- Giá trị sử dụng của hàng hóa là giá trị sử dụng xã hội vì nó không phải là giá trị sử dụngcho người sản xuất trực tiếp mà là cho người khác, cho xã hội thông qua hoạt động trao đổi, mu
Trang 1ÔN TẬP CHI TIẾT MAC
ĐỀ CƯƠNG THAM KHẢO
Vấn đề 1: Phân tích 2 thuộc tính của HH vì sao HH có 2
thuộc tính
* Khái niệm Hàng hóa: Hàng hóa là một sản phẩm của lao động có thể thỏa mãn một nhucầu nào đó của con người thông qua trao đổi mua - bán
* Hàng hóa có hai thuộc tính: Giá trị sử dụng và Giá trị
a Giá trị sử dụng của hàng hóa
- Khái niệm: Giá trị sử dụng của hàng hóa là công dụng của sản phẩm có thể thỏa mãn mộthay một số nhu cầu nào đó của con người
- Bất cứ một hàng hóa nào cũng có một hay một số công dụng nhất định có thể thỏa mãn mộthay một số nhu cầu nào đó của con người Những công dụng đó được gọi là tính có ích của hànghóa
- Giá trị sử dụng của hàng hóa là nội dung vật chất của của cải vì nó do thuộc tính tự nhiên(lý, hóa học) của thực thể hàng hoá đó quyết định
- Giá trị sử dụng của hàng hóa là một phạm trù vĩnh viễn vì không phụ thuộc vào sự sự thayđổi của phương thức sản xuất
- Theo đà phát triển của khoa học kỹ thuật, con người ngày càng phát hiện thêm những thuộctính mới của sản phẩm và phương pháp để lợi dụng chúng đó đó số lượng giá trị sử dụng ngày càngnhiều, chất lượng ngày càng tốt
- Giá trị sử dụng chỉ được thực hiện khi nó được tiêu dùng hay sử dụng Nếu hàng hóa chưađược tiêu dùng thì giá trị sử dụng của nó chỉ ở dạng tiềm năng Để giá trị sử dụng ở dạng tiềm năngtrở thành giá trị sử dụng hiện thực thì hàng hóa đó cần được tiêu dùng
- Giá trị sử dụng của hàng hóa là giá trị sử dụng xã hội vì nó không phải là giá trị sử dụngcho người sản xuất trực tiếp mà là cho người khác, cho xã hội thông qua hoạt động trao đổi, muabán
b Giá trị hàng hóa
- Muốn hiểu giá trị hàng hóa phải xuất phát từ giá trị trao đổi
- Trong kinh tế hàng hóa, giá trị sử dụng là vật mang giá trị trao đổi
Trang 2- Khái niệm: Giá trị trao đổi trước hết là tỷ lệ về lượng mà giá trị sử dụng này trao đổi vớigiá trị sử dụng khác
Ví dụ: 1m vải trao đổi lấy 5 kg thóc (Điều này có nghĩa là 1m vải có giá trị trao đổi bằng5kg thóc)
- Vấn đề đặt ra là: tại sao hai hàng hoá, hai giá trị sử dụng lại trao đổi được cho nhau, hơnnữa chúng lại trao đổi với nhau theo một tỷ lệ nhất định?
+ Cái chung đó không thể là giá trị sử dụng vì hai loại hàng hóa này có công dụng hoàn toànkhác nhau (vải để mặc, thóc để ăn) Và sự khác nhau đó chỉ là điều kiện cần thiết để sự trao đổi xảy
ra vì không ai đem trao đổi những vật phẩm giống hệt nhau về giá trị sử dụng
+ Cái chung đó là: cả vải và thóc đều là sản phẩm của lao động, đều có lao động kết tinhtrong đó Nhờ có cơ sở chung đó mà các hàng hóa có thể trao đổi được với nhau Vậy, thực chấtngười ta trao đổi hàng hóa với nhau chẳng qua là trao đổi lao động của mình ẩn dấu trong trongnhững hàng hóa đó
► Chính hao phí lao động để tạo ra hàng hóa kết tinh trong hàng hóa ấy là cơ sở chung chomọi việc trao đổi và nó tạo thành giá trị hàng hóa
- Khái niệm: Giá trị hàng hóa là lao động của người sản xuất hàng hóa tạo ra, kết tinh tronghàng hóa
Giá trị hàng hóa biểu hiện thông qua giá trị trao đổi Tức là, giá trị là nội dung, là cơ sở củagiá trị trao đổi
- Giá trị biểu hiện mối quan hệ xã hội giữa những người sản xuất hàng hóa vì trao đổi hànghóa là so sánh lượng hao phí lao động giữa những người sản xuất hàng hóa Quan hệ giữa người vớingười được thay thế bằng quan hệ giữa vật với vật (hàng – hàng)
- Giá trị hàng hóa là một phạm trù lịch sử, chỉ tồn tại trong nền kinh tế hàng hóa, có sản xuấthàng hóa thì mới có giá trị hàng hóa
+ Giá trị là một phạm trù lịch sử
c Mối quan hệ giữa hai thuộc tính của hàng hóa
Giá trị sử dụng và giá trị là hai thuộc tính vùa thống nhất, vùa mâu thuần với nha trong mộthàng hoá
- Mặt thống nhất:
Hai thuộc tính này cùng tồn tại trong một hàng hóa Một vật muốn trở thành hàng hóa thìkhông thể thiếu bất kỳ một thuộc tính nào trong hai thuộc tính trên Ta có thể thấy một vật có íchtức là có giá trị sử dụng nhưng không do lao động tạo ra tức là không có lao động xã hội kết tinhtrong đó thì không phải là hàng hóa, ví dụ như: không khí, ánh nắng mặt trời…
- Mặt mâu thuẫn:
Trang 3+ Thứ nhất, với tư cáchlà một giá trị sử dụng thì các hàng hoá không đồng nhất về chất vìmỗi hàng hóa có một công dụng khác nhau Ngược lại, với tư cách là giá trị thì các hàng hoá đồngnhất về chất, chúng đều là kết tinh của lao động, đều là lao động được vật hoá.
+ Thứ hai, tuy giá trị và giá trị sử dụng cùng tồn tại trong một hàng hóa nhưng quá trình thựchiện giá trị sử dụng và giá trị khác nhau về thời gian và không gian Cụ thể là giá trị được thực hiệntrước trong lĩnh vực lưu thông, còn giá trị được thực hiện sau, trong lĩnh vực tiêu dùng Nếu khôngthực hiện được giá trị hàng hoá (hàng hóa không bán được) thì không thực hiện được giá trị sử dụng
có thể dẫn đến khủng hoảng sản xuất “thừa”
* Vì sao phải nghiên cứu giá trị bắt đầu từ giá trị trao đổi?
Giá trị là lao động trừu tượng kết tinh trong hàng hóa nên ta không xác định trực tiếp được
Ta chỉ có thể xác định, đo lường nó thông qua một hàng hóa khác
Ví dụ: 1m vải = 5 kg thóc ►5kg thóc đo gía trị cho 1 m vải
Do đó ta luôn phải xác định tỷ lệ về lượng mà giá trị sử dụng này trao đổi với giá trị sử dụngkhác ►hay nói cách khác, chúng ta đang xác định giá trị trao đổi để xác định giá trị
* Vì sao Hàng hóa có 2 thuộc tính
Hàng hoá có hai thuộc tính: giá trị sử dụng và giá trị, hai thuộc tính đó không phải do có hailoại lao động khác nhau kết tinh trong nó, mà do lao động của người sản xuất hàng hoá có tính haimặt: lao động cụ thể và lao động trừu tượng
C.Mác là người đầu tiên phát hiện ra tính chất hai mặt đó
ra những sản phẩm có công dụng khác nhau, tức là tạo ra nhiều giá trị sử dụng của hàng hóa
b Lao động trừu tượng
- Lao động trừu tượng là lao động của người sản xuất hàng hóa không kể đến hình thức cụthể của nó, để quy về một cái chung nhất, đó chính là sự tiêu hao sức lao động ( tiêu hao bắp thịt,thần kinh, bộ óc) của người lao động sản xuất hàng hóa nói chung
- Lao động trừu tượng tích lũy trong hàng hóa và tạo ra giá trị
+ Chỉ có lao động của người lao động sản xuất hàng hóa mới mang tính trừu tượng và tạo ragiá trị hàng hóa
+ Lao động trừu tượng chính là mặt chất của giá trị hàng hóa
Tất nhiên không phải có hai thứ lao động kết tinh trong hàng hóa mà chỉ là lao động củangười sản xuất hàng hóa có tính hai mặt
- Tính chất hai mặt nói trên liên quan đến tính chất tư nhân và tính chất xã hội của lao độngsản xuất hàng hóa
+ Tính chất tư nhân: Mỗi người sản xuất hàng hoá có tính tự chủ của mình nên sản xuất racái gì, sản xuất như thế nào là việc riêng của họ Vì vậy, lao động của họ trở thành việc riêng, mangtính tư nhân và lao động cụ thể của họ là biểu hiện của lao động tư nhân
+ Tính chất xã hội: Lao động của mỗi sản xuất hàng hóa cũng là một bộ phận của lao động
xã hội trong hệ thống phân công lao động xã hội Phân công lao động xã hội làm cho lao động của
Trang 4người sản xuất trở thành một bộ phận trong lao động xã hội, từ đó tạo ra sự phụ thuộc lẫn nhau giữanhững người sản xuất hàng hoá Họ làm việc cho nhau, người này làm việc vì người kia thông quatrao đổi, mua bán hàng hóa Việc trao đổi hàng hoá không thể dựa vào lao động cụ thể mà phải quythành lao động đồng nhất là lao động trừu tượng Do đó, lao động trừu tượng là biểu hiện của laođộng xã hội.
Lượng giá trị hàng hóa và Các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị hàng hóa
Giá trị hàng hóa là do lao động trừu tượng của người sản xuất hàng hóa kết tinh trong hànghóa đó Như vậy:
- VỀ MẶT CHẤT, giá trị của hàng hóa được xác định bởi hao phí lao động để sản xuất hànghóa đó quyết định
Giá trị của hàng hóa = lao động vật hóa + lao động sống
= lao động quá khứ + lao động hiện tại
= Gtrị tư liệu sản xuất + Gtrị mới do công nhân tạo ra
- VỀ MẶT LƯỢNG: giá trị của hàng hóa được tính theo thời gian lao động xã hội cần thiết
a Thời gian lao động xã hội cần thiết
- Trong thực tế, có nhiều người cùng sản xuất một sản xuất một hàng hóa nhưng điều kiệnsản xuất, trình độ tay nghề, năng suất lao động của họ khác nhau nên thời gian lao động cá biệt khácnhau để tạo ra một hàng hóa không giống nhau nhau (nghĩa là hao phí lao động cá biệt khác nhau)
- Vậy, có phải rằng người sản xuất nào càng lười biếng, càng vụng về, có điều kiện sản xuấtcàng khó khăn thì lượng giá trị hàng hóa của họ càng lớn?
Điều này không đúng vì sự khác nhau trên chỉ là sự khác nhau về chi phí lao động cá biệt củamỗi cá nhân trong khi giá trị hàng hóa không phải tính bằng thời gian lao động cá biệt mà tính bằngthời gian lao động xã hội cần thiết (giá trị xã hội của hàng hóa)
- Khái niệm: Thời gian lao động xã hội cần thiết là thời gian lao động trung bình, cần thiết đểsản xuất ra một hàng hóa trong điều kiện sản xuất bình thường của xã hội với trình độ trang thiết bịsản xuất trung bình, trình độ kỹ thuật trung bình và cường độ lao động trung bình
- Trong thực tế, thời gian lao động xã hội cần thiết là mức hao phí lao động trung bình của xãhội để sản xuất ra một hàng hóa Thông thường thời gian lao động xã hội cần thiết (thời gian laođộng xã hội trung bình) gần sát với thời gian lao động cá biệt (mức hao phí lao động cá biệt) củangười sản xuất hàng hóa nào cung cấp tuyệt đại đa số hàng hóa cùng loại trên thị trường
- Cần chú ý, thời gian lao động cần thiết là đại lượng không cố định mà thay đổi theo thờigian và có thể khác nhau ở các nước Bởi vì trình độ thành thạo trung bình, cường độ lao động trungbình, điều kiện trang bị kỹ thuật trung bình…luôn thay đổi theo sự phát triển lực lượng sản xuất
b Những yếu tố ảnh hưởng đến lượng giá trị của một đơn vị hàng hóa
Tất cả các yếu tố ảnh hưởng đến thời gian lao động xã hội cần thiết đều ảnh hưởng tới lượnggiá trị của một đơn vị hàng hóa
Có thể xem xét ba yếu tố cơ bản sau:
- Năng suất lao động:
+ Là năng lực sản xuất của lao động Nó được đo bằng số lượng sản phẩm được sản xuất ratrong một đơn vị thời gian (hoặc lượng thời gian để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm)
Trang 5+ Giá trị hàng hóa thay đổi tỉ lệ nghịch với năng suất lao động: khi năng suất lao động tăng
sẽ kéo theo tổng số sản phẩm tăng lên, tổng giá trị hàng hóa không tăng so với trước ► giá trị mộtđơn vị sản phẩm giảm xuống và ngược lại
+ Năng suất lao động trên thực tế phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: trình độ thành thạo trungbình của người lao động; mức phát triển của khoa học - kỹ thuật, công nghệ và mức ứng dụngchúng vào sản xuất; trình độ tổ chức quản lý; quy mô và hiệu suất của tư liệu sản xuất; các điềukiện tự nhiên Do đó, muốn tăng năng suất cần nâng cao hiệu quả của các yếu tố trên
+ Cường độ lao động phụ thuộc vào trình độ tổ chức quản lý, quy mô và hiệu suất của tư liệusản xuất, đặc biệt là thể chất và tinh thần của người lao động
- Mức độ phức tạp của lao động:
Căn cứ theo độ phức tạp có thể chia ra lao động phức tạp và lao động giản đơn
+ Lao động giản đơn là lao động mà một người bình thường không cần trải qua đào tạo cũng
của quy luật giá trị
* Để hiểu rõ các quy luật của sản xuất hàng hóa, chúng ta cần hiểu một số khái niệm sau:
- Quy luật: mối liên hệ bản chất, tất nhiên, phổ biến và lặp lại giữa các mặt, các yếu tố, các
thuộc tính bên trong mỗi sự vật hay giữa các sự vật và hiện tượng với nhau
- Quy luật kinh tế: phản ánh những mối liên hệ tất yếu, bản chất, thường xuyên và lặp lại
giữa các hiện tượng và quá trình kinh tế
1 Nội dung của quy luật giá trị
Trang 6- Quy luật giá trị không phải là quy luật kinh tế chung của mọi nền sản xuất xã hội Nó cũngkhông phải là quy luật kinh tế riêng của bất kỳ nền sản xuất xã hội nào Quy luật giá trị là quy luậtkinh tế cơ bản của sản xuất hàng hoá vì nó quy định bản chất của sản xuất hàng hóa Ở đâu và khinào có sản xuất và lưu thông hàng hóa thì ở đó có sự hoạt động của quy luật giá trị.
- Quy luật giá trị còn là cơ sở của tất cả các quy luật khác của sản xuất hàng hoá
- Nội dung quy luật: Sản xuất và trao đổi hàng hoá dựa trên cơ sở giá trị của nó, tức là dựatrên hao phí lao động xã hội cần thiết
- Yêu cầu đối với sản xuất:
Trong thực tế sản xuất, mỗi người sản xuất tự quyết định hao phí cá biệt của mình Tuynhiên, giá trị hàng hóa không phải do hao phí lao động cá biệt mà do hao phí lao động xã hội quyếtđịnh Do vậy, muốn bán được hàng hóa, bù đắp được chi phí và tiến tới có lãi thì người sản xuấtphải làm sao cho mức hao phí lao động cá biệt của mình phù hợp với mức hao phí lao động xã hộicần thiết ► Qua đây, ta thấy được tác động của quy luật giá trị là buộc người sản xuất phải điềuchỉnh quá trình sản xuất của mình sao cho phù hợp nhất
- Yêu cầu đối với lưu thông:
Trao đổi, lưu thông hàng hóa cũng phải dựa trên hao phí lao động xã hội cần thiết, tức là traođổi phải thực hiện theo nguyên tắc ngang giá Điều này có nghĩa là, hai hàng hóa được trao đổi chonhau khi cùng kết tinh một lượng lao động như nhau hoặc trao đổi, mua bán hàng hoá phải thựchiện với giá cả bằng giá trị
► Sự vận động của quy luật giá trị thông qua sự vận động của giá cả hàng hoá Giá trị là cơ
sở của giá cả nên giá cả phụ thuộc vào giá trị theo hướng: hàng hoá nào có giá trị cao thì giá cả cao
và ngược lại Tuy nhiên, trên thị trường, giá cả còn phụ thuộc vào các nhân tố cạnh tranh, cung cầu,sức mua của đồng tiền Sự tác động của các nhân tố này làm cho giá cả hàng hoá trên thị trườngtách rời so với giá trị và lên xuống xoay quanh trục giá trị của nó Sự vận động của giá cả thị trườngcủa hàng hoá xoay quanh trục giá trị của nó chính là cơ chế hoạt động của quy luật giá trị
2 Tác động của quy luật giá trị
* Điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hóa
- Điều tiết sản xuất:
Điều tiết sản xuất có nghĩa là điều hòa, phân bổ các yếu tố sản xuất giữa các ngành, các lĩnhvực của nền kinh tế Sự điều tiết sản xuất của quy luật giá trị thông qua sự biến động của giá cả thịtrường do tác động trực tiếp của cung cầu Điều này thể hiện qua hai trường hợp sau:
+ Thứ nhất, nếu hàng hóa nào đó có cung nhỏ hơn cầu dẫn đến giá cả lớn hơn giá trị, hànghóa đó có khả năng bán chạy và thu lãi cao, những người sản xuất sẽ đầu tư thêm tư liệu sản xuất
và sức lao động để mở rộng quy mô sản xuất Không những thế, những người sản xuất đang hoạtđộng ở lĩnh vực khác cũng có thể chuyển qua sản xuất mặt hàng này Do đó, quy mô ngành nàycàng được mở rộng
+ Thứ hai, đối với những mặt hàng hóa có cung lớn hơn cầu kéo theo giá cả thấp hơn giá trị,hàng hóa đó sẽ không bán được và người sản xuất sẽ phải thu hẹp quy mô, thậm chí đóng cửa xínghiệp sản xuất mặt hàng này Một số người sẽ không sản xuất loại hàng hóa đó nữa mà chuyểnsang sản xuất loại hàng hóa có lãi nhiều Kết quả là các yếu tố của sản xuất của ngành giảm đi do đã
bị chuyển sang ngành sản xuất khác
Giá cả
Giá trị
Trang 7+ Thứ ba, đối với hàng hóa mag cung bằng cầu thì giá cả bằng giá trị Tuy nhiên trường hợpnày ít xảy ra.
► Vậy, quy luật giá trị đã tự động điều tiết tỷ lệ phân chia tư liệu sản xuất và sức lao độngvào các ngành sản xuất khác nhau, đáp ứng đầy đủ hơn, phù hợp hơn nhu cầu của xã hội
- Điều tiết lưu thông
Tác động điều tiết lưu thông của quy luật giá trị cũng thông qua sự vận động giá cả trên thịtrường Sự biến động giá cả trên thị trường có tác dụng thu hút luồng hàng hóa từ nơi giá cả thấpđến nơi giá cả cao, nơi có thể thu nhiều lãi Qua đó, quy luật giá trị có tác động điều tiết, phân phốicác nguồn hàng hóa một cách hợp lý hơn giữa các vùng, giữa cung và cầu đối với các loại hàng hóatrong xã hội
Trong kinh tế thị trường hiện nay, ngoài vai trò điều tiết của thị trường, nhà nước cũng có tácđộng mạnh mẽ đến điều tiết sản xuất, lưu thông thông qua các công cụ của kế hoạch
* Kích thích cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất nhằm tăng năng suất lao động, hạ giáthành sản phẩm
- Trong nền kinh tế hàng hóa, mỗi người sản xuất là một chủ thể độc lập, tự quyết định hoạtđộng sản xuất, kinh doanh của mình Và mỗi người có điều kiện sản xuất khác nhau nên mức haophí lao động cá biệt của họ khác nhau, sản xuất mặt hàng này Tuy nhiên, trên thị trường, các hànghóa đều phải được trao đổi theo mức hao phí lao động xã hội cần thiết Vậy, người sản xuất hànghóa nào có mức hao phí lao động cá biệt thấp hơn mức hao phí lao động xã hội sẽ thu được lãi vàngược lại Để dành được lợi thế trong cạnh tranh và tránh khỏi nguy cơ vỡ nợ, phá sản, các chủ thểkinh tế phải luôn luôn phấn đấu hạ thấp giá trị cá biệt sao cho bằng hoặc thấp hơn giá trị xã hội
- Muốn vậy, người sản xuất phải:
+ Tìm cách cải tiến kỹ thuật, nâng cao trình độ tay nghề, sử dụng các thành tựu mới của khoahọc, kỹ thuật vào sản xuất
+ Cải tiến hiệu quả tổ chức quản lý sản xuất, kinh doanh, cải tiến các biện pháp lưu thông,bán hàng để tiết kiệm chi phí lưu thông và tiêu thụ sản phẩm nhanh chóng
+ Thực hiện tiết kiệm chặt chẽ các yếu tố đầu vào nhằm nâng cao năng suất lao động
+ Cải tiến chất lượng, mẫu mã cho phù hợp với nhu cầu, thị hiếu của người tiêu dùng
Kết quả là năng suất lao động xã hội không ngừng tăng lên, lực lượng sản xuất không ngừngphát triển, chi phí sản xuất không ngừng giảm xuống
* Phân hóa giàu nghèo giữa những người sản xuất hàng hóa
Quá trình cạnh tranh theo đuổi giá trị tất yếu sẽ dẫn đến kết quả là:
Những người có điều kiện sản xuất thuận lợi, có trình độtay nghề cao, có kiến thức, trang bị
kỹ thuật tốt, có vốn nên hạ thấp được mức hao phí lao động cá biệt so với hao phí lao động xã hộicần thiết sẽ thu được nhiều lãi, giàu lên, có thể mua sắm thêm tư liệu sản xuất, thuê thêm lao động,
mở rộng sản xuất kinh doanh và trở thành ông chủ
Ngược lại, những người không có điều kiện sản xuất thuận lợi, làm ăn kém cõi, hoặc gặp rủi
ro trong kinh doanh sẽ có mức hao phí lao động cá biệt cao, khi bán hàng sẽ rơi vào tình trạng thua
lỗ, thậm chí phá sản và trở thành người làm thuê
Tác động phân hóa giàu nghèo của quy luật giá trị cũng chính là một trong những nguyênnhân, cơ chế làm xuất hiện quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, cơ sở ra đời của chủ nghĩa tư bản.Bởi vì nó đã tạo điều kiện tập trung một khối lượng tiền lớn vào tay một số người và đồng thời cũngtạo ra lực lượng lao động làm thuê bán sức lao động kiếm sống
Trang 8► Qua đây, ta có thể thấy quy luật giá trị vừa có tác động tích cực, vừa có tác động tiêu cực.Một mặt, quy luật giá trị buộc các chủ thể kinh tế phải sàng lọc, lưu giữ các yếu tố có tác dụng tíchcực đến hiệu quả sản xuất, gạt bỏ những yếu tố lạc hậu Mặt khác, nó phân hóa xã hội thành giàunghèo, gây ra sự bất bình đẳng trong xã hội.
Vì lý do đó, đồng thời với việc thúc đẩy sản xuất hàng hóa phát triển, Nhà nước cần cónhững biện pháp để phát huy mặt tích cực của quy luật giá trị Cụ thể, nhà nước có thể vận dụngquy luật giá trị trong điều tiết vĩ mô để thúc đẩy hoặc không khuyến khích một số ngành sản xuấtphát triển, bên cạnh đó là các chính sách điều tiết, chính sách xã hội để hạn chế sự phân hóa trên.Đặc biệt, đối với Việt Nam, trong điều kiện phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theođịnh hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay, điều đó càng được thực hiện đúng mức
Vấn đề 3: Trình bày 2 PP SX GTTD
(Tương đối và siêu ngạch)
a) Quá trình sản xuất ra giá trị sử dụng trong chủ nghĩa tư bản
- Mục đích: nhà tư bản ứng ra một số tiền mua tư liệu sản xuất và sức lao động không phải
là để thu được giá trị sử dụng mà để thu giá trị, hơn nữa đó là tạo ra giá trị thặng dư
Hành vi của họ sẽ tuân theo công thức:
+ Sản phẩm làm ra thuộc sở hữu của nhà tư bản chứ không thuộc về công nhân
Quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa là sự thống nhất giữa quá trình sản xuất ra giá trị sửdụng với việc tạo ra giá trị và giá trị thặng dư
Các phương pháp sản xuất Giá trị thặng dư
a Giá trị thặng dư tuyệt đối
- Khái niệm: Giá trị thặng dư tuyệt đối là giá trị thặng dư thu được do kéo dài thời gian lao
động vượt quá thời gian lao động tất yếu, trong khi năng suất lao động, giá trị sức lao động và thời gian lao động tất yếu không thay đổi.
- Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối:
Trang 9Thí dụ, ngày lao động là 8h, trong đó thời gian lao động tất yếu là 4h, mỗi giờ công nhân tạo
ra một giá trị mới là 10 đơn vị
Biểu diễn bằng sơ đồ sau:
Tỷ suất giá trị thặng dư:
Tỷ suất giá trị thặng dư:
m’ =
= 150%
4Hoặc: m' = 4060 x 100% = 150%
Bất cứ nhà tư bản nào cũng muốn kéo dài ngày công lao động của công nhân, nhưng việckéo dài đó không thể vượt qua giới hạn sinh lý của công nhân Bởi vì, người công nhân cần có thờigian ăn, ngủ, nghỉ ngơi, giải trí để phục hồi sức khỏe Do vậy, việc kéo dài thời gian lao động gặp
sự phản kháng gay gắt của giai cấp công nhân đòi giảm giờ làm
+ Khi độ dài ngày lao động không thể kéo dài thêm, vì lợi nhuận của mình, nhà tư bản lạitìm cách tăng cường độ lao động của người công nhân Vì tăng cường độ lao động có nghĩa là chiphí nhiều sức lao động hơn trong một khoảng thời gian nhất định Nên tăng cường độ lao động vềthực chất cũng tương tự như kéo dài ngày lao động
Vì vậy, kéo dài thời gian lao động hay tăng cường độ lao động đều để sản xuất giá trị thặng
dư tuyệt đối
- Phương pháp này chủ yếu áp dụng trong thời kỳ đầu nền sản xuất tư bản, với việc phổ biến
sử dụng lao động thủ công và năng suất lao động thấp
b Giá trị thặng dư tương đối
- Khái niệm: Giá trị thặng dư tương đối là giá trị thặng dư thu được do rút ngắn thời gian
lao động tất yếu bằng cách nâng cao năng suất lao động trong ngành sản xuất ra tư liệu sinh hoạt
để hạ thấp giá trị sức lao động, nhờ đó tăng thời gian lao động thặng dư lên ngay trong điều kiện
độ dài ngày lao động, cường độ lao động vẫn như cũ.
- Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối
Thí dụ, ngày lao động là 10h, trong đó 5h là lao động tất yếu, 5h là lao động thặng dư
Trang 10Biểu diễn bằng sơ đồ sau:
Khi đó, tỷ suất giá trị thặng dư là:
- Phương pháp này được sử dụng rộng rãi trong giai đoạn chủ nghĩa tư bản phát triển nhưnglúc đầu chỉ một số nhà tư bản làm được vì điều kiện khoa học, kỹ thuật chưa cho phép Khi đó, cácnhà tư bản này tăng được năng suất lao động nên thu được giá trị thặng dư siêu ngạch Khi các nhà
tư bản đều cải tiến kỹ thuật, giá trị thặng dư siêu ngạch sẽ không còn Tất cả sẽ thu được giá trịthặng dư tương đối Do đó giá trị thặng dư siêu ngạch là biến tướng của giá trị thặng dư tương đối
c Giá trị thặng dư siêu ngạch
C.Mác gọi giá trị thặng dư siêu ngạch là hình thức biến tướng của giá trị thặng dư tương
đối Bởi vì chúng đều dựa trên cơ sở tăng năng suất lao động, chỉ khác một chỗ một bên là tăng
năng suất lao động cá biệt, một bên là tăng năng suất lao động xã hội
- Khái niệm: Giá trị thặng dư siêu ngạch là phần giá trị thặng dư thu được do áp dụng công
nghệ mới sớm hơn các xí nghiệp khác làm cho giá trị cá biệt của hàng hóa thấp hơn giá trị thị trường của nó.
- Nhà tư bản chỉ phải bỏ ít chi phí hơn các nhà tư bản khác nhưng vẫn có thể bán được hànghóa với giá ngang bằng với giá thị trường, từ đó thu được giá trị thặng dư cao hơn
Khi số đông các xí nghiệp đều đổi mới kỹ thuật công nghệ thì giá trị thặng dư siêu ngạch củadoanh nghiệp đó sẽ không còn nữa
- Trong từng xí nghiệp, giá trị thặng dư siêu ngạch là một hiện tượng tạm thời, nhưng xéttrên phạm vi toàn xã hội, nó lại thường xuyên tồn tại Và nó chính là động lực mạnh nhất thúc đẩycác nhà tư bản đổi mới công nghệ để tăng năng suât lao động cá biệt, đánh bại đối thủ cạnh tranh,thu được phần giá trị thặng dư lớn
Thời gian lao động cần thiết 4 h
Thời gian lao động thặng dư 6 h
Trang 11* So sánh giá trị thặng dư siêu ngạch và giá trị thặng dư tương đối:
* Biểu hiện quan hệ giữa công nhân với tư bản,
tư bản với tư bản
Vấn đề 4: Khái niệm tư bản, tư bản bất biến và tư bản khả biến,
tư bản cố định và tư bản lưu động
- Khái niệm tư bản: Tư bản là giá trị mang lại giá trị thặng dư bằng cách bóc lột lao động
không công của người công nhân.
Sơ đồ biểu thị sự phân chia tư bản:
Tư bản bất biến và tư bản khả biến
Để sản xuất giá trị thặng dư, nhà tư bản phải ứng trước tư bản để mua tư liệu sản xuất và sức
lao động, tức là tư bản tiền tệ đã được chuyển hóa thành hai hình thức khác nhau của tư bản sản xuất Người ta gọi chúng là: Tư bản bất biến và Tư bản khả biến Mỗi bộ phận tư bản ấy có vai trò
khác nhau trong quá trình làm tăng thêm giá trị
Khái niệm
- Tư bản bất biến: Bộ phận tư bản dùng để mua tư liệu sản xuất (tồn tại dưới hình thái tư
liệu sản xuất) mà giá trị được bảo tồn và chuyển vào sản phẩm, tức là giá trị không thay đổi vềlượng trong quá trình sản xuất
TƯ BẢN BẤT BIẾN (c)
Giá trị nhà xưởng, công trình, máy móc, thiết bị (c1)
Giá trị nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu phụ (c2)
TƯ BẢN
CỐ ĐỊNH
TƯ BẢN LƯU ĐỘNG
Trang 12* Giá trị của chúng được bảo tồn và chuyển dịch nguyên vẹn vào giá trị sản phẩm
* Giá trị TLSX được bảo tồn dưới hình thức giá trị sử dụng mới
- Tư bản khả biến: Bộ phận tư bản ứng trước dùng để mua hàng hoá sức lao động.
Bộ phận này không biểu hiện ra, nhưng thông qua lao động trừu tượng, người công nhân làm thuê đã sáng tạo ra một giá trị mới, lớn hơn giá trị của sức lao động, tức là có sự biển đổi về số lượng.
+ Ký hiệu: v
+ Hình thức biểu hiện: tiền lương.
+ Quá trình vận động: Diễn ra trên hai mặt
Một mặt, giá trị của nó biến thành các tư liệu sinh hoạt và biến đi trong quá trình tiêu
dùng của công nhân
Mặt khác, bằng lao động trừu tượng, người công nhân tạo ra giá trị mới không những
đủ để bù đắp sức lao động của mình, mà còn có giá trị thặng dư cho nhà tư bản
Do đó, bộ phận tư bản này đã có sự biến đổi về lượng trong quá trình sản xuất
c) Tư bản cố định và tư bản lưu động
Tư bản sản xuất gồm nhiều bộ phận với thời gian chu chuyển khác nhau về giá trị bởi vìchúng dịch chuyển giá trị của mình vào sản phẩm theo những cách thức khác nhau Căn cứ vào tính
chất chu chuyển về mặt giá trị của các tư bản đó, C.Mác chia tư bản sản xuất thành hai bộ phận: tư
bản cố định và tư bản lưu động.
Tư bản cố định
- Khái niệm: Tư bản cố định là bộ phận của tư bản sản xuất, đồng thời là bộ phận chủ yếu
của tư bản bất biến (các máy móc, thiết bị, nhà xưởng ) tham gia vào quá trình sản xuất, về hình thái hiện vật, chúng tham gia toàn bộ trong quá trình sản xuất, nhưng về giá trị của chúng không chuyển hết một lần mà chuyển dần từng phần vào sản phẩm (khấu hao) theo mức độ hao mòn của
nó trong quá trình sản xuất.
- Đặc điểm của tư bản cố định:
Về hình thái hiện vật, tư bản cố định luôn bị cố định trong quá trình sản xuất, chỉ có giá trịcủa nó là tham gia vào quá trình lưu thông cùng sản phẩm Hơn nữa, nó chỉ lưu thông từng phần,còn một phần vẫn bị cố định trong trong tư liệu lao động, phần này không ngừng giảm xuống chođến khi giá trị của nó chuyển hết vào sản phẩm
Thời điểm
Giá trị của TBCĐ gồm chi phí
sửa chữa cơ bản
Giá trị chuyển vào sản phẩm trong vòng một năm
Quỹ khấu hao (Quỹ khấu trừ của
tư bản cố định)
Bắt đầu vào sản xuất 1.000.000 -
Trang 13Trong quá trình sử dụng, tư bản cố định bị hao mòn dần trong quá trình sản xuất Cụ thể, tưbản cố định bị hao mòn dần dưới các hình thức:
+ Hao mòn hữu hình: là hao mòn về vật chất, về giá trị sử dụng Loại hao mòn này do quá
trình sử dụng và tác động của tự nhiên làm cho các bộ phận của tư bản cố định dần dần hao mònđến khi hư hỏng và phải được thay thế, hết chu kỳ sử dụng
+ Hao mòn vô hình: là sự hao mòn thuần túy về giá trị Loại hao mòn này xảy ra ngay cả khi
máy móc còn tốt nhưng bị mất giá vì xuất hiện máy móc mới hiện đại hơn, rẻ hơn, hoặc có giá trịtương đương nhưng công suất cao hơn, nhiều tính năng công dụng hơn Việc tránh hao mòn vô hình
có ý nghĩa vô cùng to lớn trong quản lý kinh tế Để làm được điều đó, các nhà tư bản tìm cách kéodài ngày lao động, tăng cường độ lao động, tăng ca kíp làm việc… nhằm tận dụng máy móc trongthời gian càng ngắn càng tốt
- Ý nghĩa:
Tăng tốc độ chu chuyển của tư bản cố định là một yêu cầu cấp thiết đối với quá trình sảnxuất Bởi vì, đó là biện pháp quan trọng để tăng quỹ khấu hao tài sản cố định, giảm được hao mònhữu hình do tự nhiên phá hủy và tránh được hao mòn vô hình Qua đó, chủ thể sản xuất có điều kiệnđổi mới thiết bị nhanh hơn
Tư bản lưu động
- Khái niệm: Tư bản lưu động là bộ phận tư bản sản xuất, gồm một phần tư bản bất biến (nguyên, nhiên liệu, vật liệu…) và tư bản khả biến (sức lao động) được tiêu dùng hoàn toàn trong một chu kỳ sản xuất và giá trị của nó được chuyển toàn bộ vào sản phẩm trong quá trình sản xuất.
- Đặc điểm:
Tư bản lưu động chu chuyển nhanh hơn tư bản cố định Nếu tư bản cố định muốn chuchuyển hết giá trị của nó phải mất nhiều năm thì trái lại, tư bản lưu động trong một năm có thể chuchuyển giá trị của nó nhiều lần hoặc nhiều vòng
- Sơ đồ biểu thị sự phân chia:
Tư bản bất biến Tư bản khả biến
Trong đó: + c 1 : Giá trị nhà xưởng, công trình, máy móc, thiết bị
+ c 2: Giá trị nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu phụ
+ v : Giá trị sức lao động
c 1 c 2 v
Trang 14Vấn đề 5: Bản chất của địa tô tư bản chủ nghĩa
- Địa tô đã xuất hiện từ khi có quyền tư hữu về ruộng đất bà là hình thức bóc lột chủ yếutrong xã hội phong kiến trong lịch sử, nó lần lượt trải qua các hình thái: tô lao dịch, tô hiện vật và
tô tiền
- Trong chủ nghĩa tư bản, nhà tư bản kinh doanh trong nông nghiệp phải thuê ruộng đất vàthuê công nhân để tiến hành sản xuất thu giá trị thặng dư Họ coi nông nghiệp là một lĩnh vực đầu
tư kinh doanh
Cũng như trong công nghiệp, nhà tư bản nông nghiệp phải thu được P , đồng thời phải thuđược một số giá trị thặng dư dôi ra, tức là lợi nhuận siêu ngạch, để nộp tiền thuê đất của địa chủdưới hình thức địa tô (r)
Từ đó, ta thấy giá cả nông sản là:
Trong đó:
+ W ns : Giá nông sản
+ c1: khấu hao tài sản cố định phục vụ sản xuất.
+ v : tiền lương trả cho công nhân nông nghiệp.
+ P : lợi nhuận bình quân trong nền kinh tế.
Khái niệm: Địa tô tư bản chủ nghĩa là bộ phận lợi nhuận siêu ngạch do công nhân lao động động làm thuê trong nông nghiệp làm ra (tức là một phần của giá trị thặng dư sau khi trừ lợi nhuận bình quân của tư bản đầu tư vào nông nghiệp) mà các nhà tư bản kinh doanh trong nông nghiệp phải nộp cho người sở hữu ruộng đất
Vấn đề đặt ra là: Vì sao tư bản nông nghiệp lại có thể thu được phần lợi nhuận siêu ngạch đểnộp cho địa chủ? Nghiên cứu các hình thức địa tô tư bản chủ nghĩa sẽ giúp chúng ta giải thích rõđiều này
Các hình thức địa tô tư bản chủ nghĩa
a, Địa tô chênh lệch
- Để phân tích, ta phải giả định nông sản cũng bán theo giá cả sản xuất, nghĩa là tư bản phảithu hồi được chi phí sản xuất và lợi nhuận bình quân
- Như phân tích ở phần trước, chúng ta thấy rằng lợi nhuận siêu ngạch trong công nghiệpdocạnh tranh tạo nên, vì vậy nó chỉ xuất hiện tạm thời và không tồn tại ổn định một doanh nghiệp nàonhất định
- Trái lại, lợi nhuận siêu ngạch trong nông nghiệp tồn tại ổn định trong các xí nghiệp có điềukiện sản xuất thuận lợi
Wns = c + v + P + Pns = c + v + P + r
Trang 15Do vậy, giá cả thị trường của nông phẩm do giá cả sản xuất ở nơi có điều kiện ruộng đất xấuhoặc kém thuận lợi, để đảm bảo cho người kinh doanh trên đất này phải thu được lợi nhuận bìnhquân (Trong công nghiệp, giá cả sản xuất là do điều kiện sản xuất trung bình quyết định) Điều nàygiúp cho người kinh doanh trên ruộng đất có điều kiện sản xuất thuận lợi, có năng suất cao hơn, khibán theo giá cả sản xuất chung, ngoài phần lợi nhuân bình quân, sẽ thu được lợi nhuận siêu ngạch
để chuyển thành địa tô nộp cho chủ đất gọi là địa tô chênh lệch (Lợi nhuận siêu ngạch này tươngđối ổn định, lâu dài vì nó dựa trên tính chất cố định của đất đai và độ màu mỡ của đất)
Địa tô chênh lệch trong CNTB là số dư ngoài lợi nhuận bình quân thu được trên ruộng đất cóđiều kiện sản xuất thuận lợi hơn Nó là số chênh lệch giữa giá cả sản xuất chung quyết định bởi điềukiện sản xuất trên ruộng đất xấu nhất và giá cả sản xuất cá biệt trên ruộng đất tốt và trung bình.(Đấtxấu nhất nhưng không phải bất kỳ chi phí nào cũng trở thành giá cả SX, mà là chi phí SX ở mứctrung bình)
Như vậy, địa tô chênh lệch là một phần lợi nhuận siêu ngạch ngoài lợi nhuận bình quân thu
được trên rượng đất có điều kiện sản xuất thuận lợi hơn Nó là số chênh lệch giữa giá cả sản xuất chung được quy định bởi điều kiện sản xuất trên ruộng đất xấu nhất với giá cả sản xuất cá biệt trên ruộng đất tốt và trung bình.
Thực chất của địa tô chênh lệch là lợi nhuận siêu ngạch Nguồn gốc của nó là một phầngiá trị thặng dư do công nhân nông nghiệp tạo ra Nguyên nhân sinh ra địa tô chênh lệch là do có sựđộc quyền kinh doanh ruộng đất theo lối tư bản chủ nghĩa
- Xét về cơ sở hình thành lợi nhuận siêu ngạch và việc chuyển hóa nó thành địa tô thì địa tôchênh lệch được chia làm hai loại:
+ Địa tô chênh lệch I: là địa tô thu được trên những ruộng đất có điều kện tự nhiên thuận lợi
như: độ màu mỡ tự nhiên cao, gần nơi tiêu thụ, gần đường giao thông… làm cho năng suất của tưbản nông nghiệp cao hơn, tiết kiệm được chi phí hơn
Ví dụ 1: Sự hình thành địa tô chênh lệch I trên đất tốt và trung bình (Giả sử: P’ = 20%)
Loại
ruộng
TB đầu tư P’
Sản lượng (tạ)
Giá cả sxuất cá biệt Giá cả sxuất chung Địa tô
Ví dụ 2: Sự hình thành địa tô chênh lệch 1 trên đất có vị trí thuận lợi
P’ Giá cả sxuất cá biệt Giá cả sxuất chung
Trang 16Sản lượng (tạ)
Địa tô chênh lệch
R cl1
Của tổng SP
+ Địa tô chênh lệch II: là địa tô thu được nhờ thâm canh tăng năng suất, là kết quả của việc đầu tưthêm tư bản vào một đơn vị diện tích để nâng cao chất lượng canh tác, nhằm tăng độ màu mỡ trên mảnhruộng đó, nâng cao sản lượng trên một đơn vị diện tích
Loại
ruộng
Lầ n đầu tư
Tư bản đầu tư
P’
(%)
Sản lượng (tạ)
Giá cả sxuất cá biệt Giá cả sxuất chung Địa tô
chênh lệch
Điểm khác nhau giữa hai loại địa tô là:
Địa tô chênh lệch I là do hiệu quả đầu tư trên những thửa ruộng có điều kiện khácnhau (quảng canh),
Địa tô chênh lệch II là do hiệu quả những lần đầu tư khác nhau trên cùng thửa ruộng(thâm canh)
Trong thời hạn hơp đồng thuê đất, phần lợi nhuận siêu ngạch thu được, do việc nhà tư bảnthuê đất đã thâm canh, thuộc về nhà tư bản Chỉ đến khi hết thời kỳ thuê đất, địa chủ mới tìm cáchnâng giá thuê đất lên để chiếm lấy phần lợi nhuận siêu ngạch đó, tức là nhằm biến lợi nhuận siêungạch do đầu tư thâm canh (địa tô chênh lệch II) thành địa tô chênh lệch I điều này làm phát sinhmâu thuẫn là, nhà tư bản thuê đất kéo dài thời hạn thuê đất, còn địa chủ lại muốn rút ngắn thời hạncho thuê Do đó, trong thời hạn hợp đồng, nhà tư bản tìm mọi cách quay vòng, tận dụng, vắt kiệt độmàu mỡ của đất đai
- Địa tô tuyệt đối
+ Địa tô tuyệt đối là số địa tô mà các nhà tư bản kinh doanh nông nghiệp tuyết đối phải nộp hco địa chủ dù ruộng đất tốt hay xấu, ở gần hay ở xa
(Trên những ruộng đất tốt và trung bình, địa chủ còn thu thêm địa tô chênh lệch I và địa tôchênh lệch II)
+ Dưới chế độ tư bản, sự độc quyền tư hữu ruộng đất đã cản trở sự phát triển của quan hệ sảnxuất tư bản chủ nghĩa trong nông nghiệp Do vậy, nông nghiệp thường lạc hậu hơn công nghiệp vềkinh tế và kỹ thuật, và cấu tạo hữu cơ trong nông nghiệp thấp hơn trong công nghiệp Điều này
Trang 17phản ánh một điều: nếu trình độ bóc lột như nhau (tỷ suất giá trị thặng dư như nhau) thì một tư bảnngang nhau sẽ sinh ra trong nông nghiệp nhiều giá trị thặng dư hơn
Ví dụ: Giả sử:
+ Có hai tư bản đầu tư trong nông nghiệp và trong công nghiệp đều là 100
+ Trong công nghiệp, cấu tạo hữu cơ là 4/1 còn trong nông nghiệp, cấu tạo hữu cơ là 3/2
Nnghiệp 60C+40v 3/2 100% 40 60C+40v+40m 20% 20 20
+ Địa tô tuyệt đối cũng là một loại lợi nhuận siêu ngạch (20) dôi ra ngoài lợi nhuận bình
quân (20) được hình thành do cấu tạo hữu cơ của của tư bản trong nông nghiệp thấp hơn trong công
nghiệp, nó là số chênh lệch giữa giá trị nông sản với giá cả sản xuất chung của nông phẩm
+ Cơ sở của địa tô tuyệt đối là do cấu tạo hữu cơ của tư bản trong nông nghiệp thấp hơn
trong công nghiệp, còn nguyên nhân tồn tại của địa tô tuyệt đối là do chế độ độc quyền tư hữu
ruộng đất đã ngăn cản nông nghiệp tham gia cạnh tranh giữa các ngành để hình thành lợi nhuânbình quân
* So sánh địa tô tuyệt đối và địa tô chênh lệch:
Địa tô chênh lệch Địa tô tuyệt đối Giống nhau Cùng là Pns, nguồn gốc từ giá trị thặng dư
Khác nhau Nguyên nhân sinh ra địa tô chênh
lệch là độc quyền kinh doanhruộng đất
Nguyên nhân sinh ra địa tô tuyệtđối là độc quyền tư hữu ruộngđất
- Địa tô độc quyền
+ Địa tô độc quyền là hình thức đặc biệt của địa tô tư bản chủ nghĩa Nó có thể tồn tại trongnông nghiệp, công nghiệp khai thác và các khu đất trong thành thị
+ Địa tô gắn với độc quyền sở hữu ruộng đất, độc chiếm các điều kiện tự nhiên thuận lợi, cảntrở sự cạnh tranh của tư bản, tạo nên giá cả độc quyền của ruộng đất Địa tô thu trên các loại có thểtrồng các loại cây cho những sản phẩm quý hiếm, có giá trị cao, hay những khoáng sản có giá trịđặc biệt, thường rất cao và được gọi là địa tô độc quyền
+ Nguồn gốc của nó cũng là lợi nhuận siêu ngạch do giá cả độc quyền cao của những sảnphẩm thu được trên đất ấy mà nhà tư bản phải nộp cho địa chủ
Trang 18Vấn đề 6: Năm đặc điểm kinh tế
cơ bản của chủ nghĩa tư bản độc
quyền
a) Tập trung sản xuất và sự hình thành các tổ chức độc quyền
- Tích tụ tập trung cao dẫn đến hình thành các tổ chức độc quyền là đặc trưng kinh tế cơ bảncủa chủ nghĩa đế quốc
- Tập trung sản xuất đến mức độ cao trực tiếp hình thành các tổ chức độc quyền Và lúc này,giữa các xí nghiệp lớn tồn tại 2 xu thế:
+ Dễ dàng thỏa thuận với nhau để hợp tác sản xuất, kinh doanh
+ Cạnh tranh gay gắt bất phân thắng bại nên dẫn đến khuynh hướng thỏa hiệp với nhau để thiết lậpthế lực độc quyền
Tổ chức độc quyền Cạnh tranh gay gắt
- Tổ chức độc quyền: liên minh giữa các nhà tư bản lớn nắm trong tay phần lớn (thậm chí
toàn bộ) sản phẩm của một ngành, cho phép liên minh này phát huy ảnh hưởng quyết định đến quá trình sản xuất, lưu thông của ngành đó, nhằm mục đích thu được lợi nhuận độc quyền cao.
- Khi mới bắt đầu quá trình độc quyền hóa các liên minh độc quyền liên kết ngang, tức là
liên kết các doanh nghiệp trong cùng một ngành Những hình thức độc quyền cơ bản kiểu này là:Cartel, Cydicate, Trust
+ Cartel: tổ chức độc quyền trên cơ sở những hiệp định giữa các thành viên để thỏa thuận
với nhau về giá cả, quy mô sản lượng, thị trường tiêu thụ, thị trường thanh toán của các xí nghiệptham gia nó Còn việc sản xuất, thương nghiệp vẫn độc lập, do từng thành viên thực hiện Nếu ailàm sai sẽ bị phạt tiền theo hiệp định
+ Cydicate: tổ chức độc quyền thực hiện những liên minh về mua nguyên vật liệu, bán hàng
hóa, do một ban quản trị chung đảm nhiệm, nhưng sản xuất vẫn là công việc độc lập của mỗi thànhviên Mục đích của nó là thống nhất đầu mối mua, bán để mua rẻ, bán đắt nhằm thu lợi nhuận cao
► Cartel và Cydicate dễ bị phá vỡ, vì khi tương quan lực lượng thay đổi, các thành viên
chạy theo lợi ích bộ phận nên dễ phá cam kết Từ đó Trust hình thức cao hơn của độc quyền ra đời.
+ Trust: hình thức độc quyền cao nhằm thống nhất cả việc sản xuất và thương nghiệp vào
trong tay một ban quản trị điều hành chung Các thành viên trở thành cổ đông hưởng lợi tức cổphần
- Đến giai đoạn sau, hình thức liên kết dọc xuất hiện Đó là liên kết của các xí nghiệp lớn, các
Cydicate, Trust thuộc các ngành khác nhau nhưng có liên quan đến nhau về kinh tế và kỹ thuật.
Trang 19Người ta gọi hình thức này là Consortium Một Consortium có thể có hàng trăm xí nghiệp liên kết
trên cơ sở hoàn toàn phụ thuộc về tài chính vào một nhóm tư bản kếch xù
Từ giữa thế kỷ XX, một hình thức liên kết mới, liên kết đa ngành, hình thành những
conglomerat, hay concern Đó là những công ty khổng lồ thâu tóm nhiều công ty xí nghiệp thuộc
những ngành công nghiệp rất khác nhau, đồng thời bao hàm cả vận tải, thương mại, ngân hàng vàcác dịch vụ khác
- Nhờ nắm được địa vị thống trị trong sản xuất, lưu thông nên các tổ chức độc quyền có khả
năng định giá cả độc quyền cao Giá cả độc quyền có hai loại:
+ Giá cả độc quyền mua: Mua hàng hóa (đặc biệt là nguyên liệu) với giá thấp hơn nhiều so
với giá cả sản xuất
+ Giá cả độc quyền bán: Bán hàng hóa với giá cao hơn giá cả sản xuất.
► Tổ chức độc quyền thu được lợi nhuận độc quyền.
- Tuy nhiên, giá cả độc quyền cũng không thủ tiêu quy luật giá trị và quy luật giá trị thặng
dư Vì xét trên toàn xã hội tư bản thì:
Do đó, phần lợi nhuận kếch xù mà các tổ chức độc quyền thu được cũng bằng phần mà tầnglớp tư sản vừa và nhỏ cũng như nhân dân lao động mất đi Lợi nhuận độc quyền còn gồm cả phầnbóc lột những tư sản vừa và nhỏ, người sản xuất nhỏ trong nước và đặc biệt là nhân dân các nướcthuộc địa và phụ thuộc (do tư bản mua nông sản với giá rẻ, bán hàng công nghệ giá cao )
b) Tư bản tài chính và bọn đầu sỏ tài chính
- Cùng với quá trình tích tụ và tập trung tư bản như trong công nghiệp, đồng thời cũng diễn
ra quá trình tích tụ và tập trung tư bản trong ngân hàng Cạnh tranh làm các ngân hàng nhỏ bị phásản, ngân hàng lớn thôn tính ngân hàng nhỏ Các ngân hàng nhỏ khác cũng chủ động sáp nhập
Điều đó dẫn đến hình thành các tổ chức độc quyền ngân hàng
- Nhờ nắm trong tay phần lớn tư bản tiền tệ trong xã hội, các tổ chức độc quyền ngân hàng
có thêm vai trò mới, từ chỗ làm trung gian trong thanh toán và tín dụng nay họ nắm được phần lớn
tư bản tiền tệ trong xã hội, trở thành người có quyền lực vạn năng chi phối các hoạt động kinh tế
-xã hội
Vai trò đó thể hiện:
+ Cử người vào cơ quan quản lý của tư bản công nghiệp
+ Trực tiếp đầu tư vào lĩnh vực công nghiệp
- Ngược lại, trước sự chi phối, khống chế ngày càng xiết chặt của ngân hàng, các tổ chức độcquyền công nghiệp cũng tìm cách xâm nhập tương ứng đối ngân hàng Cụ thể là:
+ Các tổ chức độc quyền công nghiệp tham gia vào công việc của ngân hàng bằng cách mua
cổ phiếu của các ngân hàng lớn để có thể chi phối hoạt động của ngân hàng
+ Tự lập ngân hàng phục vụ cho riêng mình
- Quá trình độc quyền hóa trong công nghiệp và trong ngân hàng gắn bó, đan xen vào nhau
và thúc đẩy lẫn nhau làm nảy sinh một loại tư bản mới Đó là tư bản tài chính.
- Theo Lênin: “tư bản tài chính là kết quả của sự kết hợp giữa tư bản ngân hàng của một số
ngân hàng độc quyền lớn nhất với tư bản của liên minh độc quyền các nhà công nghiệp”.
Trang 20
- Sự phát triển của tư bản tài chính dẫn đến hình thành một nhóm nhỏ độc quyền chi phối
toàn bộ đời sống kinh tế và chính trị của toàn bộ xã hội tư bản Đó là bọn đầu sỏ tài chính.
Bọn đầu sỏ tài chính thiết lập sự thống trị của mình thông qua các phương pháp:
+ Vận dụng “chế độ tham dự” Thực chất của chế độ này là một số nhà tài chính lớn hoặc
một tập đoàn tài chính nhờ nắm số cổ phiếu khống chế nên có thể nắm được một công ty lớn nhất
với tư cách là “công ty mẹ” Sau đó, công ty này lại nắm được lượng cổ phiếu chi phối được nhiều
“công ty con”, và đến lượt mình, các “công ty con” lại chi phối được các “công ty cháu”
Vậy, chế độ tham dự và phương pháp tổ chức tập đoàn theo kiểu mắt xích đã giúp cho nhà tưbản độc quyền tài chính có thể khống chế và điều tiết một lượng tư bản lớn hơn gấp nhiều lần so vớilượng tư bản mà họ đầu tư
+ Sử dụng các thủ đoạn: lập công ty mới, phát hành trái khoán, kinh doanh công trái, đầu cơchứng khoán ở sở giao dịch, đầu cơ ruộng đất để thu lợi nhuận cao
- Thống trị về kinh tế là cơ sở thống trị về chính trị và các mặt khác Chúng chi phối mọihoạt động của cơ quan nhà nước, biến nhà nước thành công cụ phục vụ cho tư bản độc quyền Đócũng là nguyên nhân xuất hiện chủ nghĩa phát xít, chủ nghĩa quân phiệt và nhiều thứ khác, tất cảcùng chạy đua vũ trang gây chiến tranh xâm lược để áp bức, bóc lột các nước chậm phát triển
c) Xuất khẩu tư bản
- Lênin vạch ra rằng: “xuất khẩu hàng hóa là đặc trưng của chủ nghĩa tư bản tự do cạnh
tranh, còn xuất khẩu tư bản là đặc trưng của chủ nghĩa tư bản độc quyền”.
- Xuất khẩu hàng hóa là mang hàng hoá ra nước ngoài để thực hiện giá trị và giá trị thặng
dư Xuất khẩu tư bản là xuất khẩu giá trị ra nước ngoài, mang tư bản đầu tư ở nước ngoài chiếm
đoạt giá trị thặng dư và các nguồn lợi nhuận khác ở các nước nhập khẩu tư bản
- Từ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, xuất khẩu tư bản trở thành một tất yếu Bởi vì:
Ta có thể thấy qua sơ đồ:
Tổ chức Độc quyền Ngân hàng
Tổ chức Độc quyền Công nghiệp
XK Hàng hóa
Trang 21+ Một là, các nước tư bản phát triển đã xuất hiện hiện tượng “tư bản thừa” tương đối, tức là
có một phần tư bản không tìm được nơi đầu tư có lợi nhuận cao ở trong nước Tiến bộ kỹ thuật ởđây dẫn đến tăng cấu tạo hữu cơ của tư bản và hạ thấp tỷ suất lợi nhuận
+ Hai là, ở các nước kém phát triển về kinh tế, nhất là ở các nước thuộc địa, phụ thuộc thìnguyên liệu dồi dào và rẻ, nguồn nhân công và giá đất cũng rẻ nên tỷ suất lợi nhuận cao nhưng ởđây lại thiếu vốn và kỹ thuật
► Do đó, xuất khẩu tư bản trở thành tất yếu để nâng cao tỷ suất và khối lượng lợi nhuận
* Điều đó thể hiện qua sơ đồ:
- Phân loại:
+ Xét về hình thức đầu tư, có thể chia xuất khẩu tư bản thành hai loại:
Xuất khẩu tư bản trực tiếp (FDI): mang tư bản ra nước ngoài để trực tiếp xây dựng xí
nghiệp mới, hoặc mua lại các xí nghiệp, biến nó thành một chi nhánh của công ty mẹ ở chính quốc
Xí nghiệp mới thường tồn tại dưới dạng hỗn hợp, song phương hoặc đa phương, nhưng có xí nghiệp100% vốn của công ty nước ngoài
Xuất khẩu tư bản gián tiếp (ODA): hình thức xuất khẩu tư bản cho vay để thu lợi tức.
Nói cách khác, đó chính là hình thức xuất khẩu tư bản cho vay
+ Xét về sở hữu, ta có xuất khẩu tư bản thành:
Xuất khẩu tư bản nhà nước: nhà nước dùng nguồn vốn của mình và tiền của các tổ chức
độc quyền đầu tư vào nước nhập khẩu tư bản, hoặc viện trợ có hoàn lại hoặc không hoàn lại để thựchiện các mục tiêu kinh tế, chính trị, quân sự
Về kinh tế: hướng xuất khẩu tư bản vào những ngành thuộc kết cấu hạ tầng để tạo môi
trường thuận lợi cho đầu tư của tư bản tư nhân sau đó Hoặc viện trợ nhằm ký kết được những hiệpđịnh thương mại và đầu tư có lợi
Về chính trị: viện trợ nhằm duy trì và bảo vệ chế độ chính trị ở các nước nhập khẩu tư
bản Đó là hình thức giúp đỡ nhau giữa các quốc gia “thân cận”, làm tăng sự phụ thuộc của quốc gianhận tư bản vào các nước chính quốc, thực hiện chủ nghĩa thực dân kiểu mới, tạo điều kiện cho xuấtkhẩu tư bản tư nhân
Về quân sự: Viện trợ nhằm lôi kéo các nước nhận tư bản phụ thuộc vào khối quân sự hoặc
buộc các nước nhận viện trợ phải cho lập các căn cứ quân sự trên lãnh thổ của mình
Xuất khẩu tư bản tư nhân: là xuất khẩu tư bản do tư nhân thực hiện Nó có đặc điểm là
thường đầu tư vào các những ngành kinh tế có vòng quay tư bản ngắn, thu lợi nhuận độc quyền cao,dưới hình thức hoạt động cắm nhánh vào các công ty xuyên quốc gia
Tiền lương thấp
Nguyên liệu rẻ
Tích lũy tư bản
phát triển Tích lũy khối lượng tư bản lớn Tư bản thừa “tương đối”
Giá ruộng đất thấp
Xuất khẩu
tư bản
Trực tiếp (FDI)
Gián tiếp (ODA)
Hội nhập kinh tế