Quy luật này được phản ánh trong công thức nổi tiếngcủa Lênin “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượngđến thực tiễn, đó là con đường biện chứn
Trang 1Chương 1 GIÁO DỤC HỌC LÀ MỘT KHOA HỌC VỀ GIÁO DỤC CON NGƯỜI
Vấn đề 1 : Tại sao nói giáo dục là một hiện tượng đặc trưng của xã hội loài người? (bao gồm cả vấn đề 2: các tính chất của giáo dục)
Giáo dục là một hiện tượng xã hội
- Chỉ có ở con người mà không có ở động vật
- Nguồn gốc nảy sinh: do nhu cầu tồn tại và phát triển ở loài người
- Bản chất của giáo dục: truyền đại, lĩnh hội những kinh nghiệm lịch sử– xã hội giữa hai thế hệ trước và sau Thế hệ sau sẽ kế thừa, phát triểnvà tiếp tục đưa xã hội không ngừng vận động đi lên, mang lại cho conngười một cuộc sống ngày càng tốt đẹp
- Quá trình phát triển của giáo dục luôn gắn liền với quá trình phát triểncủa xã hội
- Mục đích của sự truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm xã hội là vì lợi íchchung của xã hội và cá nhân :
+ Với cá nhân, nhờ sự lĩnh hội kinh nghiệm xã hội mà mỗi cá nhân có thểtái tạo được năng lực người cho bản thân nhờ đó có sự phát triển tâm lý, ý thứcvà phát triển nhân cách
+ Với xã hội, nhờ sự lĩnh hội những kinh nghiệm xã hội mà thế hệ đi saumới bảo tồn được nên văn hóa do thế hệ trước sáng tạo ra, trên cơ sở đó mới cóthể phát triển nền văn hóa đó Như vậy, một xã hội muốn tồn tại, phát triển, xãhội đó buộc phải tổ chức giáo dục
Giáo dục là một hiện tượng đặc trưng của xã hội loài người
- Điều kiện cơ bản để loài người tồn tại và phát triển thông qua 2 cơchế :
+ Di truyền (mặt sinh học, vật chất)
+ Di sản (văn hóa xã hội)
- Giáo dục là con đường cơ bản nhất để thực hiện cơ chế di sản => « đặctrưng »
- Các tính chất của giáo dục :
+ Tính phổ biến, vĩnh hằng: giáo dục có ở mọi thời đại, thời kì của xã
hội và tồn tại cùng với sự tồn tại của xã hội, mất đi khi xã hội mất đi
+ Tính lịch sử (tính quy định của xã hội đối với giáo dục) :
Xã hội thay đổi thì giáo dục cũng thay đổi
Xã hội đặt ra yêu cầu gì thì giáo dục sẽ đáp ứng nhu cầu đó
Ở mỗi thời kì lịch sử khác nhau thì giáo dục khác nhau về mụcđích, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục Các
Trang 2chính sách giáo dục luôn được hoàn thiện dưới ảnh hưởng củanhững kinh nghiệm và các kết quả nghiên cứu.
+ Tính giai cấp: (chỉ xét trong xã hội có giai cấp)
Giáo dục thuộc về một giai cấp xác định – giai cấp thống trịxã hội Giáo dục được sử dụng như một công cụ để duy trì vàcủng cố vai trò thống trị của mình
Giáo dục cũng được sử dụng như một công cụ, phương tiện đểđấu tranh giai cấp – đối với giai cấp bị bóc lột, bị thống trị
Biểu hiện qua mục đích giáo dục và nó chi phối, định hướngchính trị đối với sự vận động và phát triển của giáo dục
+ Tính đại chúng: Giáo dục dành cho tất cả mọi người
Trách nhiệm : mọi cá nhân đều phải chăm lo tới sự phát triểngiáo dục
Quyền lợi : mọi đặc quyền đều được gửi tới mọi người
+ Tính nhân văn: giáo dục luôn mang đến những điều tốt đẹp cho
con người
+ Tính dân tộc: các dân tộc khác nhau thì nền văn hóa khác nhau,
thì sẽ có nền giáo dục khác nhau
+ Tính thời đại:
Xã hội chúng ta đang sống là xã hội hiện đại, khoa học côngnghệ phát triển, các ứng dụng khoa học được áp dụng vàotrong đời sống
Sự phát triển của xu thế toàn cầu hóa, nền kinh tế tri thức
Từ tất cả những điều đã phân tích, có thể nói rằng : giáo dục là một hiệntượng đặc trưng của xã hội loài người
Vấn đề 3: Phân biệt các khái niệm: Giáo dục (theo nghĩa rộng), Dạy học và Giáo dục (theo nghĩa hẹp)
Giáo dục (theo nghĩa rộng) là quá trình tác động có mục đích, có tổ chức,
có kế hoạch, có nội dung và bằng phương pháp khoa học của nhà giáo dục tớingười được giáo dục trong các cơ quan giáo dục, nhằm hình thành nhân cách chohọ
Giáo dục (theo nghĩa hẹp) là quá trình hình thành cho người được giáo
dục lí tưởng, động cơ, tình cảm, niềm tin, những nét tính cách của nhân cách,những hành vi, thói quen cư xử đúng đắn trong xã hội thông qua việc tổ chứccho họ các hoạt động và giao lưu
Dạy học là quá trình tác động qua lại giữa người dạy và người học nhằm giúp
cho người học lĩnh hội những tri thức khoa học, kĩ năng hoạt động nhận thức vàthực tiễn, phát triển các năng lực hoạt động sáng tạo, trên cơ sở đó hình thành thếgiới quan và các phẩm chất nhân cách của người học theo mục đích giáo dục
Trang 3Phân biệt các khái niệm trên
- Giống nhau :
+ Mục đích : hình thành nhân cách cho con người
+ Đối tượng : người dạy – người học
+ Đòi hỏi sự tương tác giữa người học và người dạy, mà người học làngười quyết định chất lượng quá trình dạy học và giáo dục
- Khác nhau : phân biệt ở việc thực hiện chức năng trội
+ Chức năng trội của giáo dục (theo nghĩa rộng): phát triển nhân cáchtoàn diện ở người học sinh bao gồm cả năng lực và phẩm chất
+ Chức năng trội của giáo dục (theo nghĩa hẹp) : phát triển về mặt phẩm chấtở người học sinh
+ Chức năng trội của dạy học triển về mặt năng lực ở người học sinh
Chương 2 GIÁO DỤC VÀ SỰ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI VÀ PHÁT TRIỂN CÁ NHÂN
Vấn đề 4: Hãy trình bày và phân tích các chức năng xã hội của giáo dục, từ
đó rút ra những kết luận sư phạm cần thiết.
Giáo dục là quá trình hoạt động phối hợp thống nhất giữa nhà giáo dục và
người được giáo dục nhằm hình thành và phát triển nhân cách theo những yêucầu của xã hội
Chức năng của giáo dục là sự tác động của giáo dục đến các quá trình, lĩnh
vực của đời sống xã hội
Giáo dục trong xã hội xã hội chủ nghĩa đã thực hiện 3 chức năng xã hội
của mình: Chức năng kinh tế - sản xuất; chức năng chính trị - xã hội và chức năng tư tưởng - văn hóa
- Chức năng kinh tế - sản xuất (quan trọng nhất):
+ Biểu hiện:
Tái sản xuất sức lao động
Cải biến bản thể tự nhiên chung của con người
Giúp con người có kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo
Tạo ra năng suất lao động cao => thúc đẩy sản xuất, phát triểnkinh tế
+ Yêu cầu:
Giáo dục gắn kết với thực tiễn xã hội
Xây dựng hệ thống giáo dục quốc dân cân đối, đa dạng
Nâng cao chất lượng giáo dục
+ Kết luận sư phạm:
Rèn luyện khả năng sáng tạo, linh hoạt để thích nghi với sự thyđổi
Trang 4 Tiếp tục thực hiện mục tiêu: nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực,bồi dưỡng nhân tài
Hệ thống giáo dục nhà trường không ngừng đổi mới nhằm pháttriển năng lực hành động cho người học, đáp ứng tốt yêu cầucủa thực tiễn nghề nghiệp
- Chức năng chính trị - tư tưởng:
+ Biểu hiện:
Giáo dục trở thành phương tiện, công cụ để khai sáng nhậnthức, bồi dưỡng tình cảm, củng cố niềm tin, kích thích hànhđộng của tất cả các lực lượng xã hội, nhằm duy trì, củng cố thểchế chính trị cho một quốc gia nào đó
Thông qua giáo dục, những tư tưởng xã hội được thấm đếntừng con người, giáo dục hình thành ở con người thế giớiquan, giáo dục ý thức, hành vi phù hợp với chuẩn mực đạo đứcxã hội
Ở nước ta, Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước, đạidiện cho quyền lực “của dân, do dân, vì dân” trên nền tảng củachủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, giáo dục là
sự nghiệp của Đảng, của Nhà nước và của toàn dân Giáo dụcphục vụ cho mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng,dân chủ, văn minh
+ Kết luận sư phạm:
Người giáo viên luôn phải nắm vững quan điểm, đường lối, chủtrương của Đảng, pháp luật của nhà nước
Giúp học sinh hiểu, tin tưởng và thực hiện theo đường lối, chủ
trương của Đảng, pháp luật của nhà nước
- Chức năng văn hóa xã hội
+ Biểu hiện:
Tác động đến cấu trúc xã hội, tức là tác động đến các bộ phận,các thành phần xã hội (các giai cấp, các tầng lớp, các nhóm xãhội ) làm thay đổi tính chất mối quan hệ giữa các bộ phận,thành phần đó bằng cách nâng cao trình độ văn hóa chung chotoàn thể xã hội
Giáo dục xã hội chủ nghĩa góp phần làm cho cấu trúc xã hội trởnên thuần nhất, làm cho các giai cấp, các tầng lớp, các thànhphần xã hội ngày càng xích lại gần nhau
Trang 5 Giáo dục tham gia vào việc xây dựng một hệ tư tưởng chi phốitoàn xã hội, xây dựng một lối sống phổ biến trong xã hội bằngcách phổ cập giáo dục phổ thông với trình độ ngày càng caocho mọi tầng lớp xã hội
+ Kết luận sư phạm
Đa dạng hóa các loại hình và phương thức đào tạo trong hệ thốnggiáo dục quốc dân,nhằm tạo cơ hội cho người dân được đi học vàhọc suốt đời
Sử dụng sức mạnh của các phương tiện thông tin đại chúng
Vấn đề 5 : Vai trò của giáo dục đối với sự hình thành và phát triển nhân cách
Khái niệm con người, cá nhân và nhân cách
- Con người là một thực thể sinh vật- xã hội mang bản chất xã hội, là
chủ thể của hoạt động nhận thức và thực tiễn, của những quan hệ xãhội và giao tiếp
- Cá nhân là một thực thể sinh vật- xã hội- văn hóa với các đặc điểm về
sinh lý, tâm lý và xã hội trong sự liên hệ thống nhất với các chức năngxã hôi chung của loài người
- Nhân cách là hệ thống giá trị làm người mà cá nhân đạt được với sự
trưởng thành về phẩm chất và năng lực trong quá trình thực hiện cácchức năng xã hội của mình, được xã hội đánh giá và thừa nhận
Khái niệm sự phát triển cá nhân
Phát triển cá nhân thực chất là khẳng định bản chất xã hội của conngười, khẳng định trình độ phát triển nhân cách của chính cá nhân Sựphát triển nhân cách cá nhân được biểu hiện qua những dấu hiệu sau:
- Sự phát triển về mặt thể chất: Thể hiện ở sự tăng trưởng về chiều
cao, trọng lượng, cơ bắp, sự hoàn thiện chức năng các giác quan, sựphối hợp các chức năng vận động của cơ thể
- Sự phát triển về mặt tâm lý: Thể hiện sự biến đổi cơ bản trong đời
sống tâm lý của cá nhân: trình độ nhận thức, khả năng tư duy, quanđiểm, lập trường, thói quen, xúc cảm, tình cảm, tâm tư, nguyện vọng,nhu cầu, ý chí, v.v
- Sự phát triển về mặt xã hội: Thể hiện ở thái độ, hành vi ứng xử
trong các mối quan hệ với những người xung quanh, ở tính tích cựcnhận thức tham gia vào các hoạt động cải biến, phát triển xã hội
Các yếu tố ảnh hưởng và vai trò của nó đối với sự hình thành và phát triển nhân cách của mỗi cá nhân
Trang 6Sinh học (Di truyền – Bẩm sinh) Tiền đề vật chất
Hoạt động cá nhân Quyết định trực tiếp
Khái niệm giáo dục
Giáo dục là quá trình hoạt động phối hợp thống nhất giữa nhà giáo dục vàngười được giáo dục nhằm hình thành và phát triển nhân cách theo những yêucầu của xã hội
Vai trò của yếu tố giáo dục đối với sự hình thành và phát triển nhân cách
- Giáo dục giữ vai trò chủ đạo đối với quá trình hình thành và phát triểnnhân cách, bởi vì nó được thực hiện theo định hướng thống nhất vì mụcđích nhân cách lí tưởng mà xã hội đang yêu cầu
- Biểu hiện:
+ Vạch ra chiều hướng, mục tiêu hình thành và phát triển nhân cách
của học sinh, tổ chức, chỉ đạo, dẫn dắt học sinh thực hiện quá trình đó đến kếtquả mong muốn
Ví dụ: Ngay từ mẫu giáo, trẻ em Nhật Bản đã được dạy các quy tắc
ứng xử căn bản Người Nhật đặc biệt chú trọng các câu chào hỏi, xin lỗi, vàcám ơn Ngay từ cấp mẫu giáo, trẻ đã được học những bài học quan trọng đầutiên về cách ứng xử lịch thiệp (lời cám ơn và xin lỗi), tinh thần trách nhiệm vớicông việc (mặc đồng phục), chia sẻ trách nhiệm trong tập thể (lần lượt đảmnhiệm việc phục vụ đồ ăn), và sự tự lập (tự phục vụ bản thân)
