1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

MÔN tài CHÍNH TIỀN tệ 2

31 146 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 84,65 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong hoạt động sản xuất kinh doanhkhông thể nào có sự trao đổi ngay trực tiếp giữa hàng và tiền vì thế cần vốn để có thể không làm gián đoạn quátrình sản xuất rất cần đến tín dụng của n

Trang 1

Mục lục:

Câu 1: Một số biện pháp đẩy mạnh tiền bút tệ (hay thanh toán không dùng tiền mặt)?

Câu 2: Giải pháp phát triển đồng tiền Việt Nam trở thành đồng tiền mạnh?

Câu 3: Tín dụng thương mại? Mối quan hệ tác dụng của tín dụng thương mại đối với sản xuất kinh doanh?

Câu 4: Khi Chính phủ phát hành trái phiếu để huy động vốn nó có tác động như thế nào đối với nguồn vốn của nền kinh tế? Giải Pháp?

Câu 5: Giải pháp cơ bản nhằm thúc đẩy phát triển thị trường tín dụng, nâng cao đời sống nhân dân, giúp chất lượng cuộc sống được cải thiện?

Câu 6: Phân tích thực trạng lãi suất tín dụng ngân hàng từ 2012 đến nay? Đánh giá chung về lãi suất trên thị trường?

Câu 7: Một số vấn đề đặt ra và giải pháp trong phát triển NHTM trong thời gian tới?

Câu 8: Các chính sách của Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước trong giai đoạn kinh tế chậm phát triển hiện nay?

Câu 9: Các loại hình ngân hàng thương mại? Chức năng, đặc trưng bản chất và vai trò của ngân hàng thương mại?

Câu 10: Những khó khăn và thách thức đối với hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam? Câu 11: Trái phiếu chính phủ: Kn? phân loại? mục đích phát hành? Các phương thức phát hành TPCP? Các nhân tố ảnh hưởng đến việc pháp hành TPCP?

Câu 12: Việc pháp hành TPCP ảnh hưởng ntn đối với nền KT?

Câu 13: Thực trạng phát hành TPCP Việt Nam hiện nay?

Câu 14: Khái niệm ngân sách nhà nước?Sự cần thiết khách quan của công tác huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu Chính phủ?

Câu 15: Huy động vốn trong nước của Chính phủ chủ yếu được thực hiện dưới hình thức?

Câu 16: Tác động của kênh huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu đến nguồn vốn của nền kinh tế?Vai trò của huy động vốn thông qua phát hành TPCP?

Trang 2

Câu 17: Khái niệm về thanh toán không dùng tiền mặt?Các phương tiện thanh toán không phải

là tiền mặt?Những bất lợi khó khăn trong thanh toán không dùng tiền mặt?Một số giải pháp nâng cao hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt?Những giải pháp mở rộng hoạt động TTKDTM đối với khách hàng cá nhân?

Câu 18:Hiện tượng đô la hóa ở Việt Nam (khái niệm, nguyên nhân, diễn biến, giải pháp đề xuất)?

Câu 19: Thực trạng của hệ thống thanh toán điện tử tại VN?

Câu 20: Diễn biến lạm phát ở VN?

Câu 21: So sánh giữa lãi suất tín dụng trung dài hạn và lãi suất tín dụng ngắn hạn?

Câu 22: Vì sao nói lãi suất của TD trung dài hạn thường cao hơn TD ngắn hạn?

Câu 23: So sánh các hình thức tín dụng?

Câu 24: Vì sao tín phiếu kho bạc được coi là công cụ an toàn nhất trên thị trường tài chính? Câu 25: Phân tích các chức năng của ngân hàng trung ương?

Câu 26: So sánh thị trường công cụ nợ và thị trường công cụ vốn?

Câu 1: Một số biện pháp đẩy mạnh tiền bút tệ (hay thanh toán không dùng tiền mặt)?

1. Tăng cường chính sách tiếp thị quảng cáo

Các phương tiện thanh toán như: thẻ tín dụng ,séc, hối phiếu là những phương tiện thanh toán rất mới mẻ đốivới người dân Việt Nam.Hiện nay,nó chỉ được biết đến trong một bộ phận rất nhỏ cộng đồng dân cư.Vì vậymuốn cho các phương tiện thanh toán này đuợc sử dụng phổ biến thì các ngân hàng không thể bỏ qua chínhsách tiếp thị quảng cáo sản phẩm của mình đến mọi tầng lớp dân cư.Ta nên thực hiện một số biện pháp sau:+ Đẩy mạnh quảng cáo trên các phương tiện truyền thông đại chúng (báo chí, truyền thanh,truyền hình) cùngvới các panô quảng cáo trên đường phố

+ Nhất thiết phải có những chương trình tìm hiểu về phương tiện thanh toán trên truyền hình dưới dạng fimkhoa học kỹ thuật ngắn hay các buổi hỏi đáp về khoa học xã hội.Chương trình này có thể do ngân hàng tài trợnhằm giúp cho đại đa số công chúng những khách hàng tương lai có sự hiều biết cơ bản về các phương tiệnthanh toán này

+ Cần khéo léo có các buổi nói chuyện với học sinh ,sinh viên đang học chuyên ngành này

+ Cần có chiến lược tiếp thị đối với những công ty lớn và nhân viên của họ

Trang 3

+ Ngân hàng nhà nước nên có sự hỗ trợ cho các ngân hàng thương mại mặc dù không phải cho tất cả các ngânhàng nhưng cũng nên phần nào khuyến khích các ngân hàng này phát miễn phí chi khách hàng của mình nhữngsấp tài liệu mang tính hướng dẫn.Đây là một cách quảng cáo rất hiệu quả.

2. Mở rộng cơ sở chấp nhận sử dụng những phương tiện thanh toán không phải là tiền mặt

+ Các ngân hàng phải có kế hoach để mở rộng mạng lưới cơ sở chấp nhận sử dụng những phương tiện thanhtoán này

+ Dành một phần vốn(có thể trích từ quỹ khuyến khích phát triển nghiệp vụ) để mua sắm thiết bị như máy ATEdùng để rút tiền từ thẻ tín dụng

+ Tăng cường công tác tiếp thị tới những của hàng,khu vui chơi giải trí

+ Trong tương lai phải chú ý tới mở rộng mạng lưới cơ sở chấp nhận thanh toán không dùng tiền mặt ở cảnhững điểm kinh doanh nhỏ nhà hàng nhỏ

+ Cần có biện pháp khuyến khích để các thương nhân, các công ty sử dụng các phương tiện này vì nó rất có íchcho công việc kinh doanh của họ,vừa tiết kiệm thời gian lại an toàn trong thanh toán,ngoài ra nó còn mang lạimột phần lợi nhuận trong tài khoản của họ

+ Vấn đề đặt ra là ngân hàng phải có vốn mới mở rộng được cơ sở thiết bị.Nếu tự mình không làm được thì cóthể liên kết với nhau hoặc vay vốn của ngân hàng nhà nước.Có thể ngân hàng chấp nhận hoà vốn hay lỗ tronghiện tại để thu được lợi nhuận trong tương lai.Điều này phụ thuộc vào chiến lược kinh doanh của ngânhàng,khả năng nguồn vốn và trình độ chuyên môn của nhân viên họ phải thực sự có trình độ để vận hành côngviệc tại ngân hàng và huớng dẫn các cơ sở chấp thuận chặt chẽ trong thanh toán

3. Đẩy mạnh phát hành các phương tiện thanh toán

Cần phải đa dạng hoá các phương tiện thanh toán thì các ngân hàng mới thu hút và giữ vững khách hàng củamình.Phải đẩy mạnh các doanh số khách hàng và tài khoản của họ không chỉ đối với những khách hàng trongnước mà còn với cả khách hàng nước ngoài

4. Hoàn chỉnh đầy đủ môi trường pháp lý

+ Hoàn chỉnh đầy đủ môi trường pháp lý cũng là những vấn đề rất cần thiết để thanh toán không sử dụng tiềnmặt thật sự phổ biến trong xã hội.Tại thời điểm này chúng ta có rất ít các văn bản liên quan đến vấn đề này.Thể

lệ của ngân hàng nhà nước ban hành rất chung chung, các ngân hàng thương mại chỉ dựa vào đó để đề ra quyđinh riêng cho từng ngân hàng của mình.Đôi khi vì nguồn lợi riêng của ngân hàng mình mà các ngân hàngthương mại làm cho người sử dụng gặp rắc rối trong thanh toán.Một khi các phương tiện thanh toán này được

sử dụng phổ biến thì môi trường pháp lý cần chặt chẽ hơn Chúng ta đang kỳ vọng những luật về séc và thẻthanh toán.Nó ràng buộc chặt chẽ các bên có liên quan ai vi phạm sẽ bị xử lý

5. Hạn chế các phương tiện bị làm giả

Hiện nay các phương tiện thanh toán bị làm giả ảnh hưởng rất lớn tới uy tín của ngân hàng và gây thiệt hại chongười sử dụng vì vậy ta phải hạn chế các phương tiện giả bằng cách sử dụng các thiết bị chế tạo khó làm giả và

có phương pháp kiểm soát chặt chẽ để quyền lợi khách hàng không bị vi phạm

Câu 2: Giải pháp phát triển đồng tiền Việt Nam trở thành đồng tiền mạnh?

3.2.1 Cân đối ngân sách, ổn định môi trường kinh tế vĩ mô

Thống kê về tình trạng ngân sách Việt Nam trong những năm gần đây ngày càng thâm hụt Nguyên nhân chủyếu là do tốc độ tăng nguồn thu chậm hơn so với nhu cầu chỉ định Tuy nhiên đây cũng là hiện tượng khá phổbiến ở các nước đang phát triển do trong giai đoạn đầu cải cách, nhu cầu chi rất lớn gồm các khoản chi cho cơ

Trang 4

cấu lại nền kinh tế, chi cho đầu tư phát triển xóa đói giảm nghèo Trong khi các khoản thu lại có xu hướng tăngrất chậm là do:

* Quá trình cổ phần hóa và tư nhân hóa doanh nghiệp Nhà nước làm mất di nguồn thu quan trọng từ thặng dưtài sản sản xuất của Nhà nước thông qua thuế sử dụng vốn ngân sách

* Quá trình hội nhập kinh tế buộc nước ta phải cắt giảm thuế nhập khẩu nhanh chóng làm giảm thu nhập từnguồn nay

* Thể chế thuế mới mang tính thị trường lại chưa được hình thành đồng bộ và giám sát có hiệu quả làm thấtthoát những khoản thu vốn đã bị giảm sút rất nhiều

Rõ ràng, thâm hụt ngân sách chỉ có thể được tài trợ từ phát hành hoặc vay nợ trong và ngoài nước Phươngpháp tài trợ bằng phát hành tiền đương nhiên sẽ dẫn tới lạm phát như những năm cuối thập niên 80 và vì vậy đã

bị cấm ở Việt Nam

Như vậy để tiến hành thành công cải cách kinh tế, tiến tới tự do hóa tiền tệ và ngoại hối thì vấn đề cân đối lạingân sách của Chính phủ trung ương là vấn đề quan trọng hàng đầu Nguyên tắc cơ bản để giải quyết tình trạngnày là nhanh chóng tăng nguồn thu vượt tốc độ tăng nhu cầu chi mà không tạo thêm gánh nặng thuế cho cáckhu vực kinh tế:

* Cần hoàn thiện thể chế mang tính chất thị trường như thuế VAT, mở rộng đối tượng dánh thuế mà không tăngmức thuế

* Phải nâng cao hơn nữa hiệu quả của công tác thu thuế, chống tình trạng trốn lậu thuế và thất thoát nguồn thu

* Cần tăng cường giám sát và kỹ luật tài chính trong quá trình sử dụng vốn ngân sách, tránh tình trạng tham ô,tham nhũng, lãng phí của công đang diễn ra ở nhiều các cơ quan kinh tế và hành chính sự nghiệp ở nước ta

* Có thể giảm áp lực đối với ngân sách Nhà nước bằng cách xã hội hóa các khoản chi trực tiếp từ ngân sáchtheo hướng nhà nước và nhân dân cùng làm

* Nhanh chóng đưa vào ngân sách các khoản chi gián tiếp ngoài ngân sách để xác định cụ thể nguồn tài trợ,tránh tình trạng bị động và khó kiểm soát như hiện nay

3.2.2 Hoàn thiện thể chế thị trường hiện đại

Một môi trường kinh tế được xem là thể chế thị trường hiện đại khi hội tụ đủ các yếu tố sau: cơ cấu, các bộphận của nó đã phát triển một cách đồng bộ, đầy đủ, về tính chất, là một thị trường cạnh tranh, các chủ thể hoạtđộng tự do theo tín hiệu thị trường, về cớ chế kết hợp bàn tay hữu hình và vô hình trong đó Nhà nước can thiệp

để nâng cao hiệu quả và khắc phục những khuyết tật của thị trường

Việt Nam đang trong giai đoạn đầu của quá trình cải cách nên chưa thể có ngay thể chế có ngay thể chế kinh tếthị trường hiện đại từ một nền kinh tế thị trường phôi thai, non yếu Chính vì vậy, giải pháp trước mắt là:

* Xây dựng và phát triển các thị trường bộ phận quan trọng, tạo nền tảng cho nền kinh tế thị trường phát triển,đặc biệt là thị trường chứng khoán, thị trường bất động sản và thị trường lao động

* Một thị trường với các bộ phận phát triển đồng bộ phải đi đôi với cơ chế quản lý thị trường

* Những quy định của pháp luật chỉ là những con số vô tri trên giấy tờ nếu không được phát huy bằng cáchnâng cao hôn nữa năng lực điều chỉnh, quản lý nền kinh tế, đảm bảo khả năng can thiệp, điều tiết và khắc phụckhuyết tật của nền kinh tế thị trường Trong đó vai trò của nhà nước bên cạnh việc quản lý bằng pháp luật làxây dựng một lực lượng dữ trữ quốc gia đủ mạnh trên các lĩnh vực chủ chốt như gạo, phân bón, dầu,… để cókhả năng can thiệp hiệu quả, kịp thời vào nền kinh tế nhằm bình ổn mà không bóp méo các tín hiệu của thịtrường

3.2.3 Nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế

Trong điều kiện hiện nay, khả năng cạnh tranh được nhìn từ cả ba góc độ có liên quan mật thiết với nhau, củatừng mặt hàng, từng ngành nghề và của cả quốc gia Như vậy, để nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tếchúng ta cần tập trung vào các hướng sau:

Trang 5

* Đối với từng mặt hàng: phải nâng cao chất lượng, hạ giá thành sản phẩm và đặc biệt chú ý đền rào cản phithuế quan như các chuẩn mực quốc tế về an toàn thực phẩm, vệ sinh môi trường.

* Đối với từng doanh nghiệp: phải đẩy mạnh hơn nữa việc lhai thác và tiếp cận thong tin về nhựng phát minhkhoa học mới, về sự thay đổi trong nhu cấu người tiêu dung, đối thủ cạnh tranh

* Đối với quốc gia: yếu tố căn bản làm nên năng lực cạnh tranh quốc gia chính là sự ổn định chính trị, trật tự antoàn xã hội, sự hoàn chỉnh, nhất quán, chặt chẽ của hệ thống luật pháp, sự hoàn thiện của cơ sở hạ tầng, sự vậnhành thông suốt, hiệu quả của bộ máy hành chính nhà nước và chất lượng nguồn nhân lực

Để nâng cao sức cạnh tranh Việt Nam cần giải quyết các vấn đề cấp bách sau:

* Cải cách hành chính, giải quyết triệt để nạn quan liêu, tham nhũng… tạo điều kiện thuận lợi cho các thànhphần kinh tế phát triển trong khuôn khổ pháp luật

* Phát triển cơ sở hạ tầng, nhất là giao thông, điện nước, thong tiên liên lạc là những nhân tố cơ bản tham giavào quá trình sản xuất của doanh nghiệp

* Nhanh chóng hoàn thiện môi trường luật pháp, phù hợp với lợi ích quốc gia và chuẩn mực quốc tế, tránh canthiệp quá sâu vào quyền tự chủ của các doanh nghiệp

* Đẩy nhanh quá trình phổ cập giáo dục trung và tiểu học, phát triển hệ thống các trường dạy nghề để nâng caonăng lực tác nghiệp và kỹ thuật cho người lao động trong nước

Cùng với những biện pháp trên, nhà nước cần thường xuyên theo dõi những biến động của tình hình xã hộitrong và ngoài nước để hoach định các chiến lược phát triển kinh tế - xã hội phù hợp, xác định rõ nghành nghề

ưu tiên và hạn chế nhằm định hướng rõ ràng, tạo điều kiện cho hoạt động của doanh nghiệp

3.2.4 Nâng cao hiệu quả của hệ thống chính sách vĩ mô

Mặc dù mới chuyển sang chính sách kinh tế thị trường nhưng Việt Nam đã bước đầu thiết lập và sử dụng tươngđối linh hoạt hệ thống chính sách kinh tế vĩ mô góp phần quan trọng đưa nền kinh tế đi đúng quỹ đạo, tạo môitrường kinh tế ổn định, thúc đẩy tăng trưởng và phát triển

Định hướng trước mắt cũng như lâu dài là phải giải quyết các vấn đề sau:

* Hoàn thiện hơn nữa thể chế kinh tế thị trường hiện đại, hình thành các mối tương tác thị trường hoàn hảo,tránh những mèo mó sai lệch và can thiệp hành chính

* Thực hiện tốt công tác thống kê, phân tích, theo dõi sát sao và dự báo những xu hướng biến động của môitrường kinh tế vĩ mô, cung cấp nguồn thong tin chính xác, cần thiết và kịp thời cho các cơ quan chức năng

* Tăng cường chức năng và hiệu quả của các cơ quan giám sát chung và giám sát chuyên ngành, đặc biệt tronglĩnh vực tài chính công và quản lý tiền tệ

* Thành lập một cơ quan tư vấn chính sách quốc gia với chức năng chủ trì trong việc phối hợp đồng bộ giữa cácchính sách, tạo hiệu quả cộng hưởng tối ưu, tránh những mâu thuẫn làm triệt tiêu ảnh hưởng lẫn nhau

3.2.5 Đổi mới phương thức đào tạo, phát triển nguồn nhân lực

Việt Nam vẫn tự hào về một nguồn nhân lực dồi dào với tuổi đời trẻ, cần cù và chi phí nhân công thấp Tuynhiên những lợi ích thế này ngày càng bị lu mờ không còn khiến các nhà đầu tư quan tâm Bởi vì bên cạnhnhững ưu điểm đó, lao động Việt Nam bị coi là thiếu tác phong công nghiệp, khả năng sang tạo còn thấp…vìvậy chúng ta cần đổi mới theo những phương hướng sau:

* Cần thực hiện lại quy hoạch lĩnh vực và ngành nghề đào tạo, chủ trương chỉ lựa chọn số học sinh tốt nghiệpphổ thong đạt được những tiêu chuẩn cụ thể vào học ngay đại hoc

* Tổ chức tốt vấn đề hợp tác lao động và chuyên gia nước ngoài, coi đây là một kênh đào tạo quan trọng, hiệuquả giúp nguồn nhân lực trong nước tiếp cận theo trình độ quốc tế

* Thực hiện tốt chủ trương cải cách tiền lương và chế độ đãi ngộ cho người lao động, trong đó đặc biệt quantâm tới ván đề đào tạo cho người lao động học tập, nâng cao trình độ Những chính sách này sẽ giúp người laođộng yên tâm và có trình độ cao hơn để cống hiến cho sự nghiệp phát triển đất nước

Trang 6

Câu 3: Tín dụng thương mại? Mối quan hệ tác dụng của tín dụng thương mại đối với sản xuất kinh doanh?

Tín dụng thương mại

Là quan hệ tín dụng giữa các doanh nghiệp dưới hình thức mua bán chịu hàng hóa Hành vi mua bán chịu hànghóa được xem là hình thức tín dụng - người bán chuyển giao cho người mua quyền sử dụng vốn tạm thời trongmột thời gian nhất định, và khi đến thời hạn đã được thỏa thuận, người mua phải hoàn lại vốn cho người bándưới hình thức tiền tệ và cả phần lãi cho người bán chịu Đặc điểm của tín dụng thương mại:

* Tín dụng thương mại vốn cho vay dưới dạng hàng hóa hay một bộ phận của vốn sản xuất

* Người cho vay và người đi vay đều là những doanh nghiệp trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất và lưuthông hàng hóa

Khối lượng tín dụng lớn hay nhỏ phụ thuộc vào tổng giá trị của khối lượng hàng hóa được đưa ra mua bán chịu

* Công cụ lưu thông của tín dụng thương mại:

Thương phiếu là chứng chỉ có giá ghi nhận yêu cầu thanh toán hoặc cam kết thanh toán không điều kiện một sốtiền xác định trong một thời gian nhất định

Tín dụng thương mại là loại tín dụng giữa các nhà doanh nghiệp cấp cho nhau vay, không có sự tham gia củangân hàng hoặc cũng có thể hiểu là loại tín dụng được cấp bằng hàng hóa dịch vụ chứ không phải bằng tiền Có

ba loại tín dụng thương mại:

* Tín dụng thương mại cấp cho nhà nhập khẩu: còn gọi là tín dụng xuất khẩu là loại tín dụng do người xuấtkhẩu cấp cho người nhập khẩu để đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa Tín dụng xuất khẩu được cấp dưới hình thứcchấp nhận hối phiếu và mở tài khoản

+ Cấp tín dụng bằng chấp nhận hối phiếu: tức là thương nhân nhập khẩu ký chấp nhận trả tiền vào hối phiếu dongười xuất khẩu ký phát để nhận bộ chứng từ hàng hóa thông qua ngân hàng hoặc người xuất khẩu gửi trực tiếpcho họ Thời hạn của loại tín dụng này phụ thuộc vào sự thỏa thuận của hai bên bán và mua

+ Cấp tín dụng bằng cách mở tài khoản: tức là thương nhân xuất khẩu và thương nhân nhập khẩu ký với nhauhợp đồng mua bán hàng hóa, trong đó qui định quyền của bên bán được mở một tài khoản để ghi nợ bên muasau mỗi chuyến giao hàng mà bên bán đã thực hiện

* Tín dụng thương mại cấp cho người xuất khẩu: còn gọi là tín dụng nhập khẩu, là loại tín dụng do người nhậpkhẩu cấp cho người xuất khẩu để nhập hàng thuận lợi Hình thức tồn tại của loại tín dụng nay là tiền ứng trước

để nhập hàng

* Tín dụng nhà môi giới cấp cho người xuất khẩu và nhập khẩu: các ngân hàng thương nghiệp cỡ lớn thườngkhông cấp tín dụng trực tiếp cho các nhà xuất nhập khẩu mà thông qua nhà môi giới

Mối quan hệ tác dụng của tín dụng thương mại đối với sản xuất kinh doanh

Tín dụng thương mại góp phần đẩy nhanh quá trình sản xuất và lưu thông hàng hóa, làm cho chu kỳ sản xuấtrút ngắn lạị Điều tiết vốn giữa các doanh nghiệp một cách trực tiếp mà không thông qua bất kỳ trung gian nào,góp phần làm giảm khối lượng tiền mặt trong lưu thông, làm giảm chi phí lưu thông xã hội

Nó là nhân tố đóng góp có ý nghĩa quan trọng cho sự phát triển kinh doanh của bạn trong tương lai, không tínhđến quỹ tiền mặt cần thiết để sinh tồn, cho những việc như mở rộng chi phí xây dựng, nghiên cứu và phát triển.Tín dụng thương mại tốt cũng cho phép bạn giữ được tiền mặt để trang trải những chi phí kinh doanh của bạn,khả năng thanh toán tiền mặt cho phép bạn phản hồi lại những yêu cầu mang tính chất khắt khe về thời gian, màkhông phải lưỡng lự hay thương lượng gì

Không chỉ là dùng để tiếp cận tài chính, tín dụng thương mại nhanh chóng trở thành phương tiện quan trọng đểthiết lập những phương thức cho vay, quyết định phí bảo hiểm và thậm chí cả thiết lập phương thức thanh toáncho thuê Tín dụng thương mại tốt có thể giúp kiếm được tỉ lệ thấp, làm vững bền dòng tiền của bạn

Trang 7

Tín dụng làm cho quá trình sản xuất kinh doanh được liên tục và ổn định Trong hoạt động sản xuất kinh doanhkhông thể nào có sự trao đổi ngay trực tiếp giữa hàng và tiền vì thế cần vốn để có thể không làm gián đoạn quátrình sản xuất rất cần đến tín dụng của ngân hàng, làm cho quá trình sản xuất được liên tục ổn định và có thểtồn tại được.

Tín dụng là điều kiện tạo ra bước nhảy vọt phát triển kinh tế xã hội, là một công cụ điều tiết vĩ mô của nhànước Nhà nước có thể điều chỉnh kinh tế giữa các vùng, các nghành, các lĩnh vực khác nhau thông qua tíndụng ngân hàng của nhà nước để có thể phát huy mọi tiềm năng của cùng nghành đó, đưa kinh tế của vùng đóphát triển mạnh lên và có điều kiện như những vùng khác

Tín dụng tạo điều kiện phát triển kinh tế đối ngoại Việc giữa các ngân hàng mở tài khoản ỏ các quốc gia khácnhau giup cho việc quan hệ kinh doanh giữa các quốc gia được diễn ra thuận lợi hơn, tin tưởng nhau hơn để cácđối tác yên tâm hợp tác làm ăn

• Ưu điểm của tín dụng thương mại

Tín dụng thương mại góp phần đẩy nhanh quá trình sản xuất và lưu thông hàng hóa, làm cho chu kỳ sản xuấtrút ngắn lại;

Tín dụng thương mại tham gia vào quá trình điều tiết vốn giữa các doanh nghiệp một cách trực tiếp mà khôngthông qua bất kỳ cơ quan trung gian nào;

Tín dụng thương mại góp phần làm giảm khối lượng tiền mặt trong lưu thông, làm giảm chi phí lưu thông xãhội

• Nhược điểm của tín dụng thương mại

Về quy mô: lượng giá trị cho vay bị hạn chế, chỉ giới hạn trong khả năng vốn hàng hoá mà họ có

Về thời gian: ngắn thường là dưới 1 năm;

Về điều kiện kinh doanh, chu kỳ sản xuất: Thời gian doanh nghiệp muốn bán chịu không phù hợp với nhu cầucủa doanh nghiệp cần mua chịu thì tín dụng thương mại cũng không xảy ra

Về phạm vi: bị hạn chế chỉ xảy ra giữa các doanh nghiệp với nhau, và phải quen biết và tin tưởng nhau

Về sự phù hợp: Được cấp dưới hình thức hàng hoá, vì vậy doanh nghiệp bán chịu chỉ có thể cung cấp cho một

số doanh nghiệp nhất định - những doanh nghiệp có nhu cầu đúng thứ hàng hoá đó để phục vụ sản xuất hoặckinh doanh

Câu 4: Khi Chính phủ phát hành trái phiếu để huy động vốn nó có tác động như thế nào đối với nguồn vốn của nền kinh tế? Giải Pháp?

Khi trái phiếu được phát hành, nó thu tiền mặt hoặc séc về, cho nên:

Nó giảm lượng cung ứng tiền mặt trong lưu thông từ đó giảm khả năng và cường độ giao dịch trong nền kinhtế

Khi các ngân hàng trung gian mua chứng khoán của NHTW, dù nó trả bằng séc hay tiền mặt, dự trữ của nócũng giảm đi Khi dự trữ của ngân hàng trung gian giảm, một lần nữa nó làm giảm khả năng cấp phát tín dụngcủa các ngân hàng, và như thế cung ứng trong nền kinh tế càng bị thắt chặt hơn nữa

Bên cạnh đó, khi NHTW bán chứng khoán để thu tiền về, lượng chứng khoán tuôn ra thị trường đột ngột trởnên rất lớn Chứng khoán dư thừa, làm giá của nó hạ và do vậy, lãi suất của chứng khoán tăng lên Lãi suấtchứng khoán tăng, sẽ buộc các NHTG phải tăng lãi suất ngân hàng lên theo để tránh tình trạng nhân dân và cácnhà đầu tư rút tiền ra khỏi ngân hàng, đem đầu tư vào chứng khoán Lãi suất lên làm khan hiếm thêm cung ứngtiền Và cung ứng tiền khan hiếm làm giảm tỷ giá và giá cả hàng hóa

Như vậy, khi chứng khoán là trái phiếu chính phủ được phát hành, nó thắt chặt cung ứng tiền, tăng lãi suất,giảm dự trữ, giảm tỷ giá và giảm phát giá cả

* Ưu điểm:

Trang 8

* Đây là biện pháp cho phép Chính phủ có thể duy trì việc thâm hụt ngân sách mà không cần phải tăng cơ sởtiền tệ hoặc giảm dự trữ quốc tế Vì vậy, biện pháp này được coi là một cách hiệu quả để kiềm chế lạm phát.

* Tập chung được khoản tiền tạm thời nhàn rỗi trong dân cư, tránh được nguy cơ khủng hoảng nợ nước ngoài,

dễ triển khai

* Hạn chế :

* Thứ nhất, chứa đựng nguy cơ kìm hãm sự phát triển của các hoạt động sản xuất, kinh doanh của nền kinh tế

Để vay được tiền chính phủ phải đa dạng hoá các hình thức vay như phát hành trái phiếu, tín phiếu, công trái Đồng thời phải thực hiện nhiều biện pháp để tăng mức độ hấp dẫn người cho vay như tăng lãi suất, mở rộng ưuđãi về thuế thu nhập ngoài ra còn phải triển khai các biện pháp khác, kể cả tuyên truyền, vận động để huyđộng tối đa nguồn tiền trong dân cư nhằm hoàn thành kế hoạch vay đã định Tuy nhiên, tổng lượng tiền mànhân dân và các đơn vị có thể có để cho chính phủ vay bị giới hạn trong tổng lượng tiết kiệm của xã hội Nếuchính phủ huy động được nhiều thì đương nhiên phần tiền còn lại dành cho đầu tư phát triển sản xuất kinhdoanh ở khu vực ngoài quốc doanh sẽ giảm đi

Như vậy, chưa biết chính phủ sẽ làm gì, làm như thế nào đối với lượng tiền huy động được, nhưng xã hội haytrực tiếp hơn là khu vực các doanh nghiệp và dân cư đó sẽ mất đi một nguồn vốn tương ứng có khả năng dànhcho đầu tư phát triển kinh tế Nếu các biện pháp thu hút tiền vay của chính phủ và của ngân hàng càng có lãisuất cao thì càng tạo ra luồng tiền vốn dịch chuyển từ các khu vực doanh nghiệp và dân cư sang hệ thống tàichính ngân hàng mà không chảy vào sản xuất kinh doanh

Do vậy, vay trong nước để bù đắp thâm hụt ngân sách luôn luôn chứa đựng nguy cơ kìm hãm các hoạt động sảnxuất kinh doanh của nền kinh tế Mục tiêu chấn hưng kinh tế của chính phủ thông qua con đường phát hành tráiphiếu, tín phiếu bị chính bản thân giải pháp này cản trở ngay từ nguồn gốc

Chính vì thế, trong thời kỳ kinh tế đình đốn, hầu như các nước đều tránh các biện pháp có nguy cơ làm giảmkhẳ năng tự đầu tư của các thành phần kinh tế, kể cả doanh nghiệp quốc doanh, ngoài quốc doanh và các tầnglớp dân cư Biện pháp tài trợ thâm hụt ngân sách này chỉ nên thực hiện trong trường hợp nền kinh tế là cườngthịnh Nếu ta tài trợ thâm hụt ngân sách bằng cách phát hành trái phiếu, thì trái phiếu sẽ tạo ra cho công dântrách nhiệm nộp thêm thuế trong tương lai để trang trải lãi về các trái phiếu đấy

* Thứ hai, việc trả lãi trong tương lai tạo ra một gánh nặng nợ cho chính phủ (trừ khi những thâm hụt ngân sáchnhà nước này bắt nguồn từ việc chi tiêu cho các dự án đầu tư có sức sinh lời) Đặc biệt, ở những nước trải quagiai đoạn lạm phát cao (như nước ta hiện nay), giá trị thực của trái phiếu chính phủ giảm nhanh chóng, làm chochúng trở nên ít hấp dẫn Chính phủ có thể sử dụng quyền lực của mình để buộc các chủ thể khác trong nềnkinh tế phải giữ trái phiếu, tuy nhiên, nếu việc này kéo dài có thể gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín củaChính phủ và khiến cho việc huy động vốn thông qua kênh này sẽ trở nên khó khăn hơn vào các năm sau

 Giải pháp

- Đa dạng hóa các loại Trái Phiếu Chính Phủ : cán bộ Nhà nước cùng với các đơn vị liên quan sẽ phải phát triểnthêm các sản phẩm mới để tăng tính hấp dẫn của TPCP

- Đa dạng loại tiền huy động: bên cạnh việc huy động bằng tiền VN, cần đẩy mạnh phát hành TPCP bằng ngoại

tệ, thu hút vốn ngoại tệ nhàn rỗi trong xã hội, đầu tư vào các dự án thu hồi vốn cao: nhà máy thủy điện, nhàmáy lọc dầu, CT cơ sở hạ tầng…

- Xây dựng cơ chế lãi suất linh hoạt

- Ứng dụng KH công nghệ

- Tăng cường bồi dưỡng, đào tạo nghiệp vụ cho cán bộ, nâng cao kiến thức của công chúng về lĩnh vực thanhtoán TPCP

Trang 9

- Đẩy mạnh hoạt động của thanh toán giao dịch

Câu 5: Giải pháp cơ bản nhằm thúc đẩy phát triển thị trường tín dụng, nâng cao đời sống nhân dân, giúp chất lượng cuộc sống được cải thiện?

a) Khai thác và huy động tổng lực các nguồn tín dụng trên thị trường tín dụng để hình thành lượng vốn lớn, tậptrung, góp phần đáp ứng yêu cầu mang lại một cuộc sống ấm no hạnh phúc cho nhân dân nâng cao về vốn đẩynhanh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá Để thực hiện đươc mục tiêu đó trước hết phải đa dạng hoá cáchình thức huy động vốn

Huy động vốn thông qua hình thức tiết kiệm truyền thống, loại không kỳ đất nước thì ta cần tiếp tục tích cựctiến hành đổi mới, hoàn thiện quan hệ tín hạn, có kỳ hạn 3, 6, 9, 12 tháng, tăng cường huy động tiết kiệm trung

và dài hạn Chủ động phát hành kỳ phiếu, trái phiếu ngân hàng với lãi xuất và hình thức thích hợp, hấp dẫnđược bảo đảm bằng vàng hoặc ngoại tệ, có xác định thời hạn nhất định từ 1, 3, 5, 10 năm Người mua kỳ phiếu,trái phiếu ngân hàng có thể dễ dàng chuyển đổi quyền sở hữu một cách hợp pháp Khi thanh toán kỳ phiếu, tráiphiếu nếu gặp rủi ro về tỷ giá phải có nguồn tài chính cấp bù lỗ Cần phát hành kỳ phiếu, trái phiếu bằng vàngsong hành với phát hành tận kỳ phiếu, trái phiếu bằng tiền mặt (nội tệ và ngoại tệ)

Thu hút vốn (trong thời kỳ nhàn rỗi) từ nguồn thu của các doanh nghiệp vào hệ thống ngân hàng để tạo nên tínhnăng động, hiệu quả trong huy động vốn Tạo nguồn vốn tín dụng thông qua việc đa dạng hoá các loại hình dich

vụ dịch vụ uỷ thác,dịch vụ tư vấn đầu tư,dịch vụ đảm bảo an toàn các vật có giá…

Khuyến khích các chủ thể sản xuất ,kinh doanh thanh toán không dùng tiền mặt mà qua tài khoản tiền gửi ngânhàng,vừa giảm khối lượng tiềm mặt trong lưu thông, tiết kiệm được chi phí cho kiểm đếm, bảo quản, vừa làmtăng tính hiệu quả của dồng vốn ngân hàng

b) Mở rộng mạng lưói dao dịch của các tổ chức tín dụng thông qua việc củng cố, hoàn thiện hoạt động của cácchi nhánh ngân hàng, đầu tư xây dựng các trụ sở giao dịch với khách hàng Bên cạnh đó cần hình thành nhữngngân hàng di động, đa năng thông qua việc trang bị ô tô, xe máy chuyên dùng, đảm bảo cho nguồn tín dụng cómặt ở khắp các vùng, các miền kể cả những vùng xa xôi hẻo lánh, có điều kiện, tiềm năng phát triển kinh tếhàng hoá; phấn đấu đạt mục tiêu mọi hộ dân đều có thể tiếp cận với các dịch vụ tín dụng chính thức

c) Cần nâng cao năng lực của các thành viên tham gia thị trường tín dụng

Đối với các tổ chức tín dụng cần nghiên cứu thị trường để xác định được nhu cầu vốn tín dụng, làm cơ sở choviệc hoạnh định chiến lược khách hàng để đầu tư vốn phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế, nâng cao năng lựccạnh tranh, hiệu quả hoạt động của các tổ chứa tín dụng Để nâng cao năng lực cạnh tranh, hiệu quả hoạt động,đòi hỏi các tổ chức tín dụng phải đổi mới hoạt động tín dụng đồng bộ từ việc hợp lý hoá quy trình,thủ tục huyđộng và cho vay; đa dạng hoá hình thức tín dụng và phương thức cho vay; tuyển chọn cán bộ có đủ năng lựcphẩm chất; có chế độ đãi ngộ thoả đáng bằng lợi ích vật chất dối với những cán bộ làm tốt công tác được giaocũng như xử lý nghiêm minh đối với những người không hoàn thành nhiệm vụ, vi phạm pháp luật trong hoạtđộng tín dụng; đổi mới công nghệ ngân hàng theo hướng đi thẳng và công nghệ hiện đại, góp phần đắc lực chochiến lược hội nhập quốc tế

Đối với khách hàng, cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến các nghiệp vụ tín dụng có liên quan đếnkhách hàng vay vốn, tạo điều kiện cho họ nắm bắt và thực hiện tốt các nguyên tắc, quy trình, thủ tục vay vốn và

sử dụng vốn có hiệu quả, khuyến khích khách hàng mua bảo hiểm rủi ro trong sản xuất kinh doanh nhằm phântán rủi ro, giảm tối đa những thiệt hại rủi ro cho khách hàng khi sử dụng vốn tín dụng, khuyến cáo họ thông tinkịp thời về tình hình sản xuất kinh doanh,thực trạng tài chính và những rủi ro nếu có để các tổ chức tín dụng có

Trang 10

điều kiện giúp đỡ, xử lý kịp thời Nếu khách hàng là những hộ sản xuất cá thể thì khuyến khích họ tham gia vàocác tổ chức quần chúng, hiệp hội ngành nghề…nhằm tăng cường mối liên kết kinh tế, bảo vệ quyền và lợi íchhợp pháp của mình khi vay vốn tín dụng.

d) Cần phải hoàn thiện khuôn khổ pháp luật đồng bộ theo hướng minh bạch, rõ ràng, tác động thuận chiều vớicác chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước trong vấn đề tăng cường đầu tư tín dụng, tạo ra một sân chơibình đẳng, cạnh tranh lành mạnh giữa các chủ thể tham gia cung cầu tín dụng trên thị trường tín dụng; phát huycao độ quyền tự chủ kinh doanh của các chủ thể đó, giảm thiểu sự can thiệp trực tiếp mang tính hành chính hoácũng như hình sự hoá các quan hệ tín dụng của chính quyền các cấp trong hoạt động huy động, cho vay vốn tíndụng, nhằm tháo gơc những rào cản không cần thiết vừa đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng tín dụng,vừa đảm bảo độ

an toàn khi phát triển thị trường tín dụng

e) Tiếp tục đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá; giảm tỷ trọng nôngnghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, phát triển mạnh kinh tếhàng hoá, nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế

Câu 6: Phân tích thực trạng lãi suất tín dụng ngân hàng từ 2012 đến nay? Đánh giá chung về lãi suất trên thị trường?

Thực trạng lãi suất tín dụng ngân hàng năm 2012:

Năm 2012 là một năm rất khó khăn của nền kinh tế Việt Nam với nhiều cung bậc khác nhau Tuy nhiên,Chính Phủ và Ngân hàng nhà nước cũng đã có những chính sách, quyết định kịp thời và quyết liệt nhàm ổnđịnh kinh tế, giảm bớt gánh nặng co doanh nghiệp và giải cứu nợ xấu ở các ngân hàng

Lạm phát từ ngưỡng 20% đã giảm xuống còn một con số dưới 7%, trong khi duy trì được tốc độ tăng trưởngđạt trên 5% và lãi suất vay cũng đã giảm từ +-20% xuống còn +-12 – 13%/năm

2012: 6 lần giảm lãi suất huy động và cho vay

Lần đầu tiên vào ngày 13/3, mức điều chỉnh từ 14% về 13%/năm theo yêu cầu giảm lãi suất huy động củaThủ tướng chính phủ

Tiếp đó, đến ngày 11/4, lãi suất huy động cũng giảm thêm 1%, về 12% một năm

Ngày 28/05/2012, Ngân hàng Nhà nước vừa quyết định đưa trần lãi suất huy động - cho vay lần lượt về còn

11 và 14% một năm, đồng thời hạ một loạt lãi suất điều hành

Từ ngày 11/6/2012, trần lãi suất huy động VND đã giảm từ mức 11%/năm xuống còn 9%/năm Bên cạnh đó,theo thông tư 19/2012/TT-NHNN được ban hành ngày 8/6/2012, NHNN đã cho phép các NHTM tự quyết địnhlãi suất huy động kỳ hạn dài (từ 12 tháng trở lên) Đây là một bước đi hợp lý của NHNN, giúp các NHTM tựcân đối được cơ cấu tiền gửi theo kỳ hạn của mình Từ 24/12/2012, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã đưa trầnlãi suất huy động giảm xuống còn 8%/năm Theo các DN với mức lãi suất huy động 8% thì họ hy vọng cácngân hàng sẽ cho vay ra ở mức 11-12% nhưng điều này chưa xảy ra Tại hội nghị mới đây, Ngân hàng Nhànước cho biết, năm 2013: sẽ xem xét bỏ trần lãi suất huy động Theo đó, NHNN sẽ điều hành các mức lãi suấtphù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô, tiền tệ, đặc biệt là diễn biến của lạm phát; Tiếp tục áp dụng trần lãi suấttiền gửi bằng VND để ổn định mặt bằng lãi suất thị trường, xem xét bỏ trần lãi suất huy động khi thị trường tiền

tệ ổn định và thanh khoản của hệ thống TCTD cải thiện vững chắc Trường hợp lạm phát của năm 2013 đượckiểm soát ở mức thấp hơn năm 2012, NHNN tiếp tục điều hành theo hướng giảm mặt bằng lãi suất phù hợp vớidiễn biến lạm phát

Thực trạng lãi suất tín dụng ngân hàng năm 2013:

Trong năm 2013, NHNN đã giảm 2%/năm đối với các mức lãi suất điều hành, giảm 3%/năm đối với trần lãi

Trang 11

suất cho vay ngắn hạn VND dành cho các lĩnh vực ưu tiên, giảm 1%/năm trần lãi suất tiền gửi VND, cho phépcác TCTD tự ấn định lãi suất tiền gửi VND kỳ hạn 6 tháng trở lên.

Để giảm dần mặt bằng lãi suất theo lộ trình đề ra và ổn định thị trường tiền tệ, NHNN đã chuẩn bị các biệnpháp cần thiết để chủ động hỗ trợ thanh khoản kịp thời cho các TCTD tại các thời điểm nhu cầu thanh toán cao;đồng thời, tăng cường thanh tra, giám sát và xử lý nghiêm những trường hợp vi phạm trần lãi suất huy động.Với các giải pháp điều hành kết hợp với điều hành linh hoạt cung ứng tiền, mặt bằng lãi suất năm 2013 tiếp tụcgiảm 2-5%/năm, tương đương mức lãi suất trong các năm 2005-2006, thị trường tiền tệ tiếp tục ổn định Mặc

dù lãi suất giảm, nhưng tiền gửi tiếp tục tăng

Tính đến ngày 12/12, nguồn vốn huy động tăng 15,61% so với cuối năm 2012, trong đó tiền gửi ngoại tệtăng 13,7%, tiền gửi VND tăng 15,93% Thanh khoản của hệ thống các TCTD tiếp tục cải thiện, đảm bảo khảnăng thanh toán và chi trả của toàn hệ thống Trong năm 2013, mặt bằng lãi suất ổn định và tiếp tục giảm.Đến cuối năm 2013, lãi suất trên thị trường liên ngân hàng dao động quanh mức 2-5%/năm tùy theo kỳ hạn, lãisuất huy động và cho vay VND trên thị trường giảm 2-5%/năm, tương đương với mức lãi suất trong các năm2005-2006, từng bước chấm dứt tình trạng cạnh tranh qua lãi suất

Bên cạnh các biện pháp điều chỉnh lượng tiền trong lưu thông để giảm dần mặt bằng lãi suất, NHNN tiếp tụcgiảm lãi suất cho vay ngắn hạn VND đối với 5 lĩnh vực ưu tiên gồm: Nông nghiệp nông thôn, xuất khẩu, côngnghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao Cụ thể là, điều chỉnh giảm trầnlãi suất cho vay ngắn hạn bằng VND đối với các lĩnh vực ưu tiên theo xu hướng giảm của trần lãi suất tiền gửiVND

NHNN đã tiến hành hỗ trợ nguồn vốn và giảm tỉ lệ dự trữ bắt buộc đối với 7 TCTD để khuyến khích cácTCTD tiếp tục cho vay phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn Đến cuối tháng 11/2013, tín dụng đối với lĩnhvực nông nghiệp nông thôn tăng 17% so với cuối năm 2012; doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao tăng24,51%, công nghiệp hỗ trợ tăng 10,84%

Để giảm dần tình trạng tồn kho thị trường bất động sản, NHNN đã phối hợp với Bộ Xây dựng ban hànhThông tư số 11/TT-NHNN quy định về cho vay hỗ trợ nhà ở theo Nghị quyết số 02/2013/NQ-CP

Để triển khai áp dụng Thông tư này, NHNN đã dành 30.000 tỉ VND để tái cấp vốn hỗ trợ cho các ngân hàngthương mại Nhà nước cho vay hỗ trợ nhà ở, thời hạn cho vay có thể kéo dài 10 năm với mức lãi suất tái cấp vốnhiện nay là 4,5%/năm Kết quả bước đầu, đến cuối tháng 11/2013, các NHTM đã giải ngân cho 1.236 kháchhàng với tổng dư nợ 470,8 tỉ đồng

Đầu tháng 12/2013, NHNN đã đề xuất và được Chính phủ chấp thuận thực hiện cho vay tái cấp vốn đối vớitrái phiếu đặc biệt với mức lãi suất thấp hơn 2% so với lãi suất tái cấp vốn do NHNN quy định tại từng thời kỳ,giúp kích thích giải quyết nợ xấu nhanh hơn Đây được coi là biện pháp đẩy nhanh tiến độ xử lý nợ xấu, đồngthời là yếu tố quan trọng để các TCTD tiếp tục giảm lãi suất cho vay đối với nền kinh tế

Tính đến ngày 12/12, tín dụng toàn hệ thống TCTD tăng 8,83% so với cuối năm 2012, tuy thấp hơn mục tiêu

đề ra (12%) nhưng hiệu quả và chất lượng tín dụng cải thiện rõ rệt, góp phần hỗ trợ tăng trưởng kinh tế ở mứchợp lý Cơ cấu tín dụng tiếp tục được cải thiện theo hướng tập trung vào lĩnh vực sản xuất kinh doanh, nhất lànhững lĩnh vực ưu tiên, tín dụng đối với lĩnh vực không khuyến khích giảm cả về tỉ trọng và con số tuyệt đối.Tóm lại, điều hành tín dụng và lãi suất năm 2013 tiếp tục gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướngnâng cao chất lượng, hiệu quả của nền kinh tế, phù hợp với chủ trương giảm dần tỉ trọng tín dụng ngân hàngcho đầu tư phát triển, tập trung nguồn vốn cho lĩnh vực sản xuất kinh doanh Trong đó, mục tiêu cuối cùng và

Trang 12

quan trọng hàng đầu là tiếp tục giảm dần mặt bằng lãi suất theo lộ trình đề ra, góp phần tháo gỡ khó khăn chocác doanh nghiệp và hỗ trợ thị trường.

Thực trạng lãi suất tín dụng ngân hàng năm 2014:

Bức tranh tăng trưởng tín dụng 2014 của các ngân hàng đang rõ hơn từng ngày khi cuối tháng 9-2014, Ngânhàng Nhà nước công bố tín dụng đã đạt mức tăng trưởng 7,26% so với thời điểm cuối năm 2013 Như vậy, sovới mục tiêu tăng trưởng 12-14% cho toàn hệ thống, còn khoảng 5-7% nữa

Mặc dù so với cuối năm 2013, mặt bằng lãi suất nhìn chung đã giảm 0,5-1,5% (thống kê của NHNN), songnhiều nhận định vẫn cho rằng, lãi suất có thể giảm thêm do chỉ còn 3 tháng cuối, ngân hàng nào cũng muốn đẩymạnh tín dụng để đảm bảo lợi nhuận

Vẫn còn cơ địa giảm lãi:

Thống kê của Uỷ ban giám sát tài chính quốc gia trong báo cáo kinh tế vĩ mô 9 tháng đầu năm 2014 cho biết,lãi suất huy động VND phổ biến kỳ hạn 6 tháng đã giảm từ mức 7,2%/năm ở thời điểm cuối năm 2013 xuốngcòn 5,5% ở thời điểm hiện tại Lãi suất cho vay trong giai đoạn trên cũng giảm từ 0.5-1,5%/ năm

Trên nhiều phương tiện truyền thông, hầu hết các lãnh đạo ngân hàng đều cho rằng lãi suất vay vẫn có cơ địagiảm thêm, mặc dù mức lãi suất hiện tại đã được xem là quá tốt trong 3 năm trở lại đây Nguyên nhân là do lãisuất huy động có thể sẽ được thả nổi trong thời gian tới, khi càng về cuối năm, áp lực lỗ - lãi của ngân hàngcàng lớn Chưa kể, với tình trạng thừa vốn trầm trọng ở nhiều ngân hàng hiện tại thì vẫn có thể giảm lãi suấthuy động thêm 1 -2%, và lãi vay theo đó cũng giảm theo

Lãi huy động đã xuống thấp nhất trong vòng 3 năm trở lại đây, với các kỳ hạn dưới 1 năm, có nhiều ngânhàng chỉ áp mức 4,5-5%/năm, mức lãi suất cao nhất ghi nhận được cũng chưa đầy 7%/năm cho các kỳ hạn dàitrên 1 năm Nhiều chuyên gia khác cũng khẳng định, mặc dù đã được xem là “lý tưởng”, song lãi suất cho vay

có thể sẽ giảm thêm ít nhất khoảng 1% trong vài tháng tới do áp lực đẩy vốn của các ngân hàng

Báo cáo kết quả điều tra xu hướng kinh doanh đối với các tổ chức tín dụng và chi nhánh ngân hàng nướcngoài quý IV/2014 do NHNN thực hiện vừa mới công bố cũng ghi nhận có đến 90% tổ chức tín dụng dự báomặt bằng lãi suất sẽ tiếp tục giảm trong thời gian tới Đặc biệt, mặt bằng lãi suất cho vay được các tổ chức tíndụng kỳ vọng sẽ giảm nhanh và giảm sâu hơn lãi suất huy động

Tín dụng sẽ tăng bền vững hơn:

Nhiều tổ chức tín dụng đang mở ra các gói kích cầu vay tiền, trải rộng trên nhiều lĩnh vực: sản xuất kinhdoanh, bất động sản, tiêu dùng… Phía doanh nghiệp, mặc dù còn nhiều khó khăn, song nhận định của Ủy bangiám sát tài chính quốc gia cho thấy, những khó khăn đó đang lùi dần và doanh nghiệp đang dần khỏe lên dựatrên những kế hoạch kinh doanh thận trọng Thu hút vốn đầu tư nước ngoài giảm nhẹ, song xuất khẩu và nhậpkhẩu tăng trưởng rất tốt Cụ thể, 9 tháng đầu năm, xuất khẩu đã tăng 13,2% và nhập khẩu tăng 12,1% so vớicùng kỳ năm ngoái, đáng nói là xuất siêu lần đầu tiên đạt gần 1 tỷ USD Chỉ số sản xuất công nghiệp trong cáctháng qua cũng tăng mạnh, đặc biệt kể từ quý II/2014 với mức 6,4% (cùng kỳ năm 2013 tăng 5,4%)

Từ những thuận lợi trên, NHNN cho rằng, mục tiêu tăng tín dụng 12-14% của năm 2014 là không quá khó.Kết quả điều tra cũng cho thấy 90% các tổ chức tín dụng tin rằng họ sẽ đạt mục tiêu tăng tín dụng của cả nămvào khoảng 14,5% (bình quân cả hệ thống) Ngoài ra, dư nợ tín dụng VND tiếp tục được kỳ vọng tăng trưởngcao hơn dư nợ tín dụng ngoại tệ

Những tháng cuối năm 2014, mặc dù kỳ vọng tín dụng sẽ tăng kịp chỉ tiêu, song NHNN cho biết tiếp tụcđiều điều hành chính sách tiền tệ chủ động và linh hoạt, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa nhằm kiểmsoát lạm phát theo mục tiêu đề ra, ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế ở mức hợp lý, bảo đảmthanh khoản của các TCTD và nền kinh tế

Trang 13

Thực trạng lãi suất tín dụng ngân hàng từ đầu năm 2015 đến hiện nay: Trong suốt năm 2014, nhiều đợt điềuchỉnh giảm lãi suất huy động liên tục diễn ra Đầu năm 2015, lãi suất tiếp tục đi xuống Mức “đáy” của kỳ hạn 1tháng chỉ còn 4%/năm.

Theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước, hiện nay, lãi suất huy động bằng phổ biến ở mức 0,8-1%/năm đốivới tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng; 5-5,5%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn 1 tháng và có kỳhạn dưới 6 tháng; 5,7-6,8%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 6 tháng đến dưới 12 tháng; kỳ hạn trên 12 tháng ởmức 6,8-7,5%/năm

Mặc dù đa số các ngân hàng đều áp dụng chính sách lãi suất thấp Nhưng tại một số ngân hàng thương mại

cổ phần, lãi suất vẫn được niêm yết khá cao

OceanBank là một trong những ngân hàng có lãi suất cao nhất Tại BacABank, lãi suất các kỳ hạn dưới 6tháng đồng loạt niêm yết ở mức 5,5%/năm Lãi suất cao 7,9%/năm được áp dụng cho 4 kỳ hạn 15, 18, 24 và 38tháng Bắc Á là một trong những ngân hàng có biểu lãi suất cao nhất

Thấp hơn một chút, mức lãi suất cao nhất tại Vietcapitalbank là 7,8%/năm Mức lãi suất này được áp dụngcho các kỳ hạn từ 18 tới 60 tháng Tại Nambank, 36 tháng là kỳ hạn duy nhất có mức lãi suất cao 7,8%/năm.OceanBank là một trong những ngân hàng khá “trung thành” với chính sách lãi suất huy động hấp dẫn.Trong suốt thời gian qua, 7,7%/năm là mức lãi suất của 3 kỳ hạn 18 tháng, 24 tháng và 36 tháng Thấp hơn mộtchút, kỳ hạn 15 tháng có lãi suất 7,5%/năm

7,7%/năm cũng là mức lãi suất mà OCB và HDBank sử dụng Trong khi, OCB chỉ áp dụng mức lãi cao nhấtnày cho kỳ hạn 13 tháng thì tại HDBank, hai kỳ hạn 24 tháng và 36 tháng đều có mức lãi suất 7,7%/năm.Thấp hơn một chút, lãi suất huy động “trần” tại Baovietbank là 7,5%/năm, tại GPBank là 7,4%, tạiMaritimeBank là 7,2%/năm,…

Lãi suất giảm, huy động vốn vẫn tăng:

Mặt bằng chung lãi suất huy động giảm nhưng một số ngân hàng như BacABank, Oceanbank,… có lãi suấttiết kiệm khá cao Các ngân hàng này đóng góp không nhỏ vào đà tăng huy động vốn của hệ thống ngân hàngtrong thời gian vừa qua

Ngày 13/01/2015, Vụ Dự báo, thống kê – Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã công bố kết quả điều tra xuhướng kinh doanh Quý 1/2015 của các tổ chức tín dụng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam.Kết quả điều tra cho thấy, bên cạnh thanh khoản của hệ thống ngân hàng ngày càng được cải thiện, nợ xấu dầnđược kiểm soát, hoạt động huy động vốn và cho vay tiếp tục tăng

Theo Ngân hàng Nhà nước, hầu hết các tổ chức tín dụng kỳ vọng, nguồn vốn huy động từ nền kinh tế sẽ tiếptục tăng trong Quý 1 và cả năm 2015

Trong đó, tiền gửi VND được kỳ vọng tăng cao hơn so với tiền gửi ngoại tệ và tương đối đồng đều theo từng

kỳ hạn, riêng tiền gửi kỳ hạn dưới 6 tháng sẽ tăng cao hơn trong Quý I/2015, trong khi tiền gửi kỳ hạn trên 1năm được kỳ vọng tăng cao hơn so với những kỳ hạn khác tính đến cuối năm 2015

Theo kết quả điều tra, nguồn vốn huy động kỳ vọng tăng bình quân 4,5% trong Quý 1/2015 (tiền gửi VNDtăng 4,7%, tiền gửi ngoại tệ tăng 3,87%) và tăng 14,35% trong năm 2015 (tiền gửi VND tăng 15,37%, tiền gửingoại tệ tăng 6,53%)

Như vậy, khả năng huy động vốn trong năm 2014 và cơ cấu nguồn vốn huy động của các tổ chức tín dụngđược cải thiện bền vững và hợp lý hơn, mặc dù trong năm 2014 Ngân hàng Nhà nước đã 2 lần điều chỉnh giảmcác mức lãi suất chính sách (tháng 3 và tháng 10/2014)

Mặt bằng lãi suất trên thị trường giảm 1,5-2%/năm so với cuối năm 2013 và được kỳ vọng tiếp tục ổn địnhhoặc giảm nhẹ trong năm 2015, nhưng tiền gửi vào hệ thống ngân hàng vẫn tăng vì đây vẫn là kênh đầu tư antoàn và hiệu quả trong bối cảnh lạm phát thấp (tăng 1,84% so với cùng kỳ năm 2013 và trung bình năm 2014

Trang 14

chỉ tăng 4,09% so với năm 2013), trong khi thị trường chứng khoán vẫn tiềm ẩn nhiều rủi ro, thị trường bấtđộng sản chưa hồi phục mạnh.

ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ LÃI SUẤT TRÊN THỊ TRƯỜNG:

Thực hiện chỉ đạo trong các nghị quyết của Quốc hội và Chính phủ về một số giải pháp tháo gỡ khó khăncho sản xuất kinh doanh và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã đề ra mụctiêu và nhiệm vụ của ngành

Ngân hàng tiếp tục điều hành linh hoạt và đồng bộ các công cụ chính sách tiền tệ; chủ động điều hành cungứng tiền nhằm ổn định thị trường tiền tệ và đảm bảo tính thanh khoản của các tổ chức tín dụng (TCTD), gópphần kiềm chế lạm phát ở mức thấp và ổn định kinh tế vĩ mô

Đồng thời, NHNN tiếp tục điều hành tín dụng linh hoạt theo hướng mở rộng tín dụng đi đôi với an toàn hoạtđộng của các TCTD, kiểm soát chặt chẽ hoạt động cho vay ngoại tệ phù hợp với chủ trương của Chính phủ vềhạn chế đô la hóa trong nền kinh tế

Chỉ đạo các TCTD nâng cao hiệu quả quản lý kinh doanh, tiết kiệm chi phí, áp dụng lãi suất cho vay mới ởmức hợp lý, xem xét tiếp tục điều chỉnh giảm lãi suất cho vay cũ xuống dưới 13%/năm trên cơ sở khả năng tàichính nhằm chia sẻ khó khăn với doanh nghiệp; thực hiện các biện pháp tháo gỡ khó khăn trong quan hệ vayvốn giữa doanh nghiệp với các TCTD như gia hạn nợ, xem xét điều chỉnh kỳ hạn trả nợ, tính toán miễn và giảmlãi vay, tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng tiếp cận được những khoản vay mới

Trong năm 2013, NHNN đã giảm 2%/năm đối với các mức lãi suất điều hành, giảm 3%/năm đối với trần lãisuất cho vay ngắn hạn VND dành cho các lĩnh vực ưu tiên, giảm 1%/năm trần lãi suất tiền gửi VND, cho phépcác TCTD tự ấn định lãi suất tiền gửi VND kỳ hạn 6 tháng trở lên

Để giảm dần mặt bằng lãi suất theo lộ trình đề ra và ổn định thị trường tiền tệ, NHNN đã chuẩn bị các biệnpháp cần thiết để chủ động hỗ trợ thanh khoản kịp thời cho các TCTD tại các thời điểm nhu cầu thanh toán cao;đồng thời, tăng cường thanh tra, giám sát và xử lý nghiêm những trường hợp vi phạm trần lãi suất huy động.Với các giải pháp điều hành kết hợp với điều hành linh hoạt cung ứng tiền, mặt bằng lãi suất năm 2013 tiếp tụcgiảm 2-5%/năm, tương đương mức lãi suất trong các năm 2005-2006, thị trường tiền tệ tiếp tục ổn định Mặc

dù lãi suất giảm, nhưng tiền gửi tiếp tục tăng

Tính đến ngày 12/12/2013, nguồn vốn huy động tăng 15,61% so với cuối năm 2012, trong đó tiền gửi ngoại

tệ tăng 13,7%, tiền gửi VND tăng 15,93% Thanh khoản của hệ thống các TCTD tiếp tục cải thiện, đảm bảo khảnăng thanh toán và chi trả của toàn hệ thống Trong năm 2013, mặt bằng lãi suất ổn định và tiếp tục giảm.Đến cuối năm 2013, lãi suất trên thị trường liên ngân hàng dao động quanh mức 2-5%/năm tùy theo kỳ hạn,lãi suất huy động và cho vay VND trên thị trường giảm 2-5%/năm, tương đương với mức lãi suất trong các năm2005-2006, từng bước chấm dứt tình trạng cạnh tranh qua lãi suất

Bên cạnh các biện pháp điều chỉnh lượng tiền trong lưu thông để giảm dần mặt bằng lãi suất, NHNN tiếp tụcgiảm lãi suất cho vay ngắn hạn VND đối với 5 lĩnh vực ưu tiên gồm: Nông nghiệp nông thôn, xuất khẩu, côngnghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao Cụ thể là, điều chỉnh giảm trầnlãi suất cho vay ngắn hạn bằng VND đối với các lĩnh vực ưu tiên theo xu hướng giảm của trần lãi suất tiền gửiVND

NHNN đã tiến hành hỗ trợ nguồn vốn và giảm tỉ lệ dự trữ bắt buộc đối với 7 TCTD để khuyến khích cácTCTD tiếp tục cho vay phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn Đến cuối tháng 11/2013, tín dụng đối với lĩnhvực nông nghiệp nông thôn tăng 17% so với cuối năm 2012; doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao tăng24,51%, công nghiệp hỗ trợ tăng 10,84%

Trang 15

Để giảm dần tình trạng tồn kho thị trường bất động sản, NHNN đã phối hợp với Bộ Xây dựng ban hànhThông tư số 11/TT-NHNN quy định về cho vay hỗ trợ nhà ở theo Nghị quyết số 02/2013/NQ-CP.

Để triển khai áp dụng Thông tư này, NHNN đã dành 30.000 tỉ VND để tái cấp vốn hỗ trợ cho các ngân hàngthương mại Nhà nước cho vay hỗ trợ nhà ở, thời hạn cho vay có thể kéo dài 10 năm với mức lãi suất tái cấp vốnhiện nay là 4,5%/năm Kết quả bước đầu, đến cuối tháng 11/2013, các NHTM đã giải ngân cho 1.236 kháchhàng với tổng dư nợ 470,8 tỉ đồng

Đầu tháng 12/2013, NHNN đã đề xuất và được Chính phủ chấp thuận thực hiện cho vay tái cấp vốn đối vớitrái phiếu đặc biệt với mức lãi suất thấp hơn 2% so với lãi suất tái cấp vốn do NHNN quy định tại từng thời kỳ,giúp kích thích giải quyết nợ xấu nhanh hơn Đây được coi là biện pháp đẩy nhanh tiến độ xử lý nợ xấu, đồngthời là yếu tố quan trọng để các TCTD tiếp tục giảm lãi suất cho vay đối với nền kinh tế

Tính đến ngày 12/12, tín dụng toàn hệ thống TCTD tăng 8,83% so với cuối năm 2012, tuy thấp hơn mục tiêu

đề ra (12%) nhưng hiệu quả và chất lượng tín dụng cải thiện rõ rệt, góp phần hỗ trợ tăng trưởng kinh tế ở mứchợp lý Cơ cấu tín dụng tiếp tục được cải thiện theo hướng tập trung vào lĩnh vực sản xuất kinh doanh, nhất lànhững lĩnh vực ưu tiên, tín dụng đối với lĩnh vực không khuyến khích giảm cả về tỉ trọng và con số tuyệt đối.Tóm lại, điều hành tín dụng và lãi suất năm tiếp tục gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng nângcao chất lượng, hiệu quả của nền kinh tế, phù hợp với chủ trương giảm dần tỉ trọng tín dụng ngân hàng cho đầu

tư phát triển, tập trung nguồn vốn cho lĩnh vực sản xuất kinh doanh Trong đó, mục tiêu cuối cùng và quantrọng hàng đầu là tiếp tục giảm dần mặt bằng lãi suất theo lộ trình đề ra, góp phần tháo gỡ khó khăn cho cácdoanh nghiệp và hỗ trợ thị trường Trong những năm tiếp theo, NHNN sẽ tiếp tục thực hiện những giải phápquyết liệt để giảm mặt bằng lãi suất cho vay cho phù hợp với mức lãi suất phố biến trên thị trường quốc tế, từngbước nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế

Câu 7: Một số vấn đề đặt ra và giải pháp trong phát triển NHTM trong thời gian tới?

Diễn biến kinh tế Thế giới vẫn khó lường, sẽ tiếp tục ảnh hưởng đến vấn đề tăng trưởng kinh tế, lạm phát,xuất nhập khẩu của VN Như vậy, hoạt động của các NHTM VN sẽ tiếp tục chịu ảnh hưởng không chỉ của nềnkinh tế VN, mà còn chịu tác động từ các nhân tố từ bên ngoài Điều này đặt ra một số vấn đề mà các NHTMphải quan tâm

Thứ nhất, về năng lực cạnh tranh Xét trong nội bộ ngành NH, sự có mặt của các NH nước ngoài đã làm tăngsức ép cạnh tranh trong lĩnh vực NH Các NH nước ngoài không chỉ cạnh tranh với các NH trong nước trongviệc cung cấp các dịch vụ NH hiện đại, mà còn cạnh tranh ngay cả về các sản phẩm truyền thống như tín dụng,thanh toán, nhận tiền gửi v.v Mặc dù các NH VN có lợi thế so sánh về mạng lưới, về khách hàng truyền thốngnhờ vai trò lịch sử nhưng kém hơn so về năng lực cạnh tranh với các NH nước ngoài về mức độ hiện đại hóacông nghệ NH, về nguồn nhân lực, về trình độ quản trị hoạt động và vấn đề quản lý rủi ro Một số công trìnhnghiên cứu cho rằng: một tổ chức tín dụng có khả năng cạnh tranh cần có các đặc điểm sau: Năng lực sáng tạo;Năng lực phân bổ và tái phân bổ danh mục tài sản và nợ; năng lực cải thiện năng suất và quản lý nguồn lực; khảnăng thanh toán, vốn và thanh khoản; và Chủ sở hữu mạnh Điều đó có nghĩa là, để nâng cao năng lực cạnhtranh, việc tăng vốn là rất cần nhưng chưa đủ mà cần phải tạo năng lực và động lực để cạnh tranh

Thứ hai, về chất lượng dịch vụ NH Các dịch vụ mà các NHTM VN đang cung cấp hiện nay, dù đã được đadạng hoá nhưng vẫn đơn điệu, chủ yếu vẫn là các sản phẩm truyền thống Các dịch vụ NH hiện đại chưa pháttriển hoặc phát triển nhưng đồng bộ Rất nhiều dịch vụ phát triển chưa xứng với tiềm năng, đặc biệt là các dịch

vụ bán lẻ, dịch vụ dành cho khách hàng thượng lưu, dịch vụ quản lý tài sản, tư vấn và hỗ trợ tài chính, trung

Ngày đăng: 05/10/2017, 19:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w