1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

Kỹ thuật cháy - P6

10 914 6
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Kỹ thuật cháy
Trường học Trường Đại Học Bách Khoa Hà Nội
Thể loại bài báo
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 126,57 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CÁC NỘI DUNG CƠ BẢN Chương 1. Đại cương về buồng lửa Chương 2. Nhiên liệu và quá trình cháy nhiên liệu Chương 3. Kỹ thuật cháy nhiên liệu khí Chương 4. Kỹ thuật cháy dầu Chương 5. Kỹ thuật cháy tha

Trang 1

3.2 Đặc điểm cháy nhiên liệu rắn theo dòng

3.2.1.Đặc điểm cháy của một hạt cacbon nhỏ trong dòng

Lý thuyết và thực nghiệm đều chỉ ra rằng phản ứng của các hạt cacbon nhỏ

(mịn) lơ lửng trong dòng khí xảy ra trong những điều kiện khuếch tán phân tử sẽ

không phụ thuộc vào chế độ chuyển động của dòng Ta sẽ xây dựng phương trình

khuếch tán khí từ môi trường tĩnh đến hạt hình cầu

Phương trình tính toán suất tốc độ phản ứng tính cho 1 đơn vị diện tích bề

mặt phản ứng đối với hạt hình cầu mặt có bán kính r là :

2 r 4 dr

dc D

ư

Khi tiến hành lấy vi phân phương trình này theo bán kính ta được :

ư

r 4 dr

dc D dr

d dr

dV

Khi không có phản ứng của khí trong thể tích ta có thể viết phương trình

(3-3) dưới dạng :

dr

dc D dr

d

Sau khi đạo hàm ta có:

r 2drdcr dr 0

dr

c d

2

2

=

+ (3-5) Vì dr ≠ 0

Nên : r 2dcdrr dr 0

dr

c d

2

2

=

Sau đây ta sẽ nghiên cứu quá trình khuếch tán chất khí từ môi trường tĩnh

đến hạt hình cầu có bán kính r và phản ứng hoá học xẩy ra đồng thời trên bề mặt

cũng như trong thể tích của hạt, khi coi quá trình là ổn định với các điều kiện biên

như sau :

Khi r = ∞ thì C = C0

Khi r = r0 thì

k(1 Si)CW

dr

dc D

Giải phương trình với những điều kiện biên trên, ta được biểu thức của nồng

độ chất phản ứng trên bề mặt hạt là :

Trang 2

( )

0 i

0 W

r D

S 1 k 1

C

C = + +δ (3-8)

Trong đó : C0 : nồng độ chất khí trong dòng

Cw : nồng độ chất khí trên bề mặt hạt

k : hằng số vận tốc phản ứng hóa học

δ : chiều sâu thâm nhập của phản ứng vào bên trong hạt

Si : suất bề mặt phản ứng bên trong [m2/m3]

r0 : bán kính hạt

Tốc độ phản ứng trên bề mặt ngoài và bề mặt trong của hạt (ứng với chiều sâu thâm nhập δ) khi coi rằng phản ứng là bậc nhất có thể theo công thức :

W

3 i 2

C r 3

4 S r 4 k

⎛ π + π

trong đó: F = 4πr2

hoặc suất tốc độ phản ứng tính cho một đơn vị diện tích bề mặt :

i W

c

3

r S 1 k k

⎛ +

=

khi thay giá trị kCw = k’C0 vào phương trình (3-10); trong đó k' là hằng số quy dẫn của tốc độ phản ứng kể đến cả động học lẫn khuếch tán, ta sẽ có :

i 0

' c

3

r S 1 k

⎛ +

= (3-11)

Từ (3-8) ta có thể viết :

0

i

D

S 1 k 1

+

0 i

w

D

S 1 kC

Chia cả hai vế cho kCw và để ý rằng kCw = k’C0

( )

' k

1 D

r S 1 k

1 + + iδ = hằng số quy dẫn của tốc độ phản ứng sẽ là :

D

rS D

r k

1 ' k

1 = + + iδ

(3-12) Nếu gọi ε là tỷ số giữa bề mặt ngoài và bề mặt trong của hạt có kích thước ban đầu r0

Trang 3

i 0 i

3 0

2 o

S r

3 S

r 3 4

r 4

= π

π

= ε

(3-13)

và đại lượng là bán kính tương đối của hạt ở thời điểm đã cho thì các phương trình (3-11) và (3-12) sẽ lần lượt có dạng là:

⎛ ε

θ +

= '

ε

θδ +

θ +

=

D

3 D

r k

1 ' k

(3-15)

'

k

1

là trở lực tổng củaquá trình,

k

1

là trở lực của quá trình phản ứng hoá học,

D

r0

θ

là trở lực khuyếch tán bên ngoài,

ε

θδ

D

3

là trở lực khuyếch tán bên trong;

Từ các biểu thức (3-14) và (3-15) ta thấy :

- Tốc độ phản ứng tỷ lệ với nồng độ khí phản ứng C0 trong môi trường xung quanh

- Tốc độ phản ứng tăng lên khi tăng độ xốp của các hạt cacbon, ngoài ra vai trò của độ xốp giảm đi khi giảm đường kính hạt

Theo hệ thức cơ bản của phản ứng dị thể, thì tốc độ khuếch tán phân tử và khuếch tán mol chất phản ứng (môi chất) thể khí đến bề mặt phản ứng cân bằng với tốc độ phản ứng hoá học trên bề mặt

(C0 ưCw)=kCw β

= ω Trong đó :

d

D

Nu∂uφ

=

β - hệ số trao đổi chất,

k : hằng số tốc độ phản ứng bậc nhất

Từ đó ta suy ra nồng độ khí trên bề mặt là :

β +

= k 1

C

Thay giá trị của Cw từ (3-17) vào phương trình (3-16) ta được tốc độ phản ứng dị thể :

Trang 4

β +

= β +

=

=

= ω

1 k 1

C k

1

kC kC

Trong đó :

D Nu

d k

1 1 k

1 ' k

1

+

= β +

(Re,Pr)

f

Nu∂uφ = (3-20)

Đối với các chất khí ta có :

m

u ARe

Trong đó : A và m là các hằng số thực nghiệm,

Từ các biểu thức (3-18), (3-19) và (3-21) ta suy ra rằng :

Khi tăng tốc độ của dòng và hạt thì Nuφ sẽ tăng lên, trở lực khuếch tán giảm

và tốc độ phản ứng tăng lên Từ đó thấy rằng tốc độ phản ứng tính cho một đơn vị

bề mặt vật (ksc’) đối với những hạt kích thước nhỏ sẽ nhỏ hơn so với những hạt có kích thước lớn, vì tốc độ tương đối của các hạt nhỏ trong dòng thực tế là bằng không, trong lúc đó tốc độ tương đối của các hạt lớn hơn có thể là khá lớn Như vậy điều kiện khí động của dòng có ý nghĩa rất lớn đối với tốc độ phản ứng, các

điều kiện khí động của quá trình cháy bột than xấu đi thì sẽ làm giảm tốc độ phản ứng và không phải lúc nào cũng được bù hoàn toàn bởi sự tăng suất bề mặt hàng ngàn lần so với các hạt có kích thước lớn Vì vậy nhiệt thế thể tích khi cháy nhiên liệu trong buồng lửa (kiểu ngọn lửa) thông thường thấp hơn so với khi cháy trên ghi (trong lớp)

3.2.2 Bốc cháy dòng hỗn hợp bột than + không khí

Chế độ nhiệt và nhiệt độ bốc cháy của quá trình cháy hạt nhiên liệu phụ thuộc không những vào những tính chất hoá lý của nhiên liệu mà còn vào những

điều kiện trao đổi nhiệt giữa hạt và môi trường xung quanh

Quá trình cháy bột than thường xảy ra trong dòng rối tự do, trong đó sự phân bố nồng độ dư và nhiệt độ dư liên quan với sự phân bố tốc độ tiết diện của dòng qua hệ thức sau :

⎟⎟

⎜⎜

= ϕ

= ω

ω

=

ư

ư

=

ư

ư

b m

f m

f f

m

f

R

y f T

T

T T C C

C C

(3-22) Trong đó :

C, T, ω: là nồng độ, nhiệt độ và tốc độ ở điểm đã cho tại tiết diện dòng,

Cm ,Tm , ωm : là nồng độ, nhiệt độ và tốc độ ở điểm đã cho ở trục dòng,

Trang 5

T = T

Rb

3 2 1

Cf, Tf là nồng độ và nhiệt độ của môi trường xung quanh hạt,

y, Rb là tọa độ không thứ nguyên của điểm khảo sát,

Hình 3.4 Sự phân bố nồng độ và nhiệt độ trong dòng rối tự do

1 Phân bố nồng độ dư (C - C f )

2 Phân bố nhiệt độ thiếu (T- T f )

3 Phân bố nhiệt độ tuyệt đối

4 Đường bốc cháy

Giả thiết rằng dòng hỗn hợp không khí và bột than có nhiệt độ ban đầu T0 đi vào buồng cháy có nhiệt độ Tf > T0 Giả thiết rằng nồng độ oxy và bột than trong môi trường xung quanh dòng bằng 0 Sự phân bố nồng độ oxy và nhiệt độ trong các tiết diện ngang của dòng cho trên hình 3.4

Trên phần chu vi của lớp biên rối tự do của dòng sẽ có những điều kiện thuận lợi nhất cho quá trình bốc cháy Càng gần chu vi dòng nồng độ oxy càng nhỏ, nhưng nhiệt độ càng cao

Trong lớp biên rối tồn tại một bề mặt trên đó tốc độ phản ứng đạt giá trị cực

đại và do đó tốc độ đốt nóng hỗn hợp tham gia phản ứng cũng cực đại, quá trình bốc cháy hỗn hợp sẽ xảy ra trên bề mặt đó

Quá trình bốc cháy hỗn hợp không khí + bột than có thể xảy ra trên bề mặt của hình côn được đặc trưng bởi đường bốc cháy có toạ độ không thứ nguyên bằng y/Rb nằm gần chu vi dòng

Quá trình bốc cháy không bắt đầu ngay tại mặt cắt của miệng ra ống phun

mà ở cách xa một đoạn nào đó Khi không có phản ứng hoá học phù hợp theo đúng với những quy luật của dòng rối tự do thì dọc theo đường bốc cháy có thể thấy nhiệt độ và nồng độ không đổi Khi có phản ứng hoá học thì nhiệt độ dọc theo

đường bốc cháy sẽ tăng lên liên tục còn nồng độ nhiên liệu và chất oxy hoá thì

Trang 6

giảm đi Trên đường bốc cháy ở một khoảng cách nào đó từ mặt cắt vòi phun ta tìm

được một điểm co nhiệt độ T0bch, ở đó những điều kiện động học của quá trình bốc cháy sẽ được thoả mãn và : qsra = qtn và

dT

dq dT

dqsra tn

= sẽ tương ứng với các giá trị nhiệt độ của hỗn hợp nhỏ hơn T0bch ở các điểm trên đường bốc cháy, gần chân ngọn lửa, do đó ở đây không thể có sự bốc cháy

Để đảm bảo cho quá trình bắt lửa ổn định cho dòng không khí + bột than, cần thiết phải áp dụng các biện pháp sau đây :

1 Đốt nóng sơ bộ hỗn hợp đến nhiệt độ đủ cao

2 Tăng nhiệt độ môi trường xung quanh chân ngọn lửa bằng cách dùng vòi phun có khả năng hút một lượng lớn sản phẩm cháy nóng đến vòi phun (vòi phun xoáy rối) và đặt đai cháy

3 Tổ chức các ngọn lửa (từ các vòi phun) thật hợp lý để sản phẩm cháy của ngọn lửa này cũng giúp cháy kiệt của ngọn lửa kia

4 Khống chế tốc độ dòng ra khỏi vòi phun hợp lý (khoảng 25-30m/s) để đạt

được độ rối hiệu quả, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi bốc cháy hỗn hợp ở khoảng cách tương đối gần vòi phun

5 Tách dòng không khí cấp II khỏi miền bốc cháy và khống chế lưu lượng gió cấp I càng nhỏ thì nồng độ bột càng cao, dòng được đốt nóng càng nhanh và quá trình bốc cháy sẽ bắt đầu càng gần vòi phun hơn

3.3 Đặc điểm cháy trong buồng lửa tầng sôi

Để nhiên liệu có thể cháy được dưới dạng lớp sôi thì các hạt nhiên liệu phải

được nâng lên lơ lửng trong dòng bởi các dòng khí có áp lực, các hạt nhiên liệu và tro được dòng không khí và khói nâng lên, các dòng này chuyển động đi lên Để

có thể cân bằng khối lượng hạt và trở lực khí động đối với các hạt to, nhỏ khác nhau thì tốc độ khí phải được giảm dần bằng cách tăng tiết diện lưu động của dòng trong buồng lửa Chính vì vậy buồng lửa lớp sôi có dạng phễu Các hạt nhiên liệu

được cấp vào buồng lửa sẽ được dòng khí phân thành từng lớp theo kích thước hạt

đến độ cao khác nhau Các hạt nhiên liệu lớn cháy trong phần dưới thắt lại của không gian cháy, ở đây dòng không khí có tốc độ lớn, còn các hạt nhỏ hơn sẽ cháy

ở không gian phía trên rộng hơn và do đó tốc độ của dòng nhỏ hơn Các hạt chuyển

động xung quanh vị trí cân bằng của nó Không khí cấp qua các lỗ ở đáy buồng cháy đi vào phần dưới của buồng lửa tương tự như ở buồng lửa ghi Phía trên phần

có lớp sôi, không gian buồng lửa có tiết diện không đổi, ở đó các hạt mịn nhất cần

được cháy kiệt, các phần rắn còn lại sau khi cháy được khói mang ra khỏi buồng lửa

Trang 7

a

b

ω

d c

ωth

Hình 3.5 Quan hệ giữa tốc độ dòng với hệ số trao đổi nhiệt trong lớp sôi ab- Đối với lớp đứng yên

bc- Khi bắt đầu tạo lớp sôi từ tốc độ tới hạnωth đến tối ưu ωtu

cd- Khi tốc độ từ tối ưu đến cuốn hút ωtu đến tốc độ cuốn bay hạt nhiên liệuωc

Đặc trưng của quá trình cháy ở dạng lơ lửng trong lớp sôi là tốc độ truyền nhiệt và truyền chất ở bên trong lớp rất lớn Nghĩa là sự truyền nhiệt và chất giữa các hạt với môi trường khí, hay giữa lớp sôi và các tường của buồng rất lớn ở đây tốc độ truyền chất và truyền nhiệt lớn là do các hạt trong lớp sôi linh động mạnh quanh vị trí cân bằng của nó, chính sự linh động đó của các hạt sẽ tạo ra dòng khí chuyển động rối khi đi qua khe hở giữa các hạt Chính vì tốc độ truyền nhiệt, truyền chất của lớp sôi lớn cho nên khi thay đổi chế độ làm việc thì các thông số của lớp sôi cũng có khả năng thích ứng một cách nhanh chóng Ưu điểm nữa của buồng lửa lớp sôi là các hạt có kích thước lớn sẽ có thời gian lưu lại trong lớp sôi dài hơn, do đó có khả năng cháy kiệt hoàn toàn Chỉ các hạt nhỏ mà trở lực khí

động của chúng lớn hơn khối lượng của chúng mới bay ra khỏi không gian lớp sôi

Do đó nhiên liệu đốt trong buồng lửa lớp sôi không phải nghiền mịn mà chỉ cần

đập nhỏ thôi

Cường độ trao đổi nhiệt trong lớp sôi phụ thuộc vào tốc độ, hệ số dẫn nhiệt của mỗi chất gây sôi, kích thước, khối lượng riêng, tính chất nhiệt vật lý của các hạt rắn, nhưng về hình học và kết cấu của thiết bị Đặc tính thay đổi hệ số trao

đổi nhiệt từ trạng thái lớp nằm yên chuyển sang trạng thái sôi được biểu diễn trên

Trang 8

hình 3.5 Khi chuyển từ trạng thái nằm yên sang trạng thái sôi, hệ số trao đổi nhiệt

có thể tăng lên từ hai đến bốn lần

Sau đây ta xét ảnh hưởng của các yếu tố đến cường độ trao đổi nhiệt trong lớp sôi

3.3.1 ảnh hưởng của tốc độ tác nhân gây sôi và kích thước, hình dạng vật liệu

Lý thuyết và thực nghiệm cho thấy : những phần tử có kích thước hạt càng nhỏ thì hệ số trao đổi nhiệt α càng lớn, đường cong α - ω có độ dốc càng lớn Hệ

số toả nhiệt α càng giảm thì kích thước càng tăng

3.3.2 ảnh hưởng của tính chất nhiệt vật lý của tác nhân gây sôi và của hạt nhiên liệu

Có thể nói: hệ số dẫn nhiệt của hạt không ảnh hưởng đến hệ số toả nhiệt đối lưu, nhưng hệ số toả nhiệt sẽ tăng khi nhiệt dung riêng của hạt tăng và tăng mạnh khi đốt dưới áp suất cao

Đối với tác nhân gây sôi thì ngược lại, hệ số dẫn nhiệt có ảnh hưởng lớn nhất đến hệ số toả nhiệt, khi λ tăng thì hệ số toả nhiệt cũng tăng, điều này thể hiện

rõ nhất khi nhiệt độ tăng làm tăng hệ số dẫn nhiệt dẫn đến làm tăng hệ số toả nhiệt

3.3.3 ảnh hưởng của kích thước lớp sôi và bề mặt trao đổi nhiệt

Lý thuyết và thực nghiệm chứng tỏ rằng độ cao của lớp sôi không có ảnh hưởng gì đến hệ số trao đổi nhiệt giữa lớp sôi và bề mặt truyền nhiệt Nhưng trong lớp sôi thì hệ số toả nhiệt sẽ giảm dần theo chiều cao của lớp sôi từ dưới lên trên

Về bề mặt trao đổi nhiệt thì người ta thấy rằng kích thước ống bề mặt đốt trao đổi nhiệt dặt bên trong lớp sôi càng nhỏ thì hệ số trao đổi nhiệt cảng lớn Điều

đó được giải thích vì khi đó mức độ rối của dòng môi chất chảy qua lớp và của chính lớp hạt sẽ tăng lên, làm tăng hệ số trao đổi nhiệt

3.3.4 ảnh hưởng của hình dáng, cách bố trí bề mặt trao đổi nhiệt

Đối với các ống đặt đứng thì giá trị hệ số toả nhiệt ở tất cả các điểm xung quanh ống đều bằng nhau và lớn hơn đối với các ống đặt nằm ngang

Đối với cụm ống bố trí song song đặt nằm ngang thì hệ số toả nhiệt không phụ thuộc vào bước dọc mà chỉ phụ thuộc vào bước ngang ở chùm ống bố trí so le

đặt nằm ngang thì cả bước dọc và bước ngang đều có ảnh hưởng đến hệ số toả

Trang 9

nhiệt Tuy nhiên ở giá trị bước ống thông thường thì sự thay đổi bước ống có ảnh hưởng không nhiều lắm đến hệ số trao đổi nhiệt

ở những buồng lửa lớp sôi đầu tiên, người ta tận dụng những tính chất đặc biệt của lớp sôi để tăng cường quá trình cháy Nhiệt độ cháy trong lớp sôi lớn đến nỗi làm tro bị kết dính Do vậy để tránh hiện tượng đóng xỉ trong lớp sôi thì người

ta chỉ cấp một phần không khí vào không gian sôi (không khí cấp 1) đảm bảo cho quá trình cháy xảy ra ở nhiệt độ: 1.000 ữ 1.2000C, quá trình cháy đã không kết thúc trong lớp sôi mà sự cháy kiệt nhiên liệu xảy ra ở phần trên của buồng lửa và phần không khí còn lại sẽ được cấp vào phần này Nhiệt lượng sinh ra do cháy nhiên liệu trong lớp sôi được truyền từ khói đến bề mặt đốt của lò (bề mặt này

được bố trí như thông thường) Với biện pháp này, do quá trình cháy xẩy ra không hoàn toàn nên chỉ áp dụng cho một số lò sinh khí

Khoảng vài chục năm trở lại đây người ta chú ý đến biện pháp đốt cháy nhiên liệu trong lớp sôi, trong đó nhiệt độ cháy được giảm xuống do đặt một phần

bề mặt đốt trực tiếp trong lớp sôi Phần bề mặt đốt này sẽ hấp thụ khoảng 40 ữ60% lượng nhiệt sinh ra trong lớp sôi cho nên quá trình cháy xảy ra ở nhiệt độ 700 ữ

9000C và không có hiện tượng kết dính tro Biện pháp đốt ở nhiệt độ thấp này có một loạt ưu điểm như sau :

1 Sự truyền nhiệt cho bề mặt đốt được tăng cường đáng kể do khi đặt bề mặt đốt vào trong lớp sẽ làm tăng độ rối của các hạt và dòng khí trong lớp sôi Hệ

số truyền nhiệt thường trong phạm vi 200 ữ 600 w/m2 độ và phụ thuộc tỷ lệ nghịch vào kích thước các hạt Dòng nhiệt đến bề mặt đốt có giá trị bằng 50 ữ 180 kw/m2

tức là hơn 2-3 lần so với các bề mặt đốt của lò hơi thông thường

2 Quá trình cháy xảy ra mạnh do nhiệt độ cháy thấp Suất phụ tải nhiệt của

lò rất lớn (nhiệt thế diện tích của buồng lửa qr =3,74Mw/m2 và nhiệt thế thể tích của không gian cháy qv = 4,95 Mw/m3 Trên cơ sở những thực tế này người ta có thể giảm không gian xây dựng lò hơi có công suất 20t/h đi khoảng 1/3 –1/2 bằng cách dùng buồng lửa lớp sôi

3 Trên các ống bề mặt đốt đặt trong lớp sôi không thể có bám bẩn do dòng khí và các hạt chuyển động rối Bẩn bám trên các bề mặt đốt bổ sung (đuôi lò) có thể khử dễ dàng hơn ở các lò hơi bình thường Vì khí cháy ở nhiệt độ thấp thì sự bay hơi của tro nhỏ hơn

4 Nếu bổ sung vào lớp sôi một lượng tương đối nhỏ vôi sống thì sẽ hạn chế tốt khả năng tạo ra oxyt lưu huỳnh, do đó có khả năng ngăn ngừa hầu như hoàn toàn sự ăn mòn nhiệt độ thấp các bề mặt đốt phần đuôi và giảm đáng kể lượng khí

độc oxyt nitơ thải ra môi trường

Trang 10

5 Kích thước hạt nhiên liệu cháy trong lớp sôi bằng 0-6mm, đôi khi có thể

đến 20mm Do vậy tiêu thụ năng lượng điện cho quá trình chuẩn bị nhiên liệu là nhỏ hơn so với buồng lửa đốt bột than

6 Có thể đốt các loại nhiên liệu rắn có chất lượng khác nhau trong lớp sôi,

kể cả những nhiên liệu chất lượng thấp rẻ tiền Người ta đã thử đốt nhiên liệu có hàm lượng cacbon rất thấp, nhỏ hơn 10% (lượng bay theo khói ra từ lò hơi đốt antraxit) Nếu nhiên liệu chứa ít tro thì tro được bổ sung nhân tạo vào nhiên liệu để

có thể tạo ra lớp sôi

Lò hơi buồng lửa lớp sôi chưa được sử dụng rộng rãi vì hiện nay đang cần phải giải quyết một số vấn đề khó khăn trong kỹ thuật chế tạo nhằm hạ giá thành thiết bị Buồng lửa lớp sôi đầu tiên có tổn thất nhiệt cao do cháy không hoàn toàn gây ra bởi lượng bay ra quá lớn (q4) Qua các lần kiểm tra trên thiết bị thực nghiệm người ta đã kết luận rằng: có thể giảm tổn thất này đến giá trị có thể chấp nhận

được bằng cách tái tuần hoàn lượng bay ra về buồng lửa Vi dụ khi chiều cao lớp sôi bằng khoảng 0,7m và nhiệt độ trong lớp là 8000C có thể duy trì tổn thất do cháy không hoàn toàn trong phạm vi 0,5 ữ 1%

Hiện nay vẫn chưa giải quyết xong và chưa kiểm tra kết cấu buồng lửa lớp sôi cho lò hơi công suất lớn Việc khống chế điều kiện khí động trong lớp sôi càng khó khăn khi tiết diện buồng lửa càng lớn Hơn nữa bề mặt đốt đặt trong lớp sôi cần phải được chế tạo bằng thép ostenil, do đó giá thành thiết bị sẽ khá cao

Hiện nay người ta mới giải quyết một cách tương đối cho các lò hơi kiểu lớp sôi công suất nhỏ (thiết kế, chế tạo và đưa vào vận hành các lò hơi kiểu lớp sôi công suất từ 50MW, đang thiết kế lò hơi dùng buồng lửa lớp sôi cho khối lượng có công suất 500Mw

Ngày đăng: 13/10/2012, 11:12

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 3.4. Sự phân bố nồng độ và nhiệt độ trong dòng rối tự do. - Kỹ thuật cháy - P6
Hình 3.4. Sự phân bố nồng độ và nhiệt độ trong dòng rối tự do (Trang 5)
Hình 3.5. Quan hệ giữa tốc độ dòng với hệ số trao đổi nhiệt trong lớp sôi.  ab- Đối với lớp đứng yên - Kỹ thuật cháy - P6
Hình 3.5. Quan hệ giữa tốc độ dòng với hệ số trao đổi nhiệt trong lớp sôi. ab- Đối với lớp đứng yên (Trang 7)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w