+ Giáo dục là những tác động tự giác có điều khiển, có thể mang lạinhững tiến bộ mà các yếu tố di truyền bẩm sinh hoặc môi trường, hoàn cảnhkhông thể tạo ra được do tác động tự phát
Ví dụ: Một em bé mới được sinh ra phải thông quá giáo dục, học
tập (mà ban đầu là sự bắt chước) thì mới có thể biết nói biết viết (chứ khôngphải do bố mẹ em biết nói biết viết thì em cũng có thể biết nói biết viết)
+ Cải biến những nét tính cách, hành thành phẩm chất lệch lạc khôngphù hợp vối yêu cầu, chuẩn mực của xã hội Đó chính là kết quả quan trọngcủa giáo dục lại đối với trẻ em hư hoặc người phạm pháp
Ví dụ: đối với những trẻ suy thoái nhân cách (nhiễm thói hư tật xấu,
vi phạm pháp luật) có thể uốn nắn, điều chỉnh sự phát triển nhân cách lệch lạc
so với các chuẩn mực xã hội của các em bằng các biện pháp giáo dục đặc biệt + Giáo dục có tầm quan trọng đặc biệt đối với những người khuyết tậthoặc thiểu năng do bệnh tật, tai nạn hoặc bẩm sinh, di truyền tạo ra Nhờ có sựcan thiệp sớm, nhờ có phương pháp giáo dục, rèn luyện đặc biệt cùng với sự hỗ
Trang 7trợ của các phương tiện khoa học có thể giúp cho người khuyết tật, thiểu năngphục hồi một phần chức năng đã mất hoặc phát triển các chức năng khác nhằm bùtrừ những chức năng bị khiếm khuyết, giúp cho họ hoà nhập vào cuộc sống cộngđồng
Ví dụ: Thầy giáo Nguyễn Ngọc Kí tuy không còn đôi tay nhưng
vẫn trở thành giáo viên, hơn nữa còn là giáo viên viết chữ đẹp
+ Giáo dục là những tác động có điều khiển và điều chỉnh cho nênkhông những thích ứng với các yếu tố di truyền, bẩm sinh, môi trường, hoàncảnh trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách mà nó còn có khảnăng kìm hãm hoặc thúc đẩy các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình đó theo mộtgia tốc phù hợp mã di truyền và môi trường không thể thực hiện được
Ví dụ:
- Kết luận sư phạm
+ Cần có nhận thức đúng đắn về vai trò của giáo dục đến sự hình thànhvà phát triển nhân cách
+ Biến quá trình giáo dục thành quá trình tự giáo dục ở người học
+ Tổ chức quá trình giáo dục một cách khoa học, hợp lý:
Phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý HS
Yêu cầu giáo dục mang tính vừa sức với HS
Tổ chức các hoạt động và giao lưu đa dạng, phong phú cho HS
Lựa chọn nội dung giáo dục phù hợp và các phương pháp giáo dụckhoa học
Xây dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa nhà giáo dục và người đượcgiáo dục
Khơi dậy khả năng tiềm ẩn, tố chất di truyền, tính tích cực tronghoạt động cá nhân của học sinh nhằm mang lại hiệu quả cho quátrình giáo dục
Chương 3 MỤC ĐÍCH VÀ NGUYÊN LÝ GIÁO DỤC
Vấn đề 6 : Mục đích và mục tiêu giáo dục
Trang 8 Mục đích giáo dục
- Khái niệm
+ Mục đích của một hoạt động nói chung là kết quả dự kiến mà mỗi con
người, mỗi hệ thống cần phấn đấu để đạt được, có tác dụng định hướng,chỉ đạo toàn bộ quá trình hoạt động Chất lượng, hiệu quả của một hoạtđộng phụ thuộc nhiều vào việc xác định mục đích ban đầu
+ Mục đích giáo dục:
là một phạm trù cơ bản của Giáo dục học, định hướng cho hệthống giáo dục từ việc nghiên cứu lý luận đến việc tổ chức cáchoạt động thực tiễn giáo dục và quản lý giáo dục
là mô hình lý tưởng về sản phẩm giáo dục Đó là mô hình kháchquan về nhân cách người học sinh mà nhà trường và xã hội phảiđào tạo
Phản ánh kết quả mong muốn trong tương lai của quá trình giáodục Vì vậy, mục đích giáo dục còn được là sản phẩm dự kiến củagiáo dục, được xây dựng theo “đơn đặt hàng’ của xã hội về mộtkiểu người (kiểu nhân cách) Mục đích giáo dục phải được xâydựng trước khi tiến hành các hoạt động giáo dục cụ thể
- Đặc điểm:
+ Tính lịch sử:
mục đích giáo dục được xác định căn cứ vào trình độ phát triển củalực lượng sản xuất, của khoa học - công nghệ và văn hóa, của sựkhẳng định hệ tư tưởng và lối sống trong từng giai đoạn nhất địnhcủa từng chế độ xã hội nhất định
Mục đích giáo dục luôn thay đổi cùng sự phát triển của lịch sử để đápứng các yêu cầu của từng thời đại
+ Tính giai cấp:
Xã hội có giai cấp mục đích giáo dục mang tính giai cấp bởi giaicấp thống trị sử dụng giáo dục như một công cụ của giai cấp đó
Mỗi chế độ xã hội khác nhau có một mục đích giáo dục đặc thù
+ Tính dân tộc: Mỗi quốc gia có một nên văn hóa khác nhau vì vậy cũng
có một nền giáo dục tương ứng với nền văn hóa đó
+ Tính thời đại: Giáo dục cần hướng tới mục đích giáo dục người công
dân toàn cầu đáp ứng với yêu cầu của mỗi quốc gia và thời đại
Mục tiêu giáo dục
- Khái niệm
+ Là những tiêu chí, chỉ tiêu, những yêu cầu cụ thể đối với từng khâu, từngnhiệm vụ, từng nội dung của quá trình giáo dục phải đạt được sau một hoạtđộng giáo dục
Trang 9+ Là biểu hiện cụ thể của mục đích giáo dục Mục tiêu giáo dục là nhữngbậc thang nối tiếp nhau dẫn đến mục đích giáo dục, khi các mục tiêu giáodục đạt được có nghĩa là chúng ta đã tiệm cận tới mục đích giáo dục
- Mục tiêu giáo dục VN:
+ Cấp độ tổng quát:
Mục tiêu giáo dục xã hội: nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực vàphát hiện, bồi dưỡng nhân tài
Mục tiêu nhân cách: xây dựng con người phát triển toàn diện về cả đứcvà tài
+ Cấp độ hệ thống giáo dục
Giáo dục mầm non: giúp trẻ hình thành những yếu tố đầu tiên của nhâncách
Giáo dục tiểu học: hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất và những kĩ năng cơ bản
Giáo dục THCS: củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục tiểu học, hướng nghiệp
Giáo dục THPT: củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục
Trình độ Thạc sĩ: nắm vững lí thuyết, có trình độ cao về thực hành
Trình độ Tiến sĩ: giúp nghiên cứu sinh có trình độ cao về lí thuyết và thựchành, có năng lực nghiên cứu độc lập, sáng tạo, hướng dẫn hoạt động chuyên môn
+ Cấp độ chuyên biệt:
Kiến thức: hệ thống những khái niệm, phạm trù, thông tin khoa học theo nội dung từng môn học, chuyên ngành cụ thể
Kĩ năng: khả năng thực hiện các công việc cụ thể sau khi được học tập, đào tạo, huấn luyện
Thái độ: biểu hiện ý thức của học sinh đối với kiến thức đã tiếp thu và những dự định ứng dụng chúng vào cuộc sống
Vấn đề 7 : Nguyên lý giáo dục Việt Nam
Khái niệm về nguyên lý giáo dục
Trang 10Nguyên lý giáo dục là những luận điểm chung nhất, có tính quy luậtcủa lý thuyết giáo dục, có vai trò định hướng, chỉ đạo các hoạt động giáo dụctrong nhà trường.
Đặc điểm của nguyên lý giáo dục
- Là một tư tưởng giáo dục có tầm thời đại Những nội dung của
nguyên lý vừa phản ánh phương châm giáo dục truyền thống của ViệtNam, đồng thời là tư tưởng có tầm thời đại
- Là tư tưởng giáo dục được khái quát từ bản chất của giáo dục - là
một hiện tượng xã hội, chịu sự chi phối bởi các quy luật xã hội.Giáo dục là một bộ phận của hoạt động xã hội, trình độ xã hội quyđịnh trình độ giáo dục
- Được khái quát từ bản chất của quá trình dạy học, trong đó hoạtđộng học tập của người học bao gồm hoạt động nhận thức và hoạtđộng thực hành; hoạt động giảng dạy của giáo viên về thực chất làquá trình tổ chức các hoạt động học tập của người học một cách có
ý thức
- Được rút ra từ bản chất của quá trình giáo dục – là quá trình tổchức hoạt động và giao lưu nhằm giúp người được giáo dục tự giáctích cực chuyển hóa những yêu cầu chuẩn mực xã hội thành hành
vi, thói quen tương ứng
- Là một tư tưởng giáo dục được xây dựng xuất phát từ mục đíchgiáo dục và trở thành phương thức để thực thi mục đích giáo dục
- Được đúc rút từ những kinh nghiệm thực tiễn giáo dục qua nhiều thờiđại
Nội dung của nguyên lý giáo dục Việt Nam
- Học đi đôi với hành: Là một tư tưởng giáo dục vừa truyền thống
vừa hiện đại, vừa có tính khoa học vừa có tính thực tiễn Bản chấtcủa tư tưởng này như sau:
+ Quá trình dạy học ở các nhà trường cần tổ chức sao cho người
học cần phải làm tốt, đồng thời việc học (lĩnh hội hệ thống tri thức khoa học) và việc hành (luyện tập để vận dụng tri thức hình thành hệ thống kỹ năng, kỹ
xảo, đồng thời hình thành thái độ tình cảm tốt đẹp)
+ Học đi đôi với hành là một phương pháp học tập có hiệu quả.Bởi vì chúng hỗ trợ và thúc đẩy nhau làm cho hiệu quả học tập cao hơn, có ýnghĩa thực tiễn hơn
+ Học đi đôi với hành được thực hiện ở nhiều mức độ khác nhau Vìvậy, đòi hỏi các nhà trường cần tổ chức các hoạt động thực tiễn các hoạtđộng ngoại khóa, người giáo viên trong dạy học cần đưa ra các loại bài tập,nhiệm vụ học tập phong phú, đa dạng, cần nâng dần mức độ khó khăn yêu
Trang 11cầu người học có sự nỗ lực trong giải quyết, đảm bảo tốt mối quan hệ học điđôi với hành.
- Giáo dục kết hợp với lao động sản xuất là tư tưởng giáo dục của
nhà trường hiện đại Tư tưởng này được thể hiện như sau:
+ Giáo dục lao động được xác định là một nội dung trong giáo dục toàn diện nhân cách người học
+ Giáo dục kết hợp với lao động sản xuất nhằm thực hiện nguyên tắcgiáo dục “Giáo dục trong lao động và bằng lao động” làm cho lao động sản xuấtvừa là môi trường vừa là phương tiện giáo dục học sinh
+ Mục đích đào tạo là tạo nguồn nhân lực cho các lĩnh vực của nềnkinh tế quốc dân
- Lý luận gắn liền với thực tiễn là tư tưởng quan trọng đối với quá
trình giáo dục và đào tạo trong nhà trường Việt Nam
+ Giáo dục là một bộ phận của xã hội, mục đích giáo dục được xuất phát từ yêu cầu của xã hội, hay nói cách khác phải đáp ứng sự phát triểncủa xã hội Vì vậy, nội dung giáo dục của nhà trường không tách rời thựctiễn đất nước đang biến động từng ngày
+ Đòi hỏi trong quá trình giảng dạy lý luận, giáo viên cần phải chú
ý phân tích, lý giải các sự kiện, hiện tượng thực tiễn bằng những cơ sở khoahọc xác đáng; biết tích hợp, lồng ghép những nội dung có tính thực tiễn vàotừng bài giảng giúp người học có cơ hội tiếp cận với những vấn đề thực tiễncấp thiết; cần thường xuyên liên hệ với thực tiễn sinh động của cuộc sống,với những thành tựu về khoa học, công nghệ trong nước và trên thế giới, làmcho bài học mang hơi thở của cuộc sống, lý luận không còn khô khan, khóhiểu, ngược lại bài học trở nên sinh động, giúp người học nắm vững lý luậnvà hiểu rõ thực tiễn, làm cho chất lượng hiệu quả giáo dục được nâng cao
- Giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội: giáo dục là quá trình có nhiều lực lượng tham gia, trong đó 3 lực
lượng quan trọng nhất là gia đình, nhà trường và các đoàn thể xã hội
+ Nhà trường có trách nhiệm chủ động phối hợp, huy động sự thamgia của gia đình, các tổ chức xã hội để thực hiện mục tiêu, nguyên lý giáodục
+ Gia đình là nơi sinh ra, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ em Giáo dụcgia đình dựa trên tình cảm huyết thống, các thành viên gắn bó với nhau trongsuốt cuộc đời nên giáo dục gia đình bền vững nhất
+ Giáo dục xã hội là giáo dục trong môi trường nơi trẻ em sinhsống Bao gồm giáo dục của các đoàn thể (tổ chức quần chúng có tổ chức, cótôn chỉ mục đích phù hợp với mục đích giáo dục của nhà nước và nhàtrường)
Trang 12+ Giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dụcxã hội sẽ phát huy sức mạnh của phong trào xã hội hóa giáo dục, tạo điềukiện cho sự nghiệp giáo dục đi đến thành công Chủ tịch Hồ Chí Minh đãtừng nói “Giáo dục nhà trường dù tốt đến mấy, nếu không có giáo dục giađình thì kết quả cũng không hoàn toàn”.
Trình bày phương hướng quán triệt nguyên lý giáo dục Việt Nam
Quán triệt nguyên lý giao dục đòi hỏi các cấp từ trung ương, đến địaphương; từ nhà trường đến gia đình, xã hội phải thực hiện các biện pháp sau:
- Cần chú ý xây dựng nội dung, chương trình giáo dục và đào tạo chotừng ngành học, cấp học, trình độ đào tạo đảm bảo tính toàn diện, cânđối giữa các môn lý thuyết và môn thực hành; giữa nội dung lýthuyết và nội dung thực hành; giữa nội dung chính khóa và nội dungngoại khóa
- Quy trình đào tạo và giáo dục đảm bảo tính chuẩn mực, tính hiện đạivà tính thực tiễn, đảm bảo sự thống nhất giữa các môn lý thuyết vàthực hành; thống nhất giữa các môn kiến thức cơ bản với kiến thứcchuyên ngành
- Nhà trường quán triệt cho mọi giáo viên thường xuyên sử dụngphương pháp giáo dục tích cực, phát huy vai trò tự giác, tích cực, độclập của người học, lấy người học làm trung tâm Trong mỗi giờ dạyđòi hỏi người giáo viên liên hệ các nội dung tri thức với thực tiễncuộc sống
- Nhà trường xây dựng các cơ sở thực hành, thí nghiệm, các trung tâmhướng nghiệp dạy nghề cho học sinh; giúp các em vừa được học lýthuyết vừa được học thực hành và bước đầu làm quen với một sốngành nghề cơ bản mà xã hội đang cần và hình thành những kỹ năng
cơ bản và nguyên lý của nền sản xuất hiện đại
- Nhà trường cần xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh trên cơ sởchủ động phối hợp với các lực lượng giáo dục gia đình và giáo dụcxã hội
Phần 2
LÝ LUẬN VÀ TỔ CHỨC QUÁ TRÌNH DẠY HỌC Ở NHÀ TRƯỜNG PHỔ
THÔNG
Chương 1QUÁ TRÌNH DẠY HỌC
Vấn đề 8 + 9 + 10: Quá trình dạy học
Khái niệm
Trang 13- là sự thống nhất biện chứng của hai thành tố cơ bản trong quá trình
dạy học – hoạt động dạy và hoạt động học
- Là một quá trình dưới sự lãnh đạo, tổ chức, điều khiển của người
giáo viên, người học tự giác, tích cực, chủ động tự tổ chức, tự điềukhiển hoạt động nhận thức – học tập của mình nhằm thực hiện nhữngnhiệm vụ dạy học
Đặc điểm
- Học sinh hiện nay có năng lực nhận thức phát triển hơn so với họcsinh cùng độ tuổi trước kia Những kết quả nghiên cứu của các nhàtâm lý học trong và ngoài nước đã cho thấy: So với học sinh cùng độtuổi ở các thế hệ trước, học sinh phổ thông hiện nay có năng lực nhậnthức phát triển hơn, thông minh hơn Người ta gọi đó là hiện
tượng tăng tốc phát triển của trẻ em Hiện tượng tăng tốc
phát triển của trẻ em ngày nay biểu hiện ở ba dấu hiệu:+ Hiện tượng tăng tốc phát triển chiều cao, trọng lượng
cơ thể;
+ Sự trưởng thành sinh dục sớm;
+ Sự phát triển trí tuệ sớm
Năng lực nhận thức của học sinh ngày nay được phát triển sớm hơn và
nhanh hơn so với trẻ em cùng độ tuổi trước đây do nhiều yếu tố sau:
+ Sự cải thiện điều kiện sinh hoạt vật chất, tinh thần, sự đô thị hóa củaxã hội hiện đại, cùng nhịp độ phát triển nhanh của kinh tế- xã hội trong thờiđại thông tin;
+ Giao lưu được mở rộng, tạo điều kiện trao đổi, phối kết hợp với nhaugiữa các cá nhân với cá nhân, cá nhân với cộng đồng;
+ Những phương tiện thông tin đại chúng, phương tiện nghe nhìn làmcho trẻ sớm trưởng thành về tư duy và có thể tiếp nhận những lượng thông tinmới một cách nhanh chóng;
+ Sự mở rộng các loại hình hoạt động văn hóa- xã hội tạo cơ hội cho họcsinh tiếp nhận những lĩnh vực yêu thích phù hợp với nhu cầu và khả năng;
+ Sự đổi mới mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện dạy họctrong nhà trường tác động mạnh đến sự phát triển năng lực trí tuệ của trẻ;
+ Mặt bằng dân trí ngày càng được nâng cao đã tác động tích cực đến giáodục gia đình, kiến thức và kỹ năng nuôi dạy và giáo dục con của cha mẹ học sinhngày càng trở nên khoa học hơn Chất lượng giáo dục gia đình được nâng cao cóảnh hưởng tích cực đến sự phát triển năng lực nhận thức của trẻ
Năng lực nhận thức phát triển thúc đẩy học sinh trở thành chủ thể tíchcực của quá trình dạy học ngày nay Những người làm công tác giáo dục cầnnhận thức rõ đặc điểm này và quán triệt vận dụng vào quá trình dạy học trong
lý luận cũng như thực tiễn Cụ thể, cần:
Trang 14+ Thay đổi cách nhìn nhận, đánh giá về năng lực nhận thức, kinh nghiệm củahọc sinh ngày nay;
+ Đổi mới, hoàn thiện quá trình dạy học về mục đích, nội dung, phươngpháp, hình thức tổ chức và phương tiện dạy học, phân hóa và cá biệt hóa trongdạy học cho phù hợp với sự phát triển năng lực nhận thức của học sinh
- Hoạt động học tập của học sinh được tích cực hoá trên cơ sở nội dungdạy học ngày càng được hiện đại hoá
Từ đặc điểm này đòi hỏi người giáo viên trong quá trình dạy họckhông chỉ là người cung cấp thông tin mà quan trọng hơn, họ phải là ngườihướng dẫn học sinh biết cách tự mình thu thập, xử lý và vận dụng thông tin Cònhọc sinh trong quá trình học tập phải chú trọng học cách thu thập, xử lý và vậndụng thông tin để giải quyết những nhiệm vụ đặt ra trong học tập cũng như cuộcsống
- Trong quá trình học tập hiện nay, nhu cầu hiểu biết của học sinh có
xu hướng vượt ra khỏi nội dung tri thức, kỹ năng do chương trình quyđịnh Xu hướng này thể hiện ở chỗ học sinh thường chưa thoả mãn vớinhững tri thức được cung cấp qua chương trình học tập Các em luônmuốn biết thêm, biết sâu hơn hững điều đã học và nhiều điều mới lạ củacuộc sống muôn màu muôn vẻ nhằm thoả mãn nhu cầu hiểu biết và cácnhu cầu cần thiết khác của cuộc sống
Nguyên nhân của xu hướng này là:
+ Năng lực nhận thức của học sinh đã phát triển hơn trước và hoạt độngnhận thức của họ được tích cực hóa trong điều kiện phương pháp dạy họcngày càng hiện đại, các em không thỏa mãn với nội dung do chương trình quyđịnh, và muốn tìm hiểu, khám phá thêm những cái mới;
+ Học sinh có điều kiện thuận lợi để tiếp cận với những thông tin phongphú, đa dạng, làm kích thích óc tò mò, ham hiểu biết của các em;
+ Quá trình hiện đại hóa nội dung dạy học diễn ra chậm, chưa bắt kịp vớinhững thay đổi của khoa học kỹ thuật và xã hội ngày càng diễn ra nhanhchóng Vì vậy, học sinh phải tìm thêm những tri thức mới ngoài phạm vichương trình nhằm thỏa mãn nhu cầu, nguyện vọng của cá nhân và đáp ứngnhững đòi hỏi của xã hội;
+ Các hình thức phân hóa dạy học trong nhà trường hiện đại hướng họcsinh đi sâu tìm hiểu các môn học theo hứng thú, năng khiếu của bản thân;
+ Tâm lý muốn chuẩn bị cho cuộc chạy đua tìm kiếm việc làm trong nềnkinh tế thị trường của xã hội hiện đại
Để đáp ứng xu hướng trên, ngoài “phần cứng”, chương trình dạyhọc cần thiết kế các “phần mềm” trong các môn học và tăng cường môn học tự
Trang 15chọn; cần tổ chức các hoạt động ngoại khoá nhằm phát huy tiềm năng và hứngthú của học sinh, tạo điều kiện cho học sinh kiểm nghiệm và mở mang vốnhiểu biết của mình, có khả năng thích ứng nhanh với cuộc sống sau này.
- Quá trình dạy học hiện nay được tiến hành trong điều kiện cơ sở vật
chất, phương tiện dạy học ngày càng hiện đại, đa dạng
Trong xã hội hiện đại, các phương tiện dạy học đã có rất nhiều thay đổi
so với trước Với sự phát triển như vũ bão của khoa học kỹ thuật, các phươngtiện kỹ thuật dạy học mới đã ra đời: Phim ảnh, vô tuyến truyền hình, máy vitính, máy dạy học và kiểm tra, các phầm mềm dạy học, các thiết bị đa phươngtiện Các thiết bị hiện đại này cho phép đưa vào quá trình dạy học những nộidung sinh động, làm thay đổi phương pháp và hình thức tổ chức dạy học,mang đến cho quá trình dạy học một nhịp độ, phong cách và trạng thái tâm lýmới
Bản chất
- Cơ sở xác định bản chất của quá trình dạy học
+ các lý thuyết học tập- cơ sở tâm lý của việc dạy học;
+ mối quan hệ giữa hoạt động nhận thức có tính chất lịch sử xã hộiloài người với hoạt động dạy học Trong quá trình phát triển của lịch sửxã hội thì hoạt động nhận thức có trước, hoạt động dạy học có sau Hoạtđộng học tập của học sinh chính là hoạt động nhận thức trong môi trường dạyhọc (môi trường sư phạm)
+ mối quan hệ giữa dạy và học, giữa giáo viên và học sinh Quátrình dạy học là quá trình tác động qua lại giữa giáo viên và học sinh Xétcho cùng thì mọi tác động giữa giáo viên và học sinh đều nhằm thúc đẩyhoạt động nhận thức của học sinh Kết quả dạy học phản ánh tập trung ở kếtquả nhận thức của học sinh, cụ thể ở sự chiếm lĩnh hệ thống tri thức, hìnhthành kỹ năng, kỹ xảo, phát triển trí tuệ, qua đó mà hoàn thiện nhân cách bảnthân người học
- Bản chất của quá trình dạy học
Bản chất của quá trình dạy học là quá trình nhận thức và thực hành cótính độc đáo của học sinh dưới sự tổ chức, hướng dẫn của người giáo viênnhằm thực hiện các nhiệm vụ dạy học
Quá trình học tập của học sinh là một quá trình nhận thức:
- Nhận thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào não người – đó là sự phảnánh tâm lí của con người bắt đầu từ cảm giác đến tư duy, tưởng tượng Quá trìnhhọc tập của học sinh cũng là quá trình như vậy Với tư cách là một thực thể xã hội
Trang 16có ý thức, học sinh có khả năng phản ánh một cách khách quan về nội dung và chủquan về hình thức, nghĩa là về nội dung học sinh có khả năng phản ánh đúng bảnchất và những quy luật của thế giới khách quan, còn về hình thức mỗi học sinh cóphương pháp phản ánh riêng của mình, có cách hình thành khái niệm, xây dựng cấutrúc lôgic riêng của mình.
- Quá trình nhận thức của học sinh cũng diễn ra theo quy luật nhận thứcchung của loài người Quy luật này được phản ánh trong công thức nổi tiếngcủa Lênin “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượngđến thực tiễn, đó là con đường biện chứng duy nhất của sự nhận thức chân lý,nhận thức hiện thực khách quan”
- Trong quá trình học tập, muốn nhận thức đầy đủ một vấn đề, một sự vật,hiện tượng trong thế giới khách quan, học sinh cần phải huy động các thao tác
tư duy (cảm giác, tri giác, tư duy, tưởng tượng, phán đoán, suy lý…) ở mức độcao nhất
- Kết quả của quá trình học tập ở học sinh và kết quả của quá trình nhận thứcnói chung của loài người đều có điểm chung là làm cho vốn hiểu biết của chủ thểtăng lên nhờ sự tích lũy những tri thức, hình thành những kinh nghiệm mới trongquá trình nhận thức của mình
Từ những phân tích trên cho thấy, hoạt động học tập của học sinh thựcchất là hoạt động nhận thức và hoạt động dạy của giáo viên là tổ chức hoạt độngnhận thức
Quá trình học tập của học sinh là một quá trình nhận thức độc đáo:
- Quá trình học tập của học sinh là quá trình nhận thức cái mới đối vớibản thân mình rút ra từ kho tàng hiểu biết chung của nhân loại
- Con đường nhận thức của học sinh về cơ bản là thuận lợi, tuy có nhữnglúc quanh co, khúc khuỷu do hoạt động tìm kiếm chân lý mới gây ra
- Quá trình học tập của học sinh phải tiến hành theo các khâu của quá trìnhdạy học: Lĩnh hội tri thức mới, củng cố, vận dụng, kiểm tra, đánh giá tri thức, kĩnăng, kĩ xảo nhằm biến chúng thành tài sản của bản thân
- Thông qua hoạt động nhận thức của học sinh trong quá trình dạy học,cần hình thành ở học sinh thế giới quan, động cơ, các phẩm chất của nhân cáchphù hợp với chuẩn mực xã hội
- Quá trình nhận thức của học sinh trong quá trình dạy học diễn ra dướivai trò chủ đạo của giáo viên (lãnh đạo, tổ chức, điều khiển) cùng với nhữngđiều kiện sư phạm nhất định
Từ những phân tích trên cho thấy, quá trình học tập của học sinh là quá trình nhận thức độc đáo
.
Kết luận sư phạm
Trang 17- Không nên quá cường điệu những nét riêng biệt, độc đáo trong hoạtđộng học tập của người học Nếu như vậy sẽ rơi vào xu hướng sai lầm là chỉchú trọng truyền đạt cho học sinh một số tri thức có sẵn, quy trình hoạt độngmáy móc, mà coi nhẹ việc tổ chức cho học sinh độc lập nghiên cứu để nắm lấytri thức và rèn luyện phương pháp học tập, phương pháp nghiên cứu
- Người giáo viên cần chú ý sử dụng những phương pháp dạy học, đềxuất các bài tập nhận thức có tác dụng phát huy được tính tích cực, chủ động,sáng tạo của học sinh trong quá trình học tập, giúp họ tiếp cận với hoạt độngnhận thức của các nhà khoa học
+ chịu sự chi phối của mục dích dạy học
+ là những việc phải làm cụ thể theo yêu cầu phát triển và bồi dưỡng hệthống tri thức, kĩ năng, kĩ xảo và tư duy sáng tạo, trên cơ sở đó hình thànhthế giới quan khoa học, lí tưởng, phẩm chất đạo đức con người
- Nội dung dạy học
+ bao gồm hệ thống những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo mà người học phải
nắm vững trong quá trình dạy học và các hoạt động mà giáo viên tổ chức + chịu sự chi phối bởi mục đích, nhiệm vụ dạy học đồng thời nó lại quiđịnh việc lựa chọn và vận dụng phối hợp các phương pháp, phương tiện vàhình thức tổ chức dạy học
- Học sinh
+ một mặt là đối tượng của hoạt động dạy, mặt khác lại là chủ thể của
hoạt động học
+ Hoạt động học của học sinh là hoạt động tự giác, tích cực, chủ động, tự
tổ chức, tự điều khiển nhằm thu nhận, xử lí và biến đổi thông tin bên
Trang 18ngoài thành tri thức của bản thân, qua đó người học thể hiện mình, biếnđổi mình, tự làm phong phú những giá trị của mình.
- Phương pháp dạy học
+ là cách dạy của giáo viên và cách học của học sinh,
+ có vai trò quyết định đối với chất lượng quá trình dạy học
- Phương tiện dạy học
+ là công cụ nhận thức, công cụ thực hành, hỗ trợ cho học sinh học tậpmột cách tích cực, sáng tạo
+ Phương tiện dạy học đầy đủ, đồng bộ, hiện đại góp phần quan trọng đểtạo nên chất lượng dạy học
- Hình thức tổ chức dạy học
là toàn bộ những cách thức tổ chức hoạt động của giáo viên và học sinhtrong quá trình dạy học ở thời gian và địa điểm nhất định, với việc sử dụngnhững phương tiện và phương tiện dạy học cụ thể nhằm thực hiện nhữngnhiệm vụ dạy học
- Kết quả dạy học
+ phản ánh sự vận động, phát triển của quá trình dạy học
+ thể hiện tập trung ở kết quả học sinh đạt được trong quá trình học tập
- Môi trường dạy học
+ bao gồm môi trường tự nhiên và môi trường xã hội Trong đó môi
trường xã hội đóng vai trò quyết định
+ Các môi trường này không chỉ tác động đến hoạt động dạy học nóichúng mà còn ảnh hưởng đến tất cả các thành tố cấu trúc bên trong quátrình dạy học Ngược lại, quá trình dạy học phát triển sẽ góp phần thúc đẩy
sự vận động đi lên của các môi trường bên ngoài
Trong các nhân tố cấu trúc nên quá trình dạy học, nhân tố người giáo viên vớihoạt động dạy và học sinh với hoạt động học là những nhân tố trung tâm Cácnhân tố này đặc trưng cho tính hai mặt của quá trình dạy học, mối quan hệ giữahai thành tố trung tâm này tạo nên tính chất hai mặt của quá trình dạy học
Vấn đề 11: Nhiệm vụ dạy học
Cơ sở xác định:
- Mục tiêu đào tạo
- Sự tiến bộ của khoa học công nghệ
- Đặc điểm tâm – sinh lý của học sinh
- Đặc điểm hoạt động dạy của nhà trường
Nhiệm vụ: có 3 nhiệm vụ
Trang 19- Điều khiển, tổ chức học sinh nắm vững hệ thống tri thức phổ thông cơbản, hiện đại, phù hợp với thực tiễn của đất nước về tự nhiên, xã hội –nhân văn, đồng thời rèn luyện cho họ hệ thống kĩ năng, kĩ xảo tươngứng.
- Tổ chức, điều khiển học sinh hình thành, phát triển năng lực và phẩmchất trí tuệ, đặc biệt là năng lực tư duy độc lập, sáng tạo
- Tổ chức, điều khiển học sinh hình thành cơ sở thế giới quan khoa học,những phẩm chất đạo đức nói riêng và phát triển nhân cách nói chung
Vấn đề 12: động lực của quá trình dạy học
Theo triết học duy vật biện chứng, mọi quá trình trong thế giới khách
quan không ngừng vận động và phát triển Sở dĩ như vậy là do có sự đấutranh và thống nhất giữa các mặt đối lập, nghĩa là do có mâu thuẫn bêntrong và mâu thuẫn bên ngoài Mâu thuẫn bên trong là nguồn gốc của sựphát triển, mâu thuẫn bên ngoài là điều kiện của sự phát triển
Quá trình dạy học trong hiện thực khách quan cũng vận động và phát triển do không ngừng giải quyết các mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn bên
ngoài
- Mâu thuẫn bên trong của quá trình dạy học là mâu thuẫn giữa các thành tố và giữa các yếu tố trong từng thành tố của quá trình dạy học
+ Mâu thuẫn giữa các thành tố
Giữa Mục đích, nhiệm vụ dạy học đã nâng cao và hoàn thiệnvà nội dung dạy học còn ở trình độ lạc hậu
Giữa mục đích dạy học được đề ra rất cao và phương tiện dạyhọc để đạt tới mục đích đó thường còn hạn chế
Giữa nội dung dạy học đã được hiện đại hóa và phương pháp,phương tiện còn lạc hậu, thô sơ
Giữa nội dung, phương tiện dạy học đã được hiện đại hóa và trìnhđộ giáo viên còn thấp
Giữa một bên là nhiệm vụ học tập do tiến trình dạy học đề ravà một bên là trình độ tri thức, kĩ năng, kĩ xảo và trình độ pháttriển trí tuệ hiện có của người học
Giữa những thành tố như trình độ của thầy và của trò,
Giữa nội dung dạy học đã được cải tiến nhưng phương pháp chưađược đổi mới
Giữa phương pháp đổi mới với phương tiện dạy học chưa đảmbảo
+ Mâu thuẫn giữa những yếu tố của từng thành tố trong quá trình dạy học:
Trang 20 Trong mục đích dạy học: Mâu thuẫn giữa yêu cầu cao về nắmtri thức, kĩ năng, kĩ xảo và yêu cầu không đúng mức về mặtgiáo dục
Trong hệ thống phương pháp dạy học: Phương pháp dạy họcthuyết trình và phương pháp dạy học vấn đáp
Trong phương pháp dạy học xuất hiện mâu thuẫn giữa việc sửdụng nhóm phương pháp dùng lời với nhóm phương pháp trựcquan Nếu quá lạm dụng phương pháp trực quan sẽ làm giảm sựphát triển tư duy trừu tượng, nếu quá lạm dụng phương phápdùng lời bài giảng sẽ trở nên trừu tượng
Trong nội dung dạy học: Yêu cầu đầy đủ về nắm tri thức vàyêu cầu chưa đầy đủ về rèn luyện kĩ năng kĩ xảo
Giữa nội dung kiến thức mới và các kiến thức, kinh nghiệmcũ đã có của người học sinh
- Mâu thuẫn bên ngoài là mâu thuẫn giữa sự tiến bộ khoa học, công nghệ, văn hoá, sự phát triển kinh tế – xã hội với từng thành tố của quá trình dạy học
+ Giữa những thành tựu khoa học công nghệ hiện đại và nội dung,phương pháp, phương tiện dạy học lạc hậu
+ Sự tiến bộ xã hội với nhiệm vụ dạy học chưa được nâng cao
Động lực của quá trình dạy học là kết quả của việc phát hiện và giải quyết
tốt được những mâu thuẫn bên ngoài, bên trong của quá trình dạy học, trongđó việc giải quyết các mâu thuẫn bên trong có ý nghĩa quyết định sự pháttriển Song trong những điều kiện nhất định, các mâu thuãn bên ngoài củaquá trình dạy học lại có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với sự vận động vàphát triển của quá trình dạy học
Mâu thuẫn cơ bản và những điều kiện để chúng trở thành động lực của quá trình dạy học
- Mâu thuẫn cơ bản của quá trình dạy học là mâu thuẫn giữa một bên
là nhiệm vụ học tập do tiến trình dạy học đề ra và một bên là trình độtri thức, kĩ năng, kĩ xảo và trình độ phát triển trí tuệ hiện có củangười học
Mâu thuẫn cơ bản khi xuất hiện dưới sự chỉ đạo của người giáo viên, họcsinh tự lực hoặc được sự hỗ trợ của giáo viên sẽ giải quyết nó Nhờ đó ngườihọc được nâng cao trình độ và đáp ứng được nhiệm vụ dạy học đề ra Sự thúcđẩy giải quyết các mâu thuẫn cơ bản đó tạo ra động lực cơ bản của quá trìnhdạy học
Trang 21Song, muốn quá trình dạy học phát triển thì quá trình học của học sinhphải tiến triển Vì vậy, mâu thuẫn cơ bản của quá trình dạy học phải chuyểnhoá thành mâu thuẫn cơ bản của quá trình lĩnh hội tri thức của học sinh.
Điều kiện để mâu thuẫn trở thành động lực của quá trình dạy học
- Mâu thuẫn phải được người học ý thức đầy đủ và sâu sắc
- Mâu thuẫn đó phải vừa sức người học
- Mâu thuẫn phải do sự tiến triển tự nhiên của quá trình dạy học dẫn đến, phải
di logic của nó quy định
Ví dụ về cách xây dựng động lực của quá trình dạy học:
Hình thành phép cộng trong phạm vi 10
Điều kiện 1: Tồn tại mâu thuẫn và học sinh ý thức được mâu thuẫn.
Mâu thuẫn: Phép cộng trên phạm vi 10 (là tri thức cũ) mâu thuẫn với phépcộng trên phạm vi 10 (tri thức mới)
Điều kiện 2: Mâu thuẫn này là vừa sức với học sinh
- Tri thức cũ làm nền tảng, cơ sở cho tri thức mới, đã được học từ trước.Học sinh đã thành thạo sử dụng phép tính cộng trong phạm vi 10
- Số tự nhiên được cung cấp cho người học mang tính hệ thống : học sinhhọc 10 số đầu rồi mới đến các số kế tiếp
- Phép cộng các số nhỏ (dưới 10), rồi mới đến các số lớn hơn (trên 10)
Điều kiện 3: Mâu thuẫn này được nảy sinh từ chính logic của quá trình
dạy học, chứ không phải do giáo viên hoặc hoàn cảnh bên ngoài tác độngvào quá trình dạy học
- Các đơn vị tri thức (cái đã biết và cái chưa biết) được lần lượt cung cấp từlớp trước
Vấn đề 13: Trình bày và phân tích các khâu của quá trình dạy học
1 Khái niệm về logic của quá trình dạy học
Logic của quá trình dạy học là trình tự vận động hợp qui luật của quá trìnhđó nhằm đảm bảo cho người học đi từ trình độ tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và sựphát triển năng lực hoạt động trí tuệ ứng với lúc ban đầu nghiên cứu môn học(hay một đề mục) nào đó, đến trình độ tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và sự pháttriển năng lực hoạt động trí tuệ ứng với lúc kết thúc môn học (hay đề mục) đó
2 Các khâu của quá trình dạy học
(1) Kích thích thái độ học tập tích cực của học sinh;
(2) Tổ chức điều khiển học sinh nắm tri thức mới;
(3) Tổ chức, điều khiển học sinh củng cố và hệ thống hóa tri thức
(4) Tổ chức, điều khiển học sinh rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo và sử dụng tri thức, kỹ năng, kỹ xảo một cách có hiệu quả.
(5) Tổ chức, điều khiển việc kiểm tra, đánh giá mức độ nắm tri thức, kỹ năng, kỹ xảo của học sinh đồng thời tổ chức cho học sinh tự kiểm tra, đánh
Trang 22giá mức độ nắm tri thức, kỹ năng, kỹ xảo của bản thân.
Vấn đề 14: Nguyên tắc dạy học
1 Khái niệm nguyên tắc dạy học
Nguyên tắc dạy học là những luận điểm cơ bản có tính quy luật của lýluận dạy học, chỉ đạo toàn bộ tiến trình dạy và học nhằm thực hiện tốt mụcđích, nhiệm vụ dạy học
2 Những cơ sở xác định các nguyên tắc dạy học
Các nguyên tắc dạy học được xác định dựa trên những cơ sở sau:
- Dựa vào mục tiêu giáo dục;
- Dựa vào các qui luật dạy học;
- Dựa vào đặc điểm tâm sinh lý của người học;
- Dựa vào kinh nghiệm xây dựng các nguyên tắc dạy học trước đó
3 Hệ thống các nguyên tắc dạy học
- đảm bảo sự thống nhất giữa tính khoa học và tính giáo dục trong dạyhọc;
- đảm bảo sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong dạy học;
- đảm bảo tính hệ thống và tính tuần tự trong dạy học;
- đảm bảo sự thống nhất giữa tính cụ thể và tính trừu tượng trong quá trìnhdạy học;
` - Đảm bảo tính vững chắc của tri thức và sự phát triển năng lực nhận thứccủa học sinh;
- đảm bảo sự thống nhất giữa tính vừa sức chung và tính vừa sức riêngtrong quá trình dạy học;
- đảm bảo sự thống nhất giữa thầy và trò;
- đảm bảo tính cảm xúc tích cực của dạy học;
- đảm bảo chuyển quá trình dạy học sang quá trình tự học
4 Nguyên tắc dạy học (cụ thể)
4.1 Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa tính khoa học và tính giáo dục trong dạy học
Nội dung nguyên tắc
Nguyên tắc này đòi hỏi trong quá trình dạy học, giáo viên phải đảm bảotrang bị cho học sinh những tri thức khoa học chân chính, phản ánh nhữngthành tựu khoa học, công nghệ và văn hoá hiện đại, phải dần dần giúp họcsinh tiếp cận với những phương pháp học tập- nhận thức và thói quen suynghĩ, làm việc một cách khoa học Qua đó dần dần hình thành cơ sở thế giớiquan khoa học, tình cảm và những phẩm chất đạo đức cao quý của con ngườihiện đại cho học sinh
Trang 23Một số biện pháp thực hiện
- Trang bị cho học sinh những tri thức khoa học chân chính, hiện đạitrong các lĩnh vực nhằm giúp họ nắm vững những quy luật phát triển của tựnhiên, xã hội, tư duy, có cách nhìn, có thái độ và hành động đúng với hiệnthực;
- Tạo điều kiện cho học sinh có những hiểu biết sâu sắc về thiên nhiên, xã
hội, con người và những truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc, từ đó có ýthức giữ gìn, phát huy và tôn vinh những giá trị văn hóa dân tộc;
- Bồi dưỡng cho học sinh ý thức và năng lực phân tích, phê phán một cách
đúng mức những thông tin đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng,những quan niệm khác nhau về một vấn đề Điều này đặc biệt cần thiết trongbối cảnh khoa học công nghệ phát triển như vũ bão với lượng thông tinkhổng lồ được đăng tải hàng ngày;
- Vận dụng sáng tạo, linh hoạt các phương pháp dạy học, các hình thức tổ
chức dạy học khác nhau, giúp học sinh dần làm quen với hoạt động nghiêncứu khoa hoc ở mức độ đơn giản, rèn luyện cho họ những phẩm chất, tácphong của người nghiên cứu khoa học
Chương 7
PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
Vấn đề 15: Hãy trình bày và phân tích các đặc điểm của phương pháp dạy học
1 Khái niệm phương pháp dạy học
Phương pháp dạy học là cách thức tổ chức hoạt động dạy học của giáoviên và cách thức tổ chức hoạt động học tập của học sinh Trong quan hệ đó,phương pháp dạy quyết định, điều khiển phương pháp học, phương pháp họctập của học sinh là cơ sở để lựa chọn phương pháp dạy Tuy nhiên, kết quảhọc tập được quyết định trực tiếp bởi phương pháp học tập của học sinh
2 Các đặc điểm của phương pháp dạy học
(1) Phương pháp dạy học mang đặc điểm của phương pháp nói chung,
bao gồm cả mặt khách quan và mặt chủ quan
- Mặt khách quan, phương pháp bị chi phối bởi quy luật vận động khách
quan của đối tượng mà chủ thể phải ý thức được
Trong phương pháp dạy học, mặt khách quan là những quy luật tâm lí, quyluật dạy học chi phối hoạt động nhận thức của người học mà giáo dục phải ý thứcđược
- Mặt chủ quan: là những thao tác, thủ thuật của chủ thể được sử dụng
trên cơ sở cái vốn có về quy luật khách quan tồn tại trong đối tượng
Trong phương pháp dạy học, mặt chủ quan là những thao tác, nhữnghành động mà giáo viên lựa chọn phù hợp với quy luật chi phối đối tượng
Trang 24(2) Phương pháp dạy học chịu sự chi phối của mục đích dạy học,
không có phương pháp nào là vạn năng chung cho tất cả mọi hoạt động,muốn hoạt động thành công phải xác định được mục đích, tìm phương phápphù hợp
(3) Phương pháp dạy học chịu sự chi phối của nội dung dạy học, việc
sử dụng phương pháp dạy học phụ thuộc vào nội dung dạy học cụ thể
(4) Hiệu quả của việc sử dụng phương pháp dạy học phụ thuộc vào phương tiện dạy học Phương pháp dạy học quy định các phương tiện dạy
học, tuy nhiên, tính chất của phương tiện dạy học ảnh hưởng trực tiếp đếnhiệu quả của việc sử dụng phương pháp dạy học
(5) Hiệu quả của phương pháp phụ thuộc vào trình độ nghiệp vụ sư phạm của giáo viên Việc nắm vững nội dung dạy học và quy luật, đặc điểm
nhận thức của học sinh là tiền đề quan trọng cho việc sử dụng phương pháp dạyhọc nào đó Thực tiễn dạy học cho thấy, cùng một nội dung dạy học, cùng sửdụng một phương pháp dạy học, nhưng mức độ thành công của các giáo viên làkhác nhau
(6) Hệ thống các phương pháp dạy học ngày càng hoàn thiện và phát triển để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội, giúp người học phát triển
tư duy sáng tạo, khả năng tự học, khả năng thích ứng với những điều kiệnluôn đổi mới của môi trường, các phương pháp dạy học thường sử dụng phốihợp để giải quyết tốt các nhiệm vụ dạy học khác nhau
3 Hệ thống các phương pháp dạy học
3.1 Hệ thống các phương pháp dạy học cơ bản
* Nhóm các phương pháp dạy học sử dụng ngôn ngữ:
- Phương pháp thuyết trình
- Phương pháp vấn đáp
- Phương pháp sử dụng sách giáo khoa và tài liệu
* Nhóm các phương pháp dạy học trực quan:
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp minh họa
- Phương pháp biểu diễn thí nghiệm
* Nhóm các phương pháp dạy học thực hành:
- Phương pháp luyện tập
- Phương pháp thực hành thí nghiệm
* Nhóm các phương pháp kiểm tra – đánh giá:
- Phương pháp kiểm tra
- Phương pháp đánh giá
3.2 Hệ thống các phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực nhận thức của học sinh
Trang 25- Dạy học nêu và giải quyết vấn đề
- Phương pháp trò chơi
- Phương pháp đóng kịch
- Phương pháp thảo luận nhóm
- Phương pháp tình huống
- Phương pháp dạy học theo dự án
- WebQuest – khám phá trên mạng
- Dự giờ trong nhà trường phổ thong
Vấn đề 3: Trình bày phương pháp thuyết trình trong dạy học
Thuyết trình là phương pháp giáo viên dùng lời nói để trình bày, giải
thích nội dung bài học một cách có hệ thống, lôgíc cho học sinh tiếp thu.Đây là phương pháp được sử dụng lâu đời nhất trong dạy học nguồnthông tin phong phú trong thời đại công nghệ thông tin không làm giảm ýnghĩa của thuyết trình, càng làm nâng cao yêu cầu đối với thuyết trình.Thuyết trình được sử dụng để giải quyết các nhiệm vụ dạy học khác nhau, tổchức hoạt động nhận thức, qua đó giúp lĩnh hội kiến thức mới, hình thành kĩnăng, củng cố, hệ thống hoá kiến thức Các dạng thuyết trình bao gồm:
– Kể chuyện là dạng thuyết trình, trong đó giáo viên tường thuật lại các sự
kiện, hiện tượng một cách có hệ thống, thường được sử dụng trong các mônkhoa học xã hội (lịch sử, văn, địa lí ), có yếu tố mô tả và trần thuật
– Giải thích là dạng thuyết trình, trong đó giáo viên dùng những luận cứ,
những số liệu để giải thích, chứng minh, làm sáng tỏ vấn đề giúp học sinhhiểu được kiến thức cần lĩnh hội
– Diễn giảng là dạng thuyết trình, trong đó giáo viên trình bày một cách
có hệ thống nội dung học tập nhất định Hình thức này được sử dụng phổbiến ở các lớp cuối cấp trung học phổ thông và các trường đại học
Thuyết trình còn được coi là hình thức dạy học, trong đó giáo viên trình bàybài học một cách hệ thống theo trình tự logic cho học sinh Bài thuyết trìnhđược trình bày hoàn chỉnh với các thành tố cấu trúc liên hệ hữu cơ với nhaunhằm giải quyết nhiệm vụ dạy học Phương pháp dạy học chủ yếu trong bàithuyết trình là phương pháp thuyết trình Có nhiều loại thuyết trình:
- Theo vị trí của bài thuyết trình ta có:
+ Thuyết trình mở đầu: được sử dụng khi mở đầu một chương, một phần
môn trong chương trình nhằm giới thiệu khái quát vị trí, mục tiêu, nội dung,phương pháp học tập, kế hoạch học tập và các tài liệu học tập cần thiết Quathuyết trình mở đầu, giáo viên nêu ý nghĩa của chương, phân môn, môn họcvới toàn bộ quá trình đào tạo, qua đó gây hứng thú, cảm xúc và hình thànhđộng cơ học tập với nội dung đã định
Trang 26+ Thuyết trình tiến hành theo chương trình môn học nhằm tổ chức cho
người học lĩnh hội hệ thống tri thức mới
+ Thuyết trình củng cố thường thực hiện sau bài một chương một phân
môn hoặc sau khi học hết môn học nhằm giúp sinh viên khắc sâu, bổ sung vàhoàn thiện
+ Thuyết trình tổng kết: Thường tiến hành sau kết thúc một chương, một phần
hoặc toàn bộ môn học nhằm hệ thống hoá kiến thức, nhấn mạnh những vấn đềquan trọng, giải đáp thắc mắc, nêu những vấn đề cho sinh viên tiếp tục nghiêncứu hoặc những kỹ năng vận dụng học tập trong thực tiễn sư phạm
- Theo mức độ tham gia của người học vào bài thuyết trình ta có:
+ Thuyết trình thông báo: Giảng viên trình bày một cách hệ thống tri thức
về một vấn đề mới mẻ nào đó Ví dụ, sự ra đời và phát triển của các hìnhthức tổ chức dạy học, sự phát triển của Giáo dục học như một khoa học
+ Thuyết trình nêu vấn đề: Giảng viên trình bày tri thức dưới hình thức
nêu vấn đề, người học lĩnh hội tri thức trên cơ sở giải quyết tình huống cóvấn đề
Vấn đề 4: Trình bày phương pháp vấn đáp trong dạy học
Vấn đáp là phương pháp dạy học, trong đó giáo viên tổ chức, thực hiện
quá trình hỏi và đáp giữa giáo viên và học sinh nhằm sáng tỏ những tri thứcmới, rút ra những kết luận cần thiết từ tài liệu đã học, hoặc từ kinh nghiệmtrong thực tiễn Yếu tố quyết định trong sử dụng phương pháp này là hệthống các câu hỏi
Theo nhiệm vụ dạy học chúng ta có: 6 loại câu hỏi, xếp thứ tự từ thấp đếncao theo thang đánh giá của Bloom:
Câu hỏi " biết" :
- Mục tiêu: kiểm tra trí nhớ của học sinh về các dữ kiện, số liệu, tên người
hoặc địa phương, các định nghĩa, định luật, quy tắc, khái niệm…
- Tác dụng đối với học sinh: Giúp học sinh ôn lại được những gì đã biết,
đã trải qua
- Cách thức dạy học: Khi hình thành câu hỏi giáo viên có thể sử dụng các
từ, cụm từ sau đây: Ai…? Cái gì…? Ở đâu…? Thế nào…? Khi nào…? Hãyđịnh nghĩa…; Hãy mô tả…; Hãy kể lại…
Câu hỏi " hiểu" :
- Mục tiêu: nhằm kiểm tra học sinh cách liên hệ, kết nối các dữ kiện, số
liệu, các đặc điểm… khi tiếp nhận thông tin
- Tác dụng đối với học sinh:
+ Giúp học sinh có khả năng nêu ra được những yếu tố cơ bản trong bàihọc
Trang 27+ Biết cách so sánh các yếu tố, các sự kiện… trong bài học.
- Cách thức dạy học: Khi hình thành câu hỏi, giáo viên có thể sử dụng
các cụm từ sau đây: Hãy so sánh…; Hãy liên hệ…; Vì sao…? Giải thích…?
Câu hỏi " áp dụng"
- Mục tiêu: nhằm kiểm tra khả năng áp dụng những thông tin đã thu được
(các dữ kiện, số liệu, các đặc điểm…) vào tình huống mới
- Tác dụng đối với học sinh:
+ Giúp học sinh hiểu được nội dung kiến thức, các khái niệm, định luật.+ Biết cách lựa chọn phương pháp để giải quyết vấn đề trong nghềnghiệp và cuộc sống
Câu hỏi " phân tích" :
- Mục tiêu: nhằm kiểm tra khả năng phân tích nội dung vấn đề, từ đó tìm
ra mối liên hệ, hoặc chứng minh luận điểm, hoặc đi đến kết luận
- Tác dụng đối với học sinh: Giúp học sinh suy nghĩ, có khả năng tìm ra
được các mối quan hệ trong hiện tượng, sự kiện, tự diễn giải hoặc đưa ra kếtluận riêng, do đó phát triển được tư duy lôgic
- Cách thức dạy học:
+ Câu hỏi phân tích thường đòi hỏi học sinh phải trả lời: Tại sao? (khi giảithích nguyên nhân) Em có nhận xét gì? (khi đi đến kết luận) Em có thể luận
cứ như thế nào? (khi chứng minh luận điểm)
+ Câu hỏi phân tích thường có nhiều lời giải
Câu hỏi " tổng hợp" :
- Mục tiêu: nhằm kiểm tra khả năng của học sinh có thể đưa ra dự đoán,
cách giải quyết vấn đề, các câu trả lời hoặc đề xuất có tính sáng tạo
- Tác dụng đối với học sinh: Kích thích sự sáng tạo của học sinh, hướng các
em tìm ra nhân tố mới,…
- Cách thức dạy học:
+ Giáo viên cần tạo ra những tình huống phức tạp, những câu hỏi có vấnđề, khiến học sinh phải suy đoán, có thể tự do đưa ra những lời giải mangtính sáng tạo riêng của mình
Ví dụ: Thế nào là dạy học tích cực? Làm thế nào thực hiện được dạy họctích cực?
+ Câu hỏi tổng hợp đòi hỏi phải có nhiều thời gian chuẩn bị
Câu hỏi " đánh giá" :
Trang 28- Mục tiêu: nhằm kiểm tra khả năng đóng góp ý kiến, sự phán đoán của
học sinh trong việc nhận định, đánh giá các ý tưởng, sự kiện, hiện tượng,…dựa trên các tiêu chí đã đưa ra
- Tác dụng đối với học sinh: Thúc đẩy sự tìm tòi tri thức, sự xác định giá
trị của học sinh
- Cách thức dạy học: Giáo viên có thể tham khảo một số gợi ý sau để xây
dựng các câu hỏi đánh giá: Hiệu quả vận dụng dạy học tích cực như thế nào?Triển khai dạy học tích cực đó có thành công không trong thực tiễn dạy học?Theo em trong số các giả thuyết nêu ra, giả thuyết nào là hợp lí nhất và tại sao?+ Theo mức khái quát của các vấn đề có: Câu hỏi khái quát; câu hỏi theochủ đề bài học; câu hỏi theo nội dung bài học
+ Theo mức độ tham gia của hoạt động nhận thức của ngời học có: Câu hỏitái tạo và câu hỏi sáng tạo
Mỗi loại câu hỏi đều có ý nghĩa, vị trí nhất định trong quá trình dạy học,việc xây dựng, lựa chọn và sử dụng câu hỏi phải phù hợp với nhiệm vụ dạyhọc và khả năng nhận thức của người học
Phương pháp vấn đáp nếu vận dụng khéo léo sẽ có tác dụng điều khiểnhoạt động nhận thức của học sinh, kích thích học sinh tích cực độc lập tưduy, bồi dưỡng cho học sinh năng lực diễn đạt bằng lời những vấn đề khoahọc, giáo viên có thể thu được tín hiệu ngược nhanh chóng từ học sinh đểđiều chỉnh kịp thời hoạt động dạy và hoạt động học, đồng thời vấn đáp thư-ờng tạo không khí sôi nổi trong giờ học Tuy nhiên, phương pháp này nếuvận dụng không khéo léo sẽ dễ làm mất thời gian, ảnh hưởng đến kế hoạchđã dự kiến, hoặc cũng dễ trở thành cuộc đối thoại kém hiệu quả
Yêu cầu xây dựng câu hỏi:
– Câu hỏi chính xác thể hiện trong hình thức rõ ràng đơn giản;
– Câu hỏi chính xác rõ ràng giúp người học hình thành được câu trả lờiđúng, nếu câu hỏi đa nghĩa, phức tạp sẽ gây khó khăn cho sự tư duy của họcsinh;
– Câu hỏi xây dựng theo hệ thống lôgíc chặt chẽ Để xây dựng hệ thốngcâu hỏi theo yêu cầu này, cần căn cứ vào cấu trúc nội dung bài học;
– Hệ thống câu hỏi được thiết kế theo quy luật nhận thức và khả năng nhậnthức của đối tượng cụ thể:
+ Xây dựng câu hỏi từ dễ đến khó;
+ Từ cụ thể đến khái quát, từ khái quát đến cụ thể;
+ Câu hỏi từ tái tạo đến sáng tạo;
+ Số lượng câu hỏi vừa phải, sử dụng câu hỏi tập trung vào nội dung
“phải biết” trong bài học (trọng tâm bài học)
Những yêu cầu khi đặt câu hỏi:
– Câu hỏi được đưa ra một cách rõ ràng;
Trang 29– Câu hỏi hướng tới cả lớp;
– Chỉ định một học sinh trả lời, cả lớp lắng nghe và phân tích câu trả lời;– Giáo viên có kết luận
Vấn đề 5: Trình bày phương pháp sử dụng sách giáo khoa và tài liệu trong dạy học
Sách giáo khoa và tài liệu học tập có ý nghĩa lớn vì nó là nguồn tri thức
vô hạn, đa dạng, phong phú, sinh động, hấp dẫn được trình bày chi tiết, lôgíc,chặt chẽ Trong sách giáo khoa, nội dung dạy học đã được lựa chọn, xâydựng một cách hệ thống, khoa học, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí họcsinh Trước sự bùng nổ của thông tin hiện nay, sách và tài liệu giúp cho conngười tiến hành học tập liên tục, học thường xuyên, học suốt đời
Học sinh làm việc với sách giáo khoa và tài liệu ngay từ lớp 1, càng họclên, học sinh càng làm việc vớí sách giáo khoa ở mức cao hơn, giúp học sinhmở rộng, đào sâu vốn tri thức một cách có hệ thống, bồi dưỡng vốn ngữpháp, óc phê phán và hứng thú học tập cho học sinh, bồi dưỡng cho học sinhnăng lực tự học, tự nghiên cứu
Khi chuẩn bị bài giảng, giáo viên phải xác định rõ những nội dung trongsách giáo khoa hay tài liệu nào để học sinh tự nghiên cứu Khi tiến hành bàihọc, cần hướng dẫn cho học sinh sử dụng sách giáo khoa và tài liệu theotrình tự hợp lí nhất nhằm kích thích tư duy tích cực của học sinh, sử dụngsách giáo khoa và tài liệu học tập tại lớp không nên chiếm toàn bộ thời giancủa tiết học
Sử dụng sách giáo khoa và các tài liệu học tập ở nhà có tầm quan trọngđặc biệt đối với học sinh bậc trung học, đặc biệt là trung học phổ thông, vìhọc sinh lớn cần có khả năng tự học, tự nghiên cứu Mặt khác, do thời gianhọc ở lớp hạn chế mà học sinh cần bổ sung, đào sâu tri thức, cần có kĩ năng,kĩ xảo sử dụng các loại sách khác nhau tuỳ theo môn học Khi lựa chọn sáchvà tài liệu tham khảo, cần đọc tên sách, tên tác giả, xem xét về sự liên quanđến nhiệm vụ học tập; đọc lời giới thiệu và mục lục để hiểu kĩ hơn cuốnsách
Giúp học sinh có kĩ năng đọc sách và các tài liệu như: đọc lướt, tìm ýchính để nắm được bố cục, đọc kĩ để nắm vững chủ đề các luận điểm chính,đọc toàn bộ, đọc một phần Trong sự phát triển của công nghệ thông tin, họcsinh cần có kĩ năng khai thác thông tin trên mạng, sử dụng sách giáo khoađiện tử… giúp cho học sinh có kĩ năng, kĩ xảo ghi chép, lập dàn ý, xây dựngđề cương, ghi tóm tắt
Trang 30Việc hướng dẫn học sinh sử dụng tài liệu tham khảo và sách giáo khoa mộtcách khoa học sẽ nâng cao khả năng định hướng, xử lí, ghi nhớ và vận dụngthông tin, khả năng làm việc độc lập của học sinh.
Vấn đề 6: Trình bày phương pháp quan sát trong dạy học
Quan sát là phương pháp tổ chức cho học sinh tri giác một cách có chủ
định, có kế hoạch tiến trình và sự biến đổi diễn ra ở đối tượng nhằm thu thậpnhững sự kiện, hình thành những biểu tượng ban đầu về đối tợng của thế giớixung quanh, quan sát gắn với tư duy
Phương pháp quan sát trong dạy học đòi hỏi giáo viên tổ chức hoạt độngnhận thức cảm tính cho học sinh, qua đó hình thành biểu tượng về tự nhiên,xã hội và con người, phát triển các năng lực nhận thức, đặc biệt là năng lựcquan sát cho họ
Đây là phương pháp dạy học có ý nghĩa đặc biệt với học sinh phổ thông đểhình thành các biểu tượng và phát triển hoạt động nhận thức cảm tính của họcsinh Học sinh có thể quan sát các sự vật, hiện tượng sinh động để vận dụnghình thành các khái niệm, quy luật, định luật trừu tượng, khái quát Nhiều khichúng minh họa cho lí luận trừu tượng, từ đó giúp người học hiểu biết đượcchính xác và cụ thể hơn
Tổ chức quan sát cho học sinh thường bao gồm ba bước:
Bước chuẩn bị: Giáo viên cần có kế hoạch về những nội dung sau:
– Đối tượng quan sát
– Thời gian quan sát
– Thời lượng quan sát
– Nhiệm vụ học tập cụ thể của học sinh khi quan sát
– Hướng dẫn cách ghi chép cho học sinh
– Chuẩn bị phương tiện (nếu cần)
Tiến hành quan sát:
– Giáo viên giao nhiệm vụ học tập cho học sinh
– Hướng dẫn sự quan sát của học sinh
– Kích thích suy nghĩ của học sinh; Phân tích, tổng hợp, so sánh, tổng hợphoá, khái quát hoá… bằng hệ thống câu hỏi để giúp họ tìm thấy dấu hiệubản chất, quan hệ nhân quả, quy luật
– Học sinh quan sát, suy nghĩ, kết luận và ghi chép
Kết thúc quan sát:
– Giáo viên tóm tắt các kết quả học tập đạt được qua quan sát
– Nhận xét thái độ làm việc của học sinh
– Dặn dò
Khi tổ chức quan sát cho học sinh cần lu ý:
Trang 31Quan sát gắn liền với giải quyết các nhiệm vụ dạy học cụ thể, công tácchuẩn bị cần chu đáo, đảm bảo an toàn và thành công cho buổi quan sát, họcsinh quan sát tích cực (có mục đích, với sự tham gia của nhiều giác quancàng tốt), kích thích được hoạt động tư duy và ngôn ngữ trong quá trình quansát, cần có sự ghi chép của học sinh trong quá trình quan sát và có kết luận.
Vấn đề 7: Trình bày phương pháp minh họa trong dạy học
Trong quá trình dạy học, các đối tượng học tập của học sinh rất đa dạng.Có những đối tượng nghiên cứu quá lớn, mắt thường không nhìn thấy đượcnhư hệ mặt trời, có đối tượng lại quá nhỏ như điện tử, vi khuẩn, quá xa nhưchâu Mĩ Có những đối tượng nghiên cứu xảy ra trong quá khứ như trậnchiến sông Bạch Đằng, hoặc quá trừu tượng như các phạm trù đạo đức: “lịchsự”, “tế nhị”…, khi đó giáo viên cần sử dụng các phương tiện trực quanminh hoạ, giúp học sinh hiểu dễ dàng hơn những nội dung kiến thức đó
Các phương tiện trực quan đó có thể là vật thật, mô hình, tranh ảnh, băng thu
âm, video… Cũng nhiều khi phương tiện trực quan lại là các ví dụ thực tiễn, cácsố liệu hay các thao tác mẫu của giáo viên
Phương pháp dạy học, trong đó giáo viên sử dụng các phương tiện trực quan,các số liệu, ví dụ, thực tiễn để minh hoạ giúp học sinh hiểu bài, nhớ lâu và vậndụng được, gọi là phương pháp minh họa Phương pháp minh họa tạo hứng thúhọc tập, phát triển năng lực quan sát, kích thích tư duy của học sinh
Vấn đề 8: Trình bày phương pháp biểu diễn thí nghiệm trong dạy học
Trong dạy học các môn học tự nhiên như Vật lí, Hoá, Sinh học…, giáoviên có thể làm các thí nghiệm, học sinh quan sát, tư duy và rút ra các kếtluận khoa học cần thiết Phương pháp biểu diễn thí nghiệm thường được sửdụng trong bài học kiến thức mới, cũng có thể sử dụng để củng cố, luyện tậpkiến thức
Phương pháp này được thực hiện theo các bước sau:
Khâu chuẩn bị
– Giáo viên chuẩn bị phương tiện, thiết bị và nguyên vật liệu, các phươngtiện này phải đảm bảo các tiêu chuẩn kĩ thuật và an toàn, giúp thao tác chínhxác, đảm bảo thành công cho thí nghiệm
– Giáo viên làm thử thí nghiệm trước khi đến lớp
– Chuẩn bị cho việc hướng dẫn, các câu hỏi định hướng, kích thích quan sátvà tư duy của học sinh
– Học sinh có thể nghiên cứu trước để tham gia tích cực hơn vào quá trìnhbiểu diễn thí nghiệm
Tiến hành thí nghiệm
Trang 32Việc tiến hành thí nghiệm được thực hiện sao cho học sinh quan sát được
rõ ràng và đầy đủ các hiện tượng xảy ra trong thí nghiệm Trong quá trìnhlàm thí nghiệm, giáo viên hướng dẫn học sinh chú ý vào các dấu hiệu, cácquan hệ cơ bản của sự vật hoặc hiện tượng, kích thích và định hướng tư duycủa người học bằng hệ thống các câu hỏi Học sinh quan sát, suy nghĩ, giảithích và rút ra kết luận Diễn biến của thí nghiệm và kết luận khoa học đượcghi chép tỉ mỉ và đầy đủ
Kết thúc thí nghiệm
Cần nhấn mạnh lại các kết luận khoa học, các kết quả học tập đạt được,giáo viên nhận xét, đánh giá thái độ làm việc của học sinh và làm rõ thêmnhững nội dung nếu học sinh yêu cầu và dặn dò
Ưu điểm của nhóm phương pháp dạy học trực quan là giúp cho học sinhhuy động sự tham gia của nhiều giác quan vào quá trình nhận thức, tạo điềukiện dễ hiểu, dễ nhớ và nhớ lâu, làm phát triển năng lực chú ý, năng lực quansát, óc tò mò khoa học Phương tiện trực quan còn giúp cho việc khẳng địnhnhững kết luận có tính suy diễn, là phương tiện tạo ra tình huống có vấn đềvà giải quyết vấn đề nên góp phần phát huy tính tích cực nhận thức của họcsinh Tuy nhiên, nếu lạm dụng sử dụng sẽ dễ khiến học sinh phân tán chú ý,thiếu tập trung vào những dấu hiệu bản chất, thậm chí còn hạn chế phát triển
tư duy trừu tượng
Khi sử dụng phương pháp dạy học trực quan cần đảm bảo các yêu cầu sau
– Xây dựng, lựa chọn phương tiện trực quan phải phù hợp với mục đích,yêu cầu của tiết học;
– Các phương tiện trực quan phải có tính chất khoa học, tức là phải phảnánh chính xác được nội dung các quan hệ cơ bản của đối tượng nghiên cứu,giúp người học hiểu đúng về đối tượng đó;
– Phương tiện trực quan phải đảm bảo thẩm mĩ để gây hứng thú, duy trìchú ý trong quá trình học tập Đồng thời phương tiện trực quan phải đạt tiêuchuẩn kĩ thuật, dễ sử dụng, sao cho người học có điều kiện tiếp xúc vớiphương tiện bằng càng nhiều giác quan càng tốt;
– Sử dụng phương tiện trực quan phải đúng lúc, nếu sử dụng nhiềuphương tiện trực quan thì đưa ra lần lượt theo tiến trình bài giảng Sử dụngphương tiện trực quan đúng chỗ, vị trí để cả lớp đều quan sát được Thờigian sử dụng phương tiện trực quan vừa đủ, nếu sử dụng quá mức cần thiếtdẫn đến quá tải thông tin;
– Phương pháp dạy học trực quan nên sử dụng phối hợp với phương phápthuyết trình hoặc vấn đáp sẽ giúp học sinh hiểu sâu sắc và vận dụng tri thứcmột cách có hiệu quả
Trang 33Vấn đề 9: Trình bày phương pháp luyện tập trong dạy học
Phương pháp luyện tập trong dạy học là phương pháp trong đó dới sự
chỉ dẫn của giáo viên, học sinh lặp đi lặp lại nhiều lần những hành động nhấtđịnh trong những hoàn cảnh khác nhau, nhằm hình thành và phát triển kĩnăng, kĩ xảo sau khi lĩnh hội kiến thức
Tất cả các môn học cần tổ chức luyện tập nhằm hình thành cho học sinhnhững hành động trí tuệ hoặc hành động vận động tương ứng Việc luyện tậpkhông chỉ hình thành và phát triển những kĩ năng, kĩ xảo từng môn học màcòn hình thành kĩ năng kĩ xảo chung trong quá trình học tập nhận thức
Yếu tố quyết định sự thành công của sử dụng phương pháp dạy học này làviệc xây dựng, lựa chọn hệ thống các bài tập Các bài tập được xây dựng vàlựa chọn trên nguyên tắc từ dễ đến khó, từ tái tạo đến sáng tạo, nghĩa là họcsinh được làm việc trước tiên với các dạng bài tập giống mẫu giáo viên đãđưa ra Sau đó được luyện tập trong các dạng bài tập không hoàn toàn giốngmẫu, yêu cầu người học phải tìm ra cách thức mới hoặc tri thức mới để giảiquyết vấn đề
Khi sử dụng phương pháp luyện tập cần chú ý: Luyện tập phải nhằm mụcđích, yêu cầu nhất định và phải được tiến hành theo trình tự chặt chẽ Cầnphải nắm vững lí thuyết rồi mới luyện tập, đảm bảo vừa sức đối với học sinh
Vấn đề 9: Trình bày phương pháp thực hiện thí nghiệm trong dạy học
Phương pháp thực hành thí nghiệm là phương pháp giáo viên tổ chức
cho học sinh làm thí nghiệm trên lớp, trong phòng thí nghiệm hoặc vườntrường… qua đó giúp học sinh lĩnh hội được kiến thức mới hoặc củng cố,vận dụng kiến thức đã học
Học tập bằng phương pháp thực hành thí nghiệm giúp học sinh hình thànhvà rèn luyện kĩ năng nghiên cứu khoa học, giáo dục các phẩm chất của nhàkhoa học tương lai như tính chính xác, cẩn thận, trung thực và có ý thức tổchức kỉ luật trong công việc Phương pháp này được thực hiện một cách linhhoạt bằng hình thức cá nhân, nhóm hay toàn lớp Nó có thể thực hiện tronggiờ học chính khoá hay ngoại khoá, tuỳ theo điều kiện, hoàn cảnh, bài học cụthể
Vấn đề 10: Tại sao trong quá trình dạy học phải sử dụng phối kết hợp các phương pháp dạy học Lấy ví dụ minh họa.
1 Khái niệm phương pháp dạy học
Phương pháp dạy học là cách thức tổ chức hoạt động dạy học của giáoviên và cách thức tổ chức hoạt động học tập của học sinh Trong quan hệ đó,phương pháp dạy quyết định, điều khiển phương pháp học, phương pháp học
Trang 34tập của học sinh là cơ sở để lựa chọn phương pháp dạy Tuy nhiên, kết quảhọc tập được quyết định trực tiếp bởi phương pháp học tập của học sinh
2 Các phương pháp dạy học
- Phương pháp thuyết trình
- Phương pháp vấn đáp
- Phương pháp sử dụng sách giáo khoa và tài liệu
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp minh họa
- Phương pháp biểu diễn thí nghiệm
- Phương pháp luyện tập
- Phương pháp thực hành thí nghiệm
- Phương pháp kiểm tra
- Phương pháp đánh giá
- Dạy học nêu và giải quyết vấn đề
- Phương pháp trò chơi
- Phương pháp đóng kịch
- Phương pháp thảo luận nhóm
- Phương pháp tình huống
- Phương pháp dạy học theo dự án
- WebQuest – khám phá trên mạng
- Dự giờ trong nhà trường phổ thông
3 Mỗi phương pháp dạy học đều có ưu điểm và nhược điểm
- Tác động đến tư tưởng, tình cảm của học sinh
- Kích thích sức tập trung chú ý của học sinh
- Kích thích sự phát triển của tư duy trừu tượng ở
học sinh
- Học sinh học được mẫu về cách tư duy, cách đặt và
giải quyết vấn đề
- Trong một thời gian ngắn, giáo viên có thể cungcấp một khối lượng lớn kiến thức cho nhiều họcsinh
- Hiệu quả cao trong việc cung cấp những nội dung
lý thuyết tương đối khó mà học sinh khó có thể tựmình tìm hiểu được
- Giúp người học lĩnh hội kiến thức một cách có hệ
- HS dễ rơi vào trạng thái mệt mỏi
- Dễ hình thành thói quen thụ
động, thiếu sáng tạo và ghi nhớ kém bền vững
- Khó thuđược thông tinngược về kếtquả học tậpcủa học sinh
Trang 35thống, làm cơ sở cho các hoạt động tiếp theo.
Phương
pháp
vấn đáp
- Kích thích tính tích cực học tập của học sinh
- Làm cho bầu không khi tâm lý trong lớp học sôinổi
- Tạo điều kiện phát triển kĩ năng diễn đạt bằng ngônngữ nói cho học sinh
- Giáo viên dễ thu được thông tin ngược về kết quả họctập của học sinh
- Khó thu hútđược cả lớpvào hoạt độngchung
- Tốn nhiềuthời gian
4 Cần sử dụng phối kết hợp các phương pháp dạy học để lấy ưu điểm của phương pháp này khắc phục cho nhược điểm của phương pháp khác, có như vậy mới mang lại hiệu quả tối ưu cho quá trình dạy học.
Ví dụ
Nhược điểm của phương pháp
(thuyết trình)
Biện pháp khắc phục (sử dụng phương
pháp dạy học)
- HS dễ rơi vào trạng thái mệt mỏi - Vấn đáp
- Thảo luận nhóm
- Nêu và giải quyết vấn đề
- Tình huống
- Động não
- Khó thu được thông tin ngược về
kết quả học tập của học sinh - Kiểm tra – đánh giá
- Khó phát triển kĩ năng diễn đạt
bằng ngôn ngữ nói cho học sinh - Vấn đáp- Nêu và giải quyết vấn đề
- Tình huống
- Thảo luận nhóm
5 Yêu cầu lựa chọn và sử dụng phối kết hợp các phương pháp dạy học
– Đảm bảo sự phù hợp của phương pháp dạy học với các nguyên tắc dạyhọc;
– Lựa chọn, kết hợp các phương pháp dạy học cần căn cứ vào nội dungdạy học ở từng môn học, từng bài, từng mục;
– Căn cứ vào đặc điểm học sinh ở từng lứa tuổi, từng lớp cụ thể, cácphương pháp dạy học trực quan rất quan trọng đối với học sinh Tiểu học.Các phương pháp dạy học đòi hỏi năng lực làm việc độc lập như dự án thíchhợp hơn đối với học sinh lớp cuối phổ thông trung học;
– Lựa chọn phương pháp dạy học phù hợp với năng lực sư phạm của giáoviên Hình thức thuyết trình là dễ hơn đối với giáo viên mới, những phươngpháp như thảo luận, tình huống, tổ chức làm thực nghiệm, có yêu cầu caohơn về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm và kĩ năng ứng xử, giảiquyết linh hoạt các tình huống dạy học của giáo viên;
Trang 36– Căn cứ vào thời gian, thời lượng Những phương pháp dạy học yêu cầuhọc sinh làm việc độc lập thường cần thời gian nhiều hơn nên phải tính toánthời gian cho phép để lựa chọn phương pháp dạy học.
Vấn đề 4: Trình bày những yêu cầu của việc lựa chọn và sử dụng các phương pháp dạy học
Trong thực tiễn dạy học, các phương pháp dạy học được sử dụng phối kếthợp với nhau, thể hiện sự tác động thống nhất giữa giáo viên và học sinh trongquá trình dạy học
Giáo viên là người thiết kế sự phối hợp các phương pháp dạy học Để đạtđược mục tiêu dạy học, giáo viên phải lựa chọn các phương pháp dạy học phùhợp Một bài dạy có nhiều mục tiêu, do đó giáo viên sẽ lựa chọn và kết hợpnhiều phương pháp dạy học; hiệu quả của phương pháp dạy học phụ thuộc mộtphần quan trọng vào sự lựa chọn kết hợp đó Để đảm bảo hiệu quả của việc lựachọn và kết hợp các phương pháp dạy học, cần đảm bảo các yêu cầu sau:
– Đảm bảo sự phù hợp của phương pháp dạy học với các nguyên tắc dạyhọc;
– Lựa chọn, kết hợp các phương pháp dạy học cần căn cứ vào nội dungdạy học ở từng môn học, từng bài, từng mục;
– Căn cứ vào đặc điểm học sinh ở từng lứa tuổi, từng lớp cụ thể, các ương pháp dạy học trực quan rất quan trọng đối với học sinh Tiểu học Cácphương pháp dạy học đòi hỏi năng lực làm việc độc lập như dự án thích hợphơn đối với học sinh lớp cuối phổ thông trung học;
ph-– Lựa chọn phương pháp dạy học phù hợp với năng lực sư phạm của giáoviên Hình thức thuyết trình là dễ hơn đối với giáo viên mới, những phươngpháp như thảo luận, tình huống, tổ chức làm thực nghiệm, có yêu cầu caohơn về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm và kĩ năng ứng xử, giải quyếtlinh hoạt các tình huống dạy học của giáo viên;
– Căn cứ vào thời gian, thời lượng Những phương pháp dạy học yêu cầuhọc sinh làm việc độc lập thường cần thời gian nhiều hơn nên phải tính toán thờigian cho phép để lựa chọn phương pháp dạy học
Vấn đề 5: Trình bày và phân tích những đặc trưng của dạy học theo hướng phát huy tính tích cực nhận thức của học sinh.
a) Học sinh đóng vai trò chủ thể tích cực, tự giác, sáng tạo
- Trong quá trình dạy học, học sinh vừa là khách thể, đối tượng chịu sự tácđộng của giáo viên, vừa là chủ thể hoạt động của chính mình
- Học sinh là chủ thể của quá trình học tập – các em tự tìm ra, chiếm lĩnh trithức, tự hình thành kĩ năng, hành vi và tự bày tỏ thái độ, tình cảm của mình
Trang 37- Phương pháp tích cực trái ngược với những hiện tượng trong dạy học như thầyđọc – trò chép, thầy giảng – trò nghe, thầy làm mẫu – trò bắt chước…
- Để giúp học sinh thể hiện được vai trò chủ thể tích cực, tự giác, sáng tạogiáo viên cần giúp học sinh nhận thức được vị thế của mình, đề cao xứng đángvai trò này của các em
- Để giúp học sinh tiến hành, thực hiện hoạt động có kết quả tốt, cần có một
môi trường học tập thuận lợi – học sinh– chủ thể học tập được cung cấp
phương tiện (các tài liệu, đồ dùng học tập, đồ thí nghiệm, dụng cụ,…), được tổchức tốt (theo lớp, nhóm, cá nhân…), được hướng dẫn đi theo con đường hợp
lí nhất, được hoạt động trong bầu không khí thân thiện với cảm giác an toàn,thoải mái…
- Phương pháp dạy học tích cực luôn đề cao vai trò vô cùng quan trọng củagiáo viên trong công việc tạo nên chất lượng và hiệu quả dạy học
b) Giáo viên đóng vai trò tổ chức, điều khiển, hướng dẫn
- Giáo viên có tư cách là chủ thể của quá trình dạy học và có vai trò (chủđạo) tổ chức, điều khiển, hướng dẫn quá trình học tập của học sinh
- Vai trò tổ chức, điều khiển, hướng dẫn của giáo viên thể hiện như sau: +Tổ chức, điều khiển, hướng dẫn học sinh tiến hành các hoạt động
+ Kiểm tra quá trình tham gia, thực hiện hoạt động của học sinh
+ Hướng dẫn học sinh trình bày, báo cáo kết quả hoạt động của mình, đánhgiá và hướng dẫn học sinh tự đánh giá quá trình tham gia, thực hiện hoạt động
- Để thực hiện tốt vai trò tổ chức, điều khiển, hướng dẫn của mình, giáoviên cần phải có năng lực sư phạm cao, có chuyên môn tốt, hiểu biết sâu sắchọc sinh của mình, tôn trọng và yêu thương trẻ, tận tâm với nghề đã chọn…
c) Dạy học được tổ chức thông qua các hoạt động học của học sinh
- Quá trình dạy học bao gồm chuỗi hoạt động được tổ chức một cách hợp
lý, qua đó, học sinh tiến bộ và phát triển không ngừng
- Trong quá trình dạy học, cả chủ thể và đối tượng đều thay đổi, nhưngđiều quan trọng nhất không phải là học sinh học được, làm được cái gì mà làhọc sinh thay đổi, tiến bộ, phát triển như thế nào
- Trong quá trình học tập theo phương pháp tích cực, học sinh luôn đượcnói nhiều hơn, hỏi nhiều hơn, trao đổi, thảo luận, tranh luận với nhau nhiềuhơn, tự phát hiện ra tri thức mới, tự hình thành kĩ năng, tự giác vận dụng nhữngđiều đã học vào thực tiễn cuộc sống, chủ động thực hiện hành vi, tự bày tỏ tháiđộ và tự kiểm tra, đánh giá hoạt động của mình …
- Giáo viên cần lập kế hoạch hoạt động tích hợp để học sinh có thể pháttrển các năng lực cần thiết trong các môi trường khác nhau
d ) Dạy học chú trọng đến phương pháp tự học, coi trọng phát triển tư duy của học sinh
Trang 38- Dạy học về thực chất là quá trình học sinh học tập nhằm biến những giátrị xã hội thành giá trị cá nhân dưới sự tổ chức, điều khiển, hướng dẫn của giáoviên Do đó, để bảo đảm thành công, học sinh phải có phương pháp tự họcđúng đắn.
- Phương pháp tự học của học sinh chịu sự chi phối bởi quan niệm, phươngpháp DH của giáo viên
- Để tự thành công, học sinh cần được phát triển tư duy đúng đắn, bởi lẽ,nhờ có tư duy mà học sinh mới có khả năng tự tìm tòi, phát hiện, tự làm giàuvốn kiến thức của mình, tự vận dụng kiến thức và kĩ năng vào thực tiễn cuộcsống, làm chủ được bản thân trong môi trường cuộc sống đa dạng
- Theo Phương pháp dạy học tích cực, giáo viên không còn truyền đạt kiếnthức, áp đặt nhiệm vụ một chiều cho học sinh mà tổ chức các hoạt động đadạng để các em không những tự phát hiện ra kiến thức, mà còn nắm đượcphương pháp đi đến kiến thức đó
- Khi đã có Phương pháp tự học nhất định, học sinh sẽ:
+ Say mê học tập, khơi dậy được nội lực vốn có, trí thông minh của mình.+ Biết vận dụng những điều đã học vào các tình huống mới
+ Biết phát hiện và tự lực giải quyết các vấn đề trong cuộc sống
+ Biết hệ thống hóa kiến thức của mình, trong đó, điều chỉnh những kinhnghiệm cũ trước đây thiếu chính xác (nếu có)
+ Biết mở rộng hiểu biết của mình qua các kênh thông tin khác nhau, như internet,sách, báo, tạp chí…
+ Biết tự xây dựng kế hoạch hoạt động của mình, và tự thực hiện, tự đánh giá saukhi hoạt động kết thúc
+ Có khả năng thích ứng với cuộc sống xung quanh
+ Có thói quen tự giác học tập ở mọi nơi, mọi lúc mà không cần sự tác động củanhững người xung quanh
- Phương pháp tự học ảnh hưởng quan trọng đến kết quả học tập của họcsinh, giúp họ có thể tiếp tục tự học khi vào đời
e) Dạy học tăng cường hoạt động cá nhân, hoạt động nhóm
- Trong một lớp học, các cá nhân có khả năng, năng lực, kinh nghiệm sống,
sự phát triển tư duy, nhu cầu nhận thức, hứng thú… khác nhau Do đó, tốc độ,cường độ, tiến độ học tập của mỗi học sinh rất có thể khác với những bạn tronglớp
- Theo phương pháp dạy học tích cực, giáo viên coi trọng sự phân hóa trìnhđộ của học sinh, đặt các em vào “vùng phát triển gần nhất” nhằm tạo điều kiệncho tất cả các học sinh trong lớp có khả năng phát huy được cái riêng của mình
Ví dụ: Học sinh giỏi có thể vươn lên tầm cao hơn, học sinh yếu có thể theo
kịp được chương trình, đạt được chuẩn kiến thức, kĩ năng và yêu cầu về tháiđộ…
Trang 39- Trong quá trình dạy học, giáo viên giao nhiệm vụ, đề ra nội dung học tậpcho học sinh phụ thuộc vào năng lực, khả năng, hứng thú của các em.
Ví dụ: Học sinh yếu được giao những bài tập cơ bản nhất, học sinh trung bình –
những bài tập cơ bản với mức nâng cao nhất định, học sinh khá và giỏi – những bàitập nâng cao với mức độ khó khác nhau…
- Theo phương pháp dạy học tích cực, ngoài tương tác giáo viên – học sinh,còn có tương tác học sinh – học sinh
Trong tương tác học sinh – học sinh, giáo viên tạo ra một môi trường họctập thân tiện giữa học sinh với nhau, tạo điều kiện cho học sinh trao đổi, chia sẻkinh nghiệm hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau Nhờ đó, học sinh hình thành đượcnhững kĩ năng sống khác nhau, như biết tổ chức, điều khiển hoạt động nhóm,biết phân công nhiệm vụ cho nhau, biết trình bày ý kiến của mình, biết lắngnghe ý kiến người khác, biết giải quyết các vấn đề của nhóm… Qua đó, họcsinh còn được giáo dục những thái độ tích cực: như bạn dạn, tự tin ở chínhmình, tự trọng trong việc thực hiện nhiệm vụ được giao, tôn trọng ý kiến, quanđiểm của người khác, hứng thú với hoạt động nhóm…
f) Đánh giá của giáo viên kết hợp với đánh giá của học sinh
- Đánh giá được coi là một khâu quan trọng trong dạy học
- Theo phương pháp dạy học tích cực, hai chủ thể giáo viên (đối với hoạt động dạy học) và học sinh (đối với hoạt động học đều cùng thực hiện việc
đánh giá
- Đánh giá của giáo viên nhằm xác định được trình độ (kiến thức, kĩ năng,hành vi, thái độ, sự phát triển tư duy, kinh nghiệm hoạt động nhóm…) và xếploại học sinh Điều quan trọng là, từ kết quả đánh giá đó, giáo viên tiểu học đề
ra được « chương trình hành động» với nội dung, phương pháp và hình thứcthích hợp để tiếp tục tổ chức các hoạt động dạy học nhằm giúp học sinh đạtđược sự tiến bộ
- Trong việc tự đánh giá, học sinh nhìn lại quá trình học tập của mình,thấy được trình độ, những mặt mạnh, ưu điểm và cả những mặt yếu kém, hạnchế của mình (nếu có), phân tích nguyên nhân và từ đó, các em điều chỉnhthích hợp, tự tin học tập để tiếp tục tiến bộ, vươn cao hơn nữa
- Cùng với tự đánh giá của mỗi học sinh, giáo viên còn tạo điều kiện chocác em đánh giá lẫn nhau, như đánh giá “chéo” (học sinh trao đổi bài làm củanhau, đánh giá bài của bạn), cả nhóm hay cả lớp cùng đánh giá một số bài làm,kết quả hoạt động cá nhân, nhóm… Qua đó, học sinh không chỉ phát hiện ranhững ưu điểm và hạn chế bài làm của bạn, mà còn đối chiếu kết quả của bạnvới kết quả của mình, nhìn nhận lại thiếu sót của mình (nếu có), chia sẻ và họctập được kinh nghiệm của bạn…
- Sau khi một hoạt động nhóm, lớp kết thúc, giáo viên cũng tạo điều kiệncho nhóm hay lớp đánh giá lại quá trình tổ chức, thực hiện của mình, trong đó,
Trang 40các em phân tích những kết quả đạt được, những thiếu sót, nguyên nhân và rút
ra bài học kinh nghiệm Nhờ đó, không chỉ việc học tập của học sinh được thúcđẩy, mà học sinh càng thêm hiểu biết lẫn nhau, quan hệ của các em càng trởnên thân thiện, tập thể càng phát triển
- Như vậy, từ kết quả đánh giá và tự đánh giá, hoạt động dạy của giáo viênvà hoạt động học tập của học sinh đều được định hướng và điều chỉnh lại chophù hợp trong sự thống nhất với nhau, trong đó, “ai” cũng tự nhìn lại mình vàthấy được cái “được” và điều “chưa được” của mình và cùng đồng lòng, sátcánh với nhau đi tới sự hoàn thiện, phát triển mới
Vấn đề 6: Trình bày hệ thống các phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực nhận thức của học sinh trong quá trình dạy học Lấy ví dụ minh họa
a Dạy học nêu và giải quyết vấn đề
Điển hình của dạy học phát huy tính tích cực nhận thức của học sinh trongquá trình dạy học là dạy học nêu và giải quyết vấn đề
Bản chất của dạy học nêu và giải quyết vấn đề là tạo nên một chuỗi nhữngtình huống có vấn đề (THCVĐ) và điều khiển học sinh giải quyết vấn đề họctập đó THCVĐ là trạng thái tâm lí xuất hiện khi con người gặp phải tình huốngkhó khăn mà giải quyết bằng tri thức đã có, bằng cách thức đã biết không thể đạtkết quả
THCVĐ luôn chứa đựng một nội dung cần xác định, một nhiệm vụ cầngiải quyết, một vướng mắc cần tháo gỡ, kết quả giải quyết được THCVĐ sẽlà những tri thức mới hoặc cách thức hành động mới đối với chủ thể
Cấu trúc của THCVĐ gồm ba thành phần:
– Nhu cầu nhận thức hay nhu cầu hành động của người học
– Bao gồm những tri thức và cách thức hành động chưa biết
– Khả năng trí tuệ của chủ thể, thể hiện ở kinh nghiệm và năng lực
Các loại THCVĐ:
- Tình huống nghịch lí là tình huống tưởng như vô lí không phù hợp với
lí thuyết và quy luật, phải chứng minh tính đúng đắn;
- tình huống lựa chọn cần lựa chọn giữa hai hay nhiều phương án giảiquyết;
- tình huống bác bỏ đòi hỏi phải bác bỏ một luận điểm hay kết luận sailầm, tìm được chỗ sai chỗ yếu;
- tình huống "tại sao" khá phổ biến đòi hỏi sự lí giải, giải thích
Dạy học nêu và giải quyết vấn đề có các mức độ sau: