Đồng thời trên cơ sở gắn bó với nghề và bắt nguồn từ những băn khoăn trăn trở trong quá trình dạy học môn Ngữ văn ở trườngTHCS là làm thế nào để có được một giờ học tốt, làm sao để h
Trang 1UBND TỈNH HẢI DƯƠNG
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Trang 2THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1 Tên sáng kiến: Hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong dạy học mônNgữ văn lớp 6
2 Bộ môn áp dụng sáng kiến: Môn Ngữ văn
3 Tác giả:
Họ và tên: Nguyễn Thị Lan Anh Nữ
Ngày tháng/năm sinh: 06/10/1987
Trình độ chuyên môn: Cử nhân Cao đẳng Sư phạm Ngữ văn – Giáo dụccông dân
Chức vụ, đơn vị công tác: giáo viên, Trường THCS Nam Hưng
Điện thoại: 0974075015
4 Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến:
Trường THCS Nam Hưng
Địa chỉ: Nam Hưng – Nam Sách – Hải Dương
SĐT: 0220 3539979
5 Đơn vị áp dụng sáng kiến lần đầu:
Trường THCS Nam Hưng
Địa chỉ: Nam Hưng – Nam Sách – Hải Dương
SĐT: 0220 3539979
6 Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến:
- Giáo viên có khả năng tổ chức hoạt động, cầu tiến, ham học hỏi
- Được đầu tư trang thiết bị, kinh phí, nhân lực
- Học sinh học tập tích cực, chủ động
- Các lớp học sinh khối 6 có chất lượng tương đương
7 Thời gian áp dụng sáng kiến lần đầu: năm học 2016 - 2017
Trang 3TÁC GIẢ
Nguyễn Thị Lan Anh
XÁC NHẬN CỦA ĐƠN VỊ ÁP DỤNG SÁNG KIẾN
XÁC NHẬN CỦA PHÒNG GD&ĐT
(đối với trường mầm non, tiểu học, THCS)
Trang 4TÓM TẮT SÁNG KIẾN
1 Hoàn cảnh nảy sinh sáng kiến
Trong trường phổ thông, Ngữ văn là một môn học có đặc thù riêng, vừamang tính khoa học, vừa mang tính nghệ thuật Trước đây, giáo viên chủ yếuthuyết giảng, học sinh chăm chú lắng nghe, ghi chép Giờ đây, người giáoviên phải là người biết thiết kế, tổ chức các hoạt động để học sinh có thể tựchiếm lĩnh được kiến thức qua đó hình thành cho học sinh những năng lực cầnthiết
Qua nghiên cứu thực tiễn ở trường THCS hiện nay, đổi mới phươngpháp dạy học theo hướng phát triển năng lực người học thông qua hoạt độngtrải nghiệm sáng tạo là một trong những nội dung rất cơ bản và quan trọnggóp phần nâng cao hiệu quả dạy học Việc đưa hoạt động trải nghiệm sáng tạovào dạy học góp phần khắc phục những tồn tại của phương pháp dạy học hiệnnay, nhằm đáp ứng yêu cầu cấp thiết của đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục
Việc tổ chức học tập thông qua hoạt động trải nghiệm là một trongnhững giải pháp sẽ đem lại hiệu quả cao Hoạt động trải nghiệm chắc chắn sẽlàm cho bài học trở nên sinh động, hấp dẫn hơn tạo niềm say mê tìm tòi, tưduy sáng tạo, từ đó phát triển năng lực học tập và kỹ năng vận dụng kiến thứcvào thực tiễn của mình
Với những ý nghĩa và lý do trên tôi quyết định chọn đề tài: Hoạt động
trải nghiệm sáng tạo trong dạy học môn Ngữ văn lớp 6.
2 Điều kiện, thời gian, đối tượng áp dụng sáng kiến
- Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến:
+ Giáo viên có khả năng tổ chức các hoạt động giáo dục, cầu tiến, hamhọc hỏi
+ Được nhà trường, các lực lượng giáo dục ủng hộ, đầu tư kinh phí,nhân lực
+ Học sinh học tập tích cực, chủ động
- Thời gian áp dụng sáng kiến lần đầu: năm học 2016 - 2017
- Đối tượng áp dụng: học sinh lớp 6 trường THCS Nam Hưng
Trang 53 Nội dung sáng kiến
Sáng kiến có hai điểm mới, sáng tạo nổi bật sau:
- Thứ nhất, sáng kiến tập trung nghiên cứu hoạt động dạy học mới, tíchcực góp phần phát triển định hướng năng lực của học sinh Đồng thời giúpcác em có thể có những trải nghiệm, hoạt động thú vị khi học tập Từ đó, các
em có những phát hiện, suy nghĩ, ý tưởng sáng tạo
- Thứ hai, sáng kiến đưa ra những phương pháp, hình thức, yêu cầu,cách thực hiện dạy học trải nghiệm sáng tạo Đây là kim chỉ nam hướng dẫn
cụ thể và chi tiết cho việc tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo trongdạy học Ngữ văn nói riêng và dạy học nói chung
Sáng kiến có khả năng áp dụng có thể áp dụng rộng rãi trong cáctrường THCS và đạt hiệu quả giáo dục cao
4 Giá trị, kết quả đạt được của sáng kiến
Áp dụng sáng kiến này, tôi nhận thấy có hiệu quả giáo dục rất lớn Các
em đều hào hứng, thích thú trong mỗi giờ học Các em nhận thấy đây không
còn là một môn học đào tạo các nhà văn, nhà phê bình văn học mà là môn
học đào tạo những con người chân chính, dạy kiến thức và dạy cách làmngười
5 Đề xuất kiến nghị
Trong sáng kiến này, tôi có một số đề xuất và kiến nghị với nhà trường
và các cấp lãnh đạo về việc quan tâm đầu tư về cơ sở vật chất, tài liệu thamkhảo cũng như tổ chức các cuộc hội thảo chuyên môn, các cuộc thi… Hivọng, sáng kiến này sẽ góp phần nâng cao chất lượng môn Ngữ văn nói riêng
và chất lượng giáo dục nói chung
Trang 6MÔ TẢ SÁNG KIẾN
1 Hoàn cảnh nảy sinh sáng kiến
Trong trường phổ thông, Ngữ văn là một môn học có đặc thù riêng, vừamang tính khoa học, vừa mang tính nghệ thuật Trước đây, giáo viên chủ yếuthuyết giảng, học sinh chăm chú lắng nghe, ghi chép Giờ đây, người giáoviên phải là người biết thiết kế, tổ chức các hoạt động để học sinh có thể tựchiếm lĩnh được kiến thức Qua đó hình thành cho học sinh những năng lựccần thiết: năng lực thu thập thông tin liên quan đến văn bản; năng lực giảiquyết các tình huống đặt ra trong các văn bản; năng lực đọc - hiểu văn bảntheo đặc trưng thể loại; năng lực trình bày suy nghĩ, cảm nhận của cá nhân về
ý nghĩa văn bản; năng lực hợp tác thảo luận về một vấn đề trong tác phẩm;năng lực giao tiếp bằng tiếng Việt…
Nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy bộ môn Ngữ văn, gần đây trêncác diễn đàn nghiên cứu, các hội nghị, hội thảo, người ta đã bàn nhiều đếnvấn đề đổi mới phương pháp dạy học Qua nghiên cứu thực tiễn ở trườngTHCS hiện nay, đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát triển năng lựcngười học thông qua hoạt động trải nghiệm sáng tạo là một trong những nộidung rất cơ bản và quan trọng góp phần nâng cao hiệu quả dạy học Việc đưahoạt động trải nghiệm sáng tạo vào dạy học góp phần khắc phục những tồn tạicủa phương pháp dạy học hiện nay, nhằm đáp ứng yêu cầu cấp thiết của đổimới căn bản, toàn diện giáo dục
Xuất phát từ chủ trương đổi mới toàn diện giáo dục, trong đó đổi mớiphương pháp giáo dục là một trong những khâu quan trọng để nâng cao chấtlượng giáo dục hiện nay Đồng thời trên cơ sở gắn bó với nghề và bắt nguồn
từ những băn khoăn trăn trở trong quá trình dạy học môn Ngữ văn ở trườngTHCS là làm thế nào để có được một giờ học tốt, làm sao để học sinh có thểphát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo, vận dụng kiến thức, kỹ năngcủa người học vào trong học tập và ứng dụng vào thực tế cuộc sống, đồngthời phát huy được năng lực vốn có của học sinh
Trang 7Với những ý nghĩa và lý do trên tôi quyết định chọn đề tài: Hoạt động
trải nghiệm sáng tạo trong dạy học môn Ngữ văn lớp 6.
