúp đỡ của gia đình, người lớn )

9 Kết thúc bài, em viết vào Bảng đánh giá

10 Em đã học xong bài mới em phải ôn lại phần nào?

Sau đây tôi xin trình bày các bước rèn: "Đọc đúng ”, “đọc nhanh” và "đọc hiểu"

độ và tư thế khi đọc - tức là rèn đọc to, đọc đàng hoàng

Trong hoạt động giao tiếp, khi đọc thành tiếng người đọc một lúc đóng hai vai: Một vai

là người tiếp nhận thông tin, đưa văn bản đến người nghe Khi giữ vai thứ hai này, ngườiđọc đã thực hiện tái sinh văn bản Vì vậy khi đọc thành tiếng, người đọc có thể đọc chomình hoặc cho người khác hoặc cho cả hai Khi đọc thành tiếng phải tính đến người nghe.Giáo viên cần cho các em hiểu rằng: Các em đọc không phải chỉ cho mình cô giáo và đểtất cả các bạn cùng nghe nên cần đọc đủ lớn để cho cả lớp cùng nghe rõ Nhưng như thếhoàn toàn không có nghĩa là đọc to quá hoặc gào lên Để luyện cho những em đọc quá nhỏ

(lí nhí), giáo viên cần tập cho các em đọc to chừng nào bạn ở xa nhất trong lớp nghe thấy

Ngày đăng: 23/10/2017, 14:34

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. PGS – TS Bùi Văn Huệ. Tài liệu: Tâm lí học Tiểu học – NXB Giáo dục – 1997 Khác
2. Lê A – Đỗ Xuân Thảo – Giáo trình Tiếng việt 1 – NXB ĐHSP Khác
3.Lê A – Nguyễn Quang Ninh- Bùi Văn Toán – phương pháp Dạy học Tiếng việt – NXB Giáo dục 1997 Khác
4. Lê Phương Nga – Đặng Kim Nga- Phương pháp dạy học Tiếng việt ở Tiểu học – NXB Giáo dục, NXB Đại học Sư phạm 2007 Khác
5. GS – TS Lê Phương Nga. Tài liệu: Dạy học tập đọc ở tiểu học – NXB Giáo dục – 2003 Khác
6. GS- TS Lê Phương Nga.Tài liệu: Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học II – NXB Đại học Sư phạm Khác
7. Nguyễn Trí – Dạy và học Tiếng Việt ở Tiểu học theo chương trình mới, NXB Giáo dục 2002 Khác
9. Nghiên cứu đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi học sinh Khác
10. Nghiên cứu SGK và phương pháp dạy học TV Khác
11. Nghiên cứu SGK- SGV (TV2- NXB- Giáo Dục) Khác
12. Nghiên cứu nội dung chương trình TV- Lớp 2 - ( NXB- Hà Nội) Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Với mỗi tiết tập đọc, tất cả các em được luyện đọc kỹ lưỡng với nhiều hình thức khác nhau, có tác dụng kích thích học sinh luyện đọc, tạo điều kiện cho nhiều em được đọc - skkn rèn kĩ NĂNG đọc ĐÚNG CHO học SINH lớp 2”
i mỗi tiết tập đọc, tất cả các em được luyện đọc kỹ lưỡng với nhiều hình thức khác nhau, có tác dụng kích thích học sinh luyện đọc, tạo điều kiện cho nhiều em được đọc (Trang 30)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w