Nhập môn phong thủy trong xây dựng, do NGUYỄN ĐÌNH CỐNG giảng viên đại học xây dựng viết, tóm tắt những kiến thức cơ bản nhất của phong thủy trong xây dựng. Đối với việc cư gia nhập thế của người Trung Quốc, phong thủy là đề tài chưa bao giờ lỗi thời. Thậm chí, quan niệm phong thủy về nhà ở của người Trung Quốc còn lan tỏa, có sức ảnh hưởng nhất định đến các nước xung quanh như Nhật Bản, Hàn Quốc hay cả Việt Nam. Theo chuyên gia phong thủy hàng đầu của Trung Quốc hiện nay – ông Lương Chân, phong thủy nhà ở có từ xa xưa và là lý giải của cổ nhân về môi trường tự nhiên và nơi ở của con người. Trong xã hội hiện đại, phong thủy nhà ở vẫn có ý nghĩa nhất định và theo ông Lương, một căn nhà có phong thủy tốt là căn nhà hội tụ đủ 8 nguyên tắc phong thủy dưới đây. Với những căn nhà như thế này, gia chủ càng ở càng có tiền.
Trang 2NHẬP MÔN PHONG THỦY HỌC
TRONG XAY DUNG
Nguyễn Đình Cống ( Tóm tắt bài giảng cho các Câu lạc bộ sinh viên tìm hiểu về Phong thuỷ )
LOI NOI DAU
Hiện nay Phong thuỷ được nhiều người quan tâm Đã có nhiều lớp học, câu lạc
bộ giảng dạy, nghiên cứu Đã có một số công ty và tổ chức chuyên thực hành,
nghiên cứu và truyền bá Truyền hình đã có một số buổi giới thiệu Trên mạng
Internet đã có một số trang web Đặc biệt sách về phong thuỷ có rất nhiều
Phong thuỷ là một lĩnh vực khá rộng, bao gồm nhiều vấn đề Thường thì các tài
liệu và lớp học chỉ giới thiệu một số vấn đề nào đó Tôi đã học một số lớp và xem
nhiều tài liệu nhưng chưa tìm thấy tài liệu nào trình bày một cách hệ thống và
toàn diện Biên soạn tài liệu này, tuy hết sức ngắn gọn, nhưng tôi cố gắng đem sự
hiểu biết của mình trình bày một số vấn đề cơ bản về phong thuỷ mà tôi tự cho là
đã được hệ thống hoá, nhằm cung cấp một số kiến thức sơ cấp cho những ai mới
bắt đầu tìm hiểu lĩnh vực phức tạp này Tuy vậy vì sở học và điều kiện có hạn nên
một vài vấn đề tôi chưa lĩnh hội được sâu sắc và khó tránh khỏi thiếu sót khi trình
bày Rất mong nhận được sự chỉ giáo của các bậc cao minh và các bạn đã xem tài
liệu
I- DAI CUONG VE PHONG THUY
1.1- Khai niém chung "
Có nhiều định nghĩa, giải thích khác nhau về Phong thuỷ ( PT ) Tuy vậy có
điểm chung giữa nhiều người, đó là “ PT là tác động của môi trường đến con
người” Nhưng tác động đó như thế nào thì có nhiều cách giải thích khác nhau
Một số người cố gắn PT với khoa học, một số khác cho PT là bí ấn từ người xưa
truyền lại, chỉ có thể vận dụng ( trả lời câu hỏi “ như thế nào” ) mà không thể giải
thích (trả lời câu hỏi “ tại sao”, “ từ đâu ra” )
Theo chúng tôi, tác động của môi trường đến con người gồm 2 dạng : tự
nhiên và tâm linh Tác động tự nhiên là tác động của khi hậu, thời tiết, ánh sáng,
âm thanh, từ trường, điện trường, hoá chất, các tia vũ trụ v.v , đó là đối tượng
của khoa học Các nhân tố tự nhiên này tác động trực tiếp đến sinh lý, tâm lý và
nhận thức của con người Tác động tâm linh là tác động của năng lượng siêu hình
trong trời đất ( Gọi là siêu hình vì khoa học chưa phát hiện ra một cách tường
minh ) Tâm linh là đối tượng của một số tôn giáo, một số môn huyền bí và siêu
Trang 3
hình Các nhân tố tâm linh trước hết tác động vào phần tâm linh của con người, rồi thông qua các liên hệ mà ảnh hưởng đến sinh lý và tâm lý, gây nên những thay
đổi có lợi hoặc có hại
Nhà khoa học thiên văn lỗi lạc Trịnh Xuân Thuận ( Việt kiều ở Pháp ) có phát biểu : “ Để phát triển, khoa học không cần đến tâm linh, cũng như tâm linh không cần đến khoa học Nhưng một con người, để phát triển toàn diện nên hiểu biết cả
khoa học và tâm linh”
Theo nhận thức của người viết thì “ Phong thuỷ là một số tác động của môi trường tâm linh đến con người”
Môi trường tâm linh là một lĩnh vực khá rộng lớn, bao gồm nhiều dạng thức và
ít nhiều đều có ảnh hưởng đến con người, trong đó PT chỉ là một phần, đó là phần liên quan đến “ Dương cơ” và “ Âm trạch” Dương cơ là nơi ở và hoạt động của người sống Âm trạch là nơi an táng người chết ( bố mẹ, tổ tiên )
Như vậy để hiểu biết về phong thuỷ, trước hết nên biết qua về tâm linh
Nhiều người ngại nói đến tâm linh vì nó thường bị gắn với mê tín, dị đoan ( mà cũng phải thôi, vì tâm linh rất dễ bị một số kẻ xấu lợi dụng để trục lợi, rất khó
phân biệt thật giả ) Cũng rất khó định nghĩa về tâm linh, lại càng không thể dùng
kiến thức khoa học hiện tại để chứng minh Chỉ có một số người có khả năng đặc biệt nào đó mới biết được một phần, còn đa số người chỉ có thể cảm nhận hoặc
chấp nhận bằng lòng tin
1.2- Học thuyết tam tài và tam linh
Học thuyết Tam tài trình bày quan hệ giữa ba “ bản thể” : Thiên, Địa, Nhân
Nguyên lý là : Thiên, Địa, Nhân hợp nhất, Nhân sinh tiểu Vũ trụ
Mỗi bản thể là một hệ thống nhất và ảnh hưởng qua lại lẫn nhau Tuy vậy vì
nhận thức của loài người còn bị hạn chế nên tạm chia mỗi bản thể thành hai phần:
tự nhiên và tâm linh Tự nhiên là những phần cấu tạo bằng vật chất mà khoa học
đã biết được Tâm linh là những dạng năng lượng và thông tin ( còn bí ẩn đối với
khoa học hiện tại )
Nhân sinh tiểu Vũ trụ : con người là sự thu nhỏ của Vũ trụ Tạm chỉ xét Quả
Đất Nó gồm một phần đặc và rất nhiều phần rỗng bao quanh và thâm nhập vào
bên trong Một số phần rỗng đã được khám phá, một số khác còn bí ẩn Giữa phần
đặc và các phần rỗng có quan hệ mật thiết, ảnh hưởng qua lại
Con người cũng được cấu tạo gồm thân thể là phần đặc và các phần rỗng Cho đến nay một SỐ người đã biết được 7 tầng của các phần rỗng đó, gọi là các tầng
“hào quang” hoặc “ vía” ( ba hồn, bảy vía ) Các tầng này bao bọc xung quanh và thâm nhập vào cở thể Có giả thuyết cho rằng các tầng này được cấu tạo bằng một loại vật chất khá mịn mà khoa học chưa tìm ra Tạm xem các phần này thuộc về tâm linh của con người Trong các tầng đều chứa năng lượng và thông tin Có người cho rằng lượng thông tin chứa trong các tầng hào quang rất lớn, gấp hàng ngàn, hàng vạn lần thông tin chứa trong bộ não
Trang 4Ä Cư thể ketheric
(Điện trao tâm thân)
Cư thể thượng giới {Điện mạo cảm xúc)
› - Btheric mẫu
\_ “(Điện mạo thể chất)
~ SMS 4 VRB c8 $y bets! Co thé tinh ti | sẽ
i i { trên đưới)
Hình vẽ : Các tầng hào quang và hệ thống luân xa ( theo tài liệu của Barbara * )
Liên hệ giữa các tầng hào quang và thân thể thông qua hệ thống các “ luân
xa” Riêng sự hoạt động của thân thể ( phần đặc) lại gồm hai hệ thống : ý thức và
vô thức Y thức liên quan đến não, vô thức là hoạt động tự động, liên quan đến hệ
thần kinh thực vật ( hoạt động của tim, dạ dày, ruột, gan, thận v.v ) Hoạt động
ý thức liên quan đến thành bại, còn hoạt động vô thức liên quan đến mạng sống,
sức khoẻ, bệnh tật.(**)
* Về các tầng hào quang có thể tìm đọc trong các tài liệu sau : Bàn tay ánh sáng của Barbara
Ann Brennan, người Mỹ, do Lê Trọng Bồng dịch, nhà xuất bản Văn hoá Thông tin- 1996
( nguyên văn tiếng Anh : Hand of Light, NXB Bantam Books, New York, 1988 ) Từ nguồn tài
liệu trên GS Nguyễn Hoàng Phương thuật lại trong sách “ Tích hợp đa văn hoá Đông Tây cho
một chiến lược giáo dục tương lai”, NXB Giáo dục, 1995; GS Nguyễn Đình Phư thuật lại trong
sách “ Năng lượng sinh học”
(**) Có một cơ quan nằm giữa hai hệ thống, đó là Hô hấp , người viết tạm gọi là Văn phòng đại
diện giữa hai hệ thống Chính vì vậy nhiều môn tập để nâng cao sức khoẻ và chữa bệnh đêu bắt
đầu bằng tập thở
Trang 5
Mỗi hoạt động hoặc biến đổi của một bộ phận nào đó của cơ thể ( bị thương, tat
bệnh ) đều được phản ảnh vào các tầng hào quang Ngược lại các hoạt động và
biến đổi các vùng của tầng hào quang đều gây ảnh hưởng cho hoạt động vô thức
va phần nào cho ý thức (*)
Tác động của PT chính là tác động của năng lượng siêu hình, trước tiên (ác động lên các tầng hào quang của con người, rồi từ đó ảnh hưởng đến các hoạt động khác Cùng một tác động nhưng đối với người này là tốt, đối với Nguoi khac lại là xấu Khi các ảnh hưởng là thích hợp sẽ làm tăng sự phát triển Nếu ảnh hưởng bất lợi sẽ làm cho tình trạng xấu đi
1.4- Các trường phái phong thuỷ
Phong thuỷ có lịch sử lâu đời từ Trung Quốc Qua hàng vài ngàn năm truyền
bá và phát triển đã hình thành nên nhiều trường phái khác nhau, tạo ra một lĩnh vực vô cùng rộng lớn Về đối tượng có thể phân thành hai máng là PT Dương trạch và PT Âm phần Về phương pháp có thể ghép thành ba trường phái chính là
PT Hình thế, PT Lý số và PT Trạch vận Trong mỗi trường phái lại có một số
nhánh với các quan điểm khác nhau Các sách về PT thường chỉ tập trung vào một vài nhánh Ngoài ra còn có trường phái “ Dịch học trong PT” dùng các que của Kinh Dịch để nghiên cứu) và trường phái “ Thần sát” ( xem xét tác động của các
VỊ Thần đến PT ) Trong tài liệu này chỉ mới có thể giới thiệu những kiến thức cơ bản ở mức độ sơ cấp về 3 trường phái chính : hình thể, lý số, trạch vận PT Hình thể trình bày chủ yếu về tác động của các vật thể trên mặt đất, vị trí của đồi núi, sông ngòi chung cho mọi người PT Lý số xét ảnh hưởng của các phương hướng ( không gian ) đến từng người PT Trạch vận xét sự thay đổi ( tốt-xấu) của các yếu
tố theo thời gian
Có người đã liên hệ với Tam tài ( Thiên, Địa, Nhân ) mà quy về : Trạch vận thuộc Thiên, Hình thể thuộc Địa còn Lý số thuộc Nhân
(*)-Đay là cơ sở của các phương pháp chữa bệnh bằng năng lượng như Khí công, Nhân điện, Năng lượng sinh học, chữa bệnh từ xa v.v
Trang 6H-PHONG THỦY HÌNH THẾ
Tạm gọi “ Thể trạch” là từ chỉ chung Dương trạch và Âm phần ( hoặc âm
trạch), là nơi trực tiếp nhận sự tác động của PT và từ đó sẽ tác động đến người có
liên quan Ẩm trạch là nơi chôn mồ mả tổ tiên, còn được gọi là huyệt mộ hoặc
mộ Dương trạch là nơi sinh sống, hoạt động, bé là một căn phòng, một ngôi
nhà , lớn là cụm dân cư, khu vực sản xuất, kinh doanh , lớn nữa là thành phố,
hoặc khu dân cư rộng
PT hình thể xem xét vị trí của thể trạch trên mặt đất, ảnh hưởng của các đối
tượng khác nhau đến thể trạch Do vị trí tương quan với thế đất, thế núi, thế nước
mà thể trạch nhận được nhiều hay ít năng lượng vũ trụ Do tương quan với các đối
tượng mà thể trạch tiếp nhận sóng/ khí từ chúng Trong PT hình thể có những vấn
đề như long mạch, sơn pháp, thuỷ pháp, hình pháp, khí đất, tia đất v.v
PT hình thể còn được gọi là phái ““ Hình gia”, “ Loan đầu” hoặc ““Toa tình”
2.1- Long mạch, huyệt
Năng lượng vũ trụ truyền vào Quả Đất Do vỏ của nó có cấu tạo khác nhau mà
có nơi nhận được nguồn mạnh, tập trung, thường là các núi cao, được goi] là “ Tổ
sơn”, các nơi nhận được nhiều trở thành vùng “ Địa linh”, có nơi nhận được ít
hoặc không
Tuỳ theo vị thế mà Tổ sơn được phân thành Thái tổ sơn, Thiếu tổ sơn, Phụ mẫu
sơn Từ các Tổ sơn nguồn năng lượng ( Khí ) được dẫn truyền theo thế núi, xuống
đồng bằng, hình dáng uốn lượn như con rồng nên được gọi là “ Long mạch”
Nhiều tài liệu ghép long mạch thành từ chung, cũng có tài liệu phân biệt thành
“ mạch” và “ long” Mạch là nguồn năng lượng từ Tổ sơn phát đi, là thế, là
trường của nó Long là các dòng khí từ chân núi trở đi ( tiên tầm mạch, hậu tầm
long ) Long mạch thường đi kèm cùng các dòng nước
Theo thế của mạch chia ra mạch dương, mạch âm, mạch cường, mạch nhược,
mạch sinh, mạch tử Theo hướng của Long chia ra long dương, long âm Theo
thế chia ra hồi long, xuất dương long, giáng long, sinh long, phi long, trâm long,
ẩn long, đằng long, quần long Long không phải một dòng duy nhất mà có thể
phân nhánh, vi vậy còn chia ra cán long, chi long Cán long là dòng lớn, lại chia
ra đại cán, tiểu cán Chi long là dòng bé, chia ra đại chi, tiểu chi (*)
Huyệt là nơi tụ khí, là trung tâm sinh khí Huyệt thường có các hình Oa,
Kiểm, Nhũ, Đột, thường xuất hiện ở các vùng đất có dạng thất cổ bồng, khum
vọng vó, thè lè lưỡi trai (*) Đất có huyệt là rất tốt cho thể trạch
Tầm long, án huyệt ( điểm huyệt ) là việc làm của các thầy địa lý cao cấp có
khả năng và cảm nhận đặc biệt ( chủ yếu cho âm trạch ) Người ta tránh đào bới