2 Cơ sở lý luận
Hoạt động trải nghiệm sáng tạo (HĐTNST) được biết đến với tư cách
là một quan điểm giáo dục do David Kolb (1939) đề xuất Năm 1970, ôngcùng Ron Fry phát triển lý thuyết trải nghiệm và năm 1984 ông xuất bản môhình học tập, gây được sự chú ý cũng như tạo thêm nhiều cảm hứng cho nhiềunhà nghiên cứu Trong thực tế, tư tưởng này đã được khơi nguồn trong cácnghiên cứu về mô hình học tập của Jonh Deway, Kurt Lewin, Jean Piaget, LevVygotsky, William James… và ông đã chịu ảnh hưởng chủ yếu từ JonhDeway, Kurt Lewin, Jean Piaget
Tại Việt Nam, HĐTNST được quan niệm: “là hoạt động có động cơ, cóđối tượng để chiếm lĩnh, được tổ chức bằng các việc làm cụ thể của học sinh,được thực hiện trong thực tế, được sự định hướng, hướng dẫn của nhà trường.Đối tượng để trải nghiệm nằm trong thực tiễn Qua trải nghiệm thực tiễn,người học có được kiến thức, kỹ năng, tình cảm và ý chí nhất định Sự sángtạo sẽ có được khi phải giải quyết các nhiệm vụ thực tiễn phải vận dụng kiếnthức, kỹ năng đã có để giả quyết vấn đề, ứng dụng trong tình huống mới,không theo chuẩn đã có…”
3 Thực trạng của vấn đề
Dạy văn trong nhà trường phổ thông đang là một thử thách lớn với giáoviên hiện nay Dạy như thế nào cho hay, hiệu quả cao, tạo sự hứng thú, say mêcho HS quả thực là cả một vấn đề lớn Việc HS không thích thú với môn Ngữ văn cũng có nhiều lí do, tuy nhiên có một nguyên nhân khá quan trọng đó là: Thầy cô giáo chưa thực sự tạo ra sự cuốn hút HS bằng bài giảng của mình Thầy cô chưa thực sự có nhưng bước ngoặt đột phá trong việc đổi mới
phương pháp, vẫn nặng về phương pháp truyền thống thế nên việc dạy và học chưa thực sự hiệu quả
Với vai trò tổ chức, hướng dẫn và điều khiển quá trình học tập của HS,hơn ai hết việc phải tìm ra nhiều biện pháp để phát huy cao nhất tính tích cực
Trang 8sáng tạo của người học, tạo niềm hứng thú say mê học tập ở các em chính lànhiệm vụ quan trọng đối với mỗi người giáo viên đứng lớp Xuất phát từ những vấn đề trên, với mong muốn góp một phần vào việc tạo thêmhứng thú cho người học, giúp học sinh tích cực, chủ động tiếp nhận tri thức vàhình thành kĩ năng, phát triển nhân cách, đồng thời nhằm góp phần đổi mớinhững phương pháp dạy học Ngữ văn truyền thống tôi mạnh dạn xin đượctrao đổi một số kinh nghiệm của bản thân trong quá trình giảng dạy bộ mônNgữ văn ở trường THCS Cụ thể là hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong dạyhọc Ngữ văn lớp 6 ở trường THCS.
4 Hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong dạy học môn Ngữ văn lớp 6 4.1 Khái niệm
4.1.1 Trải nghiệm sáng tạo
Theo Từ điển Tiếng Việt: “Trải nghiệm là trải qua, kinh qua” [3; 1020].
Quan niệm này có phần đồng nhất với quan điểm triết học khi xem trảinghiệm chính là kết quả của sự tương tác giữa con người với thế giới kháchquan Sự tương tác này bao gồm cả hình thức và kết quả của các hoạt độngthực tiễn trong xã hội, bao gồm cả kĩ thuật và kĩ năng, các nguyên tắc hoạtđộng và phát triển thế giới khách quan
Dưới góc nhìn sư phạm, trải nghiệm được hiểu chính là sự thực hànhtrong quá trình đào tạo và giáo dục; là một trong những phương pháp đào tạonhằm giúp người học không những có được năng lực thực hiện mà còn cónhững trải nghiệm về cảm xúc, ý chí và nhiều trạng thái tâm lí khác Nói nhưvậy, học qua trải nghiệm sẽ gắn liền với kinh nghiệm và cảm xúc cá nhân
Theo Từ điển Tiếng Việt: “Sáng tạo là tạo ra những giá trị mới về vật chất hoặc tinh thần; Tìm ra cái mới, cách giải quyết mới, không bị gò bó, phụ thuộc vào cái đã có” [3; 847].Như vậy trải nghiệm sáng tạo chính là một hoạt
động trong đó con người thể hiện sự tương tác của chính bản thân với thựctiễn khách quan, qua đó phát triển năng lực thực tiễn, phẩm chất nhân cách vàphát huy tiềm năng sáng tạo của cá nhân con người
4.1.2 Tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo
Trang 9Tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo là cách thức tổ chức hoạt độnggiáo dục, trong đó dưới sự hướng dẫn và tổ chức của nhà giáo dục, từng cánhân học sinh được trực tiếp tham gia vào các hoạt động thực tiễn khác nhaucủa đời sống gia đình, nhà trường cũng như ngoài xã hội với tư cách là chủthể của hoạt động, qua đó phát triển năng lực thực tiễn, phẩm chất và phát huytiềm năng sáng tạo của học sinh
4.2 Các hình thức tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong dạy học môn Ngữ văn lớp 6
4.2.1 Hoạt động câu lạc bộ (CLB)
Tổ chức dưới hình thức các câu lạc bộ văn học như: Câu lạc bộ Văn học dân gian, Tiếng Việt em yêu,… Đây là hình thức sinh hoạt ngoại khóa vănhọc của học sinh dưới sự định hướng của giáo viên Với hoạt động này học sinh có cơ hội được chia sẻ những kiến thức, những hiểu biết của mình về các lĩnh vực chuyên sâu Học sinh được thực hành các quyền trẻ em của mình nhưquyền được học tập, quyền được vui chơi giải trí và tham gia các hoạt động văn hóa, văn nghệ, quyền được tự do biểu đạt, được tìm kiếm và tiếp nhận, xử
lí những thông tin… Qua đó rèn luyện, bồi dưỡng và phát triển cho học sinh các năng lực như năng lực giao tiếp, năng lực hợp tác, năng lực làm việc nhóm, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực Ngữ văn… Thông qua hoạt động câu lạc bộ, giáo viên nói riêng, các nhà giáo dục nói chung hiểu và quan tâm hơn đến những nhu cầu, nguyện vọng, những mục đích chính đáng của học sinh
4.2.2 Tổ chức trò chơi
Tổ chức dưới hình thức là các sân chơi, trò chơi văn học Trò chơi là một hoạt động vừa có tính chất giải trí, thư giãn nhưng cũng đồng thời là một
hoạt động giáo dục “học mà chơi, chơi mà học” Đây chính là món ăn tinh
thần mang lại nhiều bổ ích và không thể thiếu được trong cuộc sống của mỗi con người nói chung, học sinh nói riêng Trò chơi giúp học sinh phát huy tínhsáng tạo, tính tích cực, chủ động và gây hứng thú cho học sinh; giúp học sinh tiếp nhận kiến thức, rèn luyện kĩ năng, phát triển năng lực một cách nhanh
Trang 10nhất Và hơn thế còn trang bị cho các em có những tác phong nhanh nhẹn, tạođược bầu không khí thân thiện, môi trường giao lưu cởi mở, tích cực giữa các học sinh với nhau, giữa học sinh với các thầy cô giáo Một số hình thức trò chơi giáo viên có thể tổ chức cho học sinh như: hái hoa dân chủ, không gian văn học, rung chuông vàng, đố thơ,
4.2.3 Tổ chức diễn đàn
Giáo viên bộ môn Ngữ văn cũng có thể phối hợp với nhà trường, các cơquan báo đài, Hội văn học nghệ thuật ở địa phương… tổ chức các diễn đànvăn học nghệ thuật như: các buổi Tọa đàm, nói chuyện với các nhà văn, nhàthơ trong chương trình Ngữ văn ở nhà trường phổ thông; các diễn đàn tươngtác như: Em tập làm thơ, viết văn, Em là nhà văn; Thi sáng tác theo các chủ
đề gắn với những ngày lễ hội… Có thể xem đây chính là một trong nhữnghình thức tổ chức mang lại hiệu quả giáo dục thiết thực từ môn Ngữ văn.Thông qua các diễn đàn, học sinh có cơ hội bày tỏ những suy nghĩ, ý kiến,quan niệm hay những câu hỏi, đề xuất của mình về một vấn đề nảy sinh trongvăn học, qua văn học Và đây cũng là một dịp để các em biết lắng nghe ýkiến, học tập lẫn nhau và biết tự trang bị cho mình những tri thức, những nănglực Ngữ văn
4.2.4 Sân khấu tương tác
Sân khấu hóa tác phẩm văn học là một hình thức nghệ thuật tương tácdựa trên hoạt động diễn kịch, trong đó vở kịch chỉ có phần mở đầu đưa ra tìnhhuống, phần còn lại được sáng tạo bởi những người tham gia Phần trình diễnchính là một cuộc chia sẻ, thảo luận giữa những người thực hiện và khán giả,trong đó đề cao sự tương tác, sự tham gia của khán giả Thông qua hình thứcnày tăng cường sự nhận thức, thúc đẩy học sinh để học sinh đưa ra nhữngquan điểm, suy nghĩ và những cách xử lí tình huống, khả năng ứng phó vớinhững thay đổi của cuộc sống… Qua hình thức này, học sinh cũng nhận thứcđược sự khác nhau, khoảng cách từ văn bản văn chương đến nghệ thuật sân
khấu Có thể chuyển thể sang kịch bản văn học một số văn bản như: Sơn
Trang 11Tinh, Thủy Tinh, Ếch ngồi đáy giếng, Bài học đường đời đầu tiên, Thầy bói xem voi
4.4.5 Tham quan, dã ngoại
Giáo viên tổ chức cho học sinh những buổi tham quan dã ngoại nhằm khích lệ, thu hút đông đảo học sinh tham gia Đây được xem là một hình thức học tập thực tế hấp dẫn đối với học sinh Mục đích của các chuyến đi là để các em được đi thăm, tìm hiểu và học hỏi kiến thức, tiếp xúc với các di tích lịch sử, văn hóa đã được in dấu trong văn học; giúp các em có được những kinh nghiệm thực tế, sự trải nghiệm và từ đó có thể áp dụng vào cuộc sống của chính các em Các lĩnh vực tham quan dã ngoại thường được tổ chức ở nhà trường phổ thông là: thăm quan các Viện bảo tàng như: Bảo tàng văn học,Bảo tàng Hồ Chí Minh, Bảo tàng dân tộc…; các Khu di tích lịch sử - văn hóa như: Khu di tích Nguyễn Du, Côn Sơn Kiếp Bạc, Khu Di tích Hồ Chí Minh, Thành Cổ Quảng Trị, Ngã ba Đồng Lộc…; dã ngoại theo các chủ đề học tập Thậm chí, đối với học sinh lớp 6, khi học về văn miêu tả, giáo viên chỉ cần cho các em ra bờ đê, bãi sông, cánh đồng để quan sát, tìm hiểu cảnh vật trước khi xây dựng ý và viết bài cũng tạo được hiệu quả giáo dục cao
4.2.6 Hội thi / cuộc thi
Một trong những hình thức tổ chức hoạt động hấp dẫn, lôi cuốn học sinh tham gia và đạt hiệu quả cao trong việc học tập, giáo dục và rèn luyện Ngữ văn đó là tổ chức các cuộc thi, hội thi Hội thi mang tính chất thi đua giữa các cá nhân, nhóm và tập thể mong muốn vươn lên để đạt được mục tiêu đặt ra Cuộc thi là cơ hội tranh tài, đọ sức đáp ứng nhu cầu của học sinh, thu hút tài năng và sự sáng tạo không ngừng của học sinh; phát triển khả năng hoạt động tích cực, chủ động và sự tương tác của học sinh; góp phần bồi dưỡng cho các em động cơ học tập tích cực, kích thích hứng thú trong quá trình nhận thức Hội thi, cuộc thi có thể thực hiện một cách linh hoạt, phong phú hấp dẫn như: thi sáng tác văn, thi vẽ tranh qua thơ, thi tìm hiểu về văn học, thi đố vui, thi giải ô chữ, thi tiểu phẩm, thi kể chuyện, đọc thơ…
Trang 12Ví dụ: giáo viên có thể tổ chức cuộc thi kể chuyện Ếch ngồi đáy giếng
bằng thơ giữa các nhóm sau khi học xong văn bản này
4.3 Phương pháp tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo
4.3.1 Phương pháp giải quyết vấn đề (GQVĐ)
GQVĐ là một phương pháp giáo dục nhằm phát triển năng lực tư duy,sáng tạo, GQVĐ của học sinh Các em được đặt trong tình huống có vấn đề,thông qua việc GQVĐ giúp học sinh lĩnh hội tri thức, kĩ năng và phươngpháp
Trong tổ chức HĐ TNST, phương pháp GQVĐ thường được vận dụngkhi học sinh phân tích, xem xét và đề xuất những giải pháp trước một hiệntượng, sự việc nảy sinh trong quá trình hoạt động
Phương pháp GQVĐ có ý nghĩa quan trọng, phát huy tính tích cực,sáng tạo của HS, giúp các em có cách nhìn toàn diện hơn trước các hiệntượng, sự việc nảy sinh trong hoạt động, cuộc sống hàng ngày Đối với tập thểlớp, khi GQVĐ giáo viên phải coi trọng nguyên tắc tôn trọng, bình đẳng,tránh gây ra căng thẳng không có lợi khi giáo dục HS
Ví dụ: Khi giảng dạy văn bản Ếch ngồi đáy giếng ở lớp 6, giáo viên có
thể đặt ra vấn đề: Truyện kết thúc bằng cái chết thảm thương của chú ếchhuênh hoang, kiêu ngạo Vậy theo em, Ếch đáng thương hay đáng trách? Emhãy viết lại kết truyện theo cách của riêng em
Với cách đặt vấn đề trên, học sinh tỏ ra rất hứng thú Các em còn tựsáng tạo ra những cái kết tuyệt vời thể hiện khả năng, nhận thức và cả tấmlòng nhân đạo của mình
4.3.2 Phương pháp sắm vai
Sắm vai là phương pháp giáo dục giúp HS thực hành cách ứng xử, bày
tỏ thái độ trong những tình huống giả định hoặc trên cơ sở óc tưởng tượng và
ý nghĩ sáng tạo của các em Đây là phương pháp giúp HS suy nghĩ sâu sắc vềmột vấn đề bằng cách tập trung vào cách ứng xử cụ thể mà các em quan sátđược Việc “diễn” không phải là phần quan trọng nhất của phương pháp này
mà là xử lí tình huống khi diễn và thảo luận sau phần diễn đó
Trang 13Sắm vai có ý nghĩa rất lớn trong việc hình thành và phát triển các KN
giao tiếp cho HS Thông qua sắm vai, HS được rèn luyện, thực hành những
KN ứng xử và bày tỏ thái độ trong môi trường an toàn trước khi thực hànhtrong thực tiễn, tạo điều kiện phát triển óc sáng tạo của các em, khích lệ thayđổi thái độ và hành vi theo hướng tích cực trước một vấn đề hay đối tượngnào
Phương pháp sắm vai được tiến hành theo các bước nhất định bao gồm:
– Nêu tình huống, truyện cần sắm vai (phù hợp với chủ đề hoạt động;phải là tình huống mở; phù hợp với trình độ HS)
– Cử nhóm chuẩn bị vai diễn (có thể chuẩn bị trước khi tiến hành họatđộng): yêu cầu nhóm sắm vai thể hiện tình huống sao cho sinh động, hấp dẫn,mang tính sân khấu
– Thảo luận sau khi sắm vai: khi sắm vai kết thúc, người dẫn chươngtrình đưa ra các câu hỏi có liên quan để HS thảo luận, nhận xét về các vaidiễn
– Thống nhất và chốt lại các ý kiến sau khi thảo luận
Trong chương tình Ngữ văn 6, có nhiều văn bản có thể thực hiện theo
phương pháp như: Bánh chưng, bánh giầy; Sơn Tinh, Thủy Tinh; Thánh Gióng, Sự tích Hồ Gươm, Em bé thông minh, Thầy bói xem voi, Ếch ngồi đáy giếng
Tất nhiên, trong một tiết học 45 phút không đủ thời gian để học sinhdiễn hết truyện (đối với những văn bản dài) Người giáo viên có thể chọn mộtđoạn tiêu biểu để cho học sinh diễn hoặc tổ chức một buổi hoạt động trảinghiệm sáng tạo theo chủ đề
Trang 14sáng tạo cao, thể hiện ở việc lựa chọn chủ đề chơi, phân vai tạo ra tình huống,hoàn cảnh chơi, sử dụng phương tiện thay thế trong các trò chơi sáng tạo, lựachọn các phương thức hành động và phân chia tình huống chơi để giải quyếtnhiệm vụ chơi trong những trò chơi có luật.
Trò chơi là phương tiện giáo dục và phát triển toàn diện học sinh, giúpcác em nâng cao hiểu biết về thế giới hiện thực xung quanh, kích thích tríthông minh, lòng ham hiểu biết, học cách giải quyết nhiệm vụ Ngoài ra, tròchơi là phương tiện giáo dục phẩm chất nhân cách cho học sinh Trò chơi còn
là phương tiện giáo dục thể lực cho HS, giáo dục thẩm mỹ, hình thành các kĩnăng giao tiếp, kĩ năng xã hội,…
Trò chơi là một phương thức giải trí tích cực, hiệu quả, mang lại niềmvui, sự hứng khởi, hồn nhiên, yêu đời cho học sinh, để các em tiếp tục họctập và rèn luyện tốt hơn
Về mặt tâm lý học, trong quá trình diễn ra trò chơi tất cả các thành viên
của nhóm đều tham gia hết mình và từ đó các em sẽ được trải nghiệm, bởi vì
mỗi cá nhân cũng như cả nhóm đang sống trong một tình huống khác vớinhững gì các em đã sống trong cuộc sống thực
Việc tổ chức trò chơi được GV tiến hành theo các bước sau:
Bước 1: Chuẩn bị trò chơi
– Xác định đối tượng và mục đích của trò chơi: thông thường, trò chơinào cũng có tính giáo dục, phụ thuộc vào các góc độ tiếp cận khác nhau đốivới loại, dạng trò chơi và người sử dụng, tổ chức trò chơi Vì thế xác định đốitượng và mục đích trò chơi phù hợp là công việc cần thiết khi tổ chức tròchơi
– Cử người hướng dẫn chơi (giáo viên)
– Thông báo kế hoạch, thời gian, nội dung trò chơi đến học sinh
– Phân công nhiệm vụ cho các lớp, tổ nhóm, đội chơi để chuẩn bị điềukiện phương tiện (lực lượng; phục trang như quần áo, khăn, cờ; còi; phầnthưởng) cho cuộc chơi
Bước 2: Tiến hành trò chơi
Trang 15– Ổn định tổ chức, bố trí đội hình
– Giáo viên xác định vị trí cố định hoặc di động sao cho mọi khẩu lệnhcác em đều nghe thấy, các động tác học sinh quan sát, thực hiện được, ngượclại bản thân giáo viên phải phát hiện được đúng, sai khi các em chơi
– Giáo viên giới thiệu trò chơi phải ngắn gọn, hấp dẫn, dễ hiểu, dễ tiếpthu, dễ thực hiện
– Dùng khẩu lệnh bằng lời, còi, kẻng, chuông, trống để điều khiển
ở những trò chơi tiếp theo
– Động viên, khích lệ ý thức, tinh thần cố gắng của các em, tuyêndương, khen ngợi hay khen thưởng bằng vật chất, tạo không khí vui vẻ, phấnkhởi và để lại những ấn tượng tốt đẹp trong tập thể HS về cuộc chơi
– Dặn dò các em những điều cần thiết (thu dọn phương tiện, vệ sinh nơichơi,…)
Ví dụ: Khi dạy bài Số từ, lượng từ, giáo viên có thể cho học sinh chơi trò chơi Số từ ở đâu? bằng cách cho chọn những bức tranh bất kì, ẩn sau
những bức tranh là những bài hát có số từ, nghe xong, học sinh phải tìm đượcnhững số từ có trong bài hát đó
Trang 16Khi tiến hành làm việc theo nhóm trong hoạt động trải nghiệm sángtạo, giáo viên cần tiến hành theo các bước sau:
1 Chuẩn bị cho hoạt động:
Giáo viên hướng dẫn học sinh trao đổi, đề xuất vấn đề, xác định mụctiêu, nhiệm vụ, cách thực hiện và lập kế hoạch; tự lựa chọn nhóm theo từngnội dung; phân công nhóm trưởng và các vai trò khác cho từng thành viên;
– Hướng dẫn từng nhóm phân công công việc hợp lí, có liên quan, phụthuộc nhau;
– Chú trọng học sinh vào một số kĩ năng làm việc nhóm cần thiết chohoạt động (chọn 2 – 3 kĩ năng để nhấn mạnh): giải thích sự cần thiết; làm rõkhái niệm và cách thể hiện; tạo ra tình huống để luyện tập; tổ chức cho họcsinh tự nhận xét, đánh giá; yêu cầu học sinh thể hiện các kĩ năng đó trong hoạtđộng
2 Thực hiện:
– Giáo viên quan sát, nắm bắt thông tin ngược từ học sinh xem các
nhóm có hiểu rõ nhiệm vụ không, có thể hiện kĩ năng làm việc nhóm đúngkhông, các vai trò thể hiện như thế nào;
– Giúp đỡ những nhóm vận hành đúng hướng và duy trì mối quan hệphụ thuộc lẫn nhau một cách tích cực;
– Khuyến khích, động viên các nhóm hoặc cá nhân làm việc tốt;
– Can thiệp, điều chỉnh hoạt động của nhóm khi thấy cần thiết,…
3 Đánh giá hoạt động: Ở bước này giáo viên cần:
– Lôi cuốn học sinh nhận xét, đánh giá về kết quả hoạt động của nhóm,mức độ tham gia của từng thành viên;
– Gợi mở cho học sinh phân tích sự phối hợp hoạt động giữa các thànhviên trong nhóm, thể hiện các kĩ năng làm việc nhóm;
– Điều chỉnh, bổ sung trên cơ sở đánh giá đúng sự cố gắng của từngnhóm, chú trọng phân tích những kĩ năng làm việc nhóm
mà học sinh đã thể hiện;
Trang 17– Đưa ra kết luận gồm kết quả hoạt động và mức độ thể hiện cácKNLVN (cái gì đã làm tốt, cần rèn luyện thêm và rèn luyện như thế nào).
Ví dụ: Khi dạy bài Thánh Gióng, giáo viên có thể cho học sinh thảo luận câu hỏi: Tại sao Thánh Gióng không ở lại mà bay về trời?
Giáo viên nêu yêu cầu thảo luận, chia nhóm, yêu cầu cử nhóm trưởng,thư kí Kết thúc hoạt động thảo luận, giáo viên yêu cầu các nhóm trưởng báocáo kết quả thảo luận, học sinh nhận xét lẫn nhau và giáo viên chốt lại
4.4 Các bước tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo
Trình tự này sẽ thực hiện đối với những buổi tổ chức hoạt động trảinghiệm sáng tạo theo chủ đề hoặc tham quan, dã ngoại
Bước 1: Xác định nhu cầu tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo
Căn cứ nhiệm vụ, mục tiêu và chương trình giáo dục hiện hành củamôn Ngữ văn, giáo viên (GV) cần tiến hành khảo sát nhu cầu, điều kiện tiếnhành HĐTNST Từ kết quả khảo sát, GV có giải pháp khắc phục và xử lí đểHĐTNST đạt kết quả
GV cũng cần hiểu rõ đặc điểm học sinh tham gia nhằm thiết kế hoạtđộng phù hợp đặc điểm lứa tuổi và có các biện pháp phòng ngừa những sự cố
có thể xảy ra
Bước 2: Đặt tên cho hoạt động
Việc đặt tên cho hoạt động cần phải đảm bảo các yêu cầu sau: rõ ràng,chính xác; phản ánh được chủ đề và nội dung của hoạt động; tạo được ấntượng ban đầu cho học sinh;
Bước 3: Xác định mục tiêu của hoạt động TNST
Giáo viên cần xác định được mục tiêu của các hoạt động, thực chất là
