1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận: Vận dụng yêu cầu nguyên tắc khách quan, toàn diện của CNDVBC để xem xét vấn đề học tập và rèn luyện của sinh viên hiện nay

15 269 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 267,21 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tiểu luận: Vận dụng yêu cầu nguyên tắc khách quan, toàn diện của chủ nghĩa duy vật biện chứng để xem xét vấn đề học tập và rèn luyện của sinh viên hiện nay khái quát lý luận về Nguyên tắc khách quan, toàn diện của CNDVBC để liên hệ với thực tiễn và vận dụng nguyên tắc khách quan, toàn diện của CNDVBC để xem xét vấn đề học tập và rèn luyện của sinh viên Việt Nam hiện nay

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

o0o

TIỂU LUẬN MÔN NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA

MÁC - LÊNIN

Đề tài: Vận dụng yêu cầu nguyên tắc khách quan, toàn diện của CNDVBC để xem

xét vấn đề học tập và rèn luyện của sinh viên hiện nay

Giảng viên hướng dẫn:

Học viên:

Mã lớp:

Hà Nội, 05/2020

Trang 2

Mục lục

LỜI MỞ ĐẦU 3

1 Lý do chọn đề tài 3

2 Tổng quan đề tài 3

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đề tài 3

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu đề tài 3

5 Phương pháp nghiên cứu đề tài 4

6 Đóng góp của đề tài 4

7 Kết cấu của đề tài 4

Chương 1: Nguyên tắc khách quan, toàn diện của CNDVBC 5

1.1 Nguyên tắc khách quan 5

1.1.1 Nội dung của nguyên tắc khách quan 5

1.1.2 Yêu cầu của nguyên tắc khách quan 5

1.1.3 Vai trò của nguyên tắc khách quan trong nhận thức và hoạt động cải tạo thế giới 6

1.2 Quan điểm toàn diện 7

1.2.1 Nội dung của quan điểm toàn diện 7

1.2.2 Yêu cầu của quan điểm toàn diện 8

1.2.3 Vai trò của quan điểm toàn diện trong nhận thức và hoạt động thực tiễn 8

Chương 2: Vận dụng nguyên tắc khách quan, toàn diện của CNDVBC để xem xét vấn đề học tập và rèn luyện của sinh viên Việt Nam hiện nay 10

2.1 Thực trạng vấn đề học tập của sinh viên Việt Nam hiện nay 10

2.2 Giải pháp nâng cao vấn đề học tập và rèn luyện của sinh viên Việt Nam hiện nay nhờ nguyên tắc khách quan, toàn diện 11

2.2.1 Giải pháp cải thiện khả năng học tập của sinh viên Việt Nam 11

2.2.2 Giải pháp nâng cao kĩ năng mềm trong cuộc sống hằng ngày của sinh viên Việt Nam 11

Kết luận 14

Tài liệu tham khảo 15

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Nguyên tắc khách quan và quan điểm toàn diện, với tư cách là những nguyên tắc của phương pháp luận, đã góp phần không nhỏ trong việc chỉ đạo hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn cải tạo hiện tượng, sự vật thực tế và cải tạo chính bản thân chúng ta Tuy vậy, để có thể áp dụng các nguyên tắc này một cách hợp lý

và sáng tạo vào cuộc sống của chúng ta thì ta cần nắm chắc cơ sở lý luận và nguyên lý về mối liên hệ phổ biến của chúng Đối với sinh viên, họ có thể sử dụng các nguyên tắc này ngay từ khi còn đang ngồi trên ghế nhà trường để áp dụng vào thực hiện nhiêm vụ chính trị của mình góp phần nâng cao đời sống xã hội, đấy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh, phồn thịnh Trong bài tiểu luận này, với sự hướng dẫn của giáo viên bộ môn, em xin được làm về đề tài “Vận dụng yêu cầu nguyên tắc khách quan, toàn diện của chủ nghĩa duy vật biện chứng để xem xét vấn đề học tập và rèn luyện của sinh viên hiện nay”

2 Tổng quan đề tài

Nguyên tắc khách quan toàn diện của chủ nghĩa duy vật biện chứng là một vấn đề rất thực tế để làm đề tài nghiên cứu và đã được rất nhiều nhà triết học nghiên cứu về vấn đề này và cho rất nhiều các kết quả khả quan

Ở trong nước, hay cụ thể là ở trường Đại học Bách khoa Hà Nội, đề tài này mới chỉ được nghiên cứu như một bài luận nhỏ mang tính chất tham khảo Hiện nay, ta tiếp thu những thành tựu trước đó và tiếp tục nghiên cứu về vấn đề trên

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đề tài

Mục đích của bài tiểu luận trên là tiếp cận được nguyên tắc khách quan toàn diện của chủ nghĩa duy vật biện chứng qua đó nhận xét liên hệ với vấn đề học tập

và rèn luyện của sinh viên hiện nay

Nhiệm vụ của bài tiểu luận này là:

Phân tích nguyên tắc khách quan toàn diện của chủ nghĩa duy vật biện chứng Đánh giá ý nghĩa và giải pháp áp dụng nguyên tắc này đối với sinh viên hiện nay trong học tập và rèn luyện

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu đề tài

Đối tượng của bài luận này là vấn đề học tập và rèn luyện của sinh viên hiện nay

Trang 4

Phạm vi: Do đây chỉ là một bài tiểu luận nên có sự giới hạn của nó trong việc nghiên cứu Vì thế ở bài tiểu luận này ta chỉ làm rõ một phần nội dung ý nghĩa của nguyên tắc khách quan toàn diện đối với sinh viên Việt Nam hiện nay trong học tập và rèn luyện

5 Phương pháp nghiên cứu đề tài

Cơ sở phương pháp luận của định hướng nghiên cứu là những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin

Ngoài phương pháp luận, bài tiểu luận còn sử dụng các phương pháp cụ thể như phân tích, tổng hợp, đối chiếu, so sánh,

6 Đóng góp của đề tài

Bài tiểu luận là cơ sở để đánh giá quá trình học tập, tự nghiên cứu, tìm hiểu các nội dung học phần Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin Ngoài

ra bài tiểu luận có thể làm dữ liệu tham khảo cho sinh viên về sau

7 Kết cấu của đề tài

Bài tiểu luận được chia thành 2 chương và 4 tiết

Trang 5

Chương 1: Nguyên tắc khách quan, toàn diện của CNDVBC

1.1 Nguyên tắc khách quan

Nguyên tắc khách quan của mối liên hệ biểu hiện: các mối liên hệ là vốn có của mọi sự vật, hiện tượng, không phụ thuộc vào ý thức của con người

1.1.1 Nội dung của nguyên tắc khách quan

Xuất phát từ lập trường của chủ nghĩa duy vật biện chứng, Ăngghen đã khẳng định tư duy biện chứng có tính chất khách quan Ông đã viết: "Biện chứng gọi là khách quan thì chi phối trong toàn bộ giới tự nhiên, còn biện chứng gọi là chủ quan, tức là tư duy biện chứng, thì chỉ là phản ánh sự chi phối, trong toàn bộ giới

tự nhiên, của sự vận động"

Từ quan niệm đó của Ăngghen, chúng ta có thể rút ra những nhận xét: Biện chứng chủ quan, tức là tư duy biện chứng, và biện chứng khách quan, về thực chất

là thống nhất Bởi vì tư duy của con người và tồn tại khách quan là có tính thống nhất, tư duy có thể phản ánh tồn tại một cách chân thực

Xuất phát từ nguyên tắc khách quan, trong "Bút ký triết học" Lênin đã nhiều lần khẳng định sự thống nhất giữa phép biện chứng, nhận thức luận và lôgic học Chính vì vậy, chúng ta coi những quy luật cơ bản của phép biện chứng là nền tảng của lôgic biện chứng cũng như những quy luật đồng nhất, phi mâu thuẫn và bài trung là nền móng của lôgic hình thức Ngoài quy luật chung của phép biện chứng, lôgic biện chứng còn nghiên cứu những quy luật riêng của tư duy biện chứng Những quy luật này được vận dụng trong nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người sẽ trở thành những phương pháp tư duy biện chứng

Quy luật của thế giới khách quan và hoạt động thực tiễn của con người chỉ là

cơ sở và căn cứ khách quan để hình thành phương pháp tư duy mà không phải là bản thân phương pháp tư duy Quy luật khách quan và hoạt động thực tiễn của con người phải được nội hóa vào trong đầu óc con người, chuyển hóa thành quy luật bên trong của hoạt động tư duy, thông qua các hình thức lôgic liên hệ với hoat động tinh thần của con người mới có thể trở thành phương pháp tư duy, thành quy tắc suy nghĩ của con người Phương pháp tư duy là quy luật khách quan mà con người đã nhận thức được và trở thành những quy tắc, trình tự bước đi và biện pháp

Tóm lại, phương pháp tư duy không thể trái với quy luật mà phải phù hợp với

nó, do đó mà có tính khách quan của tư duy con người

1.1.2 Yêu cầu của nguyên tắc khách quan

Yêu cầu của nguyên tắc khách quan được tóm tắt như sau:

Trang 6

Khi nhận thức khách thể (đối tượng), sự vật, hiện tượng tồn tại trong hiện thực – chủ thể tư duy phải nắm bắt, tái hiện nó trong chính nó mà không được thêm hay bớt một cách tùy tiện

Vật chất là cái có trước tư duy Vật chất tