1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Rèn kĩ năng viết phần giải thích cho đề văn nghị luận xã hội trong bài thi THPT quốc gia

21 605 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 164 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giải thích đúng sẽ hiểu đúng, viết đúng, xây dựng hệ thống luận điểmtương ứng với luận đề.Vậy nên, chúng tôi vô cùng trăn trở và đó cũng chính là lí do đưa chúng tôi đến với đề tài: “Rèn

Trang 1

Đề văn những năm gần đây ra theo lối mở theo tinh thần đổi mới của Bộ giáodục nhằm để phát huy tư duy sáng tạo của học sinh Trong đề thường không có chỉdẫn rõ ràng về thao tác lập luận, thế nhưng khi làm bài các em cần thiết phải biếtphối hợp nhuần nhuyễn các thao tác nghị luận Trong số các thao tác lập luận, thaotác giải thích vô cùng quan trọng, có tính định hướng, là kim chỉ nam cho toàn bộbài văn Giải thích đúng sẽ hiểu đúng, viết đúng, xây dựng hệ thống luận điểmtương ứng với luận đề.

Vậy nên, chúng tôi vô cùng trăn trở và đó cũng chính là lí do đưa chúng tôi

đến với đề tài: “Rèn kĩ năng viết phần giải thích cho đề văn nghị luận xã hội

trong bài thi THPT Quốc Gia”

1.2 Mục đích nghiên cứu

- Trình bày những hiểu biết của mình về khái niệm văn giải thích

- Tầm quan trọng của phần giải thích trong đoạn văn nghị luận xã hội

- Những kỹ năng cơ bản khi viết phần giải thích trong đoạn văn nghị luận xãhội với đối tượng là học sinh tham dự kì thi THPT Quốc gia Đề tài hướng tới haimục đích:

+ Với học sinh: đề tài đưa ra một vài cách thức giúp học sinh có thêm kỹnăng giải thích trong viết văn nghị luận, để học sinh tự tin chủ động sáng tạo khilàm bài, thể hiện đúng chất của học sinh giỏi văn, đáp ứng tốt yêu cầu của việc thi

cử theo tinh thần đổi mới của những năm gần đây

+ Với giáo viên: cần có ý thức hơn trong giảng dạy và ôn luyện bên cạnhviệc cung cấp kiến thức cũng cần chú ý tới việc rèn kỹ năng làm bài và trong đó cóviệc rèn kỹ năng giải thích trong đoạn văn nghị luận xã hội

1.3 Đối tượng nghiên cứu

Phương pháp rèn kỹ năng giải thích trong đoạn văn nghị luận xã hội

1.4 Phương pháp nghiên cứu:

Trang 2

Phương pháp thống kê

Phương pháp phân tích

Phương pháp tổng hợp

1.5 Điểm mới của đề tài nghiên cứu:

Người viết mạnh dạn đưa ra một số kĩ năng kinh nghiệm của bản thân trong

qua trình dạy học về vấn đề “Rèn kĩ năng viết phần giải thích cho đề văn nghị luận

xã hội trong bài thi THPT Quốc Gia” mà từ trước đến nay giáo viên cũng như học

sinh chưa quan tâm nhiều:

- Xác lập được các bước tiến hành viết phần giải thích cho đề văn nghị luận

2.1.1.Văn nghị luận

Văn nghị luận là thể loại văn viết về những vấn đề thuộc nhiều lĩnh vực đời sống khác nhau như chính trị, kinh tế, văn hoá, triết học…Mục đích của văn nghị luận là bàn bạc, thảo luận, phê phán hay truyền bá tức thời một tư tưởng, quan điểm nào đó … đặc trưng cơ bản của văn nghị luận là tính chất luận thuyết - khác với văn học nghệ thuật, văn chương nghị luận trình bày tư tưởng và thuyết phục người đọc chủ yếu bằng lập luận, lí lẽ… (Theo Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn

Khắc Phi - Từ điển thuật ngữ văn học- NXB Đại học quốc gia, 4 - 1999).

Nhìn từ đề tài, đối tượng nghị luận, có thể chia văn nghị luận thành hai loạilớn: nghị luận xã hội và nghị luận văn học

Trong cả hai kiểu bài, thao tác lập luận giải thích có vị trí, vai trò quan trọng

2.1.2 Thao tác lập luận giải thích

c Yêu cầu của thao tác lập luận giải thích:

Trang 3

Khi giải thích ngắn gọn, rõ ý, hay, có tính nghệ thuật

2.1.3 Rèn kĩ năng viết phần giải thích trong đề nghị luận xã hội

a Kĩ năng nhận diện dạng đề

Đoạn văn nghị luận xã hội theo cấu trúc đề thi THPT Quốc gia hiệnhành thường được chia thành hai dạng gắn với ngữ liệu ở phần đọc hiểu của đề:

+ Nghị luận về một tư tưởng đạo lí

+ Nghị luận về một hiện tượng đời sống

Tùy vào dạng đề cụ thể để sử dụng cách giải thích phù hợp

+ Giải thích nghĩa từ theo đặc điểm của từ loại: danh từ, động từ, tính từ

- Giải thích câu, vế câu: căn cứ vào các từ , mối quan hệ các từ: nếu-thì; hãy,đừng, nên, mà v.v để xác định vế chính Giải thích nghĩa của tập hợp từ và bốicảnh câu nói

- Giải thích hình ảnh: tìm ra ý nghĩa tả thực và biểu tượng của hình ảnh

- Ngoài ra cần chú ý tới các biện pháp tu từ được sử dụng trong đề Cuốicùng rút ra ý nghĩa của vấn đề nghị luận

2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm:

2.2.1 Thực tế giảng dạy và chấm thi

Học sinh vẫn còn yếu về kỹ năng làm bài, trong đó có kỹ năng từng bướcthực hiện các thao tác lập luận như phân tích, chứng minh, bình luận… trong đó taphải kể đến một khâu vô cùng quan trọng là viết phần giải thích

Để làm tốt một đề thi là nghị luận văn học hay nghị luận xã hội, học sinhtrước hết phải thuần thục các thao tác nghị luận mà đầu tiên là kỹ năng giải thích

2.2.2 Một số kĩ năng học sinh đã được trang bị

- Kĩ năng nhận diện vấn đề cần nghị luận:

Trang 4

Trước mỗi đề nghị luậnxã hội, người viết cần có cái nhìn tinh để nhận diệnvấn đề nghị luận, vấn đề đó thực chất được gài một cách khéo léo trong câu chữcủa đề, trong mối quan hệ giữa các vế câu, trong cách dùng hình ảnh v.v.

- Kĩ năng tìm ý: để có thể viết tốt phần giải thích học sinh phải xác định được

ý chính cần làm rõ, căn cứ để xác định ý chính là từ ngữ, vế câu, hình ảnh, biện pháp

tu từ, các kiến thức liên quan Trên cơ sở tập hợp các nét nghĩa tìm ra vấn đề cầnnghị luận

- Kĩ năng sắp xếp ý: để người đọc hiểu, tin vào vấn đề đang nghị luận, cầnđảm bảo tính hệ thống của lập luận Nên cân nhắc, giải thích ý nào trước, ý nào sau

để vừa đảm bảo tính lôgic vừa phù hợp tâm lí tiếp nhận

- Kĩ năng diễn đạt: Trong diễn đạt cần chuẩn xác và truyền cảm Chuẩn xác trong việc dùng từ, đặt câu Muốn sử dụng các từ biểu thị những khái niệm trừu tượng, các thuật ngữ chuyên môn, học sinh cần thường xuyên đọc sách báo, xây dựng thói quen tra từ điển, để hiểu nghĩa của chúng đến nơi, đến chốn Không nắm chắc nghĩa của từ không nên dùng Về câu, khi mở rộng các thành phần câu, người viết cần lưu ý sắp xếp trật tự các từ trong câu cho đúng quy tắc và không bỏ sót cácthành phần chính

2.3 Kinh nghiệm và giải pháp rèn luyện kĩ năng viết phần giải thích cho dạng

đề nghị luận xã hội trong bài thi THPT Quốc Gia

Ý thức sâu sắc tầm quan trọng của việc rèn kỹ năng giải thích trong đoạn văn nghịluận xã hội, trong quá trình dạy học, đặc biệt là ôn luyện thi THPT Quốc Gia,chúng tôi đã dành cho việc hình thành và phát triển kỹ năng này một thời lượngxứng đáng Tùy vào đặc điểm của mỗi đối tượng học sinh, mỗi dạng riêng của đoạnvăn nghị luận xã hội mà việc rèn thao tác này có thể linh hoạt (đẩy bước này lêntrước hay bỏ qua bước kia) nhưng nhìn chung, chúng tôi tiến hành theo trình tự như

Bước 3: Thực hành sửa lỗi

Sau đây, chúng tôi xin trình bày cụ thể từng bước mà trong thực tế dạy họcchúng tôi đã tiến hành

2.3.1 Nâng cao nhận thức cho học sinh về tầm quan trọng của thao tác lập luận

giải thích trong đoạn văn nghị luận qua việc tham khảo ngữ liệu:

Trang 5

Có lẽ đối với nhiều bạn đồng nghiệp thì việc cho học sinh tham khảo tư liệukhông phải là bước đầu tiên, thậm chí đây có thể là bước sau cùng trong việc rèn kỹnăng giải thích trong bài văn nghị luận Nhưng đối với chúng tôi, tham khảo tư liệuchất lượng tốt ngay từ đầu có hiệu quả lớn Bởi như vậy, có thể định hình cho họcsinh về thao tác giải thích một cách chính xác mà lại trực quan, sinh động, dễ tiếpnhận Qua các dẫn chứng hay và thú vị, học sinh có ý niệm về giải thích và quantrọng hơn là có hứng thú rèn luyện kỹ năng giải thích.

Nguồn dẫn chứng có thể lấy từ các bài nghị luận nổi tiếng trong và ngoàinước của các danh nhân và các giáo sư, từ các bài viết của học sinh (trong các kì thihọc học sinh khóa trước hoặc các bài viết ở các tài liệu mẫu) Yêu cầu trong việcchọn tư liệu dựa trên tiêu chí chuẩn mực, trong sáng, hấp dẫn

Khi cho học sinh tham khảo tư liệu, cần có định hướng cụ thể ngay từ đầu,tránh việc đọc tràn lan, không đạt mục đích Sự định hướng đó được thể hiện quamột loạt các câu hỏi dành cho học sinh khi nhận nguồn tư liệu

Ví dụ 1: Cung cấp tư liệu sau, học sinh đọc và thực hiện các yêu cầu bên

Ngữ liệu tham khảo:

Có ai đó đã từng nói rằng: “Đừng sống theo điều ta ước muốn, hãy sống theo

điều ta có thể” Hiểu một cách bản chất nhất, “ước muốn” là những mong mỏi, yêu

thích của con người về một điều gì đó Nói cách khác, “ước muốn” là tiền đề cho

những kế hoạch ngắn hạn và dài hạn của cuộc sống và nó luôn tồn tại ở thì tương

lai Bên cạnh đó, có một thứ luôn tồn tại ở thì hiện tại, đó là “điều ta có thể” làm

được dựa trên khả năng và trí tuệ của bản thân Và nếu nằm ở thì tương lai gần thì

“điều ta có thể” luôn gần như nằm trong sự chắc chắn và đảm bảo sẽ xảy ra Hiểu

một cách chung nhất, câu nói này chính là một lời khuyên cho mỗi người: hãy sốngthực tế, tỉnh táo với khả năng của mình và nhạy bén với thời thế thay vì đắm mìnhtrong những ước muốn xa vời Trước hết, nếu bạn là người tỉnh táo, thực tế và hivọng một cuộc sống bình yên, êm đềm thì câu nói đúng là một lời khuyên rất hữu

ích Sống với những “điều ta có thể” tức là bạn đã tự ý thức được giá trị của mình

và đang đi những bước an toàn trong cuộc đời Đây có lẽ chính là khởi nguồn cho

Trang 6

sự thành công vững chắc và hạnh phúc sau này Từ đó, giúp bạn khẳng định đượcmình, phát huy năng lực và khai thác mọi điều kiện cần và đủ của bản thân, củamôi trường để thành công Tuy nhiên, trên phương diện khác, sống theo ước muốn

có thể giúp bạn khai thác tới hạn giá trị nội lực của cá nhân mình Galile, Ampe,Anhxtanh, Newton công bố những thành tựu khoa học của mình là thuyết Nhậttâm, thuyết Lượng tử ánh sáng, thuyết Tương đối hay định luật Vạn vật hấp dẫn.Trước đó thì mọi người liệu ai có thể nói rằng đây là những điều có thể? Ở một lĩnhvực khác, nếu không bằng ước muốn và đam mê thì liệu giờ nhân loại có đượcnhững kiệt tác ghi danh của Van Gogh? Rõ ràng là cả trước, trong và sau khi vẽtranh, Van Gogh đã không làm cái điều mà mình “có thể” là từ bỏ vẽ tranh và kiếmviệc khác nuôi sống bản thân Khi ông còn sống, chỉ duy nhất một bức tranh củaông bán được Ai sống ở thời ấy cũng bảo ông mù quáng và phi thực tế, còn thờinay người ta nói gì? Chắc bạn đã rõ! Khi sống với ước muốn cũng là khi người taxây dựng cho mình một điểm tựa vững chắc để vươn tới những chân trời mới Chỉkhi ấy người ta mới đủ can đảm đối mặt với khó khăn và theo đuổi đam mê Nếu

không nhờ mong muốn “điên loạn”, “dở hơi” của Mark Zuckerberg, Steve Jobs

thì có lẽ giờ người ta sẽ thấy những cậu sinh viên ngoan của Harvard thay vì nhữnganh hùng trong giới công nghệ với Facebook, Apple… Tuy nhiên vấn đề đặt ra ởđây là phải sống ra sao với ước muốn ấy Theo tôi, phải luôn tỉnh táo và thực tế dùcho đó là ước muốn đi nữa, bởi bạn không thể đặt ra một loạt những ước muốn vàngồi viển vông, mơ mộng chứ không hề hành động Thế thì hãy sống để làm nhữngđiều bình thường, có thể sẽ có ích hơn Và đây cũng là điều tôi muốn nói: Phải biếtphân biệt giữa ước muốn đẹp đẽ cao cả và mơ mộng tầm thường, giả tạo Bởi khi

đã chọn đi theo ước muốn của mình, tức là bạn đã chọn đi con đường đầy gai nhọntrước khi đến được với hoa hồng rồi đấy Hãy tỉnh táo và thực tế cho dù là sống

theo “ước muốn” hay “những điều có thể”

Câu hỏi học sinh cần làm rõ sau khi đọc bài viết gồm:

1 Vấn đề cần làm rõ trong đoạn văn là gì?

2 Phần giải thích nằm trọng tâm ở vị trí nào trongđoạn văn?

3 Người viết đã chọn những từ nào để giải thích?

4 Phần giải thích có sáng rõ, thuyết phục không? Điều đó được tạo nên từyếu tố nào?

2.3.2 Rèn kĩ năng giải thích cho đề văn nghị luận xã hội trong kì thi THPT Quốc Gia

Trang 7

Sau khi đã định hình về lí thuyết (khái niệm, mục đích, yêu cầu…) và đượctham khảo tư liệu tốt, học sinh cần bắt tay vào thực hành rèn kỹ năng giải thích cho

đề văn nghị luận xã hội

Đây là bước rất quan trọng, có vai trò quyết định Bởi vì nếu chỉ dừng lại ở ýniệm và ý tưởng (như bước 1) thì học sinh mới chỉ phát triển chút ít về tư duy còntrong thực tế, vẫn chưa có thành tựu gì, và tất nhiên bài văn nghị luận vẫn chưađược thành công Vì vậy, đây chính là khâu trọng yếu cần sự dụng tâm và dụngcông của cả thầy và trò Thầy cần chọn được những đề bài vừa sức, sát đối tượng

và lôi cuốn; trò cần nỗ lực, kiên tâm Đặc biệt, thầy và trò phải kết hợp một cách ăn

ý, có sự động viên và tin tưởng lẫn nhau, tạo được hứng thú cho nhau thì mục đíchcủa rèn kỹ năng giải thích trong đoạn văn nghị luận xã hội mới hoàn thành

Khi đã chọn ra đề bài để thực hành, người thầy cần hướng dẫn và yêu cầuhọc trò những nội dung cụ thể, tránh lan man sang các thao tác khác, mất kỹ năngtrọng tâm

Trong thực tế, chúng tôi thường yêu cầu học sinh tiến hành tuần tự như sau:

Bước 1: Tích lũy vốn từ để giải thích các khái niệm, thuật ngữ, từ khóa trong đề văn nghị luận xã hội:

Trong các bước rèn kĩ năng giải thích, để có khả năng xử lý tốt việc giảithích các thuật ngữ, khái niệm, từ khóa trong đề văn nghị luận, học sinh cần phải cómột quá trình tích lũy vốn từ Việc tích lũy này sẽ là cơ sở để học sinh có khả năngphát hiện ra những điểm cần giải thích cũng như biết cắt nghĩa các từ ngữ quantrọng Từ đó, học sinh mới có thể xác định trúng vấn đề cần nghị luận – luận đề củabài văn nghị luận Để có thể tích lũy vốn từ, học sinh có thể thực hiện các yêu cầusau:

- Rèn thói quen đọc nhiều, học hỏi từ các sách nghiên cứu về văn hóa, vănhọc, mĩ học, triết học, sử học…

- Tích lũy các nội dung định nghĩa từ những cuốn từ điển đáng tin cậy

- Rèn thói quen ghi chép các cách dùng từ hay, đắc địa, độc đáo của các nhànghiên cứu, nhà văn, nhà thơ…

- Tham khảo các đoạn văn, bài văn nghị luận xã hội mẫu mực

Với kiến thức phong phú tích lũy được, các em sẽ có cái nhìn đa chiều, toàndiện, sâu sắc hơn về những vấn đề cần cắt nghĩa, lí giải

Trang 8

Ví dụ 1: “Thấy người thống khổ khóc than mà bạn có thể làm cho họ khô

nước mắt thì đừng để cho mặt trời có đủ thời gian làm khô nước mắt của họ”

Để giải thích ý kiến nêu trên, học sinh không chỉ cần huy động các vốn từ đãtích lũy được trong từ điển mà còn cần huy động vốn từ thuộc chuyên ngành địa lí,vật lí…Trên cơ sở đó mà khái quát lên ý nghĩa của cả câu

Trên cơ sở đã nêu, chúng tôi sẽ tiến hành cho học sinh huy động vốn từ đểthực hành giải thích từ khóa thông qua các bước sau:

a Phát hiện từ khóa:

Luận đề thường được ẩn trong các từ ngữ then chốt, các hình ảnh biểu tượng

Vì thế, điều đầu tiên cần làm trong khi rèn kỹ năng giải thích chính là phát hiệnchính xác những điểm cần làm rõ trong đề bài Xác định sai hoặc cắt nghĩa sai đều

có thể khiến cả bài nghị luận thất bại

Để tìm đúng những từ khóa, học sinh cần đọc thật kĩ đề Có trường hợp phảiđọc đi đọc lại nhiều lần, cân nhắc thật kĩ mới không sai lệch Đây là thao tác nhiềuhọc sinh cho rằng đơn giản nên hay làm sơ sài, qua quýt; thậm chí có những bạn đãrèn để luôn phát hiện chính xác ngay khi tiếp cận đề bài, nhưng rồi chủ quan vẫn cóthể nhầm lẫn Vì thế, học sinh cần thật sự để tâm và tập trung khi đọc, tránh chủquan

Tuy nhiên tập trung và thận trọng không có nghĩa là học sinh cẩn thận quámức, chọn cả những từ thừa dẫn đến phần giải thích dài dòng, lan man, không trúngvấn đề Ngoài ra còn bị mất thời gian quý giá cho khâu phát hiện từ khóa này

Để đảm bảo những yêu cầu trên, chỉ có một cách là rèn luyện thật nhiều, cả ởnhà và trên lớp Chúng tôi thường khống chế thời gian từ 1-2 phút cho 1 đề bài Cứ

1 ngày, học sinh làm việc với 5 đề bài Chỉ 1 thời gian ngắn sẽ nhanh chóng tiếnbộ

Ví dụ 2: Trong đề bài sau

“Cái không đáng khóc bây giờ, ta sẽ khóc mai sau”

(Chế Lan Viên)

“Rồi có thể sau mười năm ra đi

Ta lại khóc cho những điều ngày hôm nay chưa biết”

(Chu Minh Khôi)

Suy nghĩ của anh/chị từ thông điệp gửi gắm trong những câu thơ trên!

Trang 9

Học sinh cần phát hiện đúng những từ cần giải thích Những từ đó bao gồm

"khóc", "bây giờ", "mai sau", "không đáng khóc bây giờ".

Ví dụ 3: Trong đề bài sau

“Không có cạnh tranh thì không phát triển, nhưng không nhường nhịn thì không ra con người”

Anh chị có đồng tình với quan điểm được đề cập trong ý kiến trên không?

Để tìm ý, sắp xếp ý, học sinh cần chú ý bám sát các từ khóa để giải thích:“cạnh

tranh”; “nhường nhịn”

Ví dụ 4: Trong đề bài sau

“ Bàn tay tặng hoa hồng bao giờ cũng phảng phất hương thơm”

Suy nghĩ của anh/ chị về ý kiến trên

Học sinh cần giải thích các từ: Bàn tay, hoa hồng, hương thơm

Sau khi đã rèn tốt khâu phát hiện từ khóa, học sinh sẽ chọn hướng giải thích.Đây là bước tiếp theo định hướng để tìm đúng luận đề

b Giải thích từ khóa và rút ra luận đề:

Một từ đôi khi có nhiều lớp nghĩa nên khi đã chọn được từ khóa rồi cũngkhông hề đơn giản Cần phải giải mã chính xác ý nghĩa của từ đó trong đề bài mới

có thể đi tới luận đề

Nhiều khi học sinh suy nghĩ không thấu đáo nên đã cắt nghĩa lệch hướng, dùnghĩa được chỉ ra vẫn nằm trong vùng nghĩa của từ, nhưng đó không phải là nghĩađích đáng mà đề bài muốn đề cập Muốn hạn chế sai lệch ở khâu này cần nắm được

đề tài chung mà đề đang đề cập Đó chính là ánh sáng bao trùm lên mọi từ ngữđược sử dụng trong đề bài, cũng là ánh sáng dẫn đường khi chọn hướng giải thích

Khi đã xác định được ý nghĩa chính của từ khóa trong đề bài, luận đề sẽ trởnên rõ ràng hơn Bên cạnh đó cũng tránh được sự rườm rà, dài dòng trong lối viết

Trong tư duy, khâu này diễn ra gần như đồng thời với khâu phát hiện ra từkhóa Bởi vì phát hiện từ khóa chính là sự lóe sáng của tư duy khi nhận ra ý nghĩa

mà từ đó chuyên chở Khoanh chính xác lớp nghĩa đang lấp lánh trong vùng nghĩacủa từ cũng chính là khẳng định được vị trí của từ đó trong đề bài Tuy nhiên đó lànhững gì diễn ra trong tư duy, còn trong thực tế thì học sinh cần tiến hành tuần tự:phát hiện từ khóa trước rồi mới phát hiện ý nghĩa và xác định luận đề

Trang 10

Khi luyện tập trên lớp, học sinh chỉ cần gạch chân từ khóa như một cáchđịnh vị Gạch ở ngay trong đề hay viết ra trên giấy nháp tùy theo thói quen Còngiải mã từ thì nên viết ra giấy nháp, bởi vì khi những nét chữ hiển hiện trên giấy cóthể khiến cho học sinh nhìn nhận lại, cân nhắc một lần nữa trước khi quyết định.Cuối cùng là diễn đạt ngắn gọn, rõ ràng luận đề.

Thời lượng cho khâu này cũng chỉ gói gọn trong 1-2 phút, vì vậy học sinhcần thực hiện nhanh Muốn vừa nhanh, vừa chính xác, việc cần làm vẫn là nỗ lựclàm bài tập Giáo viên có thể giao cho học sinh bài tập hàng ngày và sát sao chữatay đôi để học sinh kịp thời sửa Nếu để học sinh tự làm rồi không có hiệu quả dễkhiến các em nản

Trước khi giao bài tập, cần có các ví dụ cụ thể cho học sinh

Ví dụ 5: Với đề bài ở ví dụ 2, có thể cắt nghĩa từ theo hướng sau:

“Khóc”: nuối tiếc, ân hận

“Ngày hôm nay”: thời gian hiện tại

“Mai sau”, “sau mười năm”: thời gian tương lai

“Ta”: trong câu thơ là chỉ cá nhân song có thể hiểu rộng với nghĩa con

người nói chung

Cả hai câu thơ đã tập trung thể hiện một thông điệp: Hãy sống hết mình, sống trọn vẹn cho hiện tại để mai sau không phải hối tiếc.

Ví dụ 6: Với đề bài trong ví dụ 3, có thể cắt nghĩa từ quan trọng như sau:

“cạnh tranh”: là sự ganh đua, hành động làm hết mình để đạt mục tiêu lợi

ích Cạnh tranh kích thích sự phát triển; “nhường nhịn”: là sự hi sinh lợi ích của

mình cho người khác, một biểu hiện đẹp của phẩm chất làm người

Câu nói đem tới suy ngẫm sâu sắc về cách sống làm người: làm người trong tất cả mọi việc phải giữ được đạo lí, đạo đức.

Ví dụ 7: Với đề bài trong ví dụ 4, có thể cắt nghĩa từ quan trọng như sau:

“Bàn tay”: hình ảnh hoán dụ, chỉ người “ có hoa hồng”, người có lòng nhân

ái, biết vì người khác

“hoa hồng” : hình ảnh ẩn dụ, biểu trưng cho tình yêu thương chân thành, vẻ

đẹp của sự giúp đỡ

“tặng”: thái độ tự nguyện, vui vẻ

Ngày đăng: 16/10/2017, 14:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w