lung tung trước các ngôi mộ vì sợ chạm làm đứt long mạch Yểm long mạch là
(*) Xem các sách về Địa lý Tả Ao, tac giả Vương Thị Nhị Mười, NXB mũi Cà mau 2006, sách
Địa lý toàn thư của Lưu Bá Ôn, NXB Văn hoá thông tin
Trang 7
cách dùng một số thủ đoạn ( đào rãnh cất ngang, chôn vật cản ) làm cắt đứt
dòng khí dẫn vào nơi địa linh Hàn long mạch là việc làm nhằm khôi phục long mạch bị đứt
2.2- Sơn pháp Sơn pháp là phép xem thế đất, thế núi ảnh hưởng đến thể trạch Gọi 4 phía như
sau : Trước mặt là Chu tước ( Chim Phượng đỏ ), sau lưng là Huyền vũ ( Rùa đen, Hắc quy ), bên trái là Thanh long ( Rồng xanh ), bên phải là Bạch hổ ( Hổ trắng) Sơn là từ chỉ chung, có thể là núi, đồi, ở đồng bằng là vùng đất cao hơn xung
quanh
Một kiểu đất tốt cần có sơn thế phù hợp, tiền án, hậu chẩm ( trước có che chắn, sau có gối đỡ ), có thanh long, bạch hổ nghiêm chỉnh Phía Chu tước nên có
khoảng rộng, bằng phẳng, có thêm hồ nước thì tốt, đó là “ minh đường thuỷ tụ”
Sơn phía trước, gần mà thấp là án sơn, xa mà cao là triều sơn ( triều : chầu ) Hình
đáng của sơn được phân theo ngũ hành : kim, thuỷ, mộc, hoả, thổ Sơn dạng Kim
có đỉnh tròn; Thuyỷ- đỉnh nhấp nhô, lượn sóng; Hoả- đỉnh nhọn, vươn cao; Mộc-
cao mà thuôn; Thổ- đỉnh bằng phẳng Triều sơn, án sơn có dạng hoả là không tốt Sơn pháp tầm long là dựa vào thế núi để tìm long mạch và huyệt
Sa là các núi nhỏ ở xung quanh, “ thích diện sa” là núi có nhiều đá nhọn, lởm
chom nhu gai là xấu (*)
Người ta đã tổng kết, trình bày các thế sơn tạo ra đất phát ( chôn mộ, làm nhà
vào đó sẽ phát ) Long trùng điệp sinh thế bút là đất phát trạng nguyên Thanh
long, bạch hổ tương đương và mạnh mẽ - phát cự phú Thể hữu long vô hổ là một trong các thế đất xấu (**)
Sơn pháp thường được kết hợp với thuỷ pháp
2.3- Thuỷ pháp Thuỷ pháp là cách xem xét về nguồn nước, dòng nước Trước hết cần xác định khu vực đất liên quan đến thể trạch, trong đó có nguồn nước Đặt thể trạch ở trung tâm, chia mặt đất ( trên thực địa hoặc trên bản đồ ) thành 24 hướng ( Nhị thập tứ sơn- sẽ trình bày kỹ ở phần sau ) Đặt tên các hướng theo thứ tự như trên hình vẽ ở trang sau Xem dòng nước chảy vào từ hướng nào ( thuỷ phát ), chảy ra theo hướng nào ( thuỷ tiêu ) Tuỳ theo tương quan giữa hướng của thể trạch và thuỷ
phát, thuỷ tiêu người ta tổng kết ra các thuỷ thế Trên hình vẽ nhà có hướng Ât,
Trang 8=>
Xét dòng nước còn cần xem trạng thái chảy và hình thế uốn lượn của nó
Trạng thái tốt là chảy hoà hoãn, không quá mạnh cũng như không bị tù đọng
Hình thể tốt là dòng nước uốn lượn bao quanh nhà, xấu là khi bị dòng chỉa thẳng
vào phía trước, là đặt nhà vào phía lồi của đoạn dòng uốn cong (*)
Hình vẽ : 7 huỷ phát, thuỷ tiêu trong nhị thập tứ sơn và vòng tràng sinh
Thuỷ pháp thường được kết hợp với sơn pháp thành “ sơn thuỷ pháp”, liên quan
mật thiết đến Long mạch , Huyệt Địa lý Tả Ao chủ yếu trình bày về long mạch,
huyệt, dựa vào sơn thuỷ pháp để tìm huyệt mộ kết và phát
2.4- Hình pháp
Hình pháp là cách xem xét tác động của các vật thể đến “ Dòng Khí” của ngôi nhà, cũng như tác động của Khí/ Sóng phát ra từ các bộ phận trong nhà Vật thể
nói ở đây như con đường, cầu vượt, cột điện, cây lớn, các công trình kiến trúc, các
đồ vật dụng hoặc trang trí v.v Các bộ phận trong nhà như hành lang, cầu thang,
nhà bếp, khu vệ sinh, cửa đi, cửa sổ v.v
Các vật thể, do cấu tạo, hình dáng, sự hoạt động mà phát ra các sóng/khí, ảnh
hưởng đến trường năng lượng của con người
Nên tránh làm nhà rất gần ( đặc biệt là trước mặt) đình, chùa, đền, miếu và
trong một số tình huống như bị con đường hướng thẳng vào mặt trước, bị kẹp giữa hai đường lớn, ngay trước nhà có cột, trụ hoặc cây to, có vật thể nhọn chỉa thẳng vào nhà Tránh làm nhà trong hang hốc, trong thung lũng xung quanh có núi cao, dưới chân khe vực, sát ven đường mà thấp hơn mặt đường, trong ngõ cụt hoặc ngõ quá náo nhiệt, những nơi thường xuyên có gió to Tránh làm nhà trên nền cũ
(*)- Xem : Nguyễn Hà- Chọn hướng nhà và bố trí nội thất theo thuật PT- NXB Xay dưng 1996
Trang 9
của đình chùa, trên đất nghĩa trang cũ, trên nền nhà bị cháy, trên chỗ lấp giếng
cũ, trên mánh đất hình tam giác
Khi làm nhà trên đất đốc, phía sau cần cao hơn phía trước, làm nhà trên đồi nên
chọn phía đông Tránh làm nhà ở chỗ đất mà phía bạch hổ bị nghiêng hoặc
khuyết, tránh làm nhà bé bị kẹp vào giữa hai nhà cao, to; ở phía trước hoặc phía
sau có nhà cao vượt hẳn lên Mặt bằng nhà nên cân xứng, tránh làm nhà có mặt bằng tam giác hoặc bị
khuyết một số góc
Cửa chính vào căn hộ không nên đối diện trực tiếp với hành lang, với lối đi
xuống của cầu thang, cửa thang máy Đi vào nhà qua cửa chính không nên thấy
bếp, phòng vệ sinh, cửa số, gương lớn Nhà có tường bao xung quanh khá cao
không nên mở ngõ hướng tây Không nên làm cổng hoặc cửa quá lớn cho ngôi
nhà bé, cổng khôr:g nên thấp hơn tường bao Khi xây nhà không nên xây tường bao trước
Huyền quan là vị trí nằm giữa cửa chính và phòng khách sát kề Khu vực huyền
quan nên được thông thoáng, sáng sủa, nền không cao hơn phòng khách Phòng khách không nên có quá 3 cửa sổ, trong phòng khách không nên đặt két sắt, nền phòng không cao thấp khác nhau Phòng khách nên làm vuông vắn, không xiên
xeo, không bị khuyết
Phòng ngủ không nên quá lớn hoặc quá nhỏ, không nên đối diện với phòng vệ
sinh hoặc nhà bếp, không nên gần sát huyền quan Không nên sửa phòng vệ sinh
hoặc bếp thành phòng ngủ Trong phòng ngủ không bày thần vị, không đặt bàn
thờ, không đặt bể cá, cây cảnh, không bày đồ hung khí, đao kiếm, tượng, đầu thú vật, đồ mỹ nghệ lớn, không nên có quá nhiều đồ vật hình tròn Cửa phòng ngủ không nên đối diện với gương, cửa ra vào, cửa phòng vệ sinh hoặc bếp
Gian bếp nên có hình dạng vuông vắn, không nên gần sát phòng ngủ chủ nhà,
không đặt chính giữa nhà Nên tránh chung cửa bếp với phòng vệ sinh, tránh việc
mọi người từ phòng khách có thể nhìn trực tiếp vào bếp, tránh việc bếp bị nắng chiếu xiên vào
Phòng vệ sinh không nên đặt giữa nhà, cửa phòng không trông thẳng ra cửa chính, không đối diện với cửa phòng ngủ chủ nhà, cửa phòng bếp, cửa phòng thờ Đường ống nước từ phòng vệ sinh không nên chạy qua các phòng khác
Cửa số nên có kích thước vừa phải, không làm hai cửa trực diện nhau, không
làm cửa thụt vào bên trong tường, không hướng cửa vào mồ mả gần bên ngoài, vào cột đèn, ngã tư đường phố
Đồ vật trang trí trong nhà nên chọn loại có hình dáng êm dịu, tránh những đồ
có nhiều mũi nhọn, quá gồ ghề
Ở trần nhà thường có dầm ( xà) Cần tránh để các dầm đè ép lên bên trên chỗ
thờ, giường ngủ, phòng khách, bếp nấu
Kích thước các loại cửa và vật dụng ( bàn, giường, tủ ) nên chọn theo thước
Lỗ ban Trên thước có 4 dòng Hai dòng ngoài ghi đơn vị đo, hai dòng trong chia
Trang 10vw
ra các khoảng đỏ và đen với các tên gọi khác nhau Nói chung các khoảng đỏ là
tốt, khoảng đen là xấu Dòng trên dùng cho đương trạch ( cửa, đồ dùng ), đồng
dưới dùng cho phần âm ( mồ mả, bàn thờ ).(*)
Hình pháp là vấn đề được nhiều người quan tâm vận dụng và viết nhiều sách
phổ biến, vì nó gắn với cuộc sống thường nhật và có thể cảm nhận dễ dàng bằng
trực giác Các sách phong thuỷ về bố trí nhà cửa và trang trí nội thất phần lớn
thuộc phạm vi này (* *) Khi gặp phải một số điều không nên, cần kiêng ky mà
không thể khắc phục, người ta dùng một số “ biện pháp hoá giải”sẽ được trình
bay ở phần sau ( mục V ),
2.5- Khí đất và tia đất
Khí đất thể hiện nguồn năng lượng vũ trụ được tích tụ vào vùng đất Một số
người nói họ có khả năng nhìn thấy hoặc cảm nhận được Đất có năng lượng tốt
khí màu sáng, đẹp Đất xấu có màu tối, sẩm Đất tự nhiên có năng lượng tốt
thường thể hiện bởi hệ thực vật phát triển tươi xanh Nên tránh làm nhà trên vùng
đất khô cần, đất có nhiều phế thải, tránh cắm cọc làm nhà trên vùng đất bùn
Tia đất là tia phát ra từ một nguồn nào đó trong lòng đất Nguồn đó có thể là
những khối lớn kim loại, chất lỏng, hoá chất hoặc hài cốt Tia đất theo phương
thẳng đứng, trong một phạm vi khá hẹp, có khả năng xuyên qua các tầng nhà Khi
tia đất là phù hợp với con người, nó có tác dụng tốt, được gọi là “ phúc xạ” Nếu
tia đất không phù hợp, gây nên tác dụng xấu, được gọi là “ ác xạ” Để phát hiện
được tia đất cần có khả năng ngoại cảm hoặc được luyện tập môn “ Cảm xạ học”
2.6- Đại cương về cảm xa học
Đó là một môn được áp dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực, trong đó có phong thuỷ để tìm long mạch, huyệt, khí đất, tia đất, mạch nước ngầm Môn cảm xa
dựa trên nguyên lý sau : Mọi vật thể đều phát sóng ( xạ ) Trường hào quang của
con người có thể tiếp nhận những sóng đó ( cảm ) Khi được luyện tập thành thạo
có thể biến sự cảm nhận từ trường hào quang thành một số chỉ thị theo quy ước,
có thể tiếp nhận bằng thị giác thông qua các dụng cụ như con lắc, đũa thần, (***)
(*) - Ngoài thước Lỗ Ban người ta còn dùng một số thước khác như thước Cửu Thiên Huyền
Nữ, thước Tử phòng, thước Khúc xích
— (**)3 Có nhiều sách của nhiều tác giả với tên gọi khác nhau như : Xây dựng theo PT ( Nguyễn Đình Cửu), Điều cấm ky về nhà ở ( Trương Duyệt ), Kỹ thuật điều chỉnh trường khí
vào nhà (Nguyễn Tiến Đích ), Phong thuỷ cổ truyển trong kiến trúc hiện đại ( Nguyễn Bích
Hằng), Phong thuỷ toàn thư ( Thiệu vĩ Hoa ), Phong thuỷ nhà ở ( Âu Dương Vũ Phong ),Trang trí nhà ở theo PT (Tuấn Quang), Cấm ky phong thuỷ trong bài trí nhà hiện đại ( Hoàng Kỷ Vũ )
Phong thuỷ huyền quan, nhà vườn, văn phòng, cửa hàng, phòng ngủ ( Phạm Đông) Trang trí nội thất theo phong thuỷ ( Tống Thiểều Quang ), Thực hành phong thuỷ ( Đàm Liên ), Gia Cat
Khổng Minh bàn về phong thuỷ ( Thạch Sơn Thuỷ ), Tự xem phong thuỷ nhà mình ( Tuệ
Duyên ), Phong thuỷ phòng ngủ , cửa và phòng khách ( Hoàng Gia Ngôn ).V.V
(***) ~ Môn cảm xạ đã có từ lâu đời Hiện nay nhiều nước đã phát triển khá rộng rai O Viet
nam đang có một số lớp dạy cam xạ, được sự hỗ trợ của Trung tâm nghiên cứu tiểm nang con
người Ở Hà nội có Công ty của Tiến sỹ Vũ Văn Bằng chuyên nghiên cứu, phát hiện, xử lý tia đất và những vật ẩn dấu trong đất
Trang 11
II- PHONG THỦY LÝ SÔ
Phong thuỷ lý số chủ yếu xem xét ảnh hưởng của các phương hướng ( không
gian ) phụ thuộc vào mệnh vận, tuổi tác của từng người Nó được dựa vào một số
cơ sở như Âm dương, Ngũ hành, Can chi, Bát quái, trong đó có một số suy luận
và tính toán PT lý số còn được gọi là phái “ Pháp gia”, “ Lý khf”, “ Hướng tỉnh” 3.1- Âm dương, ngũ hành
Âm, đương là hai mặt đối lập và thống nhất của vạn vật Đối lập thể hiện ở chỗ
chúng có tác dụng ngược nhau như sáng-tối, nóng-lạnh v.v , dương phát triển thì
âm lùi và ngược lại Thống nhất ở chỗ trong dương có âm, trong âm có dương, dương phát triển đến cùng thì âm sinh ra và ngược lại Để vạn vật phát triển tốt thì
âm dương phải hài hoà, ở vào trạng thái cân bằng động AN
Ngũ hành là 5 tính chất : Kim, thuỷ `
mộc, hoả, thổ Các tính chất này có quan
hệ tương sinh và tương khắc pang
Tương sinh: Kim sinh thuỷ; Thuỷ sinh mộc, hệ < > - ce c —” *
Mộc sinh hoả; Hoả sinh thổ; Thổ sinh kim
Tương khác: Kim khắc mộc; Mộc khắc thổ;
Thổ khác thuỷ; Thuỷ khắc hoả, Hoả khắc kim
“A
\ 4 > < \ 7
kim âm, thuỷ dương, thuỷ âm .(*) (tiny (vee
Có 12 chi ( địa chi ), sắp theo thứ tự : 1- Ty, 2- Sttu, 3- Dan, 4- Mao, 5- Thin,
6- TỊ, 7- Ngọ, §- Mùi, 9- Thân, 10- Dậu, 11- Tuất, 12- Hợi
Các chị số lẻ là đương, số chan là 4m
Đần, Mão hành mộc ( Dần mộc dương, Mão mộc âm ), Ti, Ngo- hoa, Than, Dau-
kim, Hợi, Tý- thuỷ, Thìn, Tuất, Sửu, Mùi- thổ ( Thìn, Tuất - thổ dương; Sửu, Mùi-
Mộc : Tang đồ mộc, Lâm đại mộc, Tùng bá mộc, Dương liễu mộc, Thạch lựu mộc, Bình địa mác ‘
Hoa : Tich lich hoả, Phúc đăng hoả, Lô (1ư) trung hoa, Thién thượng hoả, Sơn đầu hoả, Sơn |) 15 Thổ : Bích thượng thổ, Sa trung thổ, Thành đầu thổ, Lộ bàng thổ, Đại trạch thổ, Ốc thượng thổ
1Ô
Trang 12Bắt đầu bằng Giáp tý, Ất sửu, Bính dân đến cuối cùng là Nhâm tuất, Quý hợi
Thường dùng 60 cặp can-chi để chỉ thời gian : năm, tháng, ngày, giờ Thí dụ: năm
Canh dần, tháng Kỷ mão, ngày Đinh dậu, giờ Tân sửu (*) 3.3- Bát quái
Bát quái là 8 biểu tượng, được dùng rộng rãi trong một số môn dự đoán và là
cơ sở của Kinh Dịch Trong PT dùng Bát quái chủ yếu để chỉ phương hướng
không gian Lập bát quái theo nguyên tắc sau : Thái cực sinh lưỡng nghi ( nghi
dương- một nét liền - , nghi âm- hai nét đứt —~ ) Lưỡng nghi sinh tứ tượng
(Thái dương == ,Thiéu duong == ,Thiéu 4m ==, Thai 4m = = ) Tứ tượng sinh Bat quai (Can ==, Doai ==, Ly ==, Chén==,Toéns= ,Kham== ,Cấnz:, Khon: = ) ( Mội sinh thành hai, bên trái thêm vào một dương, bên phải thêm vào một âm, tính sinh từ dưới lên ) (**)
Ầ w Nà»a Ái DƯƠNG - telEU DưôNGŒ YHiếo Am THÁI Am
Tén goi bat quai | Can | Doai | Ly Chấn | Tốn |Kham|Cén | Khon
Hinh tượng =e suo “_ == = = oo tr
Biểu tượng Thién | Trach | Hoa |Lôi |Phong |Thuỷ |Sơn |Địa
Ngũ hành kim |kim |hoả lmộc mộc |thuỷ |thố | thd
Thứ bậc trong|cha |thiếu |trung | trưởng | trưởng | trung |thiếu | mẹ
| gia đình nữ nữ nam |nữ nam | nam
Bát quái thường được sắp xếp thành đồ hình vòng quanh Phục Hy sắp theo thứ tự
số sinh, bên trái theo chiều thuận, bên phải theo chiều ngược lại, đồ hình đó được gọi là Bát quái tiên thiên, chủ yếu được dùng trong một số môn dự đoán ,
(*)- Bốn cặp can chi của năm, tháng, ngày, giờ sinh của một người được gọi là “ tứ trụ” của
người đó, được dùng trong dự đoán theo môn Tứ trụ ( hoặc Tử bình ) và môn Hà lạc Ngoài hành của can và chi, mỗi cặp can-chi còn có hành chung, thí dụ cặp Canh dần ( canh hành kim,
dân- mộc) có hành chung là mộc (Tùng bá mộc ), cặp Kỷ sửu (Kỷ- thổ, sửu- thổ ) có hành là
hoả (tích lịch) Hành của cặp can-chi thường được cho trong lịch hoặc một số sách Trong phần tham khảo kèm theo của tài liệu này có cho cách tính toán để xác định các hành đó Ngoài ra cũng giới thiệu thêm tương xung, tương hợp của các chi
(**)- Để ghi nhớ hình tượng các quái chỉ cần chú ý các cặp Đoài- Tốn và Cấn -Chấn ngược nhau còn 4 quái Càn, Khôn , L.y, Khảm có dạng đối xứng rất dễ nhớ
11
Trang 13
Văn Vương sắp xếp lại theo kiểu khác, đọc theo thứ tự là : Càn, Khám, Cấn,
Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài Đồ hình này được gọi là Bát quái Hậu thiên
Số của Bát quái hậu thiên được dựa vào số của cửu cung Đó là |4 |9 |2
bảng gồm 9 ô với 9 số nguyên đầu tiên, số 5 đặt ở giữa, các số |3 |5 |7 4,5,6 nằm trên đường chéo, tổng các số theo mọi hàng, cột và |§ |1 |6 đường chéo đều bằng 15
Hậu thiên bát quái và ngũ hành : Đoài + Càn thuộc kim, Khảám- thuỷ, Chấn+ Tốn-mộc, Ly-hoả, Cấn+Khôn+ Trung cung thuộc thổ
Về phương hướng : Khảm-bắc, Ly-nam, Chấn- đông, Đoài- tây Càn- tây bắc,
Cấn- đông bắc, Tốn- đông nam, Khôn- tây nam Trong đồ hình hậu thiên, từ xưa các bậc tiên bối quy ước vẽ phương Nam lên trên, phương Bắc xuống dưới
3.4- Mệnh quái của mỗi người Mỗi người, ngoài 4 cặp tứ trụ ( can-chi) và từ đó tìm ra âm dương, ngũ hành thì còn được gắn 3 mệnh quái ( từ Bát quái ), có tên là Sinh cung, Phi cung và Lữ tài
Sinh cung mệnh quái dùng trong dự đoán vận mệnh
Phi cung mệnh quái dùng trong phong thuy ( trường phái Bát trạch )
Lữ tài mệnh quái dùng trong dự đoán về hôn nhân
Thí dụ ông K sinh năm 1973 ( Quý sửu, hành mộc- tang đồ mộc ) có sinh cung là Tốn =< , phi cung la Ly ==" , li tai la Can == Voi nt, phi cung va li tai tring
nhau Phi cung mỗi người dựa vào năm sinh, thường được cho trong các cẩm nang Cách tính toán để xác định như sau : Dựa vào con số năm sinh theo dương
lịch trùng với năm dịch học Năm dịch học bắt đầu từ tiết Lập xuân đến hết tiết
Đại hàn So với âm lịch, tiết Lập xuân có thể là trước Tết hoặc sau Tết So với dương lịch, Lập xuân bắt đầu vào ngày 5 hoặc 4 tháng 2
12
Trang 14hể
n+
Dat A= tong các con số của năm sinh Tính số B như sau :
- Với nữ giới B=A+4 0n
- Với nam giới B=9n+2- A
Chọn số n sao cho tính ra được B nằm trong giới hạn giữa 1 và 9 Lấy B là số của Bát quái hậu thiên, từ đó tìm ra Phi cung mệnh quái
Thí dụ bà T sinh năm dịch học ứng với năm dương lịch 1953 ( sinh sau ngày Lập
xuân mồng 5 tháng, 2, nếu sinh trước đó thì phải tính vào năm trước là 1952 )
A = I+9 +5 + 3= 18, chọn n=2, B= I8 +4- 9x2 =4 Đây là số của quái Tốn
Vậy phi cung của bà T là Ton Ong M cũng sinh nam 1953 ( A= 18 ), chonn=2 B= 9x2 +2— 1§ =2 đó là số
của quái Khôn, vậy Phi cung của ông M là Khôn
Khi tính được B =5 ( số của trung cung thuộc thổ ), nam lấy theo thổ âm là Khôn
nữ lấy theo thổ dương là Cấn 3.5- Tương quan giữa các quái Mỗi quái gồm 3 hào : trên, giữa, dưới Mỗi hào có thể là dương hoặc âm thí
du quai Can == ba hao đều dương, quái Khôn`z =ba hao déu âm, quái Ly 5# c hào trên và dưới dương, hào giữa âm, quái Chấn =z có hào trên và giữa âm, hào dưới dương So sánh quái Cần z: với quai Doai == thấy khác nhau một hào trên, Càn và Chấn khác nhau hai hào trên, Cần và Khôn khác nhau cả ba hào Nói cách khác, dùng từ “biến” Biến hào dương thành âm và ngược lại Như vậy có thể nói : biến một hào trên thì quái Càn thành Đoài và ngược lại Biến cả 3 hào của Cần thành Khôn Tuỳ theo sự khác nhau của các hào ( hoặc số hào biến ) mà có các quan hệ như sau:
Hào khác (biến) Thí dua voi == | Thi dụ 2 với Quan hé
1 hao trén Km = == = Sinh khi
1 hao gitta = == | te = = | Tuyệt mênh
2 hao(trén+gitta) | === Se | S5 z= | Ngũ quỷ
2 hào(giữa+dưới)| =* 2S SS cai | Thién y
2 hào(trên+dưới) mi _ = x=: | Luc sat
Có 4 quan hệ tốt là : Sinh khí, Thiên y, Phục vị và Phúc đức ( hoặc Diên niên)
4 quan hệ xấu : Tuyệt mệnh, Hoa hại, Ngũ quy, Lục sát
3.6- Tương quan giữa con người và các phương hướng Chia mặt đất thành 8 phương, mỗi phương biểu thị bằng một quái theo đồ hình hậu thiên, đó là “ phương quái” Mỗi người có một phi cung mệnh quái So sánh phi cung với phương quái sẽ biết các quan hệ tốt, xấu Thí dụ người có phi cung là Càn : -, có các tương quan như sau : phương Tây bắc ( phương quái là
Trang 15
Cần) quan hệ là “ phục vị”, Tây nam ( khôn)- phúc đức, Tây ( đoài)- sinh khí,
Nam ( ly)- tuyệt mệnh, Đông nam ( tốn)- hoạ hại, Đông ( chấn)- ngũ quỷ, Đông bắc ( cấn)- thiên y, Bắc ( khảm)- lục sát ( xem hình vẽ) Các phi cung khác có
tương quan với các phương như thể hiện trên hình vẽ
Hình vẽ : Quan hệ các Phi cung với các phương
14
Trang 163.7- Truong phai Bat trach
Bát trạch ( hoặc bát trạch minh cảnh ) là thuật ngữ chỉ quan hệ của người với
Š phương Chia § phương thành 2 nhóm : Đông tứ trạch và Tây tứ trạch
Đông tứ trạch gồm : Chấn, tốn, ly, khảm ( đại diện là Chấn- phương Đông )
Tây tứ trạch gồm : Đoài, càn, cấn, khôn ( đại diện là Đoài- phương Tây )
Tương quan các quái trong mỗi nhóm là tốt : phục vị, phúc đức, sinh khí, thiên y Tương quan giữa mỗi quái của hai nhóm là xấu ( tuyệt mệnh, ngũ quỷ, lục sát, hoa hại ) Thí dụ người có phi cung Cần, thuộc Tây tứ trạch, các phương thuộc tay
tứ trạch ( đoài, càn, cấn, khôn ) có quan hệ tốt, các phương thuộc đông tứ trạch có
quan hệ xấu Người có phi cung Khảm, thuộc đông tứ trạch sẽ có quan hệ ngược lại
3.8- Chọn phương hướng theo bát (rạch Phân biệt phương và hướng như sau : Lấy một đối tượng nào đó để xét ( thí dụ phòng ngủ, bếp, bàn làm việc, giường ) Phương là vị trí của đối tượng so với trung tâm của nhà, hướng là chỉ hướng nhìn từ trung
tâm đối tượng ra bên ngoài, với các phòng thì
đó là hướng từ trung tâm phòng nhìn ra chính giữa cửa ra vào, với bàn làm việc thì hướng là
hướng nhìn của người đang ngồi làm việc
LULECLUT AT Zi TH I
(quay mat vé phuong nao ) Thi du mat bang / N tì
ngôi nhà như hình vẽ, tâm tại điểm O, tâm cửa UA 6 4 chính tại A, hướng nhà là OA ( đông bắc- cấn ) “ J Trung tâm của một phòng nào đó tại B, cửa ra bow I4
vào của phòng tại C Phương của phòng là OB _ j
Ore rere
15