1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Bài văn nghị luận xã hội TRỌNG tâm ôn THI THPT

175 308 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 175
Dung lượng 2,45 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong đoàn người nô nức lên đường đi chiến đấu, trong hàng ngũ những thanh niên trí thức ngày hôm qua có khi là những tự vệ chiến đấu trên phố phường, chiến lũy Hà Nội, mà hôm nay đã có

Trang 1

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

Tổng hợp các bài văn nghị luận văn học trọng tâm ôn thi THPT

TÂY TIẾN- QUANG DŨNG

Đề bài: Đôi nét về tác giả Quang Dũng

một người tài hoa: làm thơ, viết văn, sáng tác nhạc và có vẽ tranh Trước 1945, học

ở Hà Nội.Sau cách mạng tháng Tám, ông vào bộ đội.Sau năm 1945 làm biên tập ở

Trang 2

đội Pháp ở Thượng Lào cũng như Miền Tây Bắc bộ Việt Nam Địa bàn đóng quân

và hoạt động của quân đoàn Tây Tiến khá rộng lớn bao gồm các tỉnh Sơn La, Lai

Châu, Hòa Bình, miền tây Thanh Hóa và cả Sầm Nưa (Lào)

Chiến sĩ Tây Tiến phần lớn là thanh niên Hà Nội, chiến đấu trong một hoàn cảnh khắc nghiệt, điều kiện sinh hoạt thiếu thốn nhưng họ vẫn lạc quan, thể hiện vẻ

đẹp hào hùng và hào hoa của tuổi trẻ

Rời xa đơn vị cũ cuối năm 1948, ở Phù Lưu Chanh (Hà Đông cũ), Quang Dũng nhớ lại những kỉ niệm về đoàn quân Tây Tiến nên viết bài thơ này Bài thơ

lúc đầu có tên là Nhớ Tây Tiến, in trong tập Mây đầu ô (1986)

b Bố cục

Đoạn 1(14 câu đầu): Cuộc hành quân gian khổ giữa thiên nhiên miền Tây hùng vĩ,

dữ dội nhưng cũng đầy thơ mộng trữ tình

Đoạn 2 (Từ câu 15 đến câu 22): Những kỉ niệm tuyệt đẹp về tình quân dân trong

đêm liên hoan và vẻ đẹp thơ mộng của núi rừng

Đoạn 3(Từ câu 23 đến câu 30): Khắc họa chân dung người lính Tây Tiến và sự hy

trường thử thách tinh thần chiến đấu ngoan cường, bất khuất của nhân dân ta Cuộc

kháng chiến còn làm nảy sinh biết bao hình ảnh đẹp mà đẹp nhất là hình ảnh người

lính

www.facebook.com/groups/TaiLieuOnThiDaiHoc01

Trang 3

Bên cạnh những bài thơ nổi tiếng một thời như Đồng chí của Chính Hữu, Nhớ của Hồng Nguyên , Tây Tiến của Quang Dũng là một thi phẩm đặc sắc

Đoàn quân Tây Tiến quy tụ một lực lượng đông đảo đủ mọi tầng lớp thanh niên từ

khắp phố phường Hà Nội Có nhiều thanh niên học sinh thuộc tầng lớp trí thức tiểu

tư sản vừa rời trang sách nhà trường để tham gia vào cuộc chiến đấu của dân tộc

Tất cả những con người ấy ra đi với lí tưởng chung của dân tộc chiến đâu bảo vệ

độc lập, tự do của Tổ quốc Họ ra đi không hẹn ngày trở về chiến đấu với mục đích

“Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” Cái ảnh thần ấy là hào khí của cả một thế hệ, đã

từng được phản ánh trong một bài hát thời đó:

Đoàn Vệ quốc quân một lần ra đi,

Nào có sá chi đâu ngày trở về

Trong đoàn người nô nức lên đường đi chiến đấu, trong hàng ngũ những thanh niên trí thức ngày hôm qua có khi là những tự vệ chiến đấu trên phố phường,

chiến lũy Hà Nội, mà hôm nay đã có mặt trong đoàn quân Tây Tiến, thấp hoáng

xuất hiện một khuôn mặt: Quang Dũng, tác giả của bài thơ Như bao thanh niên trí

thức của Hà Nội ngày ấy, Quang Dũng cũng háo hức gia nhập đoàn quân Tây Tiến

với một niềm say mê của tuổi trẻ và một chút lãng mạn của những người thanh

niên

Cũng chính vì thế mà những thanh niên như Quang Dũng sẵn sàng chấp nhận mọi gian khổ, hi sinh để chiến đấu đến ngày thắng lợi cuối cùng Vào Tây

Tiến, Quang Dũng cùng sống và chiến đấu một thời gian với đơn vị này và sau đó

chuyển sang đơn vị khác Một ngày ngồi ở Phù Lưu Chanh, Quang Dũng nhớ về

những người đồng đội, nhớ về những tháng ngày chiến đâu gian nan nhưng hào

hùng, nhớ đơn vị cũ, nhớ những con đường hành quân mà ông cùng đơn vị từng đi

qua Nỗi nhớ ấy dần lớn lên trong Quang Dũng, bật ra thành hai câu thơ:

Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!

www.facebook.com/groups/TaiLieuOnThiDaiHoc01

Trang 4

Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi

Cuộc sống chiến đấu của Tây Tiến cùng những nơi mà đơn vị đã đi qua hẳn là những kỉ niệm hết sức sâu đậm trong tâm hồn nhà thơ Hẳn một phần quãng

đời Quang Dũng gắn bó với Tây Tiến là cuộc sống hoạt động trong vùng rừng núi

Bởi thế, nhà thơ nhớ về Tây Tiến là nhớ ngay về sông Mã, nhớ về rừng núi với bao

kỉ niệm vui buồn, ấn tượng về một miền rừng núi khắc nghiệt đã để lại trong tâm

hồn nhà thơ dấu ẩn chẳng phai mờ Vì thế, Quang Dũng nhớ về những tháng ngày

đã qua với một tình cảm yêu thương lắm nhưng chẳng biết gọi lên chính xác nỗi

nhớ ây Nhớ chơi vơi! hai liếng chơi vơi dùng ở đây thật là đắc địa diễn tả một nỗi

nhớ không có hình, không có lượng nhưng hình như rất nặng và mênh mang đầy

ắp Cái tâm trạng nhớ ấy ta đã bắt gặp không chỉ một lần trong ca dao: Ra về nhớ

bạn chơi vơi, hoặc:

Nhớ ai bổi hổi bồi hồi, Như đứng đống lửa, như ngồi đống than

Quang Dũng lấy nỗi nhớ trong ca dao để tượng trứng thêm cho nỗi nhớ chơi vơi

của mình, thật là chi tiết đắt giá! Ngay từ đầu bài thơ, ông đã miêu tả vùng rừng

núi ấy thiết tha như thế làm cho người đọc chú ý ngay Nhớ Tây Tiến, nhớ về sông

Mã và núi rừng trùng điệp, nhớ con đường hành quân:

Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi

Mường Lát hoa về trong đêm hơi

Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

Heo hút cồn mây súng ngửi trời

Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống

Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi

www.facebook.com/groups/TaiLieuOnThiDaiHoc01

Trang 5

Con đường hành quân điệp trùng với bao cái khắc nghiệt, dữ dội của mỗi vùng rừng biên ải Đọc đoạn thơ, chưa cẩn suy ngẫm nội dung bên trong, chúng ta

đã có thể hình dung ra con đường mà Quang Dũng miêu tả Kết câu đoan thơ cứ

thanh bằng thanh trắc đan chéo nhau, trải dài ra miên man, vô tận như con đường

xa thẳm khấp khểnh Nhạc điệu êm ả, triền miên Đoàn quân Tây Tiến đi trong lớp

sương dày của núi rừng, tất cả lung linh trong lớp sương khói mờ ảo, như thực, như

mộng Thế nhưng, mỗi địa danh đều gợi lên trong người đọc về hình ảnh của một

xứ lạ, phương xa; nếu ta chỉ thử thay Sài Khao bằng một tên gọi khác là lớp sương

huyền ảo ấy lan biến ngay Đoàn quân Tây Tiến cất bước , trên con đường xa vạn

dặm, với cái trắc trở, gập ghềnh của con đường Đã dốc lên khúc khuỷu mà còn

dốc thăm thẳm, đã ngàn thước lên cao rồi lại ngàn thước xuống thì đúng là đến độ

cao chất ngất, ngoằn ngoèo khó đi Tất cả những đặc điểm ấy diễn tả nổi khó khăn

của đoàn quân Tây Tiến khi hành quân Nó ghi lại ấn tượng về một miền rừng núi

thật là dữ dội và khắc nghiệt Quang Dũng có những cách dùng từ rất tinh tế mà

cũng hết sức tinh nghịch: núi cao chạm mây nổi thành cồn heo hút, và để diễn tả

chiều cao của núi thì chỉ ba chữ súng ngửi trời nghe thật ngộ nghĩnh Phải chăng

đó là cách gọi của lính mà Quang Dũng ghi lại với tư cách một người trong cuộc?

Dù sao, qua những từ ngữ, chi tiết và cách kết hợp thanh điệu của đoạn thơ cũng đã

vẽ lên trước mát ta hình ảnh một miền rừng núi mà đoàn quân Tây Tiến đã từng đi

qua Có những câu thơ dùng toàn vần bằng rất hay:

Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi Sau khi ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống người chiến sĩ Tây Tiến như đứng

trên nùi cao mà nhìn xuống thung lũng phủ kín trong màn mưa Những ngôi nhà

như đang trôi bồng bềnh trong làn mưa trắng Thanh bằng của từng chữ trải ra,

mênh mang, diễn tả cái màn mưa phủ giăng thung lũng Rừng núi trùng, ấn tượng

về miền rừng núi cũng thật là khắc nghiệt và dữ dội:

Chiều chiều oai linh thác gầm thét

Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người

www.facebook.com/groups/TaiLieuOnThiDaiHoc01

Trang 6

Chỉ hai câu thơ thôi mà gieo vào lòng ta tất cả những sự khắc nghiệt của miền rừng

núi này - một miền núi rừng âm u với thú dữ đe doạ con người Hai chữ Mường

Hịch đi với nhau nghe nặng như chân cọp Có một điều kì lạ là nếu ta thay địa

danh này bằng hai chữ khác như Châu Thuận chẳng hạn, thì hiệu lực câu thơ sẽ

giảm sút ngay Qua sự miêu tả của Quang Dũng, một vùng núi rừng biên ải hiện

lên với tất cả sự khắc nghiệt, dữ dội của thiên nhiên Đó là những khó khăn mà

người chiến sĩ Tây Tiến phải vượt qua trên con đường hành quân Cái trắc trở, gian

lao cùa con đường Tây Tiến chợt làm chúng ta nhớ đến câu thơ của Lí Bạch:

Thục đạo chi nan, nan ư thướng thanh thiên

(Đường xứ Thục khó đi, khó hơn lên tận trời xanh)

Đó là tất cả những gian khổ, nguy hiểm do thiên nhiên đem đến mà người chiến sĩ

Tây Tiến phải chịu đựng

Anh bạn dãi dầu không bước nữa

Gục lên súng mũ, bỏ quên đời!

Quang Dũng nói cái thực trên con đường Tây Tiến Bao người chiến sĩ đã nằm lại trên con đường hành quân Có một điều lạ làm toả sáng cả ý thơ là người

lính Tây Tiến đến lúc gục xuống vẫn cố gắng trong tư thế của người lính, chết rồi

nhưng súng mũ vẫn còn đó, hành trang của người chiến sĩ vẫn còn trong tư thế tiếp

tục cuộc hành trình Bao cảnh gian khổ khó khăn, khắc nghiệt dữ dội của con

đường hành quân, của thiên nhiến xứ lạ đã thử thách người chiến sĩ Tây Tiến một

cách ghê gớm Có những người lính đã vượt qua được, và cũng không ít những

người phải nằm lại phía sau Người lính dãi dầu qua mưa nắng, đi từ khó khăn này

đến gian khổ khác, chịu hết thử thách này đến thử thách thác mà dường như vẫn

chẳng nể hà; đến khi kiệt sức phải gục xuống thì cũng cố gắng gục xuống trong tư

thế của người chiến sĩ

www.facebook.com/groups/TaiLieuOnThiDaiHoc01

Trang 7

Cho dù Quang Dũng có nói sự thực về một vùng rừng núi che lấp con người, nhưng chính những phẩm chất cao đẹp của người chiến sĩ đã đưa họ bay

lên, vượt lên trên cái gian khổ và thiếu thốn Quang Dũng là một người trong cuộc,

rừng là chiến sĩ Tây Tiến, chính vì vậy mà nhà thơ viết về cuộc sống gian khổ của

người chiến sĩ Tây Tiến một cách hết sức cảm động Cái khắc nghiệt, khổ và dữ

dội của một miền biên ải, những gian truân mà người chiến sĩ Tiến phải chịu đựng

và những ấn tượng không thể nào quên Quang Dũng về người lính Tây Tiến

không như những nhà thơ khác; ông nói thật về sự khổ, hi sinh của người lính một

thời Thế nhưng, hình ảnh anh bộ đội Tây Tiến không vì thế mà trở nên uỷ mị,

ngược lại càng thêm cao đẹp hơn Miêu tả nét chiến sĩ với cái bi, nhưng là “bi

tráng” Nói cái gian khổ để đề cao chiến thắng nói hi sinh để nâng hình ảnh người

lính lên một tầm cao thời đại cũng là một cách “vẽ mây nảy trăng” trong hội hoạ

vậy Bởi chiến thắng có giá trị gì khi chiến thắng dễ dàng, không có hi sinh? Và

hình ảnh người lính sẽ không thật cao đẹp nếu họ không trải qua những thử thách

gian truân của cuộc sống chiến đấu khắc nghiệt

Lao xao sóng vỗ ngọn tùng

Gian nan là nợ anh hùng phải vay

Đó là một lời đúc kết kinh nghiệm về giá trị cùa chiến thắng, giá trị cả phẩm chất

con người Giữa bao cái gian khổ, khắc nghiệt đã thành ấn tượng niềm vui, dù ít ỏi,

càng đáng nhớ hơn:

Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói

Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa

Dường như để trả trạng thái tâm hồn chúng ta về thế cân bằng sau khi chùng xuống trước cuộc sống chiến đấu cùa người chiến sĩ Tây Tiến, Quang Dũng

hồi tưởng lại nhiều hình ảnh vui, ấm áp Khói bếp, mùi thơm cơm nếp gợi cái ấm

cúng của cuộc sống thanh bình, hạnh phúc Sức nóng của nó đủ làm tâm hổn dần

ấm lại sau những phút giây chứng kiến những gian khổ của người lính, đuốc hoa là

www.facebook.com/groups/TaiLieuOnThiDaiHoc01

Trang 8

hình ảnh có sức khơi gợi, gợi cho ta cái cảm giác tươi vui như đang chứng kiến lễ

hội đông vui Hai liếng kìa em vừa ngỡ ngàng, vừa sung sưc nó diễn cả tâm hồn

của người chiến sĩ Tây Tiến Trong cả đoạn thơ dìu dặt thành tiếng nhạc, tiếng

khèn, phảng phất hình ảnh vui tươi của cuộc sống ) bình như chẳng biết đến chiến

ưanh Hình ảnh nhạc về Viên Chăn xây hồn là hình ảnh đẹp, thơ mộng, diễn tả tâm

hồn phong phú của người lính Tây Tiến Họ tổ chức hội vui, sau bao thử thách

khắc nghiệt của núi rừng dữ dội Và mặc dù biết rằng sẽ còn liếp tục chịu đựng

những gian truân, hi sinh, người lính Tây Tiến vẫn múa hát, đùa vui, vẫn lạc quan

yêu đời Có thể chỉ ngày hôm sau một người nào đó trong số họ phải nằm lại nơi

núi rừng u tịch, nhưng hôm nay làm hồn họ vẫn mộng mơ, mơ đến những hình ảnh

đẹp của thi và hoạ, xây hồn thơ Và như vậy, họ sẵn sàng đón nhận mọi thử thách

tiếp theo, coi đó như một việc bình thường mà đời lính phải chấp nhận Không lên

gân, không khiên cưỡng, mọi gian khổ hi sinh đối với người lính là chuyện binh

thường và tất yếu, vì vậy mà họ vẫn lạc quan, vẫn yêu đời, vẫn sống với lâm hồn

trẻ trung, tươi mát Cũng vậy mà người lính Tây Tiến có thể vẫn nhớ một dáng

thuyền độc mộc, hoặc một bông hoa trên dòng nước lũ Những hình ảnh rất binh

thường ấy, ngỡ rằng sau bao sự thử thách về tinh thần, người lính sẽ quên đi

Nhưng không, họ vẫn nhớ Những hình ảnh ấy in sâu vàu tâm hồn ngựời lính Tây

Tiến, là nguồn động viên thúc giục họ chiến đấu, dù tiếp tục đón nhận những thử

thách mới:

Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

Quân xanh màu lá dữ oai hùm

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm

''Đoàn quân không mọc tóc! Có cách nói nào lại khơi dậy nhiều cảm xúc đến thế!

Như vậy thì hình ảnh của anh bộ đội Tây Tiến có trở nên quái đản không? Không

đâu! Đó chính là hình ảnh oai hùng của anh “Vệ trọc” nổi tiếng một thời rét nên

tóc rụng vả lại, cái cách nói đoàn quân không mọc tóc ấy phần nào cũng dựng nên

hình ảnh người tráng sĩ với dáng dấp thật hùng dũng và hiên Quân không mọc tóc,

www.facebook.com/groups/TaiLieuOnThiDaiHoc01

Trang 9

quân lại xanh màu lá, màu xanh ấy có thể do cành lá trang, nhưng chủ yếu là do sốt

rét rừng Những cơn sốt rét ghê gớm đã để lại ấn tượng sâu sắc cho người chiến sĩ

Ta cảm động trước hình ảnh người sĩ Tây Tiến, và chợi nhớ đến hình ảnh người

chiến sĩ trong một số bài thơ đương thời:

Khuôn mặt đã lên màu bệnh tật,

Đâu còn tươi nữa những ngày qua

Người lính Tây Tiến cũng chịu đựng những cơn sốt rét ghê gớm ấy, thế nhưng, nó

không làm nhụt đi ý chí của người chiến sĩ mà ngược lại họ càng chiến đấu dũng

cảm hơn, kiên cường hơn, quân xanh màu lá nhưng vẫn dữ oai Cái khí phách hào

hùng của người chiến sĩ Tây Tiến được ghi lại bằng sự so sánh cân bằng Nếu ở

khổ thơ trên, người lính chịu sự đe doạ của cọp thì họ cũng chiến đấu với tinh thần

dũng cảm của một chúa sơn lâm như thế Câu thơ sau nâng đỡ câu thơ trước vút

bay lên như ánh hào quang của phẩm chất người lính Tây Tiến Miêu tả khí thế

chiến đấu hào hùng của người chiến thắng một sự so sánh như thế, Quang Dũng

thực sự đã hiểu người lính và đã hòa đồng với họ Chiến đâu dũng mãnh như thế,

nhưng người lính Tây Tiến vẫn có đời sống tâm Hà Nội hết sức tinh tế:

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm

Người chiến sĩ ra đi từ những mái trường, chiến đấu nhưng vẫn không quên hậu phương Phía trước là trận đánh, tình cảm thể hiện qua giấc mộng, có thực, có

mơ Dáng kiều thơm gợi nên cái dáng vẻ yêu kiều của người con gái Thủ đô chữ

thơm được dùng với nghĩa như “sắc nước hương trời” vậy! Người chiến sĩ của

Quang Dũng ra đi, mang theo cả phong thái hào hoa của người thanh niên trí thức,

cái phong thái đã giúp người chiến sĩ sống bằng đời sống tâm ít phong phú sau mỗi

trận đánh ác liệt

www.facebook.com/groups/TaiLieuOnThiDaiHoc01

Trang 10

Cái cuộc sống tâm hồn ây là nguồn động lực giúp người lính tiếp tục chiến đâu để giành lây độc lập, tự do cho Tổ quốc thân thương Và cũng vì thế, người

chiến sĩ chấp nhận sự hi sinh:

Rải rác biên cương mồ viễn xứ

Chiến trường đi chẳng tiếc ười xanh

Cứ thử làm công việc tách hai câu thơ thành từng câu một Ôi! Cái ấn tượng bi

thảm đên vô cùng mà câu thơ đầu mang đến thật mạnh mẽ Không hiểusao, cứ mỗi

lần đọc đên câu thơ này là tôi lại chìm vào trong suy tưởng và nước mắt cứ rưng

rưng! Trên con đường gập ghềnh xa thẳm của miền núi rừng biên giới đoàn quân

Tây Tiến cứ đi và thỉnh thoảng có những con người phải tách ra khỏi đội hình

Những nấm mộ của người chiến sĩ mọc lên Câu thơ thật là bi thảm Nhưng câu thơ

sau như một lực nâng vô hình, đã đưa câu thơ đầu lên cao, cái thảm giờ đây đã trở

thành bi tráng Nó bi tráng và hào hùng bởi Quang Dũng nói được một điều cốt lõi

trong nhân cách của người lính: biết hi sinh, biết gian khổ nhưng vẫn cứ ra đi giải

phóng quê nhà Họ ra đi chẳng tiếc đời xanh, bởi quãng đời tươi đẹp ấy đã hiến

dâng cho một lí tưỏng cao đẹp: chiến đấu vì tổ quốc Họ ra đi và ngã xuống thanh

thản không một chút vướng bận, cái chết được xem nhẹ lựa lông hồng:

Áo bào thay chiếu anh về đất

Sông Mã gầm lên khúc độc hành

Cách dùng từ áo bào của Quang Dũng làm cho câu thơ trở nên cổ kính, áo bào chứ

không phải chiến bào; người chiến sĩ như những danh tướng thời xưa da ngựa bọc

thây là một điều vinh quang Cũng như thế, người lính coi việc hi sinh trên chiến

trường là một nghĩa vụ thiêng liêng Người chiến sĩ Tây Tiến ngã xuống và thanh

thản về đất Đất sinh ra anh và lại đón nhận anh về sau khi làm tròn nghĩa vụ Anh

về đất như một hành động tựu nghĩa của những anh hùng Mở đầu bài thơ là hình

ảnh sông Mã, kết thúc bài thơ vẫn là tiếng gầm thét của dòng sông này Dòng sông

tiễn anh ra đi chiến đấu lại đón anh về:

Tây Tiến người đi không hẹn ước

www.facebook.com/groups/TaiLieuOnThiDaiHoc01

Trang 11

Đường lên thăm thẳm một chia phôi

Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy

Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi

Quang Dũng khẳng định lại một lần nữa cái ý chí nhất khứ bất phục phản ra đi là

không trở lại) Đó cũng là ý chí quyết tâm của cả một thế hệ, của một thời đại

Những gian khổ, hi sinh của cuộc kháng chiến là những kỉ niệm không thể quên Sẽ không bao giờ còn có lại thời kì gian khổ đến mức ấy và cũng hào hung

đến mức ấy Và cũng khó có thể có được bài thơ Tây Tiến thứ hai

Đề bài: Phân tích khổ 2 khổ đầu bài thơ Tây Tiến

BÀI LÀM Quang Dũng là một hồn thơ hào hoa, lãng mạn Chất lãng mạn đa tình của nghệ sĩ đã bắt gặp và song hành với chất anh hùng của người chiến sĩ Tây Bắc

hiểm trở, để rồi cho ra đời thi phẩm Tây Tiến với âm hưởng bi tráng, hào hùng

Điều này được thể hiện rõ qua 2 khổ thơ đầu của bài thơ

Qua những vần thơ vừa hào hùng, bi tráng, vừa lãng mạn, giàu chất nhạc, chất họa, bài thơ đã diễn tả hết sức chân thực về hiện thực cuộc sống kháng chiến

chống Pháp và vẻ đẹp của anh bộ đội cụ Hồ

Mở đầu hai câu thơ thể hiện nỗi nhớ da diết của tác giả:

"Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!

Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi"

Câu thơ mở đầu bằng hình ảnh dòng sông Mã - biểu tượng của thiên nhiên núi

rừng Tây Bắc và cũng chính là địa danh hoạt độngc ủa đoàn quân Tây tiến Không

phải ngẫu nhiên mà sông Mã được nhắc tới hai lần trong khổ thơ đầu và khổ thơ

www.facebook.com/groups/TaiLieuOnThiDaiHoc01

Trang 12

thứ ba, bởi nó gắn bó với người lính Tây Tiến trên mỗi bước đường hành quân và

chứng nhân cho bao kỉ niệm một thời gian khó Địa danh sông Mã được nhắc đến

bên cạnh binh đoàn Tây Tiến như một lời nhắc nhở về bao kỉ niệm, bao cảm xúc

buồn vui Giữa hai danh từ ấy dường như có chút xót xa, nuối tiếc qua từ "xa xôi"

Thiên nhiên Tây Bắc đã thực sự lùi xa trong quá khứ cũng như đoàn quân Tây Tiến

chỉ còn là những kỉ niệm Câu thơ đầu dù không trực tiếp xuất hiện từ "nhớ" mà

nỗi nhớ cứ tự nó trào dâng, hóa ra đó là nối nhớ thường trực khôn nguôi và được

biểu lộ qua tâm trạng của tác giả trực tiếp xuất hiện qua điệp từ "nhớ" được lặp lại

hai lần có tác dụng nhấn mạnh, khắc sâu nỗi nhớ Vần "ơi" được điệp ba lần đã tạo

được tính nhạc cho lời thơ.Nỗi “nhớ chơi vơi" đã mở ra những kỉ niệm về chặng

đường hành quân qua núi rừng Tây Bắc hùng vĩ, hiểm trở và thơ mộng với những

địa danh: Sài Khao, Mường Ltá, Mường Hịch, Mai Châu Đó là nỗi nhớ theo

không gian:

"Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi

Mường Lát hoa về trong đêm hơi"

Cái huyền ảo, thơ mộng của thiên nhiên Tây Bắc được vẻ ra qua màu sương mù

dày đặc che lấp, bồng bềnh như sương như khó, mơ hồ, huyền ảo 12/14 là thanh

bằng gợi cảm giác nhẹ nhàng, ngân nga Tây Bắc với những đỉnh núi mù sương,

với những thung lũng sương che sớm chiều thực sự làm rung động chất thơ trong

tâm hồn Quang Dũng cũng như chất hoa trong người đa tài ấy Theo bước chân của

những người lính Tây Tiến, thiên nhiên Tấy Bắc hiện ra với những hiểm trở và heo

hút:

"Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

Heo hýt cồn mây súng ngửi trời

Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống

Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi"

www.facebook.com/groups/TaiLieuOnThiDaiHoc01

Trang 13

Trong những câu thơ trên, Quang Dũng chủ yếu sử dụng thanh bằng tạo cảm giác

mềm mại thì đến bốn câu thơ sau, những thanh trắc gồ ghề được đặt ở đầu, giữa và

cuối câu tạo nên ấn tượng không dứt về những con dốc đèo Tây Bắc Điệp từ "dốc"

được lặp lại hai lần trong một câu thơ kết hợp với từ "khúc khuỷu", "thăm thẳm"

có tác dụng gợi cái hiểm trở, dữ dội của những dốc những đèo, những khúc cua tay

áo và sự gập ghềnh của con đường hành quân Có những khi họ phải hành quân

qua những dốc cao dựng đứng hay những con đường sâu hun hút, điệp ngữ "ngàn

thước" cùng cách ngắt nhịp 4/3 có tác dụng tạo hình rất lớn trong việc biểu đtạ cái

cao và độ sâu không cùng của núi đèo

Ngay trong bức tranh thiên nhiên Tây Bắc, chúng ta đã thấy thấp thoáng ẩn hiện

hình ảnh người chiến sĩ Tây Tiến Trên cái nền của thiên nhiên hùng vĩ, dữ dội,

hình ảnh người lính Tây Tiến hiện lên với sự hào hùng, bi tráng: "Heo hút cồn mây

súng ngửi trời" Từ láy "heo hút" được đảo lên đặt ở đầu những câu thơ gợi tả đội

cao cũng như sự hẻo lánh của những dốc đèo Tây Bắc khiến ta có cảm nhận họ là

những con người đầu tiên đặt chân được đến đấy vậy Họ đi giữa những dốc cao,

cồn mây, mũi súng nhấp nhô theo nhịp bước quân hành tạo nên hình ảnh rất tinh

nghịch, rất lính "súng ngửi trời" Họ - những chàng trai Hà nội vừa trẻ trung hào

hoa thanh lịch, vừa phong trần sương khói Người chiến sĩ Tây Tiến như tạc trong

không gian mây trời Tây Bắc sự lồng lộng và kiêu hùng của tuổi trẻ Có thể nói

không một khó khăn gian khổ nào, một độ cao nào có thể cản được bước chân của

những anh hùng vệ quốc

Sau vượt qua bao rừng sâu, núi cao heo hút, đoàn quân Tây Tiến cũng đã dừng chân ở một bản làng có vườn, có những làn khói bếp nồng ấm tình quân dân

Những kỉ niệm ấy in đậm trong tâm trí nhà thơ khiến Quang Dũng không thể kìm

nén nổi, một lần nữa lại bật lên tiếng gọi: "Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói/ Mai

Châu mùa em cơm nếp xôi Câu thơ cuối trở thành tiền đề để sang khổ thơ tiếp

theo, đoàn quân Tây Tiến hiện lên rõ nét, chân thực hơn

www.facebook.com/groups/TaiLieuOnThiDaiHoc01

Trang 14

Với một ngòi bút tài hoa, giàu chất lãng mạn, giàu chất nhạc, chất họa với những từ ngữ chọn lọc, tinh tế, Quang Dũng đã vẻ lên một bức tranh thiên nhiên

hoành tráng, dữ dội và rất nên thơ của núi rừng Tây Bắc Trên cái nền bức tranh ấy

nổi bật hình ảnh của những người lính Tây Tiến, những con người can trường,

dũng cảm nhưng cũng rất hào hao lãng mạn

Nếu ở khổ thơ một bài thơ Tây Tiến, nhà thơ đã khắc họa những hình ảnh dữ dội của núi rừng Tây Bắc thì ở đoạn thơ thứ hai nay, Quang Dũng đã đưa ta vào

một khung cảnh khác: cảnh Mỹ lệ, duyên dáng, tươi mát của Tây Bắc Cảm hứng

lãng mạn được chia thành hai phần rõ rệt, hướng đến hình ảnh người lính trong

đêm liên hoan doanh trại và vẻ đẹp Tây Bắc một chiều sương Những nét vẽ bạo

khỏe, gân guốc đã được thay bằng những nét mềm mại, tinh tế, tài hoa

Trải qua những giây phút hành quân gian khổ, những người lính còn có những giờ khắc giao lưu văn nghệ với đồng bào Tây Bắc gọi là "doanh trại" bởi

Quang Dũng theo cảm hứng lãng mạn, có lẽ hiện thực là một đêm văn nghệ giản dị

mà ấp áp trên chặng hành quân dặm dài gian khổ Không khí liên hoan tràn ngập

cả âm thanh, ánh sáng, dáng điệu con người:

"Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa

Kìa em xiêm áo tự bao giờ

Khèn lên man điệu nàng e ấp

Nhạc ề Viên Chăn xây hồn thơ"

Đảo ngữ "bừng lên hội đuốc hoa" kết hợp với động từ "bừng" tạo ấn tượng

về một thứ ánh sáng bất ngờ, tựa như có hàng ngàn có đuốc đột ngột thắp lên cháy

sáng cả núi rừng trong đêm Đôi mắt lãng mạn, tính từ của Quang Dũng đã ví

những ngọn đuốc đó như "đuốc hoa" - ngọn đuốc cháy trong đêm tân hôn - ngầm

chỉ một sự kết duyên gặp gỡ giữa những người lính Tây Tiến trẻ trung hào hoa với

nhân dân Tây Bắc Trên cán nền ánh sáng lửa lung linh ấy, nổi bật là dáng hình

uyển chuyển, dịu dàng theo điệu khèn của những thiếu nữ Tây Bắc, và cũng không

giấu nổi sự ngạc nhiên, ánh nhìn tình tứ của những người lính trẻ trước vẻ đẹp xứ

www.facebook.com/groups/TaiLieuOnThiDaiHoc01

Trang 15

người Cái dáng điệu "e ấp" được soi chiếu qua đôi mắt hào hoa của những con

người lần đầu đặt chân đến Tây Bắc gợi một vẻ đẹp kín đáo, một sự phát hiện

trước những nét đẹp văn hóa Tây Bắc Thêm vào đó là những "man điệu" - những

điệu múa, điệu nhạc lạ như chất xúc tác gợi cái tình tứ, say mê thưởng thức Cái

chất hào hoa, lãng mạn, đa tình này dường như là "đặc sản" của những người lính

trong thời kì kháng chiến chống Pháp, khi họ đa phần là thanh niên học sinh tri

thức, xếp bút nghiên cầm súng lên đường theo tiếng gọi của quê hương Câu thơ

thứ tư của bài thơ Tây Tiến chủ yếu là thanh bằng, tạo cảm giác nhẹ nhàng, bay

bổng trong tâm hồn của người lính" "Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ" Âm nhạc

cất lên hòa điệu với tâm hồn thơ mộng, gọi về cái mộng mơ, đưa tâm hồn phiêu du

vượt qua giới hạn của không gian, của biên giới, để xây đắp hồn thơ - mơ đến Viên

Chăn - mơ đến ngày chiến thắng Hình ảnh thơ mỹ lệ nhưng không hề thoát ly cuộc

sống, trái lại có tác dụng nâng đỡ tâm hồn con người, khích lệ những người lính và

mở ra khát vọng hòa bình cho đất nước

Bốn câu thơ đầu bài thơ Tây Tiến giúp ta cảm nhận được cái tưng bừng, nhộn nhịp trong đêm liên hoan ấm tình quân dân Bốn câu thơ sau lại tiếp tục mạch

cảm xúc của toàn bài thơ Tây Tiến, ấy là nỗi nhớ về những khoảng không gian

sông nước đầy chất thơ của tây bắc:

"Người đi Châu Mộc chiều sương ấy

Có thấy hồn lau nẻo bến bờ

Có nhớ dáng người trên độc mộc

Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa"

Tây Bắc đẹp - thơ một- trữ tĩnh với mênh mang sông nước, lãng đãng sương giăng, với hai bên bờ là bạt ngàn lau, và đâu đó thấp thoáng bóng người, bóng hoa

Không gian và thời gian được mở ra qua cụm từ "chiều sương": trong khoảnh khắc

cuối ngày, khắp đất trời chìm trong màn sương bồng bềnh, lãng đãng rất đặt trưng

cho núi rừng Tây Bắc Nhớ Tây Bắc là những người ta hay nhớ về những cánh

www.facebook.com/groups/TaiLieuOnThiDaiHoc01

Trang 16

đồng lau bạt ngàn trắng như thế, cái hồn của lau kéo theo cái hồn người là như

vậy!

Nhớ về Tây Bắc còn là nhớ cái "dáng người trên độc mộc" - gợi vẻ đẹp khỏe khoắn của những chàng trai, những cô gái, những người dân Tây Bắc trên con

thuyền độc mộc lao trên sóng nước Cảm hứng ngợi ca những con người ấy ta cũng

gặp trong hình ảnh người lá đò Mai Châu trong tác phẩm "Người lá đò sông Đà"

của Nguyễn Tuân Đặc biệt là hình ảnh những bông hoa rừng "đong đưa" trôi theo

dòng nước lũ Trong cái khắc nghiệt dữ dội vẫn luôn có vẻ đẹp của sự mềm mại,

mong manh Điểm nhìn lãng mạn giúp Quang Dũng có được những phát hiện rất

nên thơ như thế

Trong đoạn thơ này của bài thơ Tây Tiến, ta thấy vang lên điệp khúc của những câu thơ có từ: "có thấy có nhớ" Đó là sự gợi thức trong tâm hồn mình, là

sự nhắc nhở mỗi chàng trai ra đi 36 phố phường hãy nhớ về Tây Bắc, về Tây Tiến

như những hồi ước hào hùng một đi không trở lại

Tóm lại, tám câu thơ này trong bài thơ Tây Tiến như 1 bức tranh sơ với chỉ vài nét chấm phá tinh tế, mềm mại mà thu được cái hồn của cảnh và người Tây

Bắc Cũng qua những hình ảnh thơ đặc sắc ấy, chúng ta còn cảm nhận được vẻ đẹp

của những người lính Tây Tiến - những chàng trai lãng mạn, đa tình, hào hoa

Đề bài: Hội đuốc hoa và nhớ chiều sương Mộc Châu trong bài Tây

Tiến

Quang Dũng là nhà thơ chiến sĩ, từng cầm súng đánh giặc và làm thơ kháng chiến chống Pháp Năm 1948, tại Phù Lưu Chanh ( Hà Tây cũ), ông viết bài thơ

“Tây Tiến” nói lên tình thương nhớ chiến trường miền Tây, nhớ đồng đội thân yêu

một thời trậm mạc Mở đầu bài thơ là một lời nhắn gọi biết bao tha thiết, bồi hổi:

“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi

Nhớ về rừng núi, nhớ chơi vơi”

www.facebook.com/groups/TaiLieuOnThiDaiHoc01

Trang 17

Bài thơ có 34 câu thơ thất ngôn, chia làm 4 đoạn, mỗi đoạn thơ là sự hồi tưởng bao kỉ niệm sâu sắc Đây là đoạn thơ thứ hai có 8 câu mang vẻ đẹp như một

bức tranh nói về hai nỗi nhớ: nhớ hội đuốc hoa và nhớ chiều sương Mộc Châu:

"Doanh trại bừng lên hội đuốc, hoa

Kia em xiêm áo tự bao giờ

Khèn lên man điệu nàng e ấp

Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ

Người đi Châu Mộc chiều sương ấy

Có thấy hồn lau nẻo bến bờ

Có nhớ dáng người trên độc mộc

Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa"

Từ “Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói – Mai Châu màu em thơm nếp xôi”, Quang Dũng nhớ đến “hội đuốc hoa” thắm thiết tình quân dân:

“Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa

Kìa em xiêm áo tự bao giờ

Khèn lên man điệu nàng e ấp

Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ”

Đuốc hoa ở đây là cây nến thắp lên trong phòng tân hôn “Truyện Kiều” có câu:

“Đuốc hoa chẳng thẹn với chàng mai xưa” Quang Dũng sáng tạo thành “hội đuốc

hoa” để nói về đêm liên hoan văn nghệ giữa các cán bộ chiến sĩ đoàn binh Tây

Tiến với đồng bào các bản Mường Chữ “bừng” vừa ám chỉ ánh lửa, ánh đuốc

bừng sáng lên, vừa tả âm thanh, tiếng nói cười, tiếng hát, tiếng khèn vang lên tưng

www.facebook.com/groups/TaiLieuOnThiDaiHoc01

Trang 18

bừng rộn rã trong hội đuốc hoa Đêm lửa trại, đêm liên hoan chắc là có múa sạp, có

múa xòe của các cô gái Mường, Thái tham gia? Chữa”kìa” là đại từ để trỏ một đối

tượng từ xa; trong văn cảnh thể hiện sự ngạc nhiên, niềm vui thích, tình tứ của

chàng lính trẻ Tây Tiến khi nhìn thấy các “em”, các “nàng” đang e ấp đến dự hôi

đuốc hoa trong những bộ quần áo xinh đẹp, duyên dáng, kín đáo Hình ảnh “e ấp”

là một nét vẽ tài hoa có hồn gợi tả vẻ đẹp duyên dáng, kín đáo, tình tứ của các

thiếu nữ miền Tây Ánh lửa, tiếng hát, tiếng khèn, màu xiêm áo rực rỡ, vẻ đẹp kiểu

diễm của các “em”, các “nàng” đã như “xây hồn thơ” các chàng lính trẻ Con

người trẻ trung, xinh đẹp, đào hoa, đa tình; ngòi bút của thi nhân cũng rất tài hoa,

lãng mạn Qua hội đuốc hoa, ta càng cảm thấy đời sống tinh thần vô cùng phong

phú của đoàn binh Tây Tiến nơi chiến trường miền Tây gian khổ ác liệt

Bốn câu thơ tiếp trôi về một miền hồi tưởng, đó là vùng đất Mộc Châu, Sơn La

Nơi có những bãi cỏ bát ngát mênh mông, có dãy núi Pha Luông cao 1880m, nơi

có bản Pha Luông sầm uất của người Thái, Quang Dũng, người lính chiến với tâm

hồn nghệ sỹ đã khám phá ra bao vẻ đẹp của vùng đất Mộc Châu Năm tháng đã trôi

qua, cảnh và người ở nơi ấy đã trở thành một mảnh tâm hồn của bao người:

“Người đi Châu Mộc chiều sương ấy

Có thấy hồn lau nẻo bế bờ

Có nhớ dáng người trên Độc Mộc

Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”

“Chiều sương ấy” là chiều thu 1947 Sướng trắng phủ mờ núi rừng chiến khu

kháng chiến, chiều thu ấy in đậm trong lòng người; hoài niệm càng trở nên mênh

mang Chữ “ấy” câu trên bắt vần với chữ “thấy” câu dưới tạo nên vần lưng giàu âm

điệu, như một tiếng khẽ hỏi “có thấy” trong lòng Hồn lau là hồn thu, hoa lau nở

trắng bờ, lá lau kêu xào xạc trong gió thu “nẻo bến bờ”, nơi bờ sông, bờ suối Với

www.facebook.com/groups/TaiLieuOnThiDaiHoc01

Trang 19

tâm hồn nghệ sỹ tài hoa, Quang Dũng đã cảm nhận vẻ đẹp thiên nhiên Mộc Châu

qua cảnh sắc “chiều sương” và “nẻo bến bờ” Những thi liệu ấy đã tạo nên vẻ đẹp

cổ điển bức tranh núi rừng nơi miền đất lạ Thấp thoáng trong vần thơ “Tây Tiến”

là những câu cổ thi tuyệt bút:

“Sương đầu núi buổi chiều như dội,

Nước lòng khe nẻo suối còn sâu…”

(Chinh phụ ngâm)

Các thi sĩ xưa nay vẫn gọi hồn thu là “hồn lau”:

“Ngàn lau cười trong nắng

Hồn của mùa thu về

Hồn mùa thu sắp đi

Ngàn lau xao xác trắng”

(Lau mùa thu – Chế Lan Viên)

Điệp ngữ “có thấy” và “có nhớ” làm cho hoài niệm về chiều sương Mộc Châu

thêm phần mang mác bâng khuâng Nhớ cảnh rồi nhớ đến người Trong chia phôi

còn có nhớ “Có nhớ” chiếc thuyền độc mộc và dáng người chèo thuyền độc mộc?

Có nhớ hình ảnh “hoa đong đưa” trên dòng nước lũ? “Hoa đong đưa” có thể là

cánh hoa rừng làm duyên trên mặt nước hay là hình ảnh gợi tả các cô gái miền Tây

xinh đẹp chèo thuyền độc mộc duyên dáng, uyển chuyển giữa những cánh hoa

rừng “đong đưa”

www.facebook.com/groups/TaiLieuOnThiDaiHoc01

Trang 20

Những dòng hồi tưởng trên đây về cảnh sắc và con người nơi suối rừng miền Tây,

nơi cao nguyên Mộc Châu đã được thể hiện một cách tuyệt đẹp qua bút pháp tài

hoa và hồn thơ lãng mạn Thuở ấy, Tây Bắc vô cùng hoang vu, là trốn rừng thiêng

nước độc, nhưng với tâm hồn lãng mạn của Quang Dũng lại cảm nhận được bao vẻ

đẹp thơ mộng, xinh tươi của cảnh sắc thiên nhiên và con người Tây Bắc

Hoài niệm, kỷ niệm về chiến trường núi rừng miền Tây như được chắt lọc qua tâm

hồn Nhà thơ có gắn bó với cảnh vật và con người Tây Bắc, có vào sinh ra tử với

đồng đội mới có những kỷ niệm đẹp và sâu sắc đến vậy để viết lên những vần thơ

sáng giá như thế

Bức tranh chiều sương Mộc Châu và hội đuốc hoa như một bức tranh sơn mài của

một danh họa mang vẻ đẹp cổ điển và lãng mạn kết hợp hài hòa trong chiến tranh

máu lửa

Đề bài: Về hình tượng người lính trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng, có ý

kiến cho rằng: người lính ở đây có dáng dấp của các tráng sĩ thuở trước Ý kiến

khác thì nhấn mạnh: hình tượng người lính mang đậm vẻ đẹp của người chiến sĩ

Trang 21

+ Quang Dũng một nghệ sĩ đa tài, nhưng trước hết là một thi sĩ mang hồn thơ

phóng khoáng, hồn hậu, tài hoa

+ Bài thơ Tây Tiến được sáng tác năm 1948, tại Phù Lưu Chanh, đoàn binh Tây

Tiến thành lập đầu năm 1947, chủ yếu là thanh niên Hà thành Tây Tiến là bài thơ

tiêu biểu cho đời thơ Quang Dũng và thơ ca chống Pháp; tác phẩm đã khắc họa

thành công hình tượng người lính Tây Tiến

2 Giải thích ý kiến

+ “Dáng dấp tráng sĩ thuở trước” là nói đến những nét đẹp trượng phu giàu tính

ước lệ kiểu văn chương trung đại trong hình tượng người lính Người lính mang

dáng dấp của các tráng sĩ thuở trước (như Tống biệt hành của Thâm Tâm…) ra đi

với tinh thần nhất khứ bất phục phản (một đi không trở lại): với tinh thần vì nghĩa

lớn => vẻ đẹp hùng tráng

+ “Mang đậm vẻ đẹp của người chiến sĩ thời chống Pháp” là muốn nói ở hình

tượng người lính có nhiều nét đẹp thân thuộc chắt lọc từ đời sống chiến trường của

những anh vệ quốc quân thời chống Pháp Những người lính ra đi vì tiếng gọi của

non sông, Tổ Quốc: tinh thần: Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh, trong họ mang vẻ

đẹp lãng mạn, hào hoa

+ Đây là hai nhận xét khái quát về hai bình diện khác nhau của hình tượng người

lính Tây Tiến: ý kiến trước chỉ ra vẻ đẹp truyền thống, ý kiến sau chỉ ra vẻ đẹp

hiện đại Hình tượng người lính trong bài thơ Tây Tiến vừa mang vẻ đẹp hùng

tráng của tráng sĩ thời xưa vừa mang đậm vẻ đẹp của người chiến sĩ thời kháng

chiến chống Pháp hào hoa, lãng mạn

www.facebook.com/groups/TaiLieuOnThiDaiHoc01

Trang 22

3 Cảm nhận hình tượng người lính Tây Tiến và bình luận các ý kiến:

- Hình ảnh người lính Tây Tiến

+ Xuất thân của người lính Tây Tiến: Phần đông các chiến sĩ trong trung đoàn đều

là thanh niên Hà Nội

+ Với tình yêu, quê hương đất nước, người lính Tây Tiến theo tiếng gọi của non

sông, lên đường đi kháng chiến

+ Hoàn cảnh chiến đấu vô cùng gian khổ: sốt rét, hành quân trên địa hình hiểm trở,

thiên nhiên ẩn chứa những điều nguy hiểm, cái chết luôn cận kề

+ Nhưng nổi bật lên trong hoàn cảnh ấy là vẻ đẹp của người lính

– Vẻ đẹp người lính mang dáng dấp của các tráng sĩ thuở trước

+ Người lính trong Tây Tiến có dáng vẻ oai phong, lẫm liệt, đầy hào khí; tinh thần

chinh chiến kiêu dũng, xả thân; thái độ ngang tàng, ngạo nghễ, xem cái chết nhẹ

tựa lông hồng

www.facebook.com/groups/TaiLieuOnThiDaiHoc01

Trang 23

+ Hình tượng người lính đặt trong miền không gian đầy không khí bi hùng cổ xưa

với cuộc trường chinh vào nơi lam chướng nghìn trùng, với chiến trường là miền

viễn xứ chốn biên ải, gắn với chất liệu ngôn ngữ trang trọng, hình ảnh ước lệ, …

- Hình tượng người lính mang đậm vẻ đẹp của người chiến sĩ thời chống Pháp

+ Người lính với tinh thần vệ quốc của thời đại chống Pháp cảm tử cho tổ quốc

quyết sinh: không tiếc đời mình, không thoái chí sờn lòng, không bỏ cuộc; đời

sống quân ngũ gian khổ mà vẫn trẻ trung, tinh nghịch; lăn lộn trận mạc đầy mất

mát hi sinh mà vẫn đa cảm đa tình; dồi dào tình yêu thiên nhiên, tình quân dân và

tình đôi lứa

+ Hình tượng người lính gắn chặt với một sự kiện lịch sử là cuộc hành binh Tây

Tiến; một không gian thực là miền Tây, với những địa danh xác thực, những cảnh

trí đậm sắc thái riêng của xứ sở vốn hiểm trở mà thơ mộng; với ngôn ngữ đậm chất

đời thường của những người lính trẻ…

4 Đặc sắc nghệ thuật trong việc miêu tả vẻ đẹp người lính

- Cảm hứng lãng mạn là cảm hững chủ đạo

- Số lượng lớn từ Hán Việt

- Cách nói giảm, nói tránh

- Giọng điệu hào hùng, bi tráng

www.facebook.com/groups/TaiLieuOnThiDaiHoc01

Trang 24

So sánh với Đồng chí của Chính Hữu để thấy được vẻ đẹp của người lính trong

kháng chiến chống Pháp

5 Bình luận hai ý kiến

- Với sự kết hợp bút pháp hiện thực và cảm hứng lãng mạn, bài thơ đã trở thành

khúc ca bi tráng phản ánh chân thực cuộc sống chiến đấu gian khổ, sự hi sinh anh

dũng và vẻ đẹp hào hoa, hào hùng của người chiến sĩ Tây Tiến, những vẻ đẹp

mang " dáng dấp của các tráng sĩ thuở trước" và " vẻ đẹp của người chiến sĩ thời

kháng chiến chống Pháp"

– Hai ý kiến đều đúng, tuy có nội dung khác nhau, tưởng đối lập, nhưng thực ra là

bổ sung nhau, cùng khẳng định những đặc sắc của hình tượng người lính Tây Tiến:

đó là sự hoà hợp giữa vẻ đẹp tráng sĩ cổ điển với vẻ đẹp chiến sĩ hiện đại để tạo

nên một hình tượng toàn vẹn

– Hình tượng có được sự hoà hợp đó là do nhà thơ đã kế thừa thơ ca truyền thống,

sử dụng bút pháp lãng mạn, đồng thời đã mang được vào thơ không khí thời đại,

hiện thực chiến trường, đời sống trận mạc của bộ đội Tây Tiến mà tác giả vốn là

người trong cuộc

Nỗi nhớ cảnh và người Tây Bắc trong bài thơ Tây Tiến – Quang Dũng

Trang 25

trở thành những kỉ niệm khó quên Nhà thơ Quang Dũng cũng đã từng trải qua cảm

xúc ấy Nỗi nhớ của ông về những năm tháng kháng chiến, về những kỉ niệm gắn

bó với mảnh đất Tây Bắc đã được ghi lại chân thực trong bài thơ Tây Tiến Ở đó,

có những kỉ niệm hiện lên đẹp đẽ, lung linh hơn bao giờ hết:

“Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa

Kìa em xiêm áo tự bao giờ

Khèn lên man điệu nàng e ấp

Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ

Người đi Châu Mộc chiều sương ấy

Có thấy hồn lau nẻo bến bờ

người Châu Mộc Đọc Tây Tiến, tôi thấy toàn bài thơ là tiếng nói bổi hồi, tha thiết

trong nỗi nhớ của tâm hồn Nỗi nhớ chơi vơi, dàn trải vô định Nỗi nhớ như từng

đợt sóng, khi ào ạt khi lặng lẽ xô vào lòng người: nhớ từ cảnh thiên nhiên hùng vĩ

với dốc cao, vực sâu, thác ngàn dữ dội, nhớ đến cảnh thiên nhiên mĩ lệ, trữ tình Và

ở khổ thơ này, nỗi nhớ của Quang Dũng đã in đậm trong đêm hội đuốc hoa đậm đà

tình nghĩa cùng vẻ đẹp của những người dân nơi đây

Mở đầu đoạn thơ là những kí ức của Quang Dũng về đêm lien hoan lửa trại đậm đà

tình nghĩa:

www.facebook.com/groups/TaiLieuOnThiDaiHoc01

Trang 26

“Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa

Kìa em xiêm áo tự bao giờ

Khèn lên man điệu nàng e ấp

Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ”

Giữa những năm tháng gian nan của cuộc kháng chiến, những đêm lien hoan lửa

trại giữa người lính và đồng bào Tây Bắc diễn ra đơn sơ nhưng đậm nghĩa, đậm

tình Thế nhưng với những người lính đang từng giây từng phút đối mặt với gian

nan, thậm chí cả mất mát, hy sinh thì những đêm đơn sơ ấy lại trở thành buổi dạ

tiệc huy hoàng “Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa” Doanh trại bừng lên, cả núi

rừng hoang vu, âm u bỗng chợt bừng sáng, tưởng như có hàng ngàn, hàng vạn

ngọn đuốc đang bao phủ núi rừng Cảnh vật bừng tỉnh, núi rừng bừng tỉnh bởi lung

linh ánh sáng, rộn ràng âm thanh của tiếng khèn, tiếng hát, của tiếng nói, tiếng

cười Trong câu thơ, Quang Dũng sử dụng một từ cổ để diễn tả không khí của đêm

trại – đuốc hoa Đây là hình ảnh thường để chỉ ngọn nến được thắp lên trong phòng

cưới đêm tân hôn, như Nguyễn Du xưa kia từng viết “Đuốc hoa chỉ thẹn với chàng

mai xưa” Hình ảnh xuất hiện trong câu thơ của Quang Dũng đã tạo nên màu sắc

vừa trẻ trung, vừa hiện đại, vừa lãng mạn, vừa cổ kính, thiêng liêng, ấm áp nghĩa

tình keo sơn gắn bó Trên nền ánh sáng lung linh, rực rỡ, nổi bật lên dáng vẻ uyển

chuyển, mềm mại của nàng sơn nữ “Kìa em xiêm áo tư bao giờ” Ẩn sau những từ

ngữ :kìa em , xiêm áo tự bao giờ là ánh mắt ngỡ ngàng, ngạc nhiên, vui sướng của

những chàng lính trẻ Họ say sưa, ngây ngất chiêm ngưỡng vẻ đẹp của người thiếu

nữ miền Tây trong trang phục lộng lẫy, trong bước đi uyển chuyển của những điệu

múa làm say lòng người Quang Dũng đã khéo miêu tả nét đẹp riêng của những

nàng tiên nữ nơi núi rừng này Những từ ngữ ấn tượng giàu sức gợi: “xiêm áo, man

điệu” toát lên hương vị nơi xứ lạ, mang cái hồn riêng của miền sơn cước Đối với

những chàng trai của mảnh đất Hà Thành, đó là vẻ đẹp có sức quyến rũ kì lạ

Trong không khí tưng bừng náo nhiệt, trước vẻ đẹp huyền bí của người thiếu nữ

Tây Bắc, tâm hồn người lính Tây Tiến dạt dào bao cảm xúc lãng mạn “Nhạc về

Viên Chăn xây hồn thơ” Các anh thả hồn mình theo tiếng nhạc Lòng người xây

www.facebook.com/groups/TaiLieuOnThiDaiHoc01

Trang 27

bao mộng ước về ngày chiến thắng, mơ về ngày mai tươi sáng, mơ về những phút

giây được cùng đồng bào Viên Chăn nắm tay vui múa trong ngày thắng lợi Vì thế,

dòng thơ được thi sĩ sử dụng thanh bằng, tựa như âm điệu xao suyến, âm vang

Bốn câu thơ đem lại cho lòng người ấn tượng khó phai, không chỉ bằng tình thơ

lãng mạn mà còn bằng cách dùng từ rất duyên dáng của Quang Dũng: “đuốc hoa,

xiêm áo, man điệu, e ấp” Tất cả tạo cho thơ Quang Dũng dấu ấn của một phong

cách riêng: hào hoa, lãng mạn, tinh tế và chân thực vô cùng

Bên cạnh kỉ niệm về đêm liên hoan đậm đà tình nghĩa, ấn tượng để lại sâu sắc trong lòng Quang Dũng còn là cảnh song nước miền Tây:

“Người đi Châu Mộc chiều sương ấy

Có thấy hồn lau nẻo bến bờ

Có nhớ dáng người trên độc mộc

Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”

Trong suốt bài thơ Tây Tiến, Quang Dũng gửi hồn mình vào từng mảnh đất, nơi

đoàn quân đã đi qua Mỗi địa danh mang một dáng vẻ, một nét riêng in sâu trong kí

ức của nhà thơ Nhớ từ dòng sông Mã, nhớ đến vùng đất Sài Khao, nhớ đến vùng

Mường Lát ngạt ngào hoa rừng, nhớ từ thanh âm cọp true người trên mảnh đất

Mường Hịch nhớ đến cơn mưa rừng giăng giăng trên lưng núi Pha Luông Mỗi

mảnh đất là một kỉ niệm, một dấu ấn khó quên Để rồi trong đoạn thơ này, hồn thơ

Quang Dũng lắng chìm trong vùng quê Châu Mộc vào một buổi chiều sương – gợi

nên chất thơ riêng của miền rừng núi Khi chiều buông xuống, cả đất trời chìm

trong màn sương khói mờ ảo, lãng đãng Màn sương giăng bồng bềnh trong không

gian, bao trùm mọi cảnh vật Giữa khung cảnh ấy, Quang Dũng đặc tả vẻ đẹp của

dòng sông giữa chiều sương “ Có thấy hồn lau nẻo bến bờ” Người lính bắt gặp cái

thần của cảnh nơi rừng biên giới là ở bạt ngàn hoa lau trắng Những bông lau phớt

phơ trong chiều sương ẩn trong tất cả sự hoang sơ, tính lặng và yên ả của cảnh sắc

nơi đây “Cảnh bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử”, “Cảnh hồn nhiên như nỗi

niềm cổ tích ngày xưa” Lau biên giới không chỉ xôn xao trong nỗi niềm thơ

www.facebook.com/groups/TaiLieuOnThiDaiHoc01

Trang 28

Quang Dũng mà sắc trắng tinh khôi, mềm mại đó từng rung động biết bao trái tim

người thi sĩ “Ai lên biên giới theo lòng ta theo với / Thăm ngàn lau chỉ đứng có

một mình / Bạt ngàn trắng ở tận cùng bờ cõi / Suốt một đời cùng với gió giao

tranh” (Lau biên giới – Chế Lan Viên) Có điều, trong câu thơ của mình, Quang

Dũng không dùng từ ngàn lau, bãi lau mà là “hồn lau” Nhà thơ cảm nhận vẻ đẹp

của cảnh không chỉ bằng trực quan của mình mà bằng cả thế giới tâm linh để rồi

nắm bắt được cả cái hồn của thiên nhiên sông núi phảng phất trong buổi chiều

sương Cách diễn đạt đem đến cho không gian thơ một ấn tượng mơ hồ, nhạt nhòa,

vừa gây cảm giác lâng lâng bềnh bồng như chính tâm hồn con người chơi vơi theo

từng cảnh vật Đồng thời chỉ với từ “hồn lau”, nhà thơ đã làm sống dậy vẻ đẹp

thiêng liêng của sông nước nơi này Hồn lau – hồn của cảnh hay cũng gợi lên hồn

người cảm giác bang khuâng, nao nao buồn Dù cho cuộc chiến có nhiều gian khổ,

dù hằng ngày phải cận kề với những hy sinh nhưng chẳng thể khiến tâm hồn người

lính trở nên chai sạn Các anh vẫn xôn xao cảm xúc trước một buổi chiều sương,

vẫn rung động tâm hồn trước vẻ đẹp hoang sơ của lau biên giới, vẫn nôn nao cảm

xúc trước vẻ đẹp của một cành hoa bé nhỏ trên dòng sông Tất cả làm nên vẻ đẹp

lãng mạn, tinh tế trong tâm hồn người lính

Khung cảnh thiên nhiên tĩnh lặng và hoang sơ làm nền cho sự xuất hiện của con người Tây Bắc “Có nhớ dáng người trên độc mộc / Trôi dòng nước lũ hoa

đong đưa” Quả là minh chứng về bút pháp thi trung hữu họa! Hai dòng thơ tạo nên

một bức tranh tuyệt đẹp Hình ảnh thơ từng gợi nhiều hướng cảm nhận khác nhau

Song có lẽ cảm xúc mà Quang Dũng muốn tô đậm nhất vẫn là vẻ đẹp của con

người Tây Bắc và nét đẹp trong tâm hồn của người lính Tây Tiến Dưới con mắt

của các anh, dòng sông hiển hiện trong sự dữ dằn của mùa nước lũ Cái dữ dội, cái

âm thanh gầm gào, cuồn cuộn như chất chứa tất cả vẻ khắc nghiệt của thiên nhiên

nơi này Trên dòng nước cuồn cuộn trôi, hình ảnh con người nổi bật trên chiếc

thuyền độc mộc giữa mênh mang sông nước “Có nhớ dáng người trên độc mộc” –

con người trở thành trung tâm của bức tranh Nhưng ở đây, nhà thơ chỉ viết “dáng

người”, nhà thơ không chú trọng ngoại hình mà đặc biệt tô đậm sức sống tâm hồn,

ý chí dẻo dai, phi thường của con người khi đối diện với thiên nhiên dữ dội Đọc

câu thơ, tôi mường tượng hình ảnh bé nhỏ, mảnh mai của con người trên con

www.facebook.com/groups/TaiLieuOnThiDaiHoc01

Trang 29

thuyền đang lao nhanh giữa dòng nước lũ Cái khắc nghiệt của thiên nhiên chẳng

thể nào khuất phục con người Dáng vẻ của con người duyên dáng, mảnh mai, dẻo

dai và kiêu hãnh vô cùng Nét đẹp của họ lồng lộng trong tư thế làm chủ giữa mien

man sông nước Dòng sông càng dữ dội bao nhiêu, dáng người trên chiếc thuyền

độc mộc lại càng đem đến cho tôi cảm giác than phục và gợi nhiều cảm xúc bấy

nhiêu

Tôn lên vẻ đẹp của con người là hình ảnh “Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”

Không phải là nhành hoa trôi nổi bị cuốn theo dòng nước mà là nhành hoa bé nhỏ

vẫn tồn tại, vẫn cố bám trụ trong dòng nước cuồn cuộn trôi Thủ pháp tương phản

đã được vận dụng triệt để Ngôn ngữ tạo hình “đong đưa” được Quang Dũng vận

dụng vừa gợi hình vừa gợi cảm : gợi dáng vẻ ngả nghiêng không được vững vàng

nhưng vẫn không bị cuốn trôi Cũng xuất phát từ hai chữ “đong đưa” khiến tâm

hồn tôi lien tưởng : Nhành hoa nghiêng ngả, lả lướt, tình tứ đong đưa như muốn

làm duyên bên dòng nước lũ Cảnh gợi tả vô cùng! Một vẻ đẹp mềm mại nhưng ẩn

chứa sức sống mãnh liệt, dẻo dai Như thế, hoa là hình ảnh ẩn dụ, tô đậm cho nét

đẹp của con người Thiên nhiên nơi đây cũng như con người vậy, ẩn giấu vẻ đẹp

huyền bí vô cùng Nó hấp dẫn, lôi cuốn tâm hồn chàng lính trẻ , đem lại cho anh

những cảm nhận tinh tế, lãng mạn và đầy chất thơ Góp phần khắc họa vẻ đẹp mơ

màng của cảnh sắc nơi đây còn là giọng thơ của thi sĩ Quang Dũng vận dụng lien

tiếp các điệp từ “có nhớ, có thấy” ở đầu hai câu thơ đem lại cảm giác nỗi nhớ thi

nhau ùa về, khơi gợi trong lòng người ấn tượng khó quên về cảnh sắc thiên nhiên

Điệp khúc “có nhớ, có thấy” kết hợp với từ láy “độc mộc, đong đưa” cùng cách

diễn đạt “hồn lau” đem lại cho 4 câu thơ âm điệu ngân nga như hát Đọc đoạn thơ,

tôi thấy mình như lạc vào cõi mơ của một bức tranh thủy mặc, lạc vào khung cảnh

chiều sương, chiều mơ, chiều thơ và chiều họa Hơn bao giờ hết, chất thơ và chất

họa đã hòa trong nhau để làm nên thế giới nhạc và hình nên thơ như chính dòng

cảm xúc say sưa trong tâm hồn thi sĩ Có biết bao buổi chiều sương đã di vào thơ

ca, đã biết bao cảnh dòng sông đắm mình trong sương được dệt nên bởi thế giới

www.facebook.com/groups/TaiLieuOnThiDaiHoc01

Trang 30

ngôn từ Quả thật, ai đó đã rất có lý khi cho rằng “Trong thơ Quang Dũng , ta bắt

gặp 1 nhạc sĩ, 1 họa sĩ, con người nào cũng thật lãng mạn, hào hoa”

Trong đoạn thơ, Quang Dũng đã khám phá và thể hiện được chiều sâu vẻ đẹp tâm hồn người lính Tây Tiến Đằng sau cảnh sông nước miền Tây đẹp như bức

họa thời tiền sử, đằng sau nét đẹp con người Tây Bắc là những rung cảm tinh tế

trong tâm hồn người lính Tây Tiến Họ kiên cường trước những khó khắn, gian

khổ, kiên dũng, bất khuất, oai nghiêm trước quân thù Nhưng trong tâm hồn họ,

vẫn vẹn nguyên bao xúc cảm trẻ trung, thơ mộng

Đọc xong những ý thơ mà tôi có cảm giác vẻ đẹp của thiên nhiên, con người miền Tây còn chập chờn, mien man đâu đó Quả thật bằng tình cảm sâu đậm của

mình với mảnh đất này, Quang Dũng đã tạo nên mối tơ tình đồng điệu, gắn bó giữa

độc giả với nhà thơ, giữa độc giả với thiên nhiên, con người miền Tây trong những

năm tháng kháng chiến gian nan Quả là “ Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy / Hồn về

Sầm Nứa chẳng về xuôi”

VIỆT BẮC – TỐ HỮU

A Tác giả

I Tiểu sử:

Tố Hữu (1920 – 2002) tên khai sinh là Nguyễn Kim Thành, sinh năm 1920 tại

Thừa Thiên – Huế Ông xuất thân trong một gia đình nhà nho nghèo, mồ côi mẹ

năm 12 tuổi Bước vào những năm thanh niên, ông tham gia phong trào đấu tranh

cách mạng và trở thành người lãnh đạo chủ chốt của Đoàn Thanh niên Dân chủ ở

Huế, rồi được kết nạp vào Đảng Cộng Sản Đông Dương Cuối tháng 4 – 1939 bị

giặc bắt Tháng 3 – 1942 ông vượt ngục, tiếp tục hoạt động cách mạng.Cách mạng

tháng tám năm 1945, ông là Chủ tịch Ủy ban khởi nghĩa ở Huế Trong hai cuộc

kháng chiến và cho đến năm 1986, ông liên tục giữ những cương vị trọng yếu

trong bộ máy lãnh đạo của Đảng và Nhà nước Ông đã được tặng giải thưởng Hồ

Chí Minh về văn học nghệ thuật (1996)

www.facebook.com/groups/TaiLieuOnThiDaiHoc01

Trang 31

II Con đường thơ

1 Tập thơ “Từ ấy”

- Thời gian sáng tác: từ năm 1937 đến năm 1946

- Đánh giá chung: là chặng đường đầu tiên của đời thơ Tố Hữu, đánh dấu bước

trưởng thành của người thanh niên quyết tâm đi theo ngọn cờ của Đảng

- Nội dung: tập thơ gồm 3 phần: Máu lửa: gồm những bài sáng tác trong thời kì

Mặt trận Dân chủ, thể hiện sự cảm thông sâu sắc và khơi dậy ý chí đấu tranh, niềm

tin vào tương lai của những người nghèo khổ trong xã hội

Xiềng xích: gồm những bài thơ sáng tác trong các nhà lao lớn ở Trung Bộ và Tây

Nguyên Đó là tâm tư và ý chí kiên cường của người chiến sĩ trong nhà tù

Giải phóng: gồm những bài sáng tác từ khi Tố Hữu vượt ngục đến những ngày đầu

giải phóng vĩ đại của toàn dân tộc Nhà thơ nồng nhiệt ca ngợi thắng lợi của cách

mạng, nền độc lập, tự do của Tổ quốc, khẳng định niềm tin tưởng vững chắc của

nhân dân vào chế độ mới

2 Tập thơ “Việt Bắc”

- Thời gian sáng tác: từ năm 1946 đến năm 1954

- Đánh giá chung: là tiếng ca hùng tráng, thiết tha về cuộc kháng chiến chống

Pháp; là một đỉnh cao của thơ Tố Hữu và cũng là một sáng tác xuất sắc của thơ ca

Việt Nam thời kháng chiến chống Pháp

- Nội dung: Ca ngợi những con người kháng chiến rất bình thường nhưng anh

hùng, khẳng định vai trò của Đảng và Bác Hồ, thể hiện những tình cảm lớn Tập

thơ kết thúc bằng khí thế chiến thắng hào hùng, biết bao tình cảm bồi hồi, xúc

động của dân tộc trong giờ phút lịch sử

3 Tập thơ “Gió lộng”

- Thời gian sáng tác: từ năm 1955 đến năm 1961

www.facebook.com/groups/TaiLieuOnThiDaiHoc01

Trang 32

- Đánh giá chung: đánh dấu một giai đoạn cách mạng mới – xây dựng miền Bắc xã

hội chủ nghĩa, dạt dào bao nguồn cảm hứng lớn lao

- Nội dung: Ca ngợi cuộc sống mới trên miền Bắc thực sự là một ngày hội lớn,

nhìn vào đâu cũng thấy tràn đầy sức sống và niềm vui Thể hiện nỗi đau chia cắt

hai miền, bộc lộ tình cảm thiết tha, sâu nặng với miền Nam ruột thịt, niềm tin

không gì lay chuyển được vào ngày mai thắng lợi, thống nhất non sông

4 Tập thơ “Ra trận” – “ Máu và hoa”

- Thời gian sáng tác: Ra trận (1962 – 1971), Máu và hoa (1072 – 1977)

- Đánh giá chung: âm vang khí thế quyết liệt của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu

nước và niềm vui toàn thắng

- Nội dung“Ra trận”: là bản anh hùng ca về miền Nam anh dũng với bao con người

quen thuộc tiêu biểu cho dũng khí kiên cường của dân tộc

- “Máu và hoa”: ghi lại một chặng đường cách mạng đầy gian khổ, hi sinh, khẳng

định niềm tin sâu sắc vào sức mạnh tiềm tàng của xứ sở quê hương, cũng như của

mỗi con người Việt Nam mới, biểu hiện niềm tự hào và niềm vui phơi phới khi

“toàn thắng về ta”

5 Tập thơ “Một tiếng đờn” (1992) – “ Ta với ta” (1999): là hai tập thơ đánh dấu

bước chuyển biến mới trong thơ Tố Hữu Thể hiện nhiều cảm xúc, suy tư chiêm

nghiệm của nhà thơ trước thời kì mới và vẫn kiên định niềm tin vào lí tưởng và con

đường cách mạng, vào chữ “nhân” luôn tỏa sáng ở mỗi hồn người

B Phong cách nghệ thuật

1 Về nội dung, thơ Tố Hữu mang tính chất trữ tình chính trị rất sâu sắc Thơ Tố

Hữu mang đậm tính sử thi, với cảm hứng lịch sử - dân tộc, ông coi những sự kiện

chính trị lớn của đất nước là đối tượng thể hiện chủ yếu, luôn đề cập đến những

vấn đề có ý nghĩa lịch sử và có tính chất toàn dân Hồn thơ Tố Hữu luôn hướng

đến cái ta chung với lẽ sống lớn, tình cảm lớn, niềm vui lớn sôi nổi, hân hoan

hướng về chiến thắng của con người cách mạng, của cả dân tộc Ngay từ đầu, cái

www.facebook.com/groups/TaiLieuOnThiDaiHoc01

Trang 33

tôi trữ tình trong thơ Tố Hữu đã là cái tôi chiến sĩ, càng về sau càng xác định rõ là

cái tôi nhân danh Đảng, nhân danh cộng đồng dân tộc Con người trong thơ Tố

Hữu là con người của sự nghiệp chung với những cố gắng phi thường, mang phẩm

chất tiêu biểu cho dân tộc

2 Giọng thơ là giọng tâm tình, ngọt ngào tha thiết Thường hướng về đồng bào,

đồng chí mà trò chuyện, nhắn nhủ, tâm sự Những tâm tình đó có cội nguồn từ chất

Huế của hồn thơ Tố Hữu và cũng từ quan niệm của chính ông: “Thơ là chuyện

đồng điệu, nó là tiếng nói… đồng ý, đồng tình, tiếng nói đồng chí”

3 Nghệ thuật biểu hiện trong thơ Tố Hữu đậm đà tính dân tộc Đặc biệt thành công

khi vận dụng những thể thơ truyền thống của dân tộc: thơ lục bát của ông mang sắc

thái ca dao và lục bát cổ điển, dạt dào những âm hưởng nghĩa tình của hồn thơ dân

tộc; những bài thơ theo thể thất ngôn trang trọng nhưng không khuôn sáo, trái lại

hơi thơ liền mạch, diễn tả được hiện thực đa dạng và nhiều trạng thái cảm xúc khác

nhau Về ngôn ngữ, Tố Hữu thường sử dụng những từ ngữ và cách nói quen thuộc

với tiếng dân tộc Đặc biệt thơ Tố Hữu đã phát huy cao độ tính nhạc phong phú của

tiếng việt, nhà thơ sử dụng rất tài tình các từ láy, các thanh điệu, các vần thơ…

Đề bài: Bình giảng đoạn thơ sau đây trong phần đầu bài "Việt Bắc "

của Tố Hữu:

Mình về mình có nhớ ta Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng Mình về,mình có nhớ không Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn

Tiếng ai tha thiết bên cồn Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi

Áo chàm đưa buổi phân li

www.facebook.com/groups/TaiLieuOnThiDaiHoc01

Trang 34

Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay Mình đi, có nhớ những ngày Mùa nguồn suối lũ, những mây cùng mù

Mình về, có nhớ chiến khu Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai

Mình về, rừng núi nhớ ai Trám bùi để rụng, măng mai để già Mình đi, có nhớ những nhà Hắt hiu lan xám, đậm đà lòng son Mình về, mình có nhớ ta Nhớ khi kháng Nhật, thuở còn Việt Minh

Mình đi, mình có nhớ mình Tân Trào, Hồng Thái, mái đình, cây đa

BÀI LÀM Việt Bắc là bài thơ lục bát dài 150 câu thơ của Tố Hữu được sáng tác vào tháng 10

năm 1954, ngày Thủ đô Hà Nội được hoàn toàn giải phóng Việt Bắc là bản hùng

ca và tình ca của cách mạng và kháng chiến Đoạn thơ sau đây dài 20 câu thơ nằm

trong phần đầu bài Việt Bắc:

Mình về mình có nhớ ta

………

Tân Trào, Hồng Thái, mái đình, cây đa

www.facebook.com/groups/TaiLieuOnThiDaiHoc01

Trang 35

Đoạn thơ ghi lại tình cảm của ta khi đưa tiễn mình: mình đi mình về Có thể

hiểu ta là cô gái Việt Bắc, là đồng bào các dân tộc Việt Bắc; mình là người cán bộ

kháng chiến, là anh bộ đội Cụ Hồ Chữ ta được vây bọc, được quấn quýt trong

vòng tay yêu thương của mười hai chữ mình

Bốn câu thơ mở bài cất lên nghe thật tha thiết bồi hồi; cảm xúc được nén lại trong

lòng bỗng ùa dậy và trào lên Ta hỏi mình, hay ta đang hỏi lòng ta trong buổi phân

li ấy:

Mình về mình có nhớ ta

Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng

Mình về mình có nhớ không

Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn ?

Tình nghĩa giữa ta với mình không phải là ngày một ngày hai mà đã giao hoà gắn

kết “thiết tha, mặn nồng " trong suất mười lăm năm trời, kể từ ngày khởi nghĩa Bắc

Sơn (1940) đến ngày miền Bắc hoàn toàn giải phóng (tháng l0-1954) Cây, núi,

sông, nguồn Việt Bắc "mình có nhớ không?" Câu hỏi tu từ mở ra một trời thương

nhớ

Tố Hữu đã học tập và vận dụng sáng tạo ca dao dân ca, gợi nhớ trong lòng người

đọc hai tiếng mình, ta trong những bài hát giao duyên của trai gái làng quê thuở

nào:

"Mình về có nhớ ta chăng - Ta về ta nhớ hàm răng mình cười " Chất trữ tình đắm

thắm ấy đã tạo nên một nét đẹp trong đoạn thơ, cũng như cả bài thơ

www.facebook.com/groups/TaiLieuOnThiDaiHoc01

Trang 36

Bốn câu thơ tiếp theo gợi tả không gian, thời gian và tâm trạng nghệ thuật của

người ra đi, của kẻ ở lại Tiếng hát tha thiết của ai cất lên bên cồn, nơi mé rừng, nơi

bờ suối? Hình ảnh hoán dụ "áo chăm " làm nổi bật đối tượng đưa tiễn và màu sắc

Việt Bắc "Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi Cầm tay nhau biết nói gì

hôm nay " gợi lên nhiều thương nhớ rưng rưng Các từ láy: "tha thiết, bâng

khuâng, bồn chồn" là tâm trạng của mình, của ta:

Tiếng ai tha thiết bên cồn

Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi

Áo chăm đưa buổi phân li

Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay

Mười hai câu thơ tiếp theo, các cặp từ ngữ: "mình đi" và "mình về" được giao

hoán, luân phiên đến ba lần đầy ấn tượng Điệp ngữ "có nhớ" được láy lại đến năm

lần, chốt lại ở các câu lục, tạo nên cảm xúc bâng khuâng, bồn chồn, tha thiết:

Mình đi, có nhớ những ngày

Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù

Mình về, có nhớ chiến khu

Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai?

Những gian khổ, thiếu thốn, khó khăn khi cách mạng còn trứng nước, những ngày

Bác Hổ mới về nước "nhóm lửa" tại Pac Bó, Cao Băng “mưa nguồn suối lũ những

mây cùng mù" nơi chiến khu giữa vòng vây của giặc Pháp, giặc Nhật đã trở thành

kỉ niệm sâu sắc trong lòng kẻ ở người về “Miếng cơm chấm muối " thuở ấy đã làm

www.facebook.com/groups/TaiLieuOnThiDaiHoc01

Trang 37

cho tình đồng chí, tình đồng đội, tình quân dân thêm sắt son bền chặt, đã soi sáng lí

tưởng chiến đấu cứu.nước, cứu nhà, đã làm cho mối thù đế quốc thêm "nặng vai"

khắc sâu

Mày sẽ chết thằng giặc Pháp hung tàn

Băm xương thịt mày, tao mới hả

(Dọn về làng - Nông Quốc Chấn)

Mình về xuôi, mình đi xa để lại bao nhớ thương cho ta, cho người ở lại, cho cảnh

vật cỏ cây núi rừng chiến khu “Rừng núi, trám bùi, măng ma”i được nhân hoá,

mang theo bao nỗi nhớ, bao nỗi buồn thương Cảnh vật như hoà lệ Các chữ "rụng

", chữ “già " gợi lên nhiều bơ vơ, man mác, bâng khuâng:

Mình về, rừng núi nhớ ai

Trám bùi để rụng, măng mai để già

Làm sao có thể quên được nghĩa tình Việt Bắc trong những tháng ngày gian lao ấy

và cảnh vật nặng tình nghĩa của Việt Bắc:

Mình đi, có nhớ những nhà

Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son

Tố Hữu đã sáng tạo nên những hình ảnh tượng trưng, tương phản (lau xám / long

son) để ca ngợi đồng bào các dân tộc Việt Bắc Tuy nghèo khó, thiếu thốn nhưng

tình yêu nước, tình cách mạng vẫn thuỷ chung son sắt, vẫn đậm đà Đây là những

vần thơ đẹp nhất, cảm động nhất nói về nỗi nhớ, lòng biết ơn và lòng tự hào đối

với Việt Bắc

www.facebook.com/groups/TaiLieuOnThiDaiHoc01

Trang 38

Việt Bắc là "đầu nguồn ", là "cái nôi" của cách mạng và kháng chiến, là căn cứ địa

của Việt Minh thời kháng Nhật, là Tân Trào, nơi Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải

phóng quân làm lễ xuất kích (tháng 12-1 944), là mái đình Hồng Thái, nơi họp

Quốc dân đại hội (tháng 8-1945) Việt Bắc là chiến khu bất khả xâm phạm, là thủ

đô gió ngàn: "Núi giăng thành luỹ sắt dày - Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù ",

nên có bao giờ có thể quên:

Mình về, có nhớ núi non

Nhớ khi kháng Nhật, thuở còn Việt Minh

Mình đi, mình có nhớ mình

Tân Trào, Hồng Thái, mái đình, cây đa

Những địa danh lịch sử, núi non, mái đình, cây đa… đã trở thành kỉ niệm sâu sắc

trong lòng kẻ ở người về đối với Việt Bắc:đình, cây đa đã trở thành kỉ niệm sâu

sắc:

Mười lăm năm ấy ai quên

Quê hương cách mạng dựng nên Cộng hoà

Một nét đặc sắc của đoạn thơ là tác giả đã sử dụng biện pháp nghệ hoá đối xứng

rất tài tình Các câu bát được tạo thành hai vế đối nhau ( tiểu đối) làm cho ngôn

ngữ thơ hài hòa, mang vẻ đẹp cổ điển:

Nhìn cây nhớ núi, // nhìn sông nhớ nguồn ?

www.facebook.com/groups/TaiLieuOnThiDaiHoc01

Trang 39

Bâng khuâng trong dạ, // bồn chồn bước đi

Mưa nguồn suối lũ, // những mây cùng mù

Miệng cơm chấm muối, // môi thù nặng vai?

Trám bùi để rụng, / măng mai để già

Hắt hiu lau xám, // đậm đà lòng son

Nhớ khi kháng Nhật, / thuở còn Việt Minh

Tân Trào, Hồng Thái, // mái đình, cây đa

Đoạn thơ trên đây cũng như cả bài thơ, có trường hợp chữ mình xuất hiện đến ba

lần trong một câu thơ Thật không dễ phân biệt rạch ròi chủ thể trữ tình trong ba

chữ mình đó Phải chăng mình và ta đã hòa làm một, mình là ta và ta cũng là mình

Mình đi, mình có nhớ mình

Mình đi, mình lại nhớ mình

Việt Bắc là đỉnh cao của thơ Tố Hữu, cũng là thành tựu đặc sắc của thơ ca kháng

chiến Đoạn thơ trên đây tiêu biểu cho vẻ đẹp đặc sắc đó

Ngôn ngữ thơ vừa thấm đẫm chất trữ tình ca dao, dân ca vừa mang vẻ đẹp của thi

ca cổ điển dân tộc

Sau hơn nửa thế kỉ, đọc Việt Bắc của Tố Hữu, ta càng xúc động, bồi hồi về điệp

ngữ "có nhớ" Việt Bắc là bài ca tình nghĩa thủy chung Bài ca ấy, bài học ấy cho

biết sống đẹp ta thời đổi mới ngày nay niềm tin yêu và sức mạnh để bước vào đời

Bình giảng đoạn thơ sau trong bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu :

www.facebook.com/groups/TaiLieuOnThiDaiHoc01

Trang 40

Mình về với Bác đường xuôi

Thưa giùm Việt Bắc không nguôi nhớ Người

Nhớ ông Cụ mắt sáng ngời!

Áo nâu túi vải đẹp tươi lạ thường!

Nhớ Người những sáng tinh sương

Ung dung yên ngựa trên đường suối reo

Nhớ chân Người bước lên đèo

- Người đi rừng núi trông theo bóng Người

Phân tích hình ảnh Bác trong bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu

BÀI LÀM Chủ tịch Hồ Chí Minh là vị anh hùng cứu nước có công lao vô cùng to lớn đối với

dân tộc ta Bác đã mở ra kỉ nguyên độc lập, tự do, lãnh đạo thắng lợi hai cuộc

kháng chiến chống ngoại xâm oanh liệt nhất trong lịch sử nước nhà Kháng chiến

chống Pháp thành công với chiến thắng Điện Biên Phủ chấn động hoàn cầu, miền

Bắc giải phóng, Bác cùng Chính phủ và cán bộ, chiến sĩ chia tay với Việt Bắc để

về xuôi Để ghi lại tình cảm sâu nặng giữa đồng bào Việt Bắc với Chính phủ, bộ

đội đặc biệt là tình cảm đối với Bác Hồ, Tố Hữu đã sáng tác bài thơ Việt Bắc

Đoạn thơ dưới đây nói về Bác Hồ, một vĩ nhân – người rất đỗi khiêm tốn và giản

dị:

Mình về với Bác đường xuôi,

Thưa giùm Việt Bắc không nguôi nhớ Người

www.facebook.com/groups/TaiLieuOnThiDaiHoc01

Ngày đăng: 12/10/2017, 22:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w