Hiện nay, ngành dệt may là ngành giữ vững vị trí thứ hai trong kim ngạch xuất khẩu cả nước. Bên cạnh những sợi tổng hợp, sợi tơ dệt, sợi bông thì sợi đay cũng đang được quan tâm để sản xuất. Tuy nhiên, diện tích trồng và sản xuất đay ở trong nước còn ít, chỉ khoảng 30.000 ha. Theo số liệu trong 9 tháng đầu năm 2011, Việt Nam đã nhập khẩu của Bănglađét khoảng 3,070 tấn đay tơ, trị giá khoảng 4,7 triệu USD, chiếm 15% trong tổng kim ngạch nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam từ Bănglađét. Mặc dù sợi đay là loại sợi có giá trị kinh tế, song lượng sản xuất trong nước vẫn chưa đủ đáp ứng nhu cầu trong và ngoài nước. Hiện nay, thay vì sản xuất sợi đay thủ công nhỏ lẻ của từng vùng thì cũng đã có một số nhà máy sản xuất đay, tuy nhiên quy mô còn nhỏ . Đứng trước tình hình đó, chúng tôi nhận thấy xây dựng nhà máy chế biến đay sợi là hết sức cần thiết và có triển vọng lớn. Dự án nhà máy chế biến đay sợi, trước hết sẽ góp phần cung ứng cho nhu cầu trong nước, và xuất khẩu ra nước ngoài, đồng thời sẽ tạo công ăn việc làm cho người dân địa phương, góp phần thúc đẩy kinh tế địa phương phát triển. IV. MỤC TIÊU CỦA DỰ ÁN Xây dựng nhà máy chế biến đay sợi theo công nghệ hiện đại, áp dụng hệ thống máy móc, tiến bộ kỹ thuật nhằm nâng cao hiệu quả so với phương pháp thủ công. Sản xuất lượng lớn đay sợi có chất lượng cao đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu ra nước ngoài. Tạo công ăn việc làm cho nhân dân địa phương, góp phần thúc đẩy kinh tế vùng phát triển.
Trang 1CHƯƠNG I
GIỚI THIỆU TƯ LIỆU VỀ CHỦ ĐẦU TƯ
Trang 2CHƯƠNG II
SỰ CẦN THIẾT ĐẦU TƯ
I. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI NƠI ĐẶT DỰ ÁN
II. CĂN CỨ PHÁP LÝ
- Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 ngày 18/6/2014;
- Luật Doanh nghiệp số 68/2014/QH13 ngày 26/11/2014;
- Luật Đầu tư số 67/2014/QH13 ngày 26/11/2014;
- Luật Đất đai số 13/2003/QH11 ngày 26/11/2003;
- Luật Bảo vệ môi trường số 52/2005/QH11 ngày 29/11/2005;
- Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp số 14/2008/QH12 ngày 03/6/2008; và Luật số 32/2013/QH 13 ngày 19/06/2013 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp
- Nghị định 32/2015/NĐ-CP ngày 25/3/2015 của Chính phủ về Quản lý chi phí đầu
tư xây dựng;
- Nghị định 46/2015/NĐ-CP ngày 12/5/2015 của Chính phủ về Quản lý chất lượng
và bảo trì công trình xây dựng;
- Nghị định 59/2015/NĐ-CP ngày 18/6/2015 của Chính phủ về Quản lý dự án đầu
tư xây dựng;
- Nghị định 218/2013/NĐ-CP ngày 26/12/2013 của Chính phủ về quy định chi tiết
và hướng dẫn thi hành Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp;
- Thông tư số 78/2014/TT-BTC ngày 18/06/2014 về hướng dẫn thi hành Nghị định
số 218/2013/NĐ-CP ngày 26/12/2013 của Chính phủ quy định hướng dẫn thi hànhLuật Thuế thu nhập doanh nghiệp;
- Luật thuế Giá trị gia tăng số 13/2008/QH12 ngày 03/06/2008, sửa đổi số31/2013/QH13 ngày 19/06/2013;
- Nghị định 209/2013/NĐ-CP ngày 18/12/2013 của Chính phủ về hướng dẫn Luậtthuế giá trị gia tăng;
- Thông tư số 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 hướng dẫn thi hành Luật Thuếgiá trị gia tăng và Nghị định số 209/2013/NĐ-CP ngày 18/12/2013 của Chính phủquy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều Luật Thuế giá trị gia tăng;
Trang 3- Nghị định số 80/2006/NĐ-CP ngày 09/08/2006 và Nghị định số 21/2008/NĐ-CPngày 28/02/2008 của Chính phủ về sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số80/2006/NĐ-CP ngày 09/08/2006 của Chính phủ về việc quy định chi tiết vàhướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường;
- Quyết định số 2194/QĐ-TTg ngày 25/12/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việcphê duyệt Đề án phát triển giống cây nông, lâm nghiệp, giống vật nuôi và giốngthủy sản đến năm 2020;
- Quyết định số 899/QĐ-TTg, ngày 10/6/2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc phêduyệt đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng vàphát triển bền vững;
- Thông tư số 84/2011/TT-BTC ngày 16/06/2011 của Bộ Tài chính hướng dẫn một
số chính sách tài chính khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nôngthôn theo Nghị định số 61/2010/NĐ-CP ngày 04/06/2010 của Chính phủ;
- Thông tư 164/TT-BTC ngày 15/11/2013 của Bộ Tài chính Ban hành biểu thuế xuấtkhẩu, biểu thuế nhập khẩu ưu đãi theo danh mục mặt hàng chịu thuế;
- Nghị định 210/2013/NĐ-CP ngày 19/12/2013 của Chính phủ về chính sáchkhuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn;
- Thông tư 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn thihành Luật Thuế giá trị gia tăng và Nghị định số 209/2013/NĐ-CP ngày18/12/2013 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điềuLuật Thuế giá trị gia tăng
III. SỰ CẦN THIẾT ĐẦU TƯ
Hiện nay, ngành dệt may là ngành giữ vững vị trí thứ hai trong kim ngạch xuất khẩu cả nước Bên cạnh những sợi tổng hợp, sợi tơ dệt, sợi bông thì sợi đay cũng đang được quan tâm để sản xuất Tuy nhiên, diện tích trồng và sản xuất đay ở trong nước còn
ít, chỉ khoảng 30.000 ha
Theo số liệu trong 9 tháng đầu năm 2011, Việt Nam đã nhập khẩu của Băng-la-đét khoảng 3,070 tấn đay tơ, trị giá khoảng 4,7 triệu USD, chiếm 15% trong tổng kim ngạch nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam từ Băng-la-đét
Trang 4Mặc dù sợi đay là loại sợi có giá trị kinh tế, song lượng sản xuất trong nước vẫn chưa đủ đáp ứng nhu cầu trong và ngoài nước Hiện nay, thay vì sản xuất sợi đay thủ công nhỏ lẻ của từng vùng thì cũng đã có một số nhà máy sản xuất đay, tuy nhiên quy môcòn nhỏ
Đứng trước tình hình đó, chúng tôi nhận thấy xây dựng nhà máy chế biến đay sợi
là hết sức cần thiết và có triển vọng lớn Dự án nhà máy chế biến đay sợi, trước hết sẽ góp phần cung ứng cho nhu cầu trong nước, và xuất khẩu ra nước ngoài, đồng thời sẽ tạo công ăn việc làm cho người dân địa phương, góp phần thúc đẩy kinh tế địa phương phát triển
IV. MỤC TIÊU CỦA DỰ ÁN
- Xây dựng nhà máy chế biến đay sợi theo công nghệ hiện đại, áp dụng hệ thống máy móc, tiến bộ kỹ thuật nhằm nâng cao hiệu quả so với phương pháp thủ công
- Sản xuất lượng lớn đay sợi có chất lượng cao đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu ra nước ngoài
- Tạo công ăn việc làm cho nhân dân địa phương, góp phần thúc đẩy kinh tế vùng phát triển
Trang 5Sợi đay được sản xuất đảm bảo các tiêu chí:
- Chắc chắn, chịu được trọng tải nặng
- Độ bền cao, không bị bục trong một thời gian dài
- Ứng dụng đa dạng: đóng gói cà phê, hàng hóa, nông sản,…
- Nhiều kích cỡ
II. TÌNH HÌNH SẢN XUẤT ĐAY TRÊN THẾ GIỚI VÀ TRONG NƯỚC
1. Tình hình sản xuất đay trên thế giới
Vì đay có giá trị kinh tế cao nên trên thế giới có nhiều nước trồng đay như : Pakistan, Ấn
Độ, Trung Quốc, Mianma, Neepan, Thái Lan, Philippin,…
- Khoảng 90% sản lượng đay trến thế giới do Ấn Độ, Pakistan, Bangladet sản xuất
- Trung Quốc có diện tích sản xuất và sản lượng đay xanh đứng thứ 3 trên thế giới
2. Tình hình sản xuất đay trong nước
Trang 6Ở Việt Nam, việc trồng đay trước nay chủ yếu để tiêu dùng trong nước như dệt chiếu, đanvõng, bện thừng, …
Năm 1940 phát xít Nhật xâm nhập Đông Dương, cùng thực dân Pháp buộc nông dân phálúa trồng đay, gây nên nạn đói khủng khiếp 1945
Từ năm 1954 trở lại đây, chính phủ có chính sách khuyến khích trồng đay tăng đáng kể, hình thành vùng trồng đay
Vùng đay miền Bắc chủ yếu ven sông (sông Lô, sông Đáy, sông Thái Bình, sông Chu, sông Lam, sông Mã), tập trung ở các tỉnh như Hải Hưng, Thái Bình, Hà Bắc
Diện tích trồng đay ở nước ta tăng chậm, mới đạt 30.000 ha với sản lượng 40.000 tấn đaysợi/ năm, tập trung ở đồng bằng Sông Hồng ( 15.000 ha) và đồng bằng sông Cửu Long (12.000 ha)
Ở Việt Nam đay xanh quả dài có một loại hình – Đay xanh quả dài Gia Lâm (đay tây) Trên thế giới có nhiều giống như : JRO – 632, JRO – 878 (Ấn Độ), chịu hạn trên đất cao, có thể gieo sớm
Đay xanh quả dài ở Việt Nam có giống địa phương (Buộm) Thái Bình (đay ta) – là giống chín sớm, song năng suất cao nhất chỉ đạt 30 tạ đay tơ/ha Các giống nhập nội như Việt viên 4 – năng suất cao, thích ứng rộng đạt 40 – 50 tạ đay/ ha Giống JRC –
321 (Ấn Độ) là loại hình chín rất sớm
- Một số giống hiện có ở Việt Nam là :
+ Đay lá chẻ (lá xẻ thùy) : thân cao 3 – 4,5 m, đường kính thân gốc 1,5 – 2,5 cm, tỉ lệ
tơ 15 – 16%, năng suất thử nghiệm 41 – 45 tạ đay tơ/ha, năng suất trong sản xuất 25 –
30 tạ/ha Thời gian sinh trưởng 160 – 180 ngày năng suất hạt 15 tạ/ha Chống chịu gió bão và sâu bệnh tương đối khá
+ Đay lá hình tim, tỉ lệ tơ và năng suất hơi thấp hơn loại đay lá chẻ, tính chống chịu cũng yếu hơn
+ Ngoài ra còn giống HC – 583 nhập nội từ Ấn Độ (1972) và đay cách Cu Ba có năng
Trang 7suất và khả năng chống chịu kém hơn đay cách hoa vàng Việt Nam, nhưng phẩm chất tốthơn.
Trang 8CHƯƠNG IV
KỸ THUẬT TRỒNG CÂY ĐAY , SẢN XUẤT SỢI ĐAY
I. MỘT VÀI ĐẶC ĐIỂM, TÍNH CHẤT CỦA CÂY ĐAY
Hạt đay nảy mầm cần có đầy đủ nước, không khí và nhiệt độ Nhìn chung đay nảy mầm tốt ở biên độ nhiệt độ từ 20 – 300C và độ ẩm đất từ 70 – 80% Với điều kiện trên thường sau 4 – 6 ngày đay mọc đều Nhiệt độ và ẩm độ thấp trở ngại cho nảy mầm, hạt thối do
đó không nên gieo đay vào tháng rét và khô hạn
Cần chú ý: Khi lượng nước trong hạt từ 12 – 13% tăng lên 33% thì cường độ hô hấp của
hạt tăng lên 1 vạn lần, do đó rất cần oxi Gieo quá sâu hoặc đất kết vón, úng nước đều ảnh hưởng xấu đến nảy mầm
Hạt sau khi nảy mầm thì thân và rễ mầm phát triển, sau đó xòe 2 lá tử diệp và bắt đầu quang hợp Sau khi xòe lá tử diệp được 5 – 7 ngày thì lá thật
xuất hiện
Đây là thời kỳ mở đầu của quá trình sinh trưởng phát triển và quyết định mật độ ban đầu của đay trên đồng ruộng Do vậy xúc tiến cho hạt mọc nhanh và hạt mọc đều là một trongnhững yêu cầu quan trọng bậc nhất trong kỹ thuật trồng đay Muốn vậy ngoài việc chọn giống có chất lượng tốt, cần tranh thủ gieo đúng thời vụ đảm bảo tiêu chuẩn làm đất, giữ
ẩm và đất tơi xốp và gieo hạt đúng kỹ thuật
Sau khi nảy mầm, bộ phận trên mặt đất sinh trưởng chậm, còn sinh trưởng của bộ rễ lại tương đối nhanh : Sau khi mọc 5 – 7 ngày ra được 1 lá thật, rễ cái đã dài 7 – 12 cm và nhiều rễ con Sau 20 ngày, cây cao 10 – 14 cm có 3, 4 lá thật thì rễ cọc đã dài 30- 35 cm,
rễ con 15 – 35 cm Đa số rễ phân bố ở lớp đất 6 – 17 cm Khi thân sinh trưởng tương đối nhanh thì tốc độ sinh trưởng của rễ chậm dần
Tỷ lệ sinh trưởng giữa thân và rễ tùy theo kỳ sinh trưởng Thời kỳ đầu tuy rễ mọc nhanh,nhưng thời kỳ cuối ciều cao thân vượt xa chiều dài rễ đến hơn 10 lần
Trang 9Bộ rễ sinh trưởng tốt thì tăng sức hút chất dinh dưỡng, tăng sức chống hạn, nhờ đó xúc tiến hân tăng trưởng nhanh, thân cao vỏ dày Về kỹ thuật trồng trọt cần chú ý bồi dưỡng
bộ rễ Bộ rễ đay đâm vào đất không mạnh lắm nhưng rất ưa phân và mẫn cảm với chế độ không khí trong đất
Sự sinh trưởng của thân đay từ khi cây mọc đến khi ra hoa kết quả có thể chia làm các thời kỳ sinh trưởng sau
Thời kỳ cây con
Thời kỳ này được xác định từ sau khi đay mọc, khoảng 30 – 40 ngày với đay xanh và 40 – 50 ngày với đay cách Thời kỳ này rễ phát triển nhanh, thân lá sinh trưởng chậm, bình quân mỗi ngày chỉ cao thêm 5-10 mm (đay xanh) và 0,8 – 1,2 cm (đay cách) Khi thân cao 2 – 3 cm rễ dài 7 – 10 cm và phân bố ở lớp đất 0 – 15 cm
Do tốc độ sinh trưởng của thân chậm, nên thời kỳ này dễ bị cỏ dại lấn át, sâu bệnh phá hoại, nên việc chăm sóc đay con đặc biệt quan trọng Để cây đay sinh trưởng phát triển khỏe, rút ngắn thời kỳ cây con cần chú ý các biện pháp kỹ thuật như : tỉa cây, xới xáo, làm cỏ, để cây vượt qua thời kỳ này càng nhanh chóng càng tốt Bón thúc kịp thời, phòng trừ sâu bệnh, chống hạn đều là biện pháp có hiệu quả nhất trong thời
kỳ này
Nói chung sự sinh trưởng của cây ở thời kỳ này mạnh hay yếu có ảnh hưởng trực tiếp đến các giai đoạn tiếp theo và do đó ảnh hưởng đến năng suất
Thời kỳ vươn cao
Đây là thời kỳ sinh trưởng chủ yếu của cây đay Mỗi ngày cây có thể cao từ 4 –
7 cm Thời kỳ này kéo dài 80 – 85 ngày (ở đay cách) và 50 – 60 ngày ở đay xanh Khối lượng sinh trưởng thời kỳ này chiếm 70 – 75% tổng lượng sinh trưởng của cây đay
Nói chung các loại đay thời gian tăng trưởng chiều cao đồng thời với phát triển đường
Trang 10kính thân Cây càng cao thì thân càng to, bậm Do đó có thể nói đây là thời kỳ quyết định năng suất đay tơ.
Tốc độ vươn cao nhanh hay chậm, thời kỳ vươn cao dài hay ngắn không những phụ thuộc vào đặc tính giống mà còn chịu tác động sâu sắc của điều kiện ôn, ẩm độ, ánh sáng va kỹ thuật chăm sóc
Phụ thuộc vào giống đay : Thời gian vươn cao của đay cách dài hơn đay xanh
Ánh sáng ngày dài thuận lợi cho quá trình vươn cao, còn ánh sáng ngày ngắn làm đay
ra hoa sớm
Nhiệt độ cao thuận lợi cho vươn cao
Thời kỳ này cây tiêu tốn nhiều nước nhất, chú ý đảm bảo ẩm độ đất 70 – 80% cho cây sinh trưởng phát triển bình thường
Thời kỳ này cây cần nhiều dinh dưỡng, nhất là yêu cầu đạm và ka li Chú ý bón thúc theo nguyên tắc “ Bón nặng thời kỳ vươn cao”
Tóm lại đây là thời kỳ cây sử dụng hiệu quả nhất các điều kiện sinh thái Do đó các biện pháp kỹ thuật rất có ý nghĩa để giúp cho thời kỳ này kéo dài, đạt được thân cao, bẹ dày và sản lượng cao
Thời kỳ ra nụ, hoa quả và sợi chín
Sau khi đay mọc 90 – 110 ngày đối với đay xanh và 130 – 150 ngày đối với đay cách thì cây bắt đầu ra nụ Ra nụ sớm hay muộn tùy thuộc vào đặc tính của giống, điều kiện ngoạicảnh cụ thể và kỹ thuật trồng trọt Nói chung đay xanh ra hoa sớm hơn đay cách Sự ra
nụ, hoa sớm hay muộn tùy thuộc vào mức độ phản ứng của giống với độ dài ngày, vào chế độ nhiệt, ánh sáng và thời vụ gieo của vùng trồng đay Đay gieo đúng thời vụ thì thời
kỳ ra nụ hoa thường trùng với thời kỳ sợi chín (chín công nghiệp) Lúc này cây chuyển
từ màu xanh sang xanh vàng, thân bóng lên ít sáp, lá rụng gần hết Lúc này bẹ đay dày lên cùng với sự tích lũy vật chất vào tế bào sợi (xenlulo, hemixenlulo, linhin, )
Trang 11Sau thời gian ra nụ 10 – 15 ngày thì hoa bắt đầu nở Thời kỳ hoa kéo dài từ 30 – 70 ngày tùy giống Sau khi ra hoa, thân đay có thể cao lên một ít, song chỉ có ý nghĩa đối với đay cách.
Hoa đay nở tuần tự từ dưới lên Ôn độ thích hợp cho sự nở hoa là 25 – 280C với đay cách và 30 – 310C với đay xanh, và ẩm độ không khí khoảng 60 – 70%
Tỷ lệ hoa thụ phấn cao nhất lúc hoa nở rộ trong ngày Sau khi hoa nở 2 ngày thì thụ phấn hoàn thành, bầu nhụy bắt đầu sinh trưởng
Sau thụ phấn 30 – 40 ngày với đay xanh và 40 – 50 ngày với đay cách thì quả đạt kích thước tối đa, đến khi hạt chín cần tiếp thêm một thời gian nữa Như vậy, thời gian từ mọc đến quả chín đầy đủ với đay cần từ 180 – 230 ngày
Khi trên thân, các chùm hoa đầu tiên có quả non thì trong cây mô sợi đã phát triển đầy
đủ, thu hoạch lúc này có năng suất và phẩm chất tơ tốt nhất
Đối với đay giống, khi đa số quả đã khô nâu – chín, thì thu hoạch bằng cách cắt nguyên cành Không nên thu hoạch quá muộn, quả sẽ bị khô nẻ, bị mưa ẩm mốc, sâu bệnh xâm nhiễm Như vậy từ khi mọc đến khi sợi chín cần 130 – 180 ngày, đến khi hạt chín cần 180– 230 ngày trở lên
II. YÊU CẦU SINH THÁI CỦA ĐAY
1. Nhiệt độ
Năng suất đay cao thấp chịu ảnh hưởng rõ rệt của nhiệt độ Nhiệt độ cao sẽ tăng cường tính thẩm thấu của tế bào rễ, tăng tốc độ khuyếch tán của dung dịch các chất, tăng cường độ hô hấp Nhiệt độ cao giúp cho đay chóng thông qua giai đoạn ánh sáng
Nhiệt độ thích hợp cho đời sống cây đay là 20 – 38˚C Nếu trên 41˚C thì tỷ lệ giữa cường độ quang hợp và cường độ hô hấp sẽ dưới 1, dẫn đến cây bị hại
Trang 12Tuy nhiên mỗi thời kỳ sinh trưởng phát triển cây đay có yêu cầu nhiệt độ tối thích khác nhau.
+ Thời kỳ nảy mầm cần nhiệt độ thích hợp 20 – 25˚C với đay xanh và 18 – 20˚C với đay cách
+ Thời kỳ cây con nhiệt độ thích hợp 20 – 28˚C
+ Thời kỳ thân sinh trưởng và vươn cao cần nhiệt độ tăng lên dần
+ Thời kỳ sợi chín cần nhiệt độ mát dịu, khô ráo
Thời kỳ quả chín cần nhiệt độ thấp 15 – 16˚C và khô để thuận lợi cho sự tích lũy vào hạt
Tóm lại cây đay cần nhiệt độ cao Nói chung từ gieo đến khi sợi chín cần tổng tích nhiệt 2500˚C – 3000˚C (đay xanh) và 3400˚C – 3800˚C (đay cách) Đến khi sợi chín cần 3000 – 3500˚C (đay xanh) và 4000 – 4500˚C (đay cách)
Muốn năng suất cao và phẩm chất tốt, cần phải bố trí thời vụ gieo thích hợp để hạt mọc đều, khi cây đay vươn cao và chín gặp ôn độ thích hợp Ngoài ra cần chú ý kỹ thuật làm đất, xới xáo, thoát nước để giữ ẩm đất thời kỳ mọc (mùa xuân) và mát thời kỳđay lớn (mùa hè)
2. Độ ẩm
Nước rất cần cho sự sinh trưởng của cây đay Suốt thời kỳ sinh trưởng, hàm lượng nước ở ngọn thân thường là cao nhất, chứng tỏ sự vươn lên của thân có liên quan đến nước Độ ẩm đất có ảnh hưởng rất lớn đến sự vươn lên của thân Cuối thời kỳ vươn cao mức độ ẩm đất so với trọng lượng đất khô từ 55% giảm xuống 41% kéo dài 10 ngày thì láhéo
Theo Sarapop (1954), sự thiếu nước phá hoại quá trình tổng hợp cenlulose và do
đó gây ra hiện tượng hóa gỗ, tích đọng linhin Vậy độ ẩm đất có liên quan đến sự tíchđọng cenlulose và tăng phẩm chất sợi
Trang 13Hệ số diện tích lá của cây đay khá lớn khoảng 6 – 7, do đó lượng phát tán cũng rất lớn Lượng mưa hàng năm trên 1000 – 1500 mm và độ ẩm đất trong thời kỳ sinh trưởng
70 – 90% là thích hợp Tuy nhiên nhu cầu nước từng thời kỳ sinh trưởng có khác nhau
- Thời kỳ mọc đay cần độ ẩm tương đối cao 80 – 85%
- Thời kỳ cây con (1 – 2 tháng sinh trưởng) theo Sengupta (Ấn Độ) thì : “ Áp suấtthẩm thấu của tế bào tương đối cao, tăng dần theo sự sinh trưởng của cây, đếntrước khi cây ra hoa thì giảm rõ rệt.” Do đó có thể nói thời kỳ này cây cũng cầnmột lượng nước tương đối Chú ý thời kỳ này không nên để đay bị úng, bí nước
mà bị bệnh hại Tốt nhất là thỉnh thoảng có mưa nhỏ đất đủ ẩm
- Thời kỳ vươn cao : Cần lượng mưa hàng tháng ở thời kỳ này khoảng 150 – 300
mm là tốt nhất Thời kỳ này nếu hạn từ 7 – 10 ngày cần tưới bổ sung nếu khôngcây bị khô hạn sẽ giảm sinh trưởng và năng suất rõ rệt
- Thời kỳ sợi chín, cần trời tạnh ráo, để sợi chóng chín và tăng độ bền Song nếuquá khô hạn thì vỏ sát, khó bóc
Nếu trồng thưa quá, sức phân sinh của tượng tầng mạnh và mô phân sinh của điểm inhtrưởng yếu, nên tỉ lệ thứ sinh tăng lên, phẩm chất kém hơn Ngoài ra, ánh sáng mặt trờigay gắt linhin hình thành nhiều làm sợi thô, cứng
Về mặt phản ứng với độ dài ngày thì đay là cây ngày ngắn Theo Sengupta (ẤnĐộ), cây đay chỉ ra hoa khi độ dài chiếu sáng/ngày nhỏ hơn < 12,45h Đây là ánh sángtới hạn của cây đay Trong điều kiện ngày ngắn cây sẽ phát triển nhanh, ra nụ sớm, thân
Trang 14ngừng sinh trưởng sớm, do đó thấp bé Trong điều kiện ngày dài, đay sẽ chậm ra nụ,hoa, có lợi cho sinh trưởng dinh dưỡng, cây cao
Tóm lại, ánh sáng có tác động sâu sắc đến sinh trưởng và phát triển của cây đay
Về kỹ thuật trồng trọt cần tìm hiểu mức độ mẫn cảm đối với ánh sáng của từng giốngđay để xác định thời vụ gieo thích hợp, hạn chế ra hoa sớm, ngoài ra cần phải áp dụngmật độ và khoảng cách gieo hợp lý để lợi dụng ánh sáng tốt nhất nhằm đạt năng suất đaycao, có phẩm chất tốt
Hiện tượng đay ra hoa sớm và biện pháp khắc phục
Đay ra hoa sớm thì cây đâm chạc nhiều (phân cành), độ cao kinh tế thấp (đay xanh),
vỏ mỏng sản lượng và phẩm chất tơ giảm
Thường đay ra hoa sớm chỉ cao 1 – 1,5 m (cây đay bình thường cao 3,5 – 4 m), do
đó năng suất giảm nghiêm trọng Hiện tượng này khá phổ biến ở nhiều nước trên thếgiới và cả ở Việt Nam
Nguyên nhân đay ra hoa sớm được nhiều nước trên thế giới quan tâm nghiên cứu
Các kết quả cho thấy : Nguyên nhân chủ đạo gây hiện tượng đay ra hoa sớm là yếu tốngày ngắn, tuy nhiên tùy chủng và giống mà mức độ phản ứng khác nhau
- Đay xanh quả dài mẫn cảm với ánh sáng ngắn hơn đay xanh quả tròn và đay xanh quả tròn mẫn cảm ánh sáng hơn đay cách Nếu đay gieo sớm mà gặp nhiệt độ cao
và hạn hán kéo dài, hoặc quá thiếu dinh dưỡng cũng dễ ra hoa sớm
- Nguyên do cây thiếu các yếu tố trên sẽ ảnh hưởng đến quá trình tổng hợp, vận chuyển và tích lũy các sản phẩm quang hợp, sự hoạt động của men và quá trình trao đổi chất bị ảnh hưởng dẫn tới cây đay chóng suy thoái mà ra hoa sớm
- Để khống chế hiện tượng đay ra hoa sớm cần tác động nhiều mặt nhằm giúp chocây đay sinh trưởng phát triển bình thường, chủ yếu bằng các biện pháp kỹ thuậtsau :
Trang 15- Gieo đúng thời vụ thích hợp đối với từng chủng loại và giống đay
- Bón phân đầy đủ, bón thúc sớm, chống hạn kịp thời và tăng cường công tác chămsóc theo quy trình thâm canh
- Chọn giống ít mẫn cảm với ánh sáng ngày ngắn
Khi đã xuất hiện ra nụ sớm thì tùy tình hình mà thúc đạm, tưới nước cũng có tác dụng hạn chế
4. Đất đai
Đay đòi hỏi điều kiện đất đai tương đối nghiêm ngặt Nói chung đất thích hợp trồng đay phải là đất có kết cấu tốt, tầng canh tác sâu, nhiều hữu cơ, giữ nước, phân và thoát nước tốt
- Đất cát giữ nước, phân kém, dễ bị hạn
- Đất sét khó thoát nước, bộ rễ kém phát triển
- Đất trồng đay tốt nhất là đất cát pha, phù sa ven sông không ngập nước
- Vùng đất bãi, nếu trồng đay cần bố trí thời vụ để không bị ngập nhất là thời kỳ đay con
Đất lúa, các ruộng trồng màu ngô, khoai, đậu đỗ đều có thể trồng đay Cần chú ý mùa
vụ luân canh thích hợp Đay chịu chua kém, thích hợp pH trung tính, nếu pH < 6,6 phảibón vôi Đay chịu kiềm cũng yếu Theo Chaudchuri, hàm lượng muối trong đất nếu vượtquá 0,2 – 0,25% không thể trồng đay
Ở Việt Nam đất trồng đay là những đất phù sa ven sông, trong đó đay cách đượctrồng ở các ruộng kém hơn ruộng trồng đay xanh
Ở Thái Lan đất trồng đay có độ phì nhiêu thấp nên thường trồng đay cách
è Nói chung để đạt năng suất cao, thích hợp nhất là đất thịt pha cát, có nhiều chất hữu cơ,
có độ pH = 6,8 – 7, dễ thoát nước và có điều kiện tưới
III. KỸ THUẬT TRỒNG VÀ CHĂM SÓC ĐAY
Giống đay trong nước như đay Tây Ninh và đay địa phương tự nhân giống Riêng đốivới các giống đay ngoại chủ yếu từ Mỹ như Everglades; Tainung; Dowling; Whitten thì
Trang 16năng suất còn cao hơn nhiều Tuy nhiên, hiện nay giống đay ngoại khó mua và khá đắctiền.
C, Gieo hạt
Hạt giống được ngâm 4-5 ngày trước khi sạ, sau khi sạ xong, bơm nước vào ngâm
khoảng 5-6 giờ, sau đó tháo nước, giữ đất ẩm để hạt nảy mầm
Hạt giống được gieo đều trên líp với độ sâu lắp hạt khoảng 1, 5cm Cũng có thể gieo trên hàng theo lip với khoảng cách 2cm giữa các hàng, mỗi ha nên sạ từ 12-14 kg đay giống làvừa
D, Chăm sóc
+ Tỉa dặm: khi cây được 10- 12 ngày tuổi, tiến hành tỉa dặm tạo quần thể đồng đều Mật
độ thích hợp là 35-40 cây/m2
Trang 17+ Chế độ nước: giai đoạn cây con ( dưới 30 ngày tuổi) chỉ cần giữ ẩm, không để đọng nước( cây kém phát triển hoặc chết) Trường hợp đất khô cằn, bơm nước tưới bổ sung, kết hợp bón phân và tưới nước để nâng cao hiệu quả phân bón.
E, Bón phân
+ Cây đay sống được trên đất phèn, nhưng trong điều kiện có phèn, đay vẫn phát triểnkém và cho năng suất thấp Vì vậy trước khi gieo sạ cần phải bón lót phân lân, vớilượng tối thiểu là 400 kilôgam/hecta Mỗi hecta canh tác đay cần bón tối thiểu khoảng
400 kilôgam phân UREA
+ Ngoài ra, còn có phân Kali để giúp đay cứng cây, võ dày, năng suất cao Trong lượngphân bón như vậy, cần phải được chia làm 4- 5 đợt bón Đợt đầu khi đay còn nhỏ chỉcần bón ít , càng về sau bón phân càng nhiều
+ Liều lượng và thời kỳ bón:
Bón lót: 100% lân nung chảy, (30P2O5)
Bón đợt 1 (10-12 ngày sau khi gieo) : 25% N+ 50% DAP+ 50% KCL
Bón đợt 2 (30-35 ngày sau gieo): 40%N + 50% DAP + 50% KCl
Bón đợt 3 (50-55 ngày sau gieo): 35% N
G, Sâu bệnh hại và biện pháp phòng trừ
Sâu hại
-Sâu đất:
+ Triệu chứng: Phá hoại lúc cây mới mọc, cắn ngang thân cây vào ban đêm, ban ngày
ẩn dưới đất
+ Phòng trị: Xử lý đất trước khi gieo với một trong các loại thuốc sau: Basudin 10H:
20kg/ha, Diaphos 10G, Diazan 10H hoặc phun xịt Fastac 5EC, Karate 2,5EC vào ban
Trang 18-Sâu đo xanh, sâu đục ngọn
+ Triệu chứng: ăn hại lá ngọn.
+ Phòng trị: thăm đồng thường xuyên, phát hiện sớm, phun xịt các loại thuốc đặc trị
khi sâu non mới nở: Pi58, Padan, …diệt sâu non và trứng
-Sâu đục thân ngô (Pyrausta nubilalis Hiiner)
Do nấm Macropaomina phaseol Trên lá và thân xuất hiện những đốm nâu đen da thân
bị khô, sần sùi Nấm có thể tấn công cả trái và hạt Thời tiết ẩm ướt giúp bệnh lan truyềnnhanh hơn
+ Phòng trị:
Dùng thuốc hóa học: Zineb 80WP, Kitazin 50EC, Validacin 5SL
-Bệnh thối rễ do nấm Rhizoctonia violaceae.
+ Triệu chứng:
Trên rễ và cổ rễ xuất hiện một lớp nấm như tơ màu tím đậm Ít lâu sau xuất hiện cáchạch màu nâu đen Rễ cây bị thối, thân cây héo Bệnh xuất hiện nhiều vào giai đoạn
Trang 19+ Triệu chứng: do nấm Phoma sp Bệnh lan ra từ đầu lá trở xuống, lúc đầu như vết
phỏng rồi chuyển sang màu xám tro có lấm tấm đen, lá tóp lại, cong, dễ rụng
+ Phòng trị: Thuốc hóa học: Zineb, Kitazin, Validacin.
- Bệnh sưng rễ
+ Triệu chứng: do tuyến trùng Melodogyne sp Bệnh bắt đầu biểu hiện lá bị vàng úa, cây
cằn cỗi, rễ bị sưng, cây khô chết dần
+ Phòng trừ: Tưới nước tràn vào ruộng, sau đó tháo nước hạn chế tuyến trùng phát triển
Xử lý đất trước khi gieo bằng thuốc Basudin 10H 20kg/ha Có thể sử dụng thuốctrị như Mocap 10G, Nemagon
Khảm lá đay
+ Triệu chứng: Ruồi trắng là tác nhân lây truyền của bệnh Suy giảm năng suất nghiêm
trọng đay, lá vi rút khảm đã được báo cáo là quan trọng nhất, vi rút lây truyền qua hạt giống, bệnh khảm lá xuất hiện trên lá thật sự đầu tiên hoặc trên lá thật thứ ba hoặc thứ tư ,cây con được phép để phát triển, lá nhăn
+ Không có cách trị, tuy nhiên diệt trừ tác nhân gây bệnh là phương pháp hiệu quả nhất.
Thu hoạch và bảo quản