LỜI MỞ ĐẦU Mỗi người trong chúng ta đều sống trong một mạng lưới sự sống rộng lớn. Giống như một mạng nhện, càng có nhiều mối liên hệ thì mạng lưới càng bền vững. Chúng ta đã biết tất cả những mối liên kết trong sự sống sẽ không tồn tại và phát triển được nếu không được hỗ trợ bởi môi trường. Với tốc độ phá hoại môi trường như hiện nay của con người, môi trường của chúng ta đang dần bị suy thoái, mối liên kết của các mạng lưới sự sống đang dần bị phá vỡ. Sự tăng trưởng kinh tế ngày càng nhanh, một mặt nó nâng cao đời sống của người dân nhưng mặt khác nó đang gây một sức ép mạnh mẽ lên môi trường tự nhiên. Cũng như nhiều nước đang phát triển khác, để có những kết quả về kinh tế trong giai đoạn trước mắt, chúng ta phải trả giá là mất đi sự bền vững của các nguồn tài nguyên về lâu dài. Một thập kỷ phát triển nhanh chóng ở việt nam đã dẫn đến sự gia tăng ô nhiễm đất, không khí, nước và quan trọng hơn là gia tăng mưc tiêu thụ, phân hoá giầu nghèo… mạng lưới sự sống đang dần mất đi sưc mạnh của nó. Chính vì vậy tôi quyết chọn đề tài này để nghiên cứu. Khi nghiên cứu “Phép biện chứng về mối liên hệ phổ biến và vận dụng vào phân tích mối liên hệ giữa tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường sinh thái ở Việt Nam”. Với tư cách là một người theo ngành triết học, tôi muốn góp một phần công sức nhỏ bé của mình vào việc tìm kiếm con đường phát triển của việt nam trong những năm tới nhằm đưa việt nam trở thành một nước phát triển bền vững trong khu vực và trên thế giới. Hoàn thành tiểu luận này tôi đã gia tăng được tri thức cũng như hiểu biết về các vấn đề cấp thiết của Việt Nam.
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Mỗi người trong chúng ta đều sống trong một mạng lưới sự sống rộnglớn Giống như một mạng nhện, càng có nhiều mối liên hệ thì mạng lưới càngbền vững Chúng ta đã biết tất cả những mối liên kết trong sự sống sẽ khôngtồn tại và phát triển được nếu không được hỗ trợ bởi môi trường Với tốc độphá hoại môi trường như hiện nay của con người, môi trường của chúng tađang dần bị suy thoái, mối liên kết của các mạng lưới sự sống đang dần bị phá
vỡ Sự tăng trưởng kinh tế ngày càng nhanh, một mặt nó nâng cao đời sốngcủa người dân nhưng mặt khác nó đang gây một sức ép mạnh mẽ lên môitrường tự nhiên
Cũng như nhiều nước đang phát triển khác, để có những kết quả về kinh
tế trong giai đoạn trước mắt, chúng ta phải trả giá là mất đi sự bền vững của cácnguồn tài nguyên về lâu dài Một thập kỷ phát triển nhanh chóng ở việt nam đãdẫn đến sự gia tăng ô nhiễm đất, không khí, nước và quan trọng hơn là gia tăngmưc tiêu thụ, phân hoá giầu nghèo… mạng lưới sự sống đang dần mất đi sưcmạnh của nó Chính vì vậy tôi quyết chọn đề tài này để nghiên cứu
Khi nghiên cứu “Phép biện chứng về mối liên hệ phổ biến và vận dụng vào phân tích mối liên hệ giữa tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường sinh thái ở Việt Nam” Với tư cách là một người theo ngành triết học,