dự kiến trước kết quả của hoạt động Các mục tiêu hoạt động cần phải đượcxác định rõ ràng, cụ thể và phù hợp; phản ánh được các mực độ cao thấp củayêu cầu cần đạt về tri thức, kĩ năng, thái độ và định hướng giá trị
Bước 4: Xác định nội dung và phương pháp, phương tiện, hình thức của hoạt động
Trang 18Mục tiêu có thể đạt được hay không phụ thuộc vào việc xác định đầy
đủ và hợp lý những nội dung và hình thức của hoạt động GV cần liệt kê đầy
đủ các nội dung hoạt động phải thực hiện Cụ thể, với đề tài Sân khấu hóa văn học dân gian, các nội dung trải nghiệm gồm: xem phim về các truyền
thuyết thời Hùng Vương; trò chơi Tập làm nghệ sĩ; trò chơi Hệ thống hóa kiếnthức trả lời câu hỏi; trò chơi vẽ tranh; sáng tác và cảm nhận Từ nội dung trêncủa HĐTNST, giáo viên có thể chọn hình thức TNST diễn đàn thảo luận kếthợp với trò chơi
Bước 5: Lập kế hoạch
Muốn biến các mục tiêu thành hiện thực thì giáo viên phải lập kếhoạch, trình tổ chuyên môn và nhà trường phê duyệt Lập kế hoạch để thựchiện hệ thống mục tiêu tức là tìm các nguồn lực (nhân lực - vật lực - tài liệu)
và thời gian, không gian, cần cho việc hoàn thành các mục tiêu
Chi phí về tất cả các mặt phải được xác định Hơn nữa phải tìm raphương án chi phí ít nhất cho việc thực hiện mỗi một mục tiêu Vì đạt đượcmục tiêu với chi phí ít nhất là để đạt được hiệu quả cao nhất trong công việc
Đó là điều mà bất kì người quản lý nào cũng mong muốn và cố gắng đạtđược Tính cân đối của kế hoạch đòi hỏi giáo viên phải tìm ra đủ các nguồnlực và điều kiện để thực hiện mỗi mục tiêu
Bước 6: Thiết kế chi tiết hoạt động
Trong bước này, cần phải xác định: Có bao nhiêu việc cần phải thựchiện? Các việc đó là gì? Nội dung của mỗi việc đó ra sao? Tiến trình và thờigian thực hiện các việc đó như thế nào? Các công việc cụ thể cho các tổ,nhóm, các cá nhân Yêu cầu cần đạt được của mỗi việc
Bước 7: Kiểm tra, điều chỉnh và hoàn thiện chương trình hoạt động
Rà soát, kiểm tra lại nội dung và trình tự của các việc, thời gian thựchiện cho từng việc, xem xét tính hợp lý, khả năng thực hiện và kết quả cần đạtđược
Trang 19Cuối cùng, hoàn thiện bản thiết kế chương trình hoạt động và cụ thểhóa chương trình đó bằng văn bản Đó là giáo án tổ chức hoạt động.
Bước 8: Lưu trữ kết quả hoạt động vào hồ sơ của học sinh
Giáo viên có thể lưu trữ kết quả HĐTNST của học sinh bằng ghi hìnhhoạt động để đánh giá, rút kinh nghiệm Đồng thời qua đây có thể phát hiệnnhững năng lực cần phát triển thêm cho học sinh, giáo dục để hoàn thiệnnhân cách và phẩm chất chất cho học sinh Hoặc giúp học sinh tháo gỡ nhữngkhó khăn trong TNST, cũng như vận dụng học tập vào thực tiễn cuộc sống
5 Kết quả đạt được
Sáng kiến Hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong dạy học Ngữ văn lớp 6 gồm 4 nội dung chính: những phương pháp, hình thức, yêu cầu,
cách thực hiện dạy học trải nghiệm sáng tạo Đây là kim chỉ nam hướng dẫn
cụ thể và chi tiết cho việc tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo trongdạy học Ngữ văn nói riêng và dạy học nói chung
Khi thực hiện sáng kiến, người giáo viên trước tiên cần tìm hiểu kĩnhững kiến thức về hoạt động trải nghiệm, sáng tạo trong dạy học; tổ chứccác hoạt động trải nghiệm sáng tạo theo phương pháp, yêu cầu, hình thức đãnêu ra trong sáng kiến Sau đó, cần tổng kết, đánh giá và rút kinh nghiệm vềnhững hạn chế trong qua trình thực hiện
Sau khi vận dụng sáng kiến này, tôi thấy học sinh học say sưa hơn,hứng thú cảm nhận bài, đồng thời có nhiều em đưa ra những phát hiện, những
ý tưởng, những câu trả lời khá thú vị và sâu sắc Đối với các em, môn Ngữvăn không còn là một môn học giảng dạy thuần túy về văn chương mà nógiúp các em có được những kiến thức, kĩ năng cơ bản để sống và làm việc Từ
đó kết quả học tập và rèn luyện đạo đức cũng được nâng cao
Trước khi áp dụng sáng kiến, tôi tiến hành khảo sát và thu đượckết quả như sau: