Mục tiêu cuối cùng của việc dạy và học môn Ngữ văn là không chỉ bồi dưỡng cung cấp những kiến thức về xã hội, về tư tưởng tình cảm mà các em học sinh cần phải có kĩ năng viết (nói) thành thạo. Tức là các em phải tạo lập được một văn bản. Tuy nhiên, trong thực tế, nhiều em học sinh gặp không ít khó khăn, thậm chí tốn rất nhiều thời gian khi viết phần mở bài trong một bài văn. Vì vậy, trong sáng kiến này, tôi mạnh dạn đề ra một số phương pháp rèn kĩ năng viết phần mở bài trong văn biểu cảm cho học sinh lớp 7. Với đề tài này tôi tập trung hướng vào đối tượng học sinh trung bình, yếu.
Trang 1Phần 1 THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1 Tên sáng kiến: Phương pháp rèn kĩ năng viết phần mở bài trong văn biểu cảm cho học sinh lớp 7
2 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: giảng dạy bộ môn Ngữ văn lớp 7
3 Tác giả:
Họ và tên: Nguyễn Thị Lan Anh Nữ
Ngày tháng/năm sinh: 06/10/1987
Trình độ chuyên môn: Cử nhân Cao đẳng Sư phạm Ngữ văn – Giáo dục công dân
Chức vụ, đơn vị công tác: giáo viên, Trường THCS Nam Hưng
Điện thoại: 0974075015
4 Thời gian áp dụng sáng kiến lần đầu: năm học 2011 - 2012
HỌ TÊN TÁC GIẢ (KÝ TÊN)
Nguyễn Thị Lan Anh
XÁC NHẬN CỦA CƠ QUAN ĐƠN
VỊ ÁP DỤNG SÁNG KIẾN
Trang 2TÓM TẮT SÁNG KIẾN
Mục tiêu cuối cùng của việc dạy và học môn Ngữ văn là không chỉ bồi dưỡng cung cấp những kiến thức về xã hội, về tư tưởng tình cảm mà các em học sinh cần phải có kĩ năng viết (nói) thành thạo Tức là các em phải tạo lập được một văn bản Tuy nhiên, trong thực tế, nhiều em học sinh gặp không ít khó khăn, thậm chí tốn rất nhiều thời gian khi viết phần mở bài trong một bài văn Vì vậy, trong sáng kiến này, tôi mạnh dạn đề ra một số phương pháp rèn kĩ năng viết phần mở bài trong văn biểu cảm cho học sinh lớp 7 Với đề tài này tôi tập trung hướng vào đối tượng học sinh trung bình, yếu Để rèn kĩ năg này cho học sinh, tôi thực hiện một số biện pháp như sau :
Thứ nhất : Cung cấp kiến thức lí thuyết về đoạn văn mở bài cho học sinh :
- Khái niệm đoạn văn và đoạn văn mở bài
- Các yêu cầu của phần mở bài
- Cấu tạo phần mở bài
- Cách viết phần mở bài
Thứ hai : Đưa ra hệ thống các bài tập rèn kĩ năng viết phần mở bài cho học sinh:
- Cách thực hiện : thực hiện trong các tiết luyện tập, luyện nói, trả bài tập làm văn bằng cách : giao bài tập về nhà, yêu cầu học sinh kiểm tra chéo và chữa bài của nhau, chữa lỗi các phần bài viết của học sinh
- Các dạng bài tập :
+ Bài tập nhận diện đoạn văn mở bài
+ Bài tập chữa lỗi đoạn văn mở bài
+ Bài tập luyện viết mở bài gián tiếp
Qua quá trình áp dụng sáng kiến, tôi thấy kết quả khá khả quan Các em học sinh không còn mất quá nhiều thời gian cho việc viết phần mở bài Nhiều học sinh trung bình yếu đã biết viết phần mở bài một cách dễ dàng Thậm chí, nhiều học sinh còn có cách mở bài hay, sáng tạo gây ấn tượng cho người đọc
Trang 3Phần 2
MÔ TẢ SÁNG KIẾN PHẦN A : ĐẶT VẤN ĐỀ
1 - Lí do chọn đề tài
1.1 - Cơ sở lý luận
Chương trình ngữ văn THCS được cấu tạo 2 vòng tương ứng với hai lớp đầu cấp ( lớp 6 và lớp 7) và 2 lớp cuối cấp (lớp 8 và lớp 9) Môn học gồm
3 phân môn: Văn học; Tiếng Việt và Tập làm văn Cấu tạo của sách giáo khoa theo từng bài Nội dung kiến thức của 3 môn học có mối quan hệ chặt chẽ hỗ trợ cho nhau
Mục tiêu của chương trình là đi từ Văn bản đến Tiếng Việt và vận dụng vào thực hành nói viết trong làm văn Nghĩa là từ việc đọc hiểu văn bản đến cảm nhận, đánh giá suy nghĩ về giá trị tư tưởng tình cảm và nghệ thuật đặc sắc của các văn bản tương đối chuẩn mực, kết hợp cùng vốn từ vựng, cú pháp trong Tiếng Việt sẽ giúp học sinh biết vận dụng những kiến thức đã học để nói (viết) thành thạo, biết xây dựng một số kiểu loại văn bản theo đúng phương pháp và đặc trưng của kiểu loại văn bản đó, đáp ứng yêu cầu của môn học So với chương trình cũ, phân môn Tập làm văn (TLV) trong chương trình thay sách được coi trọng hơn, số tiết học tăng nhiều lên Nội dung kiến thức đầy đủ hơn để đáp ứng với yêu cầu thực tiễn đời sống xã hội Trong chương trình TLV Trung học cơ sở, học sinh được học tập rèn luyện kĩ năng làm văn với 6 kiểu loại văn bản Đó là : văn bản tự sự, văn bản miêu tả, văn bản biểu cảm, văn bản nghị luận, văn bản thuyết minh, văn bản hành chính - công vụ Chương trình TLV tập trung cung cấp cho học sinh những kiến thức kĩ năng
cơ bản của 6 kiểu loại văn bản trên và cách làm các kiểu văn bản ấy mà không
đi sâu vào các thể loại cụ thể Như vậy so với trước đây hệ thống các kiểu loại văn bản của chương trình được bổ sung khá đầy đủ toàn diện Và mục tiêu cuối cùng của môn học là không chỉ bồi dưỡng cung cấp những kiến thức về
xã hội, về tư tưởng tình cảm mà các em cần phải có kĩ năng viết (nói) thành thạo Hiểu như vậy để thấy rằng giúp học sinh học và biết làm tốt các kiểu văn bản trong chương trình có ý nghĩa cơ bản đối với việc phát triển năng lực biểu đạt của các em trong tương lai
Tạo được một văn bản hoàn chỉnh, hấp dẫn là mục đích phấn đấu của những người dạy văn và học văn Mục đích này đặc biệt có ý nghĩa với lứa tuổi học sinh bậc THCS Qua văn bản người đọc có thể thấy được khả năng, trình độ học vấn của người viết Và cũng qua văn bản người viết có điều kiện thể hiện những kỹ năng, những kiến thức trong quá trình học văn như kiến thức về tiếng Việt, về tác phẩm văn học, về cách tạo lập văn bản Một văn bản được đánh giá là hoàn chỉnh khi nó truyền tải trọn vẹn một vấn đề và được coi là một văn bản hay khi nó có sức hấp dẫn người đọc Để có được sức hấp dẫn này thì phần mở bài có một vai trò rất quan trọng Phần mở bài được
Trang 4ví như lời chào đầu tiên trong một buổi gặp gỡ Một phần mở bài hấp dẫn sẽ chiếm được tình cảm của người đọc, sẽ tạo được bầu không khí tâm lý thuận lợi cho việc tiếp xúc các phần sau
1.2 - Cơ sở thực tiễn
Qua quá trình giảng dạy và theo dõi việc làm bài văn của học sinh THCS, một vấn đề dễ nhận thấy ở đối tượng học sinh trung bình - yếu là các
em rất chật vật, mất nhiều thời gian vào việc viết phần mở bài Trong nhiều tiết viết bài 90 phút, có những học sinh mất tới 30 phút nhưng vẫn chưa viết xong phần mở bài Qua quá tình chấm bài cũng nhận thấy phần mở bài của đối tượng học sinh này chưa đạt yêu cầu : Hoặc còn thiếu ý, hoặc chưa nêu được vấn đề ; dẫn dắt vấn đề một cách vòng vo, rườm rà, vu vơ không liên quan đến vấn đề cần giải quyết mà đề bài yêu cầu Chính vì vậy khi học phần Tập làm văn, tôi đã phát phiếu thăm dò tình hình học sinh đối tượng trung bình - yếu về vấn đề : Khi viết bài tập làm văn, em thấy viết phần nào khó nhất ? Kết quả thu được như sau:
Phần
Lớp
Qua việc nghiên cứu chương trình sách giáo khoa hiện hành (đặc biệt là phần làm văn) tôi nhận thấy một số vấn đề như sau : trong chương trình sách giáo khoa mới không có tiết cho học sinh nhận diện đoạn văn và dựng đoạn theo chức năng, thời gian cho học sinh luyện tập viết đoạn văn không nhiều.Vì vậy thời gian để học sinh rèn luyện đoạn văn và đoạn văn mở bài còn quá ít so với vai trò của đoạn và so với khả năng của học sinh
Xuất phát từ hoạt động dạy và học, từ tinh thần đổi mới phương pháp dạy học của Bộ Giáo dục và Đào tạo là phát huy tính tích cực chủ động của học sinh dưới sự hướng dẫn của thầy cô giáo tôi nhận thấy rằng: Nếu việc giáo dục của nhà trường, việc giảng dạy của thầy cô giáo đã tạo cho học sinh
có một lượng kiến thức rất có giá trị (một ngoại lực) thì việc phát huy tính chủ động sáng tạo của học sinh lại khơi dậy trong các em một nội lực có giá trị không kém Nếu phát huy khai thác được sự chủ động sáng tạo của học sinh
sẽ tạo điều kiện thuận lợi để nội lực cộng hưởng với ngoại lực thì từ đó chất lượng dạy và học sẽ được nâng cao Để phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo của học sinh thì một vài bài tập trong sách giáo khoa rõ ràng là chưa đủ
Trong quá trình giảng dạy, tôi cũng nhận thấy văn biểu cảm là một kiểu văn bản khá khó với học sinh lớp 7 Nhiều em còn lúng túng chưa biết cách làm một bài văn biểu cảm Đặc biệt là phần mở bài Trong khi đó, văn biểu cảm là văn bản viết ra nhằm biểu đạt tình cảm, cảm xúc, sự đánh giá của con người với thế giới xung quanh và khêu gợi lòng đồng cảm nơi người đọc
Trang 5Để người đọc ấn tượng và đồng cảm với những suy nghĩ tình cảm, biểu đạt trong bài văn thì trước tiên phải tạo được sự hấp dẫn ngay trong phần mở bài
Từ nhận thức ấy trong quá trình dạy phần Tập làm văn, tôi đã cố gắng tìm hiểu làm như thế nào để giúp các em thoát khỏi tình trạng lúng túng khi bắt đầu viết một bài tập làm văn biểu cảm Nếu giải quyết được tình trạng này thì các em sẽ vững vàng chủ động hơn khi bước vào những kỳ thi quan trọng
và cả khi học văn ở những năm tiếp theo của chương trình THPT Qua quá trình giảng dạy tôi đã nghiên cứu và áp dụng một số dạng bài tập rèn luyện kỹ năng viết đoạn mở bài (dành cho đối tượng trung bình - yếu)
2 - Phạm vi, đối tượng và mục đích của đề tài
Với học sinh lớp 7 nói chung văn bản biểu cảm là kiểu văn bản khó Còn với đối tượng học sinh diện trung bình - yếu thì việc viết văn biểu cảm càng khó khăn hơn Chính vì vậy mà ở đề tài này chúng tôi chỉ dừng ở phạm
vi : Rèn luyện kỹ năng viết đoạn theo chức năng mở bài trong bài văn biểu cảm cho đối tượng học sinh trung bình - yếu lớp 7
Mục đích của đề tài : Rèn luyện cho học sinh viết đúng, viết nhanh và tiến tới viết hay phần mở bài, tránh được một số lỗi thường gặp trong quá trình viết đoạn mở bài
3 - Phương pháp nghiên cứu
- Khảo sát (chương trình sách giáo khoa Ngữ văn THCS)
- Tham khảo tài liệu, tổng hợp, so sánh, hệ thống hoá một số vấn đề lý luận có liên quan
- Phương pháp đàm thoại kết hợp với phân tích, chứng minh
- Phương pháp nêu vấn đề (kích thích tư duy sáng tạo của học sinh)
- Phương pháp thảo luận nhóm
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp thống kê số liệu, nghiên cứu tài liệu
- Phương pháp viết đoạn văn ngắn
Trang 6PHẦN B : NỘI DUNG
1 - Cung cấp lý thuyết về đoạn mở bài cho học sinh
1.1 - Khái niệm đoạn văn và đoạn văn mở bài
1.1.1 - Đoạn văn
+ Hình thức : Đoạn văn là một phần của văn bản được tính từ chỗ viết hoa lùi đầu dòng đến chỗ chấm xuống dòng Hay nói cách khác đoạn văn là phần của văn bản nằm giữa 2 chỗ chấm xuống dòng
+ Nội dung : Đoạn văn diễn đạt trọn vẹn một vấn đề
1.1.2 - Đoạn văn mở bài là phần đầu tiên của văn bản
Đoạn văn mở bài có vai trò định hướng cho toàn văn bản Phần mở bài chứa đựng vấn đề cần giải quyết một cách khái quát và thông báo cho người đọc phương thức giải quyết hoặc giới hạn của vấn đề Phần mở bài có vai trò gây dựng tình cảm, gây ấn tượng cho người đọc, người nghe
1.2 - Yêu cầu của phần mở bài
- Mở bài phải giới thiệu được nội dung cơ bản của bài viết
- Dung lượng của phần mở bài phải tương ứng với khuôn khổ của bài viết và phải cân đối với phần kết bài
- Phần mở bài phải đảm bảo có sự liền mạch với bài viết về cả nội dung lẫn phong cách giới thiệu, diễn đạt
=> Nói tóm lại phần mở bài phải tạo được âm hưởng chung, định hướng chung cho cả bài viết
Cụ thể, một mở bài hay và độc đáo cần phải đáp ứng được các yêu cầu sau :
- Ngắn gọn : Mở bài không cần dài dòng mà chỉ cần đảm bảo nội dung : dẫn dắt thường vài ba câu, giới thiệu đối tượng một vài câu và nêu tình cảm của người viết với đối tượng biểu cảm một câu
- Đầy đủ : mặc dù ngắn gọn nhưng mở bài phải giới thiệu được đối tượng và nêu khái quát tình cảm của mình dành cho đối tượng biểu cảm Đây
là hai nội dung cơ bản không thể thiếu trong phần mở bài của bài văn biểu cảm
- Độc đáo : Tức là mở bài phải gây được ấn tượng với người đọc, người nghe Đặc biệt đối với văn biểu cảm Bởi có gây được thiện cảm thì mới có thì mới có thể khiến người tiếp nhận văn bản rung động, đồng cảm với những tình cảm trong bài viết
- Tự nhiên : Phần dẫn dắt để đi đến giới thiệu đối tượng biểu cảm phải giản dị, tự nhiên, tránh vụng về gượng ép tránh gây cho người đọc khó chịu bởi sự giả tạo
1.3 - Cấu tạo phần mở bài
- Phần mở bài thường có cấu tạo phần Thông thường học sinh có thể viết từ 3 -> 5 câu văn :
Trang 7+ Phần dẫn dắt vấn đề có liên quan đến nội dung cần giải quyết Tuỳ theo đề bài và tuỳ theo khả năng của người viết mà có sự lựa chọn, dẫn dắt cho phù hợp
+ Phần nêu đối tượng biểu cảm : Giới thiệu đối tượng biểu cảm
+ Phần khái quát tình cảm, cảm xúc của học sinh với đối tượng biểu cảm được nêu trong bài : Đây là phần trọng tâm của mở bài Nó nêu bật tư tưởng tình cảm của người viết đối với đối tượng được nêu trong bài
Có thể rút ra công thức viết đoạn mở bài như sau:
Dẫn dắt, giới thiệu đối
tượng biểu cảm
Nêu đối tượng biểu cảm Tình cảm, cảm xúc của
em về đối tượng biểu cảm ấy
Tuy nhiên không phải bất cứ mở bài nào cũng bắt buộc phải đủ cả phần như đã nêu Nếu đủ thì ta sẽ có mở bài gián tiếp, còn nếu chỉ có 2 phần sau thì có mở bài trực tiếp
1 4 - Cách viết phần mở bài
Một mở bài đạt yêu cầu là một mở bài đúng, trúng và hay Một mở bài được xem là đúng khi nó nói được vấn đề đặt ra trong đề bài Trúng là khi mở bài gọi tên đúng, chính xác vấn đề mà đề bài yêu cầu Mở bài hay là khi nó kết được cả hai yếu tố đúng, trúng và đạt được sự lôi cuốn, gợi mở Tùy vào dụng ý của người viết mà chúng ta có cách mở bài trực tiếp hoặc gián tiếp
1.4.1 - Mở bài trực tiếp
Mở bài trực tiếp thường đi thẳng vào vấn đề, không câu nệ câu chữ, ý tưởng nên thường nêu ra được vấn đề một cách trực tiếp nhất, rõ ràng nhất Nhưng cũng chính điều đó dẫn đến sự hạn chế của một mở bài trực tiếp Nó ít khi có được sự mềm mại, uyển chuyển, linh hoạt, khơi gợi mà một mở bài cần
có và nên có Bởi mở bài giống như một lời chào đầu tiên dành cho người đọc Ngay từ lời chào đầu đã không hấp dẫn người đọc thì liệu người đọc có hứng khởi mà đi tiếp những phần tiếp theo không ? Vì thế, chúng ta nên đầu
tư một chút cho “lời chào” bằng cách mở bài gián tiếp
Ví dụ : Khi viết bài văn biểu cảm với đề bài : Cảm nghĩ của em về bài
thơ Bánh trôi nước của Hồ Xuân Hương.
Có thể mở bài trực tiếp như sau : Hồ xuân Hương là một trong rất ít phụ nữ Việt Nam thời phong kiến có tác phẩm văn học lưu truyền cho đến ngày nay Bà được mệnh danh là Bà chúa thơ Nôm Cuộc đời của bà vẫn còn
là một vấn đề đang được nghiên cứu Bà thường mượn cảnh, mượn vật để nói lên thân phận người phụ nữ thời bấy giờ, bài thơ “Bánh trôi nước” là một trong số đó.
Trang 81.4.2 - Mở bài gián tiếp
Mở bài gián tiếp thường bắt đầu từ một khía cạnh liên quan đến đối tượng biểu cảm Từ đó người viết dẫn dắt một cách khéo léo và có liên kết đến đối tượng chính mà đề ra yêu cầu Thường thì có 4 cách mở bài gián tiếp : diễn dịch, quy nạp, tương liên, đối lập
Với mở bài theo lối diễn dịch các em nêu ra những ý kiến khái quát hơn vấn đề đặt ra trong đề bài rồi mới bắt đầu vào vấn đề ấy
Ví dụ : Với đề bài : “Cảm nghĩ của em về bài thơ Cảnh khuya của Hồ
Chí Minh”, học sinh có thể mở bài bắt đầu bằng đề tài trăng :
Trăng là chủ đề sáng tác, là cảm hứng của các thi nhân Và Hồ Chí Minh – một nhà thơ – chiến sĩ cũng đã từng có nhiều bài thơ viết về trăng Trong những năm đầu ở chiến khu Việt Bắc, trong một đêm trăng đẹp, Bác đã sáng tác ra bài thơ Cảnh khuya để lại trong em nhiều cảm xúc :
“Tiếng suối trong như tiếng hát xa,
Trăng lồng cổ thụ, bóng lồng hoa
Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ
Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà.”
Mở bài theo kiểu quy nạp tức là nêu lên những ý nhỏ hơn vấn đề đặt ra trong đề bài rồi mới tổng hợp, giới thiệu ra đối tượng biểu cảm
Ví dụ : Với đề bài : Bốn mùa quê em !, học sinh có thể mở bài theo cách quy nạp :
Mùa xuân xinh đẹp với muôn hoa rực rỡ Mùa hạ trái cây thêm ngọt lịm, thơm lừng Mùa thu cúc vàng xao xuyến Mùa đông thâm trầm mà lạnh lẽo Mỗi mùa quê em đều có nét quyến rũ riêng Vì thế mà em thêm yêu, thêm quý cả bốn mùa.
Chúng ta có thể mở bài theo cách tương liên : Nêu lên một ý giống như
ý trong đề rồi giới thiệu đối tượng biểu cảm Ý được nêu ra có thể là một câu tục ngữ, ca dao, danh ngôn, một nhận định hoặc những chân lý phổ biến, những sự kiện nổi tiếng
Ví dụ : Với đề bài : Người thân yêu nhất của em !
Học sinh có thể viết phần mở bài như sau :
Những ngôi sao thức ngoài kia Chẳng bằng mẹ đang thức vì chúng con.
Đêm nay con ngủ giấc tròn
Mẹ là ngọn gió của con suốt đời”
(Trần Quốc Minh)
Trang 9Cứ mỗi lần đọc những dòng thơ trên, em lại nhớ đến hình ảnh thân thương, dáng hình gầy gầy mà lam lũ của mẹ Có lẽ, trong gia đình, mẹ là người em yêu nhất
Còn một cách nữa để có một mở bài gián tiếp đó là sử dụng phương pháp đối lập Người viết thường nêu lên những ý trái ngược với ý trong đề bài rồi lấy đó làm cớ để chuyển sang giới thiệu đối tượng biểu cảm Học sinh nào
sử dụng nhuần nhuyễn phương pháp này thì hiệu quả mang lại sẽ rất cao, gây được ấn tượng đối với người đọc
Ví dụ : Với đề bài : Cảm nghĩ của em về bài thơ Qua Đèo Ngang của
Bà Huyện Thanh Quan
Học sinh có thể viết phần mở bài bằng phương pháp đối lập như sau :
Có những tác phẩm đọc xong, gấp sách lại là ta quên ngay, cho đến lúc xem lại ta mới chợt nhớ là mình đã đọc rồi Nhưng cũng có những tác phẩm như dòng sông chảy qua tâm hồn ta để lại những ấn tượng chạm khắc trong tâm khảm Bài thơ “Qua Đèo Ngang” của Bà Huyện Thanh Quan là một tác phẩm như thế.
2 - Cung cấp hệ thống bài tập để rèn luyện kỹ năng viết đoạn mở bài trong bài văn biểu cảm
Như chúng ta đã trình bày ở trên, khi phải viết bài văn biểu cảm (đặc biệt là bài văn biểu cảm về tác phẩm văn học), học sinh lớp 7 (đối tượng trung bình - yếu) cảm thấy rất lúng túng không biết làm thế nào để viết phần mở bài cho đúng và hay Chính vì vậy mà tôi đã cố gắng tìm hiểu và đưa ra một số dạng bài tập nhằm giúp học sinh rèn kĩ năng viết phần mở bài trong bài văn biểu cảm Từ đó, học sinh có thể dễ dàng hơn khi viết một văn bản biểu cảm
* Cách thực hiện:
Trên thực tế sách giáo khoa Ngữ văn mới không có tiết rèn luyện kĩ năng xây dựng đoạn văn theo chức năng Chính vì vậy trong các tiết học lý thuyết tôi đã cố gắng xen lồng từng dạng bài tập dựng đoạn mở bài Mặt khác trong những tiết trả bài tôi cũng tranh thủ đưa thêm các bài tập chữa lỗi mà học sinh hay mắc phải để các em rút kinh nghiệm : chữa lỗi dùng từ, đặt câu
Từ đó hướng các em đến cách mở bài vừa đúng, vừa gây được ấn tượng với người đọc
Bên cạnh đó chúng ta cũng thấy rằng số lượng tác phẩm thơ, tác phẩm truyện mà học sinh được học trong chương trình lớp 7 là khá nhiều (so với các lớp trước) nên sau khi học xong một tác phẩm tôi cũng cố gắng hướng dẫn học sinh rèn luyện cách giới thiệu về tác phẩm mình vừa học Giới thiệu
về tác giả, về hoàn cảnh sáng tác về nội dung để từ đó các em có điều kiện rèn luyện thêm kỹ năng khi viết phần mở bài cho bài văn biểu cảm về tác phẩm ấy
Cùng với các việc làm trên, tôi còn giao bài tập về nhà cho tổ nhóm Sau đó sẽ thu chấm và rút kinh nghiệm với từng đối tượng học sinh Với đối tượng học sinh trung bình - yếu chúng tôi chú trọng hơn Không đòi hỏi nhiều
về khả năng diễn đạt hay mà chú ý hơn đến cách viết đúng, mạch lạc, rõ ràng
Trang 10Cố gắng chấm và phát hiện những điểm sáng tạo của các em để có sự động viên kịp thời và phù hợp
Bên cạnh đó, tôi còn giao cho cho học sinh luyện tập viết phần mở bài
ở nhà Sau đó chia nhóm, các em sẽ trao đổi bài viết cho nhau và nhận xét bài viết của bạn và rút kinh nghiệm cho bản thân mình
* Các dạng bài tập:
Dạng 1: Bài tập nhận diện đoạn văn mở bài:
Để giải quyết dạng bài tập này chúng tôi chuẩn bị phiếu học tập và phát cho học sinh Về phía học sinh, các em cần phải nắm chắc vai trò và cấu tạo của đoạn văn mở bài Khi nhận được phiếu học tập, các em có thể giải quyết nhanh bài tập nhận diện đoạn văn mở bài
Bài tập: Đọc đoạn văn sau đây và xác định đoạn văn nào có chức năng
mở bài ? Vì sao ?
Đoạn 1: Suốt bảy năm học qua, em đã được học rất nhiều thầy, cô
giáo Nhưng có lẽ, người thầy mà em kính trọng và yêu quý nhất là thầy Sang – thầy dạy Toán của em.
Đoạn 2: Có ai đó đã từng nói rằng : kỉ niệm như những phím đàn Có
cung trầm, có cung bổng Kỉ niệm cũng có vui có buồn Có kỉ niệm ta muốn quên đi nhưng cũng có những kỉ niệm ta nâng niu, trân trọng Với tôi, những điều đẹp đẽ nhất mà tôi không thể quên là kỉ niệm với một cô giáo dạy Văn.
Đó là cô giáo Phạm Thị Chiên Có lẽ đó là những thanh âm trong trẻo nhất vang lên trong tâm hồn một cô bé tuổi mười ba như tôi.
Đoạn 3 : Lúc đó, chúng em chỉ hiểu rất giản dị rằng: thầy cũng như
cha mẹ chúng em! Nếu cha mẹ là người vất vả một nắng hai sương để nuôi nấng chúng em thì thầy là người cho chúng em kiến thức, biết cách làm người Có lẽ không phải ngẫu nhiên mà người ta gọi thầy cô là "những người lái đò" Mỗi ngày qua đi, người lái đò chở bao khách cập sang bến bờ mong đợi Mỗi ngày qua đi, thầy cũng chèo lái con thuyền với bao cô cậu học trò đến bến bờ tri thức Không có người lái đò, khách không thể qua sông Không
có thầy, chúng em không thể thành người Nhưng mấy ai đi qua rồi còn ngoái đầu nhìn lại Để bụi phấn cứ vô tình nhuộm bạc lên tóc thầy cô ?
* Yêu cầu học sinh căn cứ vào cấu tạo của đoạn văn mở bài để thấy được :
- Đoạn 1 là cách mở bài trực tiếp:
Câu 1: Giới thiệu chung
Câu 2: Giới thiệu đối tượng biểu cảm và nêu khái quát tình cảm của học sinh
- Đoạn 2 là phần mở bài theo cách gián tiếp :
Câu 1, 2, 3, 4 : dẫn dắt vấn đề
Câu 6 : giới thiệu đối tượng biểu cảm
Câu 5, 7 : khái quát cảm xúc, tình cảm
- Đoạn 3 : không phải là đoạn văn mở bài Đây là một đoạn văn trong phần thân bài nói về công lao của thầy cô đối với học sinh
Dạng 2: Bài tập chữa lỗi để hoàn chỉnh đoạn mở bài
Trong suốt 5 năm giảng dạy ở trường THCS, tôi nhận thấy, trong quá trình viết phần mở bài học sinh hay mắc phải những lỗi sau :