tôi muốn góp một phần công sức nhỏ bé của mình vào việc tìm kiếm conđường phát triển của việt nam trong những năm tới nhằm đưa việt nam trởthành một nước phát triển bền vững trong khu vực và trên thế giới Hoànthành tiểu luận này tôi đã gia tăng được tri thức cũng như hiểu biết về các vấn
đề cấp thiết của Việt Nam
Hà Nội, ngày 20 tháng 08 năm 2013
Trang 2CHƯƠNG I: PHÉP BIỆN CHỨNG VỀ MỐI LIÊN HỆ
PHỔ BIẾN
1.1 Quá trình phát triển của phép biện chứng
Triết học ra đời từ thời cổ đại đánh dấu sự ra đời của phép biện chứng.Trải qua hàng ngàn năm tồn tại và phát triển, phép biện chứng có lúc phồnvinh có khi suy vong Khởi đầu là phép biện chứng tự phát cổ đại, thể hiện rõnét trong thuyết “âm - dương” của Trung Quốc, đăc biệt là trong nhiều họcthuyết của Hi Lạp cổ đại Đến khoảng thế kỷ 17 nửa đầu thế kỷ 18, phươngpháp siêu hình thống trị trong tư duy triết học mà đại diện là Đêcactơ – ôngđược coi là linh hồn của phương pháp siêu hình Trong khoảng nửa sau thế kỷ
18 đầu thế kỷ 19 đây là thời kỳ tổng kết các lịch sử triết học nhân loại và hìnhthành hệ thống lớn đó là phương pháp biện chứng duy tâm mà đại diện làHêgen ông được coi là tiền đề của phương pháp biện chứng duy vật sau này
Ngày nay phép biện chứng đã đạt đến trình độ cao nhất đó là phép biệnchứng duy vât Phép biện chứng duy vật được hình thành từ một loạt nhữngphạm trù, những nguyên lý, những quy luật được khái quát từ hiện thực, phùhợp với hiện thực Cho nên nó phản ánh đúng sự liên hệ, sự vận động và sựphát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy Nhờ vậy, nó đã khắc phục đượcnhững hạn chế vốn có của phép biện chứng tự phát cổ đại cho rằng thế giới làmột chỉnh thể thống nhất, giữa các bộ phận của nó có mối liên hệ qua lại,thâm nhập vào nhau, tác động và chịu ảnh hưởng lẫn nhau, thế giới và các bộphận cấu thành thế giới ấy không ngừng vận động và phát triển Tuy nhiên, sựhạn chế của phương pháp biện chứng tự phát là tuy nó cho chúng ta thấy mộtbức tranh về sự tác động qua lại, sự vận động và phát triển nhưng chưa làm
rõ được cái gì đang liên hệ cũng như những quy luật nội tại của sự vận động
và phát triển
Trang 3Phép biện chứng duy vật còn sửa được sai lầm của phép biện chứngduy tâm khách quan thời cổ đại mà đại biểu là Hêgen - đại diện lỗi lạc củaphép biện chứng Hêgen cho rằng sự phát triển biện chứng của thế giới bênngoài chỉ là sự sao chép lại sự tự vận động của “ý niệm tuyệt đối ”mà thôi.Phép biện chứng duy vật đã chứng minh rằng : những ý niệm trong đầu óccủa chúng ta chẳng qua là sự phản ánh của các sự vật hiện thực khách quan,
do đó bản thân biện chứng của ý niệm chỉ đơn thuần là sự phản ánh có ý thứccủa sự vận động biện chứng của thế giới hiện thực khách quan Như vậy phépbiện chứng duy vật đã khái quát một cách đúng đắn những quy luật vận động
và sự phát triển chung nhất của thế giới Vì vậy Ph.Ăngen đã định nghĩa:
“phép biện chứng…là môn khoa học về những quy luật phổ biến của sự vậnđộng và sự phát triển của tự nhiên, của xã hội loài người và của tư duy.”
1.2 Nguyên lí về mối liên hệ phổ biến
1.2.1 Khái niệm mối liên hệ phổ biến
Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến một trong hai nguyên lý cơ bản vàđóng vai trò xương sống trong phép duy vật biện chứng của triết học Mác -Lênin khi xem xét, kiến giải sự vật, hiện tượng
Trong thế giới có vô vàn các sự vật, các hiện tượng và các quá trìnhkhác nhau Vậy giữa chúng có mối liên hệ qua lại, tác động, ảnh hưởng lẫnnhau hay chúng tồn tại biệt lập, tách rời nhau? Trong lịch sử triết học, để trảlời câu hỏi đó, ta thấy có những quan điểm khác nhau, thậm chí trái ngượcnhau
Trả lời câu hỏi thứ nhất, những người theo quan điểm siêu hình chorằng các sự vật, hiện tượng tồn tại biệt lập, tách rời nhau, cái này tồn tại bêncạnh cái kia Chúng không có sự phụ thuộc, không có sự ràng buộc và quyđịnh lẫn nhau Nếu giữa chúng có sự quy định lẫn nhau thì cũng chỉ là nhữngquy định bề ngoài, mang tính ngẫu nhiên Tuy vậy, trong số những người theoquan điểm siêu hình cũng có một số người cho rằng, các sự vật, hiện tượng cómối quan hệ với nhau và mối liên hệ rất đa dạng phong phú, song các hình
Trang 4thức liên hệ khác nhau không có khả năng chuyển hoá lẫn nhau Chẳng hạngiới vô cơ và giới hữu cơ không có mối liên hệ gì với nhau, tồn tại độc lậpkhông thâm nhập lẫn nhau; tổng số đơn giản của những con người riêng lẻ tạothành xã hội đứng yên không vận động
Trái lại, những người theo quan điểm biện chứng lại cho rằng các sựvật, hiện tượng và các quá trình khác nhau vừa tồn tại độc lập, vừa quy định,tác động qua lại, chuyển hoá lẫn nhau Chẳng hạn, bão từ diễn ra trên mặt trời
sẽ tác động đến từ trường của trái đất và do đó tác động đến mọi sự vật, trong
đó có con người; sự gia tăng về dân số sẽ tác động trực tiếp đến nền kinh tế,
xã hội, giáo dục y tế.v.v; môi trường ảnh hưởng to lớn đến con người khôngchỉ trong một nước mà trên toàn thế giới và ngược lại, hoạt động của conngười cũng tác động, ảnh hưởng làm biến đổi môi trường
Câu hỏi đặt ra là: nếu chúng có mối liên hệ qua lại thì cái gì quy địnhmối liên hệ đó? Trả lời câu hỏi thứ hai, những người theo chủ nghĩa duy tâmcho rằng cái quyết định mối quan hệ, sự chuyển hoá lẫn nhau giữa các sự vậthiện tượng là một lực lượng siêu tự nhiên (như trời) hay do ý thức cảm giáccủa con người Đứng trên quan điểm duy tâm chủ quan, Bécơli cho rằng cảmgiác là nền tảng của mối liên hệ giữa các sự vật hiện tượng Hêghen xuất phát
từ lập trường duy tâm khách quan lại vạch ra rằng “ý niệm tuyệt đối” là nềntảng của mối liên hệ giữa các sự vật hiện tượng
Những người theo quan điểm duy vật biện chứng khẳng định tính thốngnhất vật chất của thế giới là cơ sở của mối liên hệ giữa các sự vât và hiệntượng Các sự vật, hiện tượng tạo thành thế giới dù có đa dạng, phong phú, cókhác nhau bao nhiêu, song chúng dều chỉ là những dạng khác nhau của mộtthế giới duy nhất, thống nhất- thế giới vật chất Nhờ có tính thống nhất đó,chúng không thể tồn tại biệt lập tách rời nhau mà tồn tại trong sự tác động qualại chuyển hoá lẫn nhau theo những quan hệ xác định Chính trên cơ sở đótriết học duy vật biện chứng khẳng định rằng mối liên hệ là phạm trù triết họcdùng để chỉ sự quy định sự tác động qua lại sự chuyển hoá lẫn nhau giữa các
Trang 5sự vật, hiện tượng hay giữa các mặt của một sự vật, của một hiện tượng trongthế giới
Các sự vật hiện tượng trong thế giới chỉ biểu hiện sự tồn tại của mìnhthông qua sự vận động, sự tác động qua lại lẫn nhau Bản chất tính quy luậtcủa sự vật, hiện tượng cũng chỉ bộc lộ thông qua sự tác động qua lại giữa cácmặt của bản thân chúng hay sự tác động của chúng đối với sự vật, hiện tượngkhác Chúng ta chỉ có thể đánh giá sự tồn tại cũng như bản chất của một conngười cụ thể thông qua mối liên hệ, sự tác động của con người đó đối vớingười khác, đối với xã hội và tự nhiên thông qua hoạt động của chính người
ấy Ngay tri thức của con người cũng chỉ có giá trị khi chúng được con ngườivận dụng vào hoạt động cải biến tự nhiên, cải biến xã hội và cải biến chínhcon người
Nguyên lý này được dựa trên một khẵng định trước đó của triết họcMác-Lênin là khẳng định tính thống nhất vật chất của thế giới là cơ sở củamối liên hệ giữa các sự vât và hiện tượng Các sự vật, hiện tượng tạo thànhthế giới dù có đa dạng, phong phú, có khác nhau bao nhiêu, song chúng dềuchỉ là những dạng khác nhau của một thế giới duy nhất, thống nhất- thế giớivật chất Ăng-ghen đã nhấn mạnh điều này “Tính thống nhất của thế giới là ởtính vật chất của nó, và tính vật chất này được chứng minh không phải bằng
ba lời lẽ khéo léo của kẻ làm trò ảo thuật, mà bằng sự phát triển lâu dài và khókhăn của Triết học và khoa học tự nhiên”
Nhờ có tính thống nhất đó, chúng không thể tồn tại biệt lập tách rờinhau mà tồn tại trong sự tác động qua lại chuyển hoá lẫn nhau theo nhữngquan hệ xác định Chính trên cơ sở đó triết học duy vật biện chứng khẳngđịnh rằng mối liên hệ là phạm trù triết học dùng để chỉ sự quy định sự tácđộng qua lại sự chuyển hoá lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng hay giữa cácmặt của một sự vật, của một hiện tượng trong thế giới
Trang 6Như vậy, có thể hiểu trong phép biện chứng, khái niệm mối liên dùng
để chỉ sự quy định, sự tác động và chuyển hóa lẫn nhau giữa các sự vật, hiệntượng hay giữa các mặt, các yếu tố của mỗi sự vật, hiện tượng trong thế giới
Còn mối liên hệ phổ biến là khái niệm dùng để chỉ các mối liên hệ tồntại ở nhiều sự vật, hiện tượng của thế giới Trong mối liên hệ của các sự vật,hiện tượng, những mối liên hệ phổ biến nhất là mối liên hệ giữa các mặt đốilập, mối liên hệ giữa lượng và chất, khẳng định và phủ định, cái chung và cáiriêng, bản chất và hiện tượng…
Giữa các sự vật, hiện tượng của thế giới vừa tồn tại những mối liên hệđặc thù, vừa tồn tại những mối liên hệ phổ biến trong phạm vi nhất định hoặcmối liên hệ phổ biến nhất, trong đó mối liên hệ đặc thù là sự thể hiện nhữngmối liên hệ phổ biến trong những điều kiện nhất định
1.2.2 Nội dung nguyên lí về mối liên hệ phổ biến
Mối liên hệ phổ biến có tính khách quan vì mối liên hệ là vốn có của sựvật, hiện tượng Nó không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người haythần linh, thượng đế Ngay cả những vật vô tri, vô giác cũng đang hàng ngàychịu sự tác động của các sự vật hiện tượng khác (như ánh sáng, nhiệt độ, độ
ẩm, áp suất không khí , đôi khi cũng chịu sự tác động của con người) Conngười - một sinh vật phát triển cao nhất trong tự nhiên dù muốn hay khôngcũng luôn luôn bị tác động của các sự vật, hiện tượng khác và các yếu tố ngaytrong chính bản thân
Ngoài sự tác động của tự nhiên, con người còn tiếp nhận sự tác độngcủa xã hội và của những người khác Chính con người và chỉ có con ngườimới tiếp nhận vô vàn các mối mối liên hệ Do vậy, con người phải hiểu biếtcác mối quan hệ, vận dụng chúng vào hoạt động của mình, giải quyết các mốiliên hệ phù hợp nhằm phục vụ nhu cầu lợi ích của xã hội và bản thân conngười Chỉ có liên hệ với nhau thì sự vật, hiện tượng mới tồn tại, vận động,phát triển Ví dụ : con vật thì có mối liên hệ giữa kẻ săn mồi và con mồi: con
hổ với con nai…, nếu không có mối liên như vậy thì con vật không thể tồn tại
Trang 7Còn con người thì có các quan hệ xã hội giữa người này với người khác cónhư vậy con người mới tồn tại, vận động và phát triển.
Mối liên hệ có tính phổ biến vì bất cứ sự vật hiện tượng nào cũng liên
hệ với sự vật, hiện tượng khác Không có sự vật hiện tượng nào nằm ngoàimối liên hệ Xuất phát từ bản thân tính biện chứng của thế giới mỗi sự vật,hiện tượng là một thể thống nhất, không có sự vật hiện tượng nào tồn tại mộtcách cô lập, biệt lập mà chúng là một thể thống nhất Không chỉ trong tựnhiên, mà cả trong xã hội, lẫn trong tư duy, các sự vật hiện tượng cũng liện hệtác động qua lại lẫn nhau
Không thể tìm bất cứ ở đâu, bất cứ khi nào các sự vật, hiện tượng lạitồn tại một cách cô lập tách rời Ví dụ: Trong tự nhiên, cây xanh có mối liên
hệ với môi trường ( không khí, nhiệt độ…), còn có mối liên hệ với con người( con người chăm sóc cây xanh, chặt phá rừng…) Trong xã hội, không cóngười nào mà không có các mối quan hệ xã hội như: quan hệ hàng xóm, giađình, bạn bè, đồng nghiệp…; các hình thái kinh tế - xã hội cũng có mối liên
hệ với nhau, hình thái kinh tế - xã hội sau ra đời từ hình thái kinh tế - xã hộitrước (công xã nguyên thủy-chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa,cộng sản chủ nghĩa) Trong tư duy, có mối liên hệ giữa các sự suy đoán, cáctâm tư, tình cảm, các cách suy nghĩ khác nhau như: nhìn vào một cô gái ta cócác suy đoán cô ấy là người giàu có, cô ấy không được tốt, cô ấy rất khótính… Trong thời đại ngày nay không một quốc gia nào không có quan hệ,không có liên hệ với các quốc gia khác về mọi mặt của đời sống xã hội Chính
vì thế, hiện nay, trên thế giới đã và đang xuất hiện xu hướng toàn cầu hoá,khu vực hoá mọi mặt đời sống xã hội Nhiều vấn đề đã và đang trở thành vấn
đề toàn cầu như: đói nghèo, bệnh hiểm nghèo, dân số và kế hoạch hoá giađình, chiến tranh và hoà bình Đặc biệt vấn đề môi trường sinh thái hiện nayđang là một chủ đề được rất nhiều nước quan tâm
Trang 8Mối liên hệ có tính đa dạng, muôn màu muôn vẻ Xuất phát từ tính đađạng muôn màu muôn vẻ của thế giới vật chất Có nhiều hình thức mối liên
hệ, mỗi hình thức mối liên hệ có vai trò, vị trí, đặc điểm riêng của nó
Mối liên hệ bên trong là mối liên hệ qua lại, là sự tác động lẫn nhau giữacác bộ phận, giữa các thuộc tính, các mặt khác nhau của sự vật, nó giữ vai tròquyết định sự tồn tại, vận động và phát triển của sự vật Ví dụ : trong xã hội tưbản chủ nghĩa, có mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản và công nhân giải quyết nólàm cho xã hội phát triển Trong bản thân con người có mâu thuẫn giữa hai quátrình đồng hóa và dị hóa giải quyết nó làm cho cơ thể phát triển…
Mối liên hệ bên ngoài là mối liên hệ giữa một sự vật, hiện tượng nàyvới một sự vật hiện tượng khác, hoặc một sự vật, hiện tượng này với các sựvật hiện tượng khác Mối liên hệ này không quyết định sự tồn tại, vận động vàphát triển của sự vật mà nó chỉ đóng vai trò trung gian Ví dụ : xét xã hội ViệtNam hiện nay có mâu thuẫn giữa Việt Nam và các nước tư bản chủ nghĩa đó
là mối liên hệ bên ngoài giữa hai con đường xã hội chủ nghĩa và tư bản chủnghĩa Trong tự nhiên, xét một cây xanh thì mối mối liên hệ bên ngoài là làgiữa nó với môi trường sống, với con người…
Ngoài ra còn có các mối liên hệ khác như: mối liên hệ bản chất vàkhông bản chất; mối liên hệ tất yếu và ngẫu nhiên v.v… Chính tính đa dạngtrong quá trình tồn tại, vận động và phát triển của bản thân sự vật và hiệntượng quy định tính đa dạng của mối liên hệ Vì vậy, trong một sự vật có thểbao gồm rất nhiều loại mối liên hệ chứ không phải chỉ có một cặp mối liên hệxác định Chẳng hạn, mỗi cá nhân trong một tập thể nhất định vừa có mối liên
hệ bên trong, vừa có mối liên hệ bên ngoài, vừa có mối liên hệ bản chất, vừa
có mối liên hệ không bản chất, vừa có mối liên hệ trực tiếp vừa có mối liên hệgián tiếp
Đương nhiên, mỗi cặp mối liên hệ có những đặc trưng riêng Trong cáccặp mối liên hệ đó, nói chung, mối liên hệ bản chất, mối liên hệ tất nhiên, mốiliên hệ chủ yếu giữ vai trò quyết định Song tuỳ theo những điều kiện hoàn
Trang 9cảnh cụ thể, các mối liên hệ tương ứng với chúng có thể giữ vai trò quyếtđịnh Nói cách khác, vai trò quyết định của các mối liên hệ trong từng cặpmột phụ thuộc vào quan hệ hiện thực xác định.
Sự phân chia từng cặp mối liên hệ chỉ mang tính tương đối vì mỗi loạimối liên hệ chỉ là một hình thức, một bộ phận, một mắt xích của mối liên hệphổ biến Mỗi loại mối liên hệ trong từng cặp có thể chuyển hoá lẫn nhau tuỳtheo phạm vi bao quát của mối liên hệ hoặc do kết quả vận động của chínhcác sự vật Chẳng hạn, nếu xem xét các doanh nghiệp tồn tại với tư cách làcác đơn vị độc lập thì mối liên hệ giữa chúng là mối liên hệ bên ngoài Trongquá trình vận động và phát triển của mình, các doanh nghiệp kết hợp với nhautạo thành công ty, thành tổng công ty thì mối liên hệ giữa các doanh nghiệplại là mối liên hệ bên trong
Tuy sự phân chia thành các loại mối liên hệ chỉ mang tính tương đối ví
dụ như các loài cá ,chim và thú đều có quan hệ với nước nhưng cá với nước làmối liên hệ về môi trường sống, cá chủ yếu sống trong nước còn chim và thúthì không sống được trong nước Nhưng sự phân chia đó lại rất cần thiết bởi
vì mỗi loại mối liên hệ có vị trí và vai trò xác định trong sự vận động và pháttriển của sự vật Con người phải nắm bắt đúng các mối liên hệ đó để có cáchtác động phù hợp, nhằm đưa lại hiệu quả cao nhất trong hoạt động của mình
Theo quan điểm này, các sự vật, các hiện tượng trên thế giới dù có đadạng, có khác nhau như thế nào đi chăng nữa thì chúng cũng chỉ là nhữngdạng tồn tại khác nhau của một thế giới duy nhất là thế giới vật chất Các mốiliên hệ diễn ra trong mỗi sự vật, giữa các sự vật với nhau, trong toàn bộ vũtrụ, trong mọi không gian và thời gian Quan điểm duy vật biện chứng khôngchỉ khẳng định tính khách quan, tính phổ biến của sự liên hệ giữa các sự vật,các hiện tượng, các quá trình mà nó còn nêu rõ tính đa dạng của sự liên hệqua lại đó Tính đa dạng của sự liên hệ do tính đa dạng trong sự tồn tại, sự vậnđộng và phát triển của chính các sự vật và hiện tượng quy định
Trang 10Có mối liên hệ bên trong là mối liên hệ qua lại, là sự tác động lẫn nhaugiữa các bộ phận, giữa các yếu tố, các thuộc tính, các mặt khác nhau của một
sự vật, nó giữ vai trò quyết định đối với sự tồn tại, vận động và phát triển của
sự vật Có mối liên hệ bên ngoài là mối liên hệ giữa các sự vật, các hiện tượngkhác nhau, nói chung nó không có nghĩa quyết định, hơn nữa nó thường phảithông qua các mối liên hệ bên trong mà phát huy
Tuy nhiên mối liên hệ bên ngoài cũng hết sức quan trọng, đôi khi còngiữ vai trò quyết định Ngoài ra còn có mối liên hệ chủ yếu, có mối liên hệthứ yếu, có mối liên hệ chung bao quát toàn bộ thế giới, có mối liên hệ baoquát một số lĩnh vực hoặc một số lĩnh vực riêng biệt của thế giới Có mối liên
hệ trực tiếp, có mối liên hệ gián tiếp mà trong đó sự tác động qua lại đượcthực hiện thông qua một hay một số khâu trung gian Có mối liên hệ bản chất
và mối liên hệ không bản chất, có mối liên hệ tất yếu và mối liên hệ ngẫunhiên Có mối liên hệ giữa các sự sự vật khác nhau, có mối liên hệ khác nhaucủa cùng một sự vật
Sự vật, hiện tượng nào cũng vận động và phát triển qua nhiều giai đoạnkhác nhau, giữa các giai đoạn đó cũng có mối liên hệ với nhau tạo thành lịch
sử phát triển hiện thực của các sự vật và các quá trình tương ứng Quan điểmduy vật biện chứng về sự liên hệ đòi hỏi phải thừa nhận tính tương đối trong
sự phân loại đó Các loại liên hệ khác nhau có thể chuyển hoá cho nhau Sựchuyển hoá đó có thể diễn ra hoặc do thay đổi phạm vi bao quát khi xem xéthoặc do kết quả vận động khách quan của chính sự vật hiện tượng ấy
1.2.3 Ý nghĩa phương pháp luận về mối liên hệ phổ biến
Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến xét dưới góc độ thế giới quan thì
nó phản ánh tính thống nhất của vật chất và thế giới Các sinh vật, hiệntượng trên thế giới dù có đa dạng, có khác nhau như thế nào chăng nữa thìchúng cũng chỉ là những dạng khác nhau của một thế giới duy nhất đó là thếgiới vật chất
Trang 11Bất cứ sự vật hiện tượng nào trong thế giới đều tồn tại trong mối liên hệvới các sự vật khác và mối liên hệ rất đa dạng phong phú, do đó khi nhận thức
về sự vật, hiện tượng chúng ta phải có quan điểm toàn diện, tránh quan điểmphiến diện chỉ xét sự vật, hiện tượng ở một mối liên hệ đã vội vàng kết luận
về bản chất hay về tính quy luật của chúng
Quan điểm toàn diện đòi hỏi chúng ta nhận thức về sự vật trong mốiliên hệ qua lại giữa các bộ phận, giữa các yếu tố, giữa các mặt của chính sựvật và trong sự tác động qua lại giữa sự vật đó với các sự vật khác, kể cả mốiliên hệ trực tiếp và mối liên hệ gián tiếp Chỉ trên cơ sở đó mới có thể nhậnthức đúng về sự vật Chẳng hạn, muốn nhận thức đúng và đầy đủ tri thức củakhoa học triết học, chúng ta còn phải tìm ra mối liên hệ của tri thức triết họcvới tri thức khoa học khác, với tri thức cuộc sống và ngược lại, vì tri thức triếthọc được khái quát từ tri thức của các khoa học khác và hoạt động của conngười, nhất là tri thức chuyên môn được chúng ta lĩnh hội
Đồng thời, quan điểm toàn diện đòi hỏi chúng ta phải biết phân biệt cácmối liên hệ, phải biết chú ý đến các mối liên hệ bên trong, mối liên hệ bảnchất, mối liên hệ chủ yếu, mối liên hệ tất nhiên để hiểu rõ bản chất của sựvật và có phương pháp tác động phù hợp nhằm đem lại hiệu quả cao nhấttrong sự phát triển của bản thân Đương nhiên, trong nhận thức và hành động,chúng ta cần lưu ý tới sự chuyển hoá lẫn nhau giữa các mối liên hệ ở nhữngđiều kiện xác định Trong quan hệ giữa con người với con người, chúng taphải biết ứng xử sao cho phù hợp với từng con người Ngay cả quan hệ vớimột con người nhất định ở những không gian khác nhau hoặc thời gian khácnhau, chúng ta cũng phải có cách giao tiếp, cách quan hệ phù hợp như ôngcha đã kết luận: “đối nhân xử thế”
Trong hoạt động thực tế, theo quan điểm toàn diện, khi tác động vào sựvật, chúng ta không những phải chú ý tới những mối liên hệ nội tại của nó màcòn phải chú ý tới những mối liên hệ của sự vật ấy với các sự vật khác Đồngthời chúng ta phải biết sử dụng đồng bộ các biện pháp, các phương tiện khác
Trang 12nhau để tác động nhằm đem lại hiệu quả cao nhất Để thực hiện mục tiêu :
“dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, một mặt chúng
ta phải phát huy nội lực của đất nước ta; mặt khác phải biết tranh thủ thời cơ,vượt qua thử thách do xu hướng quốc tế hoá mọi lĩnh vực của đời sống xã hội
và toàn cầu hoá kinh tế đưa lại
Từ quan điểm toàn diện trong sự xem xét chúng ta đi đến nguyên tắcđồng bộ trong hành động thực tiễn: để cải tạo một sự vât bao giờ chúng tacũng phải áp dụng đồng bộ một hệ thống những biện pháp nhất định Tuynhiên cũng như đã nói ở trên, đồng bộ không có nghĩa là dàn đều, bình quân
mà trong từng buớc, từng giai đoạn phải nắm đúng khâu then chốt Thực hiệnquan điểm toàn diện góp phần khắc phục bệnh phiến diện, một chiều chỉ thấymột mặt mà không thấy nhiều mặt hoặc có khi tuy có chú ý đến nhiều mặtnhưng không nhìn thấy được mặt bản chất của sự vật Quan điểm toàn diệncũng góp phần khắc phục lối suy nghĩ giản đơn
Quan điểm toàn diện còn có ý nghĩa trong việc chống chủ nghĩa chiếtTrung mà đặc trưng của nó là nhân danh quan điểm toàn diện để kết hợp mộtcách vô nguyên tắc những mặt khác nhau mà thực chất là không thể kết hợpvới nhau được Trong mối liên hệ qua lại giữa sự vật đó với các sự vật khác(kể cả trực tiếp và gián tiếp)
Hơn thế nữa, quan điểm toàn diện còn đòi hỏi để nhận thức được sự vậthiện tượng chúng ta cần xem xét nó trong mối liên hệ với nhu cầu thực tiễncủa con người Quan điểm toàn diện đối lập với quan điểm phiến diện khôngchỉ ở chỗ nó chú ý tới nhiều mặt, nhiều mối kiên hệ Việc chú ý tới nhiều mặt,nhiều mối liên hệ của sự vật vẫn có thể là phiến diện, nếu chúng ta đánh giángang nhau những thuộc tính, những tính quy định khác nhau của sự vật đượcthẻ hiện trong những mối liên hệ khác nhau đó Quan điểm toàn diện chânthực đòi hỏi chúng ta phải đi từ tri thức về nhiều mặt, nhiều mối liên hệ của
sự vật đến chỗ khái quát đẻ rút ra cái bản chất chi phối sự tồn tại và phát triểncủa sự vật hay hiện tượng đó
Trang 13Quan điểm toàn diện khác với chủ nghĩa chiết trung và thuật nguỵ biện.Chủ nghĩa chiết trung tuy cũng tỏ ra chú ý tới nhiều mặt khác nhau thế nhưnglại kết hợp vô nguyên tắc các mối liên hệ khác nhau của sự vật Chính vì vậyhoàn toàn bất lực khi phải đưa ra một quyết sách đúng Còn thuật nguỵ biệncũng để ý tới những mặt khác nhau của sự vật, nhưng lại đưa cái không cơbản thành cái cơ bản, cái không bản chất thành cái bản chất.Ví dụ: biện hộcho việc ăn cướp là vì nghèo Theo luật Hình sự thì đây chỉ là tình tiết giảmnhẹ mà thôi-> vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự Cả hai đều đưa đến nhứngkết luận sai lầm.
Ngoài ra, cần có quan điểm lịch sử - cụ thể Vì sự vật nào cũng có quátrình hình thành tồn tại, biến đổi và phát triển, mỗi giai đoạn phát triển của sựvật lại có những mối liên hệ riêng đặc trưng cho nó Cho nên khi xem xét sựvật vừa phải xem xét quá trình phát triển của nó, vừa phải xem xét trong từngđiều kiện Do đó cần phải có quan điểm lịch sử - cụ thể
Phép biện chứng của Hê-ghen nói rằng mọi sự trên thế gian này đềuluôn luôn vận động và phát triển Trong quá trình vận động, phát triển đó, thì
ở mỗi giai đoạn nhất định, tương ứng với một trình độ phát triển nhất định, sẽ
có những khái niệm, phạm trù, quy luật nhất định Hết giai đoạn đó thì cáckhái niệm, phạm trù, quy luật đặc thù của giai đoạn đó sẽ tiêu vong, thay thếbằng các khái niệm, phạm trù, quy luật khác, đặc trưng cho giai đoạn mới Cái
đó chính là quan điểm lịch sử vậy Ví dụ : Nét đặc trưng của xã hội loài người
là con người ta phải sản xuất thì mới có thể tồn tại và phát triển Thời đại nàocũng phải sản xuất hết Như thế, nói theo ngôn ngữ biện chứng thì sản xuất làmột phạm trù “vĩnh viễn”, nghĩa là nó luôn luôn xảy ra, bất kể trong hình thái
xã hội nào, ở giai đoạn nào Nhưng nền sản xuất ở mỗi thời đại lại có nhữngnét riêng biệt Thời phong kiến, nét chủ đạo của nền sản xuất xã hội là ở chỗ:
xã hội gồm hai giai cấp chính – nông nô và lãnh chúa Nông nô lao động trênphần đất do lãnh chúa giao cho, và phải nộp một phần hoa lợi cho lãnh chúa
Đó là phương thức sản xuất phong kiến