sự "đồng nhất" của các mặt đối lập mà trong sự triển khai của mâu thuẫn đếnmột lúc nào đó, các mặt đối lập có thể chuyển hóa lẫn nhau.Các mặt đối lập không chỉ thống nhất, mà còn luôn lu
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Quy luật mâu thuẫn là một trong ba quy luật cơ bản của phép biện chứngduy vật và phép biện chứng duy vật khẳng định rằng: mọi sự vật và hiệntượng trong tự nhiên đều tồn tại mâu thuẫn bên trong Mâu thuẫn tồn tạikhách quan trong mọi sự vật và hiện tượng của giới tự nhiên, đời sống xã hội
và tư duy con người Mâu thuẫn tồn tại từ khi sự vật xuất hiện đến khi sự vậtkết thúc Trong mỗi một sự vật có thể có nhiều mâu thuẫn và trong sự vậtluôn tồn tại các mặt đối lập Mâu thuẫn này mất đi thì mâu thuẫn khác lạihình thành
Nền kinh tế nước ta đang ở giai đoạn quá độ, từ nền kinh tế tập trung,quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trưòng (KTTT) Một trong những luậnđiểm rất quan trọng phản ánh tư duy mới của Đảng ta thể hiện trong vănkiện Đại hội Đảng lần thứ VI là: Chính sách cơ cấu kinh tế nhiều thànhphần Từ đó, Đảng ta từng bước khẳng định chủ trương xây dựng ở nước tamột nền KTTT theo định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) Trải qua thựctiễn đổi mới, chính sách cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơchế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN đã đưalại hiệu quả, góp phần to lớn vào thành công của sự nghiệp xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc Nhờ đó đã tạo nên những thành tựu to lớn đưa nước ta vào thời
kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa Tuy nhiên, nền KTTT địnhhướng XHCN là một nền kinh tế quá độ với điểm xuất phát và bản chất củachế độ cũ nên nó không tránh khỏi những mâu thuẫn quá độ của nó Nhữngmâu thuẫn đó luôn chứa đựng những mặt tiêu cựu mang tính nội tại và kìmhãm, gây trở ngại cho công cuộc đổi mới và phát triển kinh tế Đòi hỏi phảiđược giải quyết những vấn đề ấy nếu được giải quyết chính là tạo điều kiệncho sự phát triển một cách vững chắc và ổn định theo đúng định hướng đã
Trang 2đặt ra.
Trong hoạt động kinh tế có những hiện tượng mang tính phổ biến, chẳnghạn như mâu thuẫn giữa cung - cầu, tích luỹ - tiêu dùng, tính kế hoạch hoácủa từng xí nghiệp, công ty với tính tự phát vô chính phủ của nền sản xuấthàng hoá Trong sự nghiệp đổi mới ở nước ta do Đảng khởi xướng và lãnhđạo đã dành được nhiều thắng lợi bước đầu mang tính quyết định, quantrọng trong việc chuyển nền kinh tế từ cơ chế quan liêu bao cấp sang cơ chếthị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.Trong những chuyển biến đó đã đạt được nhiều thành công to lớn nhưngtrong những thành công đó luôn luôn tồn tại những mâu thuẫn làm kìm hãm
sự phát triển của công cuộc đổi mới Đòi hỏi phải được giải quyết và nếuđược giải quyết sẽ thúc đẩy cho sự phát triển của nền kinh tế Tôi chọn đề tài
“Vận dụng quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay ” làm tiểu
luận hết môn của mình
Trang 3CHƯƠNG 1: NỘI DUNG QUY LUẬT THỐNG NHẤT VÀ ĐẤU TRANH CỦA CÁC MẶT ĐỐI LẬP
1.1 NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA QUY LUẬT.
Quy luật là những mối liên hệ khách quan, bản chất, tất nhiên, phổ biến
và lặp đi, lặp lại giữa các mặt, các yếu tố, các thuộc tính bên trong mỗi sựvật, hay giữa các sự vật, hiện tượng với nhau
Tất cả các sự vật, hiện tượng trên thế giới đều chứa đựng những mặttrái ngược nhau Trong nguyên tử có điện tử và hạt nhân; trong sinh vật cóđồng hóa và dị hóa; trong kinh tế thị trường có cung và cầu, v.v Những mặt
trái ngược nhau đó phép biện chứng duy vật gọi là mặt đối lập.
Mặt đối lập là những mặt có những đặc điểm, những thuộc tính, những tính quy định có khuynh hướng biến đổi trái ngược nhau Sự tồn tại các mặt
đối lập là khách quan và là phổ biến trong tất cả các sự vật
Các mặt đối lập nằm trong sự liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau tạo thành mâu thuẫn biện chứng Mâu thuẫn biện chứng tồn tại một cách khách
quan và phổ biến trong tự nhiên, xã hội và tư duy Mâu thuẫn biện chứngtrong tư duy là phản ánh mâu thuẫn trong hiện thực và là nguồn gốc pháttriển của nhận thức
Các mặt đối lập vừa thống nhất với nhau lại vừa đấu tranh với nhau
Sự thống nhất của các mặt đối lập là sự nương tựa vào nhau, không tách rời nhau giữa các mặt đối lập, sự tồn tại của mặt này phải lấy sự tồn tại của mặt kia làm tiền đề.
Các mặt đối lập tồn tại không tách rời nhau nên giữa chúng bao giờ cũng có những nhân tố giống nhau Những nhân tố giống nhau đó gọi
là sự "đồng nhất" của các mặt đối lập Với ý nghĩa đó, "sự thống nhất củacác mặt đối lập" còn bao hàm cả sự "đồng nhất" của các mặt đó Do có
Trang 4sự "đồng nhất" của các mặt đối lập mà trong sự triển khai của mâu thuẫn đếnmột lúc nào đó, các mặt đối lập có thể chuyển hóa lẫn nhau.
Các mặt đối lập không chỉ thống nhất, mà còn luôn luôn "đấu tranh" với
nhau Đấu tranh của các mặt đối lập là sự tác động qua lại theo xu hướng
bài trừ và phủ định lẫn nhau Hình thức đấu tranh của các mặt đối lập
hết sức phong phú, đa dạng, tùy thuộc vào tính chất, vào mối quan hệ qua lại giữa các mặt đối lập và tùy điều kiện cụ thể diễn ra cuộc đấu tranh giữa chúng
Đối lập là sự trái ngược loại trừ và phủ định nhau của khuynh hướng khácnhau của sự vật
Về thực chất đấu tranh giữa các mặt đối lập là đấu tranh giữa cái mớiđang nảy sinh và cái cũ đang trở nên lạc hậu và lỗi thời, là sự tác động qualại loại trừ, phủ định lẫn nhau của các mặt đối lập
Mối quan hệ giữa thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập: Là haiquá trình không tách rời nhau; Thống nhất có khuynh hướng giữ cho sự vật
ổn định Đấu tranh giữa các mặt đối lập có khuynh hướng phá vỡ sự ổn định.Mâu thuẫn là sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập
Bản chất của quy luật : thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập làmối liên hệ bên trong , tất yếu, lặp đi lặp lại và quyết định nguồn gốc của sựphát triển của các sự vật, hiện tượng
Mâu thuẫn nói chung là nguồn gốc của sụ vận động và phát triển bởi vì:
Sự vận động và phát triẻn bao giờ cũng là sự thống nhất giữa tính liêntục ( do sự thống nhất giữa các mặt đối lập tạo ra) và tính gián đoạn ( do đấutranh giữa các mặt đối lập tạo thành)
Theo quan điểm duy vật biện chứng, “nguyên nhân chính và cuối cùngcủa mọi sự vật là sự tác động qua lại” (Angghen) Tác động qua lại giữa cácmặt đối lập chính là đấu tranh giữa các mặt đối lập Tất nhiên, nguyên nhân
Trang 5của sự vận động và phát triển trong khuôn khổ một sự vật và nguyên nhâncủa sự chuyển hoá từ sự vật này sang sự vật khác có hình thức, có nội dung
cụ thể không hoàn toàn như nhau Trong giai đoạn thứ nhất, đó là do sự triểnkhai của các loại mâu thuẫn trong lòng sự vật đang vận động và phát triển.Trong giai đoạn thứ hai, sự chuyển hoá của sự vật thành cái khác là do mâuthuẫn được giải quyết hoàn toàn
Từ những điều trình bầy trên đây, có thể nêu ra một số đặc trưng phổbiến của mâu thuẫn biện chứng như sau:
Mâu thuẫn biện chứng tồn tại khách quan trong các sự vật và hiện tượng.Mâu thuẫn biện chứng mang tính phổ biến Điều đó không chỉ được hiểu làtrong mọi sự vật đều có mâu thuẫn, mà còn cần được hiểu là trong mọi giaiđoạn phát triển của sự vật đều có mâu thuẫn, thậm chí, có nhiều mâu thuẫn.Mâu thuẫn biện chứng là sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lậpbiện chứng Sự thống nhất của các mặt đối lập là tương đối, đấu tranh làtuyệt đối Mâu thuẫn biện chứng tạo thành nguồn gốc của sự vận động vàphát triển của tự nhiên, của xã hội và của tư duy Mâu thuẫn biện chứngcũng là một thực thể vận động và phát triển Trong các giai đoạn khác nhau,chúng có thể có hình thức đấu tranh khác nhau, có vai trò khác nhau đối với
sự vận động và phát triển
Sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập là hai xu hướng tácđộng khác nhau của các mặt đối lập tạo thành mâu thuẫn Như vậy mâuthuẫn biện chứng bao hàm cả "sự thống nhất" lẫn "đấu tranh" của các mặtđối lập Sự thống nhất gắn liền với sự đứng im, với sự ổn định tạm thời của
sự vật Sự đấu tranh gắn liền với tính tuyệt đối của sự vận động và phát triển.Điều đó có nghĩa là: "Sự thống nhất ( ) của các mặt đối lập là có điều kiện,tạm thời, thoáng qua, tương đối Sự đấu tranh của các mặt đối lập bài trừ lẫnnhau là tuyệt đối, cũng như sự phát triển, sự vận động là tuyệt đối"
Trang 6Trong sự tác động qua lại của các mặt đối lập thì đấu tranh của cácmặt đối lập quy định một cách tất yếu sự thay đổi của các mặt đang tác động
và làm cho mâu thuẫn phát triển
Lúc đầu mới xuất hiện, mâu thuẫn chỉ là sự khác nhau căn bản, nhưngtheo khuynh hướng trái ngược nhau Sự khác nhau đó càng ngày càng pháttriển và đi đến đối lập Khi hai mặt đối lập xung đột gay gắt đã đủ điều kiện,chúng sẽ chuyển hóa lẫn nhau, mâu thuẫn được giải quyết
Nhờ đó mà thể thống nhất cũ được thay thế bằng thể thống nhất mới;
sự vật cũ mất đi sự vật mới ra đời thay thế
V.I.Lênin viết: "Sự phát triển là một cuộc "đấu tranh" giữa các mặtđối lập" Tuy nhiên, không có thống nhất của các mặt đối lập thì cũng không
có đấu tranh giữa chúng Thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập làkhông thể tách rời nhau trong mâu thuẫn biện chứng Sự vận động và pháttriển bao giờ cũng là sự thống nhất giữa tính ổn định và tính thay đổi Sựthống nhấtvà đấu tranh của các mặt đối lập quy định tính ổn định và tínhthay đổi của sự vật Do đó, mâu thuẫn chính là nguồn gốc của sự vận động
và sự phát triển
1.2 Một số loại mâu thuẫn
1.2.1 Mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn bên ngoài
Mâu thuẫn bên trong là mâu thuẫn lằm ngay trong bản thân sư vật hiệntượng, là sự tác động giữa các mặt, thuộc tính, quá trình trong sự vật hiệntượng Sự vật hiện tượng nào cũng có mâu thuẫn bên trong bởi vì trong bất
cứ một sự vật hiện tượng nào đều có mâu thuẫn bên trong
Mâu thuẫn bên ngoài là mâu thuẫn giữa các sự vật hiện tượng với nhau,
là sự tác động giữa các mặt, thuộc tính, quá trình của sự vật.Bất cứ sự vậthiện tượng nào cũng có mâu thuẫn bên ngoài bởi vì không có sự vật nào tồn
Trang 7tại một cách biệt lập, không có sự liên hệ với các sự vật,hiện tượng khác
Mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn bên ngoài đều là nguyên nhân của sựphát triển Nhưng xét tới cùng thì mâu thuẫn bên trong có vai trò quyết địnhcòn mâu thuẫn bên ngoài tuy không quạn trọng bằng mâu thuẫn bên trongnhưng là nhân tố không thể thiếu được.Tuy nhiên,tuỳ từng hoàn cảnh cụ thể,vai trò của mâu thuẫn bên ngoài khi quyết định bao giờ cũng phải thông quamâu thuẫn bên trong để phát huy tác dụng
1.2.2 Mâu thuẫn cơ bản và mâu thuẫn không cơ bản
Mâu thuẫn cơ bản là mâu thuẫn quy định từ bản chất, khuynh hướngphát triển của bản thân các sự vật, hiện tượng Nó là cơ sở hình thành và chiphối tất cả các mâu thuẫn khác trong sự vật, trong đó có mâu thuẫn không cơbản
Mâu thuẫn không cơ bản là mâu thuẫn không quyết định trực tiếp bảnchất và khuynh hướng phát triển của sự vật nhưng có vai trò ảnh hưởng nhấtđịnh đối với sự vận động, phát triển của sự vật Mâu thuẫn không cơ bản tồntại gắn liền với mâu thuẫn cơ bản trong cùng một sự vật và chịu sự chi phốicủa mâu thuẫn cơ bản
1.2.3 Mâu thuẫn chủ yếu và mâu thuẫn thứ yếu
Mâu thuẫn chủ yếu là mâu thuẫn được nói lên hàng đầu ở mỗi giai đoạnnhất định của quá trình phát triển của sự vật
Mâu thuẫn thứ yếu là những mâu thuẫn không đúng vai trò quyết địnhđối với quá trình phát triển của sự vật
Tuy vậy, sự phân biệt giữa hai mâu thuẫn trên chỉ có tính chất tương đối.Trong từng điều kiện hoàn cảnh, mâu thuẫn chủ yếu có thể trở thành thứ yếu
và ngược lại
1.2.4 Mâu thuẫn đối kháng và không đối kháng
Trang 8Mâu thuẫn đối kháng là mâu thuẫn đặc trưng chỉ có trong lĩnh vực đờisống xã hội Đó là mâu thuẫn giữa những lực lượng, những tầng lớp xã hội
có lợi ích căn bản đối lập nhau đến mức không thể điều hoà được Ví dụ nhưmâu thuẫn giữa vô sản và tư sản, giữa những tàn dư của kinh tế bao cấp vàKTTT v.v và chỉ cú thể giải quyết thông qua các cuộc cách mạng xã hội Mâu thuẫn không đối kháng là những mâu thuẫn xuất hiện giữa những lựclượng xã hội mà lợi ích về căn bản nhất trí với nhau Ví dụ mâu thuẫn giữaKTTT xã hội chủ nghĩa và KTTT tư bản chủ nghĩa v.v
Trên đây ta đó nêu và phân tích những nội dung cơ bản của quy luật mâuthuẫn, đó chính là cơ sở lý luận cho việc vận dụng quy luật này vào việc xácđịnh những nguyên tắc chung trong quá trình xây dựng và phát triển
1.3 Ý nghĩa phương pháp luận
Mâu thuẫn là khách quan và phổ biến, do đó muốn nhận nhận thức sự vậtphải căn cứ vào chính bản thân sự vật cũng như mâu thuẫn của nó Khi phântích mâu thuẫn thì phải tìm mâu thuẫn, phải xem xét toàn diện các mặt đốilập, phải nhận thức được quá trình phát sinh, phát triển của chúng
Mâu thuẫn có nhiều lọai, có vai trò vị trí không như nhau, do đó phải biếtphân loại mâu thuẫn và phải giải quyết kịp thời khi mâu thuẫn đã chín muồi
để thúc đẩy sự vật phát triển
Mâu thuẫn chỉ được giải quyết khi có đủ điều kiện chính muồi cho nênkhông được giải quyết mâu thuẫn nóng vội khi chưa có đủ điều kiện, cũngkhông được bảo thủ, ngại khó trong việc giải quyết mâu thuẫn khi đã đủ điềukiện Mâu thuẫn chỉ được giải quyết bằng con đường đấu tranh dưới nhữnghình thức cụ thể khác nhau, do đó đối với những mâu thuẫn khác nhau phải
có những biện pháp phù hợp với từng lọai và điều kiện cụ thể
Trang 9CHƯƠNG 2
NHỮNG MÂU THUẪN TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 2.1 Nền kinh tế thị trường định hước XHCN ở Việt Nam
2.1.1 Sự cần thiết khách quan phải phát triển nền KTTT đinh hướng XHCN ở nước ta.
Lịch sử nhân loại đã chứng kiến nhiều mô hình kinh tế khác nhau Mỗi
mô hình đó là sản phẩm của trình độ nhận thức nhất định trong những điềukiện lịch sử cụ thể Có thể khái quát rằng, lịch sử phát triển của sản xuất vàđời sống của nhân loại đã và đang trải qua hai kiểu tổ chức kinh tế thích ứngvới trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội,hai thời đại kinh tế khác hẳn nhau về chất Đó là thời đại kinh tế tự nhiên, tựcung- tự cấp; và thời đại kinh tế hàng hóa mà giai đoan cao của nó được gọi
là KTTT
Kinh tế tự nhiên là kiểu tổ chức kinh tế- xã hội đầu tiên của nhân loại
Đó là phương thức sinh hoạt kinh tế ở trình độ ban đầu là sử dụng nhữngtặng vật của tự nhiên và sau đó được thực hiện thông qua những tác độngtrực tiếp vào tự nhiên để tạo ra những giá trị sử dụng trong việc duy trì sựsinh tồn của con người Nó được bó hẹp trong mối quan hệ tuần hoàn khépkín giữa con người và tự nhiên, mà tiêu biểu là giữa lao động và đất đai làmnền tảng Hoạt động kinh tế gắn liền với xã hội sinh tồn, với kinh tế nôngnghiệp tự cung- tự cấp Nó đã tồn tại và thống trị trong các xã hội Cộng sảnnguyên thủy, chiếm hữu nô lệ, phong kiến và tuy không còn giữ địa vị thống
Trang 10trị nhưng vẫn còn tồn tại trong XHTB cho đến ngày nay Kinh tế tự nhiên,hiện vật, sinh tồn, tự cung- tự cấp gắn liền với quan niệm truyền thống vềkinh tế XHCN tuy đã có tác dụng trong điều kiện chiến tranh, góp phầnmang lại chiến thắng vẻ vang của dân tộc ta, song khi chuyển sang xây dựng
và phát triển kinh tế, chính mô hình đó đã tạo ra nhiều khuyết tật, nền kinh tếkhông có động lực, không có sức đua tranh, không phát huy được tính chủđộng sáng tạo của người lao động, của các chủ thể sản xuất- kinh doanh, sảnxuất không gắn với nhu cầu, ý chí chủ quan đã lấn át khách quan và triệt tiêumọi động lực- sức mạnh nội sinh của bản thân nền kinh tế, đã làm cho nềnkinh tế suy thoái thiếu hụt, hiệu quả thấp, nhiều mục tiêu của CNXH khôngthực hiện được
Kinh tế hàng hóa, bắt đầu bằng kinh tế hàng hóa đơn giản, ra đời từ khichế độ Cộng sản nguyên thủy tan rã, dựa trên hai tiền đề cơ bản là có sựphân công lao động xã hội và có sự tách biệt về kinh tế do chế độ sở hữukhác nhau về tư liệu sản xuất Chuyển từ kinh tế tự nhiên, tự cung- tự cấpsang kinh tế hàng hóa là đánh dấu bước chuyển sang thời đại kinh tế của sựphát triển, thời đại văn minh của nhân loại Trong lịch sử của mình, vì thếcủa kinh tế hàng hóa cũng dần được đổi thay :từ chỗ như là kiểu tổ chứckinh tế- xã hội không phổ biến, không hợp thơi trong xã hội Chiếm hữu nô
lệ của những người thợ thủ công và nhân dân tự do, đến chỗ được thừa nhậntrong xã hội Phong kiến, và đến CNTB thì kinh tế hàng hóa giản đơn khôngnhững được thừa nhận mà còn phát triển lên giai đoạn cao hơn đó là KTTT.KTTT là giai đọan phát triển cao của kinh tế hàng hóa, cũng đã trải qua
ba giai đoạn phát triển Giai đoạn thứ nhất, là giai đoạn chuyển từ kinh tếhàng hóa giản đơn sang KTTT Giai đoạn thứ hai là giai đoạn phát triểnKTTT tự do Đặc trưng quan trọng của giai đoạn này là sự phát triển kinh tếdiễn ra theo tinh thần tự do, Nhà nước không can thiệp vào hoạt động kinh
Trang 11tế Giai đọan thứ ba, là giai đoạn KTTT hiện đại Đặc trưng của giai đoạnnày là Nhà nước can thiệp vào KTTT và mở rộng giao lưu kinh tế với nướcngoài KTTT có những đặc trưng cơ bản như: phát triển kinh tế hàng hóa,
mở rộng thị trường, tự do kinh doanh, tự do thương mại, tự định giá cả, đadạng hóa sở hữu, phân phối do quan hệ cung cầu đó là cơ chế hỗn hợp "có
sự điều tiết vĩ mô" của Nhà nước để khắc phục những khuyết tật của nó.Mặc dù sự hình thành và phát triển của kinh tế hàng hóa tự phát sẽ "hàngngày hàng giờ đẻ ra CNTB" và sự phát triển của KTTT trong lịch sử diễn rađồng thời với sự hình thành và phát triển của CNTB, nhưng tuyệt nhiên,KTTT không phải là chế độ kinh tế- xã hội KTTT là hình thức và phươngpháp vận hành kinh tế Đây là một kiểu tổ chức kinh tế hình thành và pháttriển do những đòi hỏi khách quan của sự phát triển lực lượng sản xuất Nó
là phương thức sinh hoạt kinh tế của sự phát triển Quá trình hình thành vàphát triển KTTT là quá trình mở rộng phân công lao động xã hội, phát triểnkhoa học- công nghệ mới và ứng dụng chúng vào thực tiễn sản xuất kinhdoanh Sự phát triển của KTTT gắn liền với quá trình phát triển của nền vănminh nhân loại, của khoa học- kỹ thuật, của lực lượng sản xuất
Cho đến cuối những năm 80, về cơ bản, trong nền kinh tế nước ta, sảnxuất nhỏ vẫn còn là phổ biến, trạng thái kinh tế tự nhiên, hiện vật, tự cung-
tự cấp còn chiếm ưu thế Xã hội Việt Nam, về cơ bản vẫn dựa trên nền tảngcủa văn minh nông nghiệp lúa nước, nông dân chiếm đại đa số Việt Namvẫn là một nước nghèo nàn, lạc hậu và kém phát triển Phát triển trở thànhnhiệm vụ, mục tiêu số một đối với toàn Đảng, toàn dân ta trong bước đường
đi tới Muốn vậy phải chuyển toàn bộ nền kinh tế quốc dân sang trạng tháicủa sự phát triển, là phát triển nền KTTT, cùng với nó là thực hiện côngcuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Sự phát triển kinh tế xã hội nào rút cuộc cũng nhằm mục tiêu xã hội,
Trang 12nhân văn nhất định Phát triển theo nghĩa đầy đủ là bên cạnh sự gia tăng vềlượng (tăng trưởng kinh tế) còn bao hàm cả sự thay đổi về chất (những biếnđổi về mặt xã hội) Học thuyết về hình thái kinh tế xã hội của C.Mác là mộtthành tựu khoa học của loài người Nó phác hoạ quy luật vận động tổng quátcủa nhân loại, và sự phát triển của xã hội loài người sẽ tiến tới Chủ nghĩaCộng sản mà giai đoạn thấp của nó là CNXH CNXH không đối lập với pháttriển, với KTTT, mà là một nấc thang phát triển của loài người được đánhdấu bằng tiến bộ xã hội của sự phát triển Nó là cách thức giải quyết cácquan hệ xã hội, là một sự thiết lập một trật tự xã hội với mục tiêu dân giàu,nước mạnh, xã hội công bằng văn minh Vì vậy, sự phát triển của Việt Namtrong hiện tại và tương lai phải là sự phát triển vì sự giàu có, phồn vinh,hạnh phúc của nhân dân lao động, vì sự hùng mạnh và giàu có của cả xã hộ,của toàn xã hội, của toàn dân tộc, là sự phát triển mang tính XHCN, là sựphát triển hiện đại Nghĩa là, chúng ta phải phát triển nền KTTT định hướngXHCN.
2.1.2 Một số đặc điểm chung của nền KTTT ở Việt Nam.
Thứ nhất, nền KTTT định hướng XHCN mà nước ta xây dựng là nềnKTTT hiện đại với tính chất xã hội hiện đại Mặc dù nền kinh tế nước tađang nằm trong tình trạng lạc hậu và kém phát triển nhưng khi nước tachuyển sang phát triển kinh tế hàng hóa, KTTT, thì thế giới đã chuyển sanggiai đoạn KTTT hiện đại Bởi vậy, chúng ta không thể và không nhất thiếtphải trải qua giai đoạn kinh tế hàng hóa giản đơn và giai đoạn KTTT tự do
mà đi thẳng vào phát triển KTTT hiện đại Mặt khác, thế giới vẫn đang nằmtrong thời đại quá độ từ CNTB lên CNXH, cho nên sự phát triển kinh tế- xãhội nước ta phải theo định hướng XHCN là cần thiết khách quan và cũng lànội dung yêu cầu của sự phát triển rút ngắn Sự nghiệp "dân giàu, nướcmạnh, xã hội công bằng và văn minh" vừa là mục tiêu, vừa là nội dung,
Trang 13nhiệm vụ của việc phát triển KTTT định hướng XHCN ở nước ta.
Thứ hai, nền kinh tế của chúng ta là nền kinh tế hỗn hợp nhiều thànhphần với vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước trong một số lĩnh vực, một sốkhâu quan trọng có ý nghĩa quyết định đến sự phát triển kinh tế- xã hội củađất nước Nền kinh tế hàng hóa, nền KTTT phải là một nền kinh tế đa thànhphần, đa hình thức sở hữu Thế nhưng, nền KTTT mà chúng ta sẽ xây dựng
là nền KTTT hiện đại, cho nên cần có sự tham gia bởi "Bàn tay hữu hình"của nhà nước trong việc điều tiết, quản lý nền kinh tế đó Đồng thời, chính
nó sẽ bảo đảm sự định hướng phát triển của nền KTTT Việc xây dựng kinh
tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo là sự khác biệt có tính chất bản chất giữaKTTT định hướng XHCN với KTTT TBCN Tính định hướng XHCN củanền kinh tế ở nước ta đã quy định kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, bởi
lẽ, mỗi một chế độ xã hội đều có một cơ sở kinh tế tương ứng với nó Kinh
tế nhà nước tạo cơ sở cho chế độ xã hội mới- chế độ XHCN
Thứ ba, nhà nước quản lý nền KTTT theo định hướng XHCN ở nước ta
là nhà nước pháp quyền XHCN, là nhà nước của dân, do dân và vì dân.Thành tố quan trọng mang tính quyết định trong nền KTTT hiện đại là nhànước tham gia vào các quá trình kinh tế Nhà nước ta là nhà nước "của dân,
do dân và vì dân", nhà nước công nông, nhà nước của đại đa số nhân dân laođộng, đặt dưới sự lãnh đạo của ĐCS Việt Nam Nó có đủ bản lĩnh, khả năng
và đang tự đổi mới để bảo đảm giữ vững định hướng XHCN trong việc pháttriển nền KTTT hiện đại ở nước ta
Thứ tư, cơ chế vận hành của nền kinh tế được thực hiện thông qua cơchế thị trường với sự tham gia quản lý, điều tiết của Nhà nước Mọi hoạtđộng sản xuất- kinh doanh trong nền kinh tế được thực hiện thông qua thịtrường Điều đó có nghĩa là nền KTTT định hướng XHCN ở nước ta vậnđộng theo những quy luật nội tại của nền KTTT nói chung, thị trường có vai