1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Ôn thi theo chuyên đề môn kinh tế vĩ mô

31 198 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 349,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nợ bằng ngoại tệ không hẳn là nợ nước ngoài do vay trong nước vẫn có thể vay bằng ngoại tệ Ổn định tài chính là gì?. Một hệ thống tài chính được cấu thành bởi 3 bộ phận: cơ sở hạ tầng, đ

Trang 1

Phân biệt hiện tượng vi mô và vĩ mô

Kinh tế vi mô nghiên cứu nền kinh tế ở góc độ chi tiết, riêng lẻ

Kinh tế vĩ mô nghiên cứu những vấn đề kinh tế ở góc độ tổng thể

Ví dụ:

Giá dầu tăng là 1 vấn đề vi mô Khi giá dầu tăng làm ảnh hưởng đến các hoạt động khác, làm mặt bằng giá tăng, gây áp lực lạm phát => biến thành 1 vấn đề vĩ mô.

Giá gạo xuất khẩu là 1 vấn đề vi mô, tổng kim ngạch xuất khẩu là 1 vấn đề vĩ mô.

Đâu là vấn đề kinh tế vĩ mô quan tâm

- Sản lượng

- Giá cả

- Việc làm

- Cán cân thanh toán

- Tăng trưởng kinh tế

Tại sao vấn đề sản lượng quan trọng?

Sản lượng của nền kinh tế là GDP, GDP được tạo ra từ quá trình sản xuất hàng hóa và dịch vụ.Tiến hành sản xuất là kết hợp các yếu tố đầu vào của sản xuất (vốn, lao động, công nghệ, mặtbằng ) tạo ra thu nhập dưới dạng tiền lương, lợi nhuận, cổ tức, tiền lãi ngân hàng Và đến lượt

nó, thu nhập lại được sử dụng cho chi tiêu (mua sắm hàng hóa dịch vụ, tái đầu tư ) Nhu cầuchi tiêu tạo ra sức cầu, tác động đến sản xuất, làm sản xuất phát triển

Khi sản xuất giảm => thu nhập giảm => chi tiêu giảm, và cứ như vậy xoắn nền kinh tế, làm GDPgiảm, đến 1 lúc nào đó gây ra suy thoái kinh tế

Sản xuất giảm cũng làm cho tình trạng thất nghiệp gia tăng do thu hẹp sản xuất, doanh nghiệpđóng cửa, cắt giảm lao động

Sản xuất giảm cũng làm cho tâm lý người tiêu dùng và người sản xuất trở nên bi quan => thắtchặt chi tiêu và làm tiêu dùng C giảm, mà chúng ta đã biết C thường chiếm khoảng 60%GDP.Khi C giảm, các doanh nghiệp ko có động cơ sản xuất do sản xuất xong ko tiêu thụ được => đầu

tư I giảm

Suy thoái kinh tế => các nước khác ko ai mua hàng của mình => xuất khẩu cũng giảm

 Tổng tác động làm tổng sức cầu giảm, kéo nền kinh tế ngày càng đi xuống

Trang 2

 Thực hiện chính sách tài khóa mở rộng nhằm kích cầu theo học thuyết của Keyness: tăng G,giảm T => C và I tăng trở lại kéo nền kinh tế thoát khỏi suy thoái.

(sản lượng, giá cả, việc làm luôn đi kèm với nhau)

Tại sao cán cân thanh toán quan trọng?

Cán cân thể hiện giao dịch ngoại tệ của VN với phần còn lại của thế giới.

Dòng nhận ngoại tệ: xuất khẩu, kiều hối, FDI, FII, khách du lịch nước ngoài

Dòng trả ngoại tệ: nhập khẩu, trả nợ, đầu tư ra nước ngoài

Khi cán cân thanh toán thâm hụt, tức dòng nhận < dòng trả => thiếu ngoại tệ => tỷ giá hối đoái biến động, làm ảnh hưởng đến các hoạt động khác Ko muốn tỷ giá biến động thì phải sử dụng dự trữ ngoại tệ để can thiệp và làm cho dự trữ ngoại tệ giảm

Nếu cứ thâm hụt triền miên sẽ tạo ra xu hướng giảm của dự trữ ngoại tệ Với 1 quốc gia có dự trư ngoại tệ yếu thì sẽ dễ gây ra hiện tượng tấn công tiền tệ, đầu cơ => chính phủ sử dụng chính sách chống đô la hóa,

ko cho thị trường chợ đen giao dịch, ko cho các doanh nghiệp đầu cơ tiền tệ, quy định trạng thái ngoại hối của ngân hàng rất chặt chẽ để làm bình ổn tỷ giá

 Qua đó có thể thấy khi cán cân thanh toán mất cân bằng sẽ dẫn đến 1 số trục trặc kinh tế vĩ mô diễn ra ngấm ngầm & kéo theo là phản ứng chính sách của các quốc gia.

Trong bối cảnh nền kinh tế lâm vào tình trạng thâm hụt cán cân thanh toán => nhà chính sách vĩ mô và nhà đầu tư có mục tiêu khác nhau, mâu thuẫn nhau trong việc đối phó với tình trạng này.

- Nhà chính sách vĩ mô: muốn bình ổn tình hình kinh tế vĩ mô

- Nhà đầu tư, doanh nghiệp: ngay cả khi bình ổn kinh tế vĩ mô thì doanh nghiệp cũng bị trục trặc, tiếp cận ngoại tệ khó khăn => lo đầu cơ, tích lũy ngoại tệ Nếu là nhà đầu tư nước ngoài thì chuyển dòng vốn của mình ra nước ngoài trước khi chính phủ thực hiện kiểm soát vốn.

Tại sao tăng trưởng kinh tế quan trọng?

Tăng trưởng kinh tế được đo lường bằng tốc độ tăng của GDP, tốc độ tăng của GDP lại có liên quan đến tốc độ tăng của thu nhập bình quân đầu người (GDP/dân số).

Tăng trưởng kinh tế có lợi thế là tạo mức sống cao hơn, tác động đến việc làm (giảm thất nghiệp), tạo nguồn thu tài khóa, thúc đẩy đầu tư, tạo niềm tin kinh doanh

Tuy nhiên tăng trưởng kinh tế cũng tạo ra những rủi ro về lạm phát, nhất là khi kinh tế tăng trưởng nóng (GDP nằm phía trên đường sản lượng tiềm năng), và nguy cơ về ô nhiễm môi trường.

Khi suy thoái kinh tế, GDP nằm dưới đường sản lượng tiềm năng, thất nghiệp gia tăng, chi tiêu, đầu tư, xuất khẩu giảm

Phân biệt chu kỳ kinh tế, tăng trưởng kinh tế?

Trang 3

Chu kỳ kinh tế: xu hướng của GDP lúc tăng nhanh, tăng chậm, thậm chí giảm => tạo ra xu hướng biến động, xu hướng này lặp đi lặp lại => gọi là chu kỳ Trong 1 chu kỳ có 4 giai đoạn: đỉnh, đáy, suy thoái, phục hồi - mở rộng

Tăng trưởng kinh tế: là sự gia tăng của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) trong một thời gian nhất định.

 Rút ra sự khác biệt của chu kỳ kinh tế và tăng trưởng kinh tế là gì?

Khi xuất hiện bất ổn kinh tế thì các chính sách vận hành như thế nào?

Chính sách thuận chu kỳ: kinh tế đang đi xuống, thực hiện c/s kinh tế kéo nó đi xuống nữa & khi kinh tế đang đi lên thì đẩy nó lên thêm.

Chính sách nghịch chu kỳ: kinh tế đi xuống, thực hiện c/s kéo nó đi lên và ngược lại

NỢ CÔNG, NỢ NƯỚC NGOÀI VÀ BẤT ỔN TÀI CHÍNH

Nợ công là gì?

Nợ của chính phủ các cấp trung ương và địa phương vay trong nước & nước ngoài + nợ đượcbảo lãnh bởi chính phủ

Nợ nước ngoài là gì?

Nợ được phát hành ở các nước bên ngoài (nợ của chính phủ và tư nhân vay ở nước ngoài)

Phân biệt nợ công và nợ nước ngoài?

Có phải nợ nước ngoài là nợ bằng ngoại tệ không?

Nợ bằng ngoại tệ không hẳn là nợ nước ngoài do vay trong nước vẫn có thể vay bằng ngoại tệ

Ổn định tài chính là gì?

Định nghĩa 1:

Sự biến động thấp của các chỉ báo kinh tế và tài chính Các chỉ báo kinh tế và tài chính biến động

ở mức độ có thể chấp nhận được, và đúng như dự báo có thể kiểm soát được thì đgl ổn định tàichính

Chỉ báo kinh tế: giá cả, cung tiền, tín dụng cho khu vực tư

Chỉ báo tài chính: tỷ giá hối đoái, sinh lợi trái phiếu, giá cổ phiếu, lãi suất

Định nghĩa 2:

Trang 4

Một hệ thống tài chính được cấu thành bởi 3 bộ phận: cơ sở hạ tầng, định chế và thị trường.Một hệ thống tài chính được phân bổ và định giá hiệu quả, nghĩa là giá cả cân bằng theo quan hệcung cầu, không bị bóp méo, tác động của các bất ổn của các chỉ báo kinh tế, tài chính.

Một hệ thống tài chính vững mạnh thì ko chỉ có sự bình ổn của các chỉ báo tài chính và kinh tế,một hệ thống tài chính phân bổ nguồn lực một cách cân bằng, giá cả ổn định mà còn miễn nhiễm,tránh được sự tác động, lây lan của các bất ổn tài chính Không chỉ không xuất hiện khủng hoảngtài chính mà còn tránh, ngăn chặn, đối phó với mất cân bằng đe dọa hệ thống và các tiến trìnhkinh tế

Khủng hoảng tài chính và khủng hoảng cán cân thanh toán hay khủng hoảng tiền tệ khác nhau như thế nào? => tìm hiểu thêm

Khủng hoảng ngân hàng là gì? Có trùng với khủng hoảng tài chính, khủng hoảng cán cân thanh toán, khủng hoảng tiền tệ ko? => tìm hiểu thêm

Ba triết lý về ngân sách của các quốc gia

Triết lý 1: cân bằng ngân sách hàng năm

Không cho phép ngân sách bị thâm hụt, T-G lúc nào cũng cân bằng Bất kể kinh tế nóng lên haysuy thoái thì ngân sách vẫn phải giữ cân bằng

 Được xếp vào nhóm giải pháp chính sách thụ động Bất kể tình hình kinh tế như thế nào,chính phủ ko ra tay can thiệp

Tốt: không đẩy ngân sách vào tình trạng thâm hụt, từ đó không phải lâm vào tình trạng lựa chọn

3 giải pháp: vay nợ, in thêm tiền hay tăng giảm thuế => đảm bảo kỷ cương tài khóa

Trang 5

Xấu: phớt lờ tình trạng kinh tế

Triết lý 2: ngân sách cân bằng theo chu kỳ

Trong chu kỳ kinh tế có những năm ngân sách thâm hụt, có những năm thặng dư nhưng phảiđảm bảo trong 1 chu kỳ kinh tế phải cân bằng Có những lúc thặng dư sẽ bù lại cho những lúcthâm hụt

 Khó thực hiện do không dự báo được chu kỳ kinh tế

Triết lý 3: nhóm chính sách chủ động

Khi có bất ổn thì ra tay can thiệp để đạt mục tiêu kinh tế là đẩy sản lượng nền kinh tế tiến về mứcsản lượng tiềm năng và giải quyết tình trạng thất nghiệp cũng như các mục tiêu vĩ mô khác bất

kể tình trạng ngân sách như thế nào

VN theo triết lý thứ 3, nhóm chính sách chủ động và không báo trước, đgl chính sách chủ độngtùy nghi

Phân nhóm chính sách gồm chính sách thụ động (không can thiệp bất kể nền kinh tế thế nào) &chính sách chủ động (can thiệp khi có bất ổn) Chính sách chủ động gồm chủ động tùy nghi vàchủ động có quy tắc

Chủ động tùy nghi: có tăng hoặc giảm nhưng không cho biết trước một con số

Chủ động có quy tắc: can thiệp khi có bất ổn và có tuyên bố cách làm từ trước, đưa ra một con sốchính xác: tăng giảm bao nhiêu % cung tiền trong 1 khoảng thời gian nhất định nào đó, thay đổithuế một lượng được công bố từ trước, tăng giảm chi tiêu 1 con số được hoạch định trước là baonhiêu % GDP

Trong thực tế, nhiều quốc gia lựa chọn tùy nghi do khó dự báo được trước những con số chínhxác

Ở các quốc gia mà hệ thống số liệu ổn định, tình hình kinh tế đi vào nề nếp nhất định, thì các giảipháp chính sách tuyên bố trước sẽ làm hình thành kỳ vọng, tạo sự bình ổn

 Lập luận chính phủ ko thể bị phá sản khó có thể vững chắc

Trang 6

Gánh nặng nợ thế hệ tương lai

Khả năng vỡ nợ cao làm cho giá trái phiếu giảm, bản thân người nắm giữ tài sản bị ảnh hưởng.Nếu chính phủ rơi vào tình trạng khả năng vỡ nợ, không thể in tiền, vay nợ => đánh thuế caotrong tương lai để trả nợ, tạo gánh nặng thuế, ảnh hưởng đến động cơ làm việc, tình hình thấtnghiệp gia tăng sẽ bóp ngẹt nền kinh tế

Nợ ngoại tệ càng cao, nhu cầu tái tạo ngoại tệ càng lớn để trả nợ, không thì làm tỷ giá hối đoáibiến động và làm ảnh hưởng đến các hoạt động khác: xuất nhập khẩu, giá tài sản tài chính, khoản

nợ ngoại tệ của các doanh nghiệp

Nợ công & sự lấn át đầu tư tư nhân

Chính phủ muốn vay nợ tiếp tục để bù đắp cho các khoản thâm hụt hàng năm, chính phủ phảităng lãi suất trái phiếu tăng cao, từ đó làm lãi suất hệ thống ngày càng tăng theo, khu vực tư nhânmuốn vay nợ cũng phải cạnh tranh với nó: chính phủ vay nợ nhiều hơn thì cái nguồn lẽ ra tài trợcho khu vực tư nhân giờ sẽ bị hạn hẹp, lãi suất cao thì hành vi đầu tư cũng sẽ bị hạn hẹp

Ảnh hưởng tích cực của nợ công

Vay làm tăng nợ công nhưng sử dụng nguồn tiền để chi tiêu cho cơ sở hạ tầng thì làm tăng nănglực sản xuất trong tương lai

Đầu tư công giúp cho đầu tư khu vực tư nhân trôi chảy hơn, tạo sự kết nối về hạ tầng tốt hơn, tạo

sự thuận lợi cho khu vực tư nhân

Như vậy, nợ công có thể bị xem là xấu vì: thứ nhất, chính phủ có khả năng bị rơi vào tình trạng vỡ nợ Thứ 2, tạo gánh nặng về thuế cho thế hệ tương lai Thứ 3 là sự lấn át khu vực tư Nhưng nợ công cũng có những ảnh hưởng tích cực của nó.

Nợ bền vững

Nợ được gọi là bền vững có nghĩa là phải thỏa mãn được 2 điều:

- Có khả năng trả mà không cần phải tài trợ từ bên ngoài (trả nợ mà tiền để trả không phải

là tiền vay mới từ bên ngoài)

- Trả nợ bằng chính dòng tiền của mình, nhưng dòng tiền này không phải là dòng tiền thắtlưng buộc bụng: không phải tiền do đánh thuế tạo ra, tiền do thắt lưng buộc bụng nềnkinh tế tạo ra mà là dòng tiền đã cân đối ngay từ đầu

Tiền ở đâu để trả nợ?

Cân nhắc 5 chỉ tiêu:

Trang 7

Nợ bao nhiêu?

- Tổng nợ: mệnh giá toàn bộ nợ

- Dịch vụ nợ (debt service): gồm vốn gốc và lãi đến hạn phải trả

(ví dụ: đến 2012, tổng nợ của chúng ta là bao nhiêu tỷ $ thì đó là tổng nợ, và mỗi năm trảvốn gốc và lãi là 1.5 tỷ $ thì 1.5 tỷ $ là dịch vụ nợ

Năng lực trả nợ?

- GDP: năng lực sản xuất, khả năng tạo ra thu nhập của quốc gia

- Xuất khẩu: kết quả của xuất khẩu là thu được ngoại tệ

- Số thu thuế

Lấy 2 chỉ tiêu bên trên chia lần lượt cho các chỉ tiêu bên dưới sẽ ra được 1 nhóm các chỉ tiêu, lập

ra được các chỉ báo đo lường về khả năng trả nợ của quốc gia

Trong các bình luận về nợ, VN thường ít khi đưa ra đủ các chỉ tiêu, thường chỉ tập trung vào chỉtiêu Tổng Nợ/GDP Và thường sẽ nghe nói với chỉ tiêu này nằm ở ngưỡng 50% or 60% làngưỡng an toàn

Có phải Tổng nợ/GDP = 50%, 60% là ngưỡng an toàn không?

Tổng nợ/GDP chỉ là chỉ báo mang tính tham khảo chứ ko phải là ngưỡng đo lường sự an toàn.Trường hợp Hy Lạp, Tây Ban Nha: khi nền kinh tế rơi vào khủng hoảng tào chính thì tỷ lệ này tựnhiên tăng lên (ngay cả khi trước đó nó nằm ở ngưỡng an toàn), do chính phủ rót một lượng nợmới vào Và khi nền kinh tế rơi vào tình trạng vỡ nợ thì nền kinh tế bị thu hẹp lại, mọi người lolắng và ko tham gia vào sản xuất nữa, làm cho GDP bị giảm xuống => chỉ báo này rất mỏngmanh

Khi bất ổn vĩ mô, nợ mới tăng & GDP giảm, tỷ số Tổng nợ/GDP tự động tăng vọt lên và đẩykinh tế rơi vào tình trạng hoảng loạn hơn nữa => đây chỉ là ngưỡng tham khảo để tạo ra kỷcương về mặt ngân sách và tài chính, ko thể xem là ngưỡng an toàn của hệ thống

Nhật Bản có tổng nợ chính phủ lên đến hơn 200% so với GDP nhưng ko rơi vào vỡ nợ do chủyếu là nợ trong nước, ko phải nợ nước ngoài; NB trong thời gian rất dài nền kinh tế rơi vào tìnhtrạng giảm phát nên lãi suất xuống rất thấp, tiệm cận với zero, do đó lãi vay của chính phủ rấtthấp; và NB vẫn còn có khả năng phát hành thêm tiền Khác với Hy Lạp, ko còn quyền phát hànhthêm tiền và nợ có tỷ trọng bằng ngoại tệ khá lớn so với các nước còn lại

60% so với GDP chưa phải là 1 khái niệm đgl nợ an toàn vì ngưỡng nợ ko phải là con số chínhxác để đo lường sự an toàn Thực tế có những nước mà ngưỡng nợ thấp hơn so với ngưỡng 60%

Trang 8

đã rơi vào tình trạng đổ vỡ của hệ thống tài chính và vỡ nợ (Argentina: 2001, 45%GDP; TháiLan: 1996, 15%GDP) Trong khi như Nhật Bản tỷ lệ này cao hơn ngưỡng 60% nhưng lại ko vỡnợ.

Tất nhiên ngưỡng nợ là quan trọng vì nếu nợ quá lớn so với khả năng thu nhập thì ko có khảnăng trả nợ, đây là 1 chỉ báo để đo lường nhưng ko phải là ngưỡng an toàn

Bên cạnh ngưỡng nợ thì còn phải chú ý đến nợ ngắn hạn và nợ vay bằng ngoại tệ

Những nước có nợ ngắn hạn rất lớn trong tổng nợ thì sẽ là 1 nguy cơ Thông thường trong kinh

tế vĩ mô người ta lấy nợ ngắn hạn, đặc biệt là nợ ngắn hạn bằng ngoại tệ so với:

Thứ nhất là dự trữ ngoại tệ để cho thấy tính an toàn của nó Nếu tỷ lệ nợ ngắn hạn (đặc biệt là nợngắn hạn = ngoại tệ) so với dự trữ ngoại tệ mà = 1 thì là nguy cơ vì nếu không may trong năm đólượng nợ ngắn hạn này đến hạn và tháo chạy ra khỏi quốc gia nhanh chóng thì có trích tất cả dựtrữ ngoại tệ ra cũng ko đủ

Nợ ngoại tệ làm giảm tính bền vững của nợ: minh chứng là trường hợp của Thái Lan, Hy Lạp.

Nợ bằng ngoại tệ mà đến khi có hiện tượng trục trặc vĩ mô thì đồng tiền tháo chạy ra khỏi quốcgia thì tính bền vững của nó sẽ rất là mỏng manh

Những quốc gia mà vay nợ ngắn hạn nhiều trong tỷ trọng nợ của mình thì xác suất xảy ra khủnghoảng nợ sẽ lớn Do nợ ngắn hạn mà lớn, khi có bất ổn thì nợ ngắn hạn này sẽ tháo chạy, khảnăng vỡ nợ sẽ diễn ra dễ dàng hơn => xác suất xảy ra tình trạng đổ vỡ sẽ lớn

Đừng đổ lỗi cho nợ xấu: cơ cấu nợ xấu ko phải là nguyên nhân căn cơ của khủng hoảng nợ Có

quan hệ giữa cơ cấu nợ và chất lượng chính sách và thể chế Nợ xấu chỉ là hệ quả, là kết quả củathể chế quản lý yếu kém Cách thức quản lý thế nào dẫn đến nợ xấu mới là quan trọng Do đóthay vì nhìn vào nợ xấu để nói đến khả năng vỡ nợ hay là khủng hoảng nợ thì phải xem xét vìsao dẫn đến nợ xấu chứ bản thân nợ xấu cao hay thấp không phải là nguyên nhân dẫn đến khủnghoảng nợ Cái cần phải thay đổi là thể chế quản lý, chất lượng chính sách

Tóm lại, thứ nhất, người ta thường lấy Tổng nợ/GDP, và nói rằng tỷ lệ này nằm ở 1 ngưỡng nào đó, dưới ngưỡng đó thì an toàn Tuy nhiên thực tế đây không phải là chỉ báo an toàn Mà vấn đề là cần phải cân nhắc nợ ngắn hạn và nợ bằng ngoại tệ, vì bản thân nợ ngắn hạn và nợ bằng ngoại tệ có thể dẫn đến hệ thống ngày càng có khả năng rơi vào tình trạng đổ vỡ nếu tỷ

lệ này càng ngày càng cao Thứ hai, đừng đổ lỗi cho nợ xấu, mà phải xem xét tại sao lại dẫn đến nợ xấu.

Ổn định tài chính

Ổn định tài chính = f( )

Đừng chỉ nhìn vào chỉ báo Debt/GDP vì nó còn song hành với nhiều chỉ báo khác đáng lưu tâmhơn

Trang 9

- Trữ lượng nợ là quan trọng Trữ lượng nợ cao, thấp có thể dẫn đến bất ổn tài chính.

- Thành phần cơ cấu nợ: là 1 biến ảnh hưởng đến ổn định tài chính, có thể làm bất ổn tàichính diễn ra Thành phần cơ cấu nợ xét đến tình trạng của nợ ngắn hạn, nợ bằng ngoại

tệ, các loại hình nợ khác nhau và kỳ hạn của các loại nợ

- Thành phần và cơ sở phía nhà đầu tư: ai là chủ nợ cũng là quan trọng Trường hợp chủ nợ

là các ngân hàng thương mại, là các nhà đầu tư tư nhân, đặc biệt là những nhà đầu tư, cácquỹ đầu tư ở nước ngoài, nếu chính phủ phát hành trái phiếu và những trái phiếu nàyđược bán cho các nhà đầu tư quốc tế, hoặc bán cho các ngân hàng thương mại trongnước, khi có khả năng vỡ nợ xảy ra, thành phần chủ nợ là ngân hàng thương mại trongnước sẽ dễ đàm phán hơn, nhà đầu tư nước ngoài ko dễ dàng hi sinh quyền lợi của mình

để bảo vệ cho tính bình ổn của hệ thống kinh tế của 1 quốc gia nào đó, họ sẽ tháo chạykhi có hiện tượng bất ổn Nhưng nếu chủ nợ là các ngân hàng thương mại dưới dự điềuhành của hệ thống tài chính trong nước thì chính phủ quốc gia đó sẽ dễ dàng điều phốikhi có hiện tượng trục trặc Các chủ nợ có phản ứng hành xử khác nhau khi có hiện tượngbất ổn xảy ra

- Giai đoạn phát triển của thị trường vốn: trong tương lai nếu hệ thống tài chính phát triển

đủ mạnh, các giao dịch tài chính chuyển từ đối tượng A sang đối tượng B là những chủ

nợ khác nhau, ko còn là các ngân hàng thương mại mà chuyển sang các nhà đầu tư nướcngoài khi 1 hệ thống tài chính ngày càng phát triển, và chủ yếu các nhà đầu tư nước ngoàinắm giữ các tài sản tài chính, các công cụ nợ Khi đó nếu VN điều hành kinh tế vĩ mô màchỉ có 1 dấu hiệu dữ báo là bất ổn thì những nhà đầu tư nước ngoài dễ dàng bán tháo cáctài sản tài chính này và làm cho thị trường trở nên bất ổn

- Các yếu tố thể chế: thể chế, chính sách và quản lý yếu kém, tình trạng thất thoát của dòngvốn vay nợ ngày càng cao cũng làm ảnh hưởng đến sự ổn định tài chính, gây ra bất ổn

Cuối cùng, lập luận nợ công trong bối cảnh hàn lâm khác:

Nếu quản lý nợ yếu thì sẽ dẫn đến khả năng bất ổn tài chính diễn ra vì quản lý nợ yếu thì nhiềunhà đầu tư sẽ lo lắng và dự báo tình hình khủng hoảng sẽ xảy ra Quản lý nợ yếu làm cho tìnhtrạng nợ xấu ngày càng tăng cao, các dự án ko có hiệu quả và phá sản, từ đó dẫn đến bất ổn tàichính, bắt đầu có hiện tượng tháo chạy của các dòng đầu tư ra khỏi các tài sản tài chính, làm giátài sản tài chính rớt, người ta sẽ chuyển dòng tiền sang các kênh an toàn hơn, thậm chí dòng tiềntháo chạy ra khỏi quốc gia và tạo ra hiện tượng bất ổn, làm rủi ro vỡ nợ tăng lên, từ đó làm giảmkhả năng can thiệp của chính phủ

Quản lý nợ yếu => bất ổn tài chính => rủi ro vỡ nợ tăng => giảm khả năng can thiệp => bài học: phải cải thiện việc quản lý nợ, tăng cường trong vấn đề quản lý

Kết luận quan trọng

Trang 10

Vấn đề nợ công và ổn định tài chính không chỉ là giảm trữ lượng nợ so với GDP, mà còn có những vấn đề khác có liên quan Nợ dưới ngưỡng 60%GDP không phải là an toàn Thành phần và cơ cấu nợ, thành phần và cơ cấu của chủ nợ, vấn đề về thể chế và chính sách, những vấn đề liên quan đến sự phát triển của hệ thống tài chính trong tương lai sẽ ảnh hưởng đến sự ổn định của hệ thống tài chính Việc nợ xấu ngày càng xuất hiện chứng tỏ quản lý yếu kém, và nếu quản lý nợ yếu kém thì ngay cả khi chính phủ vững mạnh cũng sẽ

bị giảm khả năng can thiệp khi có rủi ro vỡ nợ xảy ra.

Câu hỏi: 4 slide cuối.

Bài học cho VN => tự rút ra theo cách hiểu

Các vấn đề của nền kinh tế mở

Ba điều không thể xảy ra đồng thời

Ba điều không thể xảy ra đồng thời là gì?

Một quốc gia khó lòng thực hiện đồng thời 3 điều sau:

- Ổn định tỷ giá hối đoái

- Chính sách tiền tệ độc lập (tăng giảm cung tiền theo ý định mình đặt ra mà ko phụthuộc vào bối cảnh khác)

- Tự do các dòng tài chính (dòng ngoại tệ ra vào quốc gia tự do)

Dựa vào mục tiêu điều hành kinh tế để lựa chọn sử dụng cặp chính sách nào trong 3 điều kothể xảy ra đồng thời

Tại sao ba điều này không thể xảy ra đồng thời?

Các quốc gia chỉ có thể thực hiện được 2 trong 3 điều trên

Ví dụ: Chọn tự do các dòng tài chính và ổn định tỷ giá hối đoái

Khi tự do các dòng tài chính, tức vốn di chuyển tự do  cung và cầu ngoại tệ luôn mất cânbằng  gây sức ép lên tỷ giá hối đoái, mà muốn ổn định tỷ giá hối đoái phải can thiệp bằngcách mua bán dự trữ ngoại tệ trên thị trường  cung tiền trong nước biến động liên tục  giá

cả, lãi suất biến động, thị trường tiền tệ trong nước không còn chủ động được nữa

Tại sao hiện nay 3 điều ko thể xảy ra đồng thời gây áp lực rất lớn cho việc điềuhành chính sách kinh tế vĩ mô của các quốc gia?

Do ngày nay các quốc gia mở cửa nhiều hơn, tự do hóa tài chính, cho phép các giao dịchthông qua các giao dịch tài chính và vốn, phát triển thị trường chứng khoán, mở rộng các

Trang 11

kênh thu hút FDI, FII, cho phép các khu vực tư nhân vay – cho vay trong hệ thống tài chínhquốc tế  dòng vốn di chuyển tự do ngày càng mạnh hơn  cung và cầu ngoại tệ luôn biếnđộng gây áp lực lên ổn định tỷ giá hối đoái, muốn giữ tỷ giá ổn định thì phải can thiệp.

Mặt khác, các quốc gia có xu hướng dựa vào ngoại thương, dựa vào xuất khẩu, ai cũnghướng đến xuất khẩu để coi xuất khẩu là động lực của tăng trưởng kinh tế, đồng thời cũngphải nhập khẩu  dòng thu nhập và chi trả ngoại tệ cũng ngày càng gia tăng lên

Ngày nay, ngoại thương đi kèm với FDI trong chuỗi giá trị toàn cầu và xu hướng lớn mạnh của các công ty đa quốc gia, mà ngoại thương lại đi kèm với FDI, FDI gắn liền vớidòng vốn di chuyển  xu hướng dòng vốn ngày càng mạnh lên

 Áp lực lên tỷ giá hối đoái Càng muốn giữ tỷ giá ổn định, càng muốn NHNN độc lậptrong việc kiểm soát giá cả, lạm phát thì lại mâu thuẫn với dòng vốn di chuyển tự dođang diễn ra

Dung hòa 3 điều không thể xảy ra

Sử dụng chính sách vô hiệu hóa để dung hòa 3 điều không thể xảy ra đồng thời

Chính sách vô hiệu hóa là chính sách giúp bình ổn cung tiền trong nền kinh tế khi có hiệntượng dòng vốn ra và vào rất mạnh

Dòng vốn vào mạnh  mua ngoại tệ dư thừa để bình ổn tỷ giá hối đoái  cung tiền tăng lên 

sử dụng chính sách vô hiệu hóa để giảm cung tiền: bán trái phiếu chính phủ, tăng tỷ lệ dự trữbắt buộc  đạt được 3 điều không thể xảy ra đồng thời: dòng vốn di chuyển tự do, ổn định

tỷ giá hối đoái, chính sách tiền tệ độc lập

Chính sách vô hiệu hóa có giúp đạt được 3 điều không thể xảy ra đồng thời 1 cách bền vững ko?

Dòng vốn tiếp tục đổ vào  tiếp tục mua ngoại tệ dự trữ  cung tiền tiếp tục tăng  tiếp tục bántrái phiếu, tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc

Khi bán liên tục trái phiếu ra để giảm cung tiền trong nước thì trước hết ai sẽ là người mua,

và bán liên tục như vậy thì phải tăng lãi suất lên để khuyến khích người mua, áp lực lãi suất

hệ thống sẽ có xu hướng tạo ra sự lấn át đối với khu vực tư nhân, lãi suất tăng tạo ra chi phíphải trả của ngân hàng nhà nước

Tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc lên  NHTM phải gánh chịu, các NHTM cho vay ít đi do dự trữ bắtbuộc tăng  các doanh nghiệp tiếp cận dòng vốn khó hơn

 Chính sách vô hiệu hóa giúp dung hòa 3 điều ko thể xảy ra đồng thời nhưng ko bềnvững khi dòng vốn tiếp tục đổ vào, không phát huy được tác động trong dài hạn và sẽgây ra rất nhiều trục trặc kinh tế vĩ mô khác

Trang 12

TQ: chính sách vô hiệu hóa ko phát huy tác dụng được hết trong khi TQ lại thặng dư kép 

TQ thành lập các quỹ đầu tư để đưa dòng vốn ra đầu tư bên ngoài, cho đồng Nhân Dân Tệlên giá một phần để giảm bớt áp lực vào hệ thống tiền tệ trong nước

4 cơ chế tỷ giá hối đoái

- Thả nổi

- Cố định

- Cơ chế trung gian

- Đôla hóa (thay luôn đồng tiền của mình bằng 1 đồng tiền khác, ví dụ như đồng EUROcủa khu vực đồng tiền chung Châu Âu)

Cơ chế tỷ giá cố định khó duy trì ở VN do: lạm phát VN quá cao, nếu ko bình ổn kinh tế VN

dc thì VNĐ có xu hướng mất giá Nợ ngoại tệ có xu hướng ngày càng gia tăng, thâm hụt TBngày càng lớn, hệ thống nợ xấu của ngân hàng tăng VN ko thể thả nổi tỷ giá do với nhữngbất ổn trên thì trong dài hạn VNĐ sẽ bị mất giá Đô la hóa cũng không được

 Sử dụng cơ chế trung gian

Các nước đang phát triển có xu hướng chuyển đến cơ chế tỷ giá trung gian do ko thể cố định,

ko thể thả nổi hay đôla hóa, chỉ còn lựa chọn là cơ chế trung gian Không phải cơ chế trunggian là cơ chế tỷ giá hối đoái tối ưu

Điều kiện ngang bằng lãi suất danh nghĩa

Là điều kiện để đảm bảo cho dòng vốn ngưng di chuyển giữa các quốc gia.

i – i* = [ - e t ] / e t

hay i = i* + [ - e t ] / e t

i : lãi suất trong nước

i* : lãi suất nước ngoài

e: tỷ giá hối đoái [ ?DC/1FC]

[ - et ] / et : điều chỉnh % của tỷ giá

Khi có ngang bằng lãi suất danh nghĩa  dòng vốn ngưng di chuyển giữa các quốc gia

Khi có chênh lệch về lãi suất trong nước với lãi suất nước ngoài, dòng vốn sẽ di chuyển cho đếnkhi tạo ra sự cân bằng, và khi đó dòng vốn ngưng di chuyển

Trang 13

Nếu i > i* + [ - et ] / et : dòng vốn đổ vào trong nước và ngược lại

Khi , tức người ta kỳ vọng đồng tiền nước mình bị mất giá (do lạm phát, thâm hụt CA, tình

hình kinh tế đang suy giảm, dự trữ ngoại tệ yếu )  i < i* + [ - et ] / et  dòng vốn di chuyển

ra nước ngoài hay người ta nắm giữ ngoại tệ nhiều hơn  chính phủ tăng i, thay đổi tỷ gía hốiđoái hiện hành để đưa về ngang bằng lãi suất danh nghĩa

Vd: nếu i = 8%, i* = 5%  [ - et ] / et = 3%  lãi suất nước nào cao hơn thì đồng tiền nước

đó bị kỳ vọng mất giá.

Điều gì xảy ra với lãi suất trong nước nếu chính phủ muốn duy trì tỷ giá cố định nhưng thị trường dự đoán có sự mất giá nội tệ?

Thị trường dự đoán có sự mất giá nội tệ  

Chính phủ giữ tỷ giá cố định  et ko đổi

 [ - et ] / et   i < i* + [ - et ] / et  dòng vốn chạy ra bên ngoài  muốn ngăn dòngvốn chạy ra bên ngoài thì chính phủ phải tăng i để đưa về ngang bằng lãi suất danh nghĩa

Hệ lụy khi lãi suất thay đổi

Lãi suất có liên quan đến hành vi đầu tư, tiêu dùng  nếu lãi suất quá cao thì nền kinh tế sẽ bị ảnhhưởng, đặc biệt khi kinh tế đang khó khăn mà tăng lãi suất thì sẽ dẫn đến 1 hệ lụy rất xấu

Trang 14

hoảng, đi ngược xu hướng lãi suất ngang bằng, thì có thể làm tệ hơn tình trạng bất ổn tỷ giá hối đoái.

 Giải thích:

i = i* + [ - e t ] / e t + θ

i* : chi phí tài trợ bên ngoài

θ : phí bù rủi ro quốc gia[ - et ] / et : tỷ lệ mất giá kỳ vọngKhi có thêm rủi ro quốc gia  phải có thêm phí bù rủi ro quốc gia, đòi hỏi lãi suất phải tăng lên.Rủi ro quốc gia càng cao  θ càng cao  i ngày càng lớn (rủi ro quốc gia càng cao thì đẩy lãi suấttrong nước càng lớn)

Kinh tế rơi vào tình trạng khó khăn  rủi ro càng lớn, kỳ vọng mất giá đồng tiền tăng cao  ngay cả khi i* thấp thì mặt bằng lãi suất trong nước cũng bị đẩy lên cao.

Khi kinh tế thuận lợi (bùng phát)  rủi ro quốc gia thấp, kỳ vọng mất giá đồng tiền ít  mặt bằng lãi suất trong nước thấp.

Kinh tế i = i* + %Δe + θ Sản lượng (Y) Chính sách tiền tệ

Thuận chu kỳ Nghịch chu kỳ

Chính sách tiền tệ thuận chu kỳ

 Khi kinh tế bùng phát: Y đang  lại càng  thêm

Khi kinh tế khủng hoảng, Y đang  lại càng  hơn

 Làm trầm trọng thêm sự biến động của sản lượng

Chính sách tiền tệ nghịch chu kỳ

 Khi kinh tế bùng phát: i làm cho dòng vốn đổ vào nhiều hơn

Khi kinh tế khủng hoảng: i làm cho dòng vốn tháo chạy càng nhiều hơn

 Bất ổn tỷ giá hối đoái

Những phức tạp về tỷ giá hối đoái

Cung & cầu ngoại tệ mất cân bằng  tỷ giá hối đoái biến động  ảnh hưởng đến vô số các hoạtđộng khác nhau của nền kinh tế

Tỷ giá hối đoái biến động như thế nào là tùy thuộc vào cơ chế tỷ giá hối đoái của từng quốc gia

Trang 15

Cung & cầu ngoại tệ mất cân bằng + cơ chế tỷ giá cố định  NHTW can thiệp bằng dự trữ và

các biện pháp hành chính  bẻ được tác động lên tỷ giá, và tác động này sẽ đi vào hệ thống hànhchính hoặc thị trường tiền tệ trong nước (cung tiền trong nước thay đổi)

Cung & cầu ngoại tệ mất cân bằng + cơ chế tỷ giá thả nổi  tỷ giá hối đoái biến động  ảnh

hưởng đến các hoạt động khác, ko tác động vào thị trường tiền tệ trong nước, làm cho chính sáchtiền tệ chủ động

Tỷ giá hối đoái thực

Là 1 phân số mà nó đo lường giá của hàng nước ngoài so với giá của hàng trong nước

RER = [e.P*]/Pe: tỷ giá hối đoái danh nghĩaP*: giá hàng hóa nước ngoàiP: giá hàng hóa trong nước

Tỷ giá hối đoái thực giảm  hàng hóa nước ngoài có sức cạnh tranh hơn so với hàng trongnước và ngược lại

Tỷ giá hối đoái thay đổi tác động đến những nhân tố nào trong nền kinh tế vĩ mô?

Tác động đến xuất nhập khẩu

Nợ nước ngoài

Giá tài sản tài chính

Tình hình sản xuất, xuất khẩu có liên quan đến tỷ lệ thất nghiệp & việc làm

Vì sao TQ ko thả tỷ giá của mình?

Thả tỷ giá  ảnh hưởng ngay đến TB (NX) làm ảnh hưởng đến việc làm, giá trị tài sản TQ nắmgiữ sẽ bị thay đổi, nợ bằng ngoại tệ cũng thay đổi giá trị

Tại sao người ta mua trái phiếu Nhật Bản?

Người ta mua trái phiếu NB do:

 Kỳ vọng Yên Nhật lên giá  mua trái phiếu NB, và đến cuối kỳ nhận được tổng số tiềnđầu tư vào trái phiếu NB & lãi từ trái phiếu, số tiền này mặc dù ít hơn nếu chọn mua tráiphiếu của Mỹ với lãi suất cao hơn và số tiền đô la lớn hơn, nhưng do để đổi lấy 1 đôla

Mỹ cần ít Yên Nhật hơn  tổng số tiền thu được từ Yên Nhật sẽ mua được nhiều đôla Mỹhơn

 Kỳ vọng Yên Nhật lên giá do:

Ngày đăng: 24/09/2017, 16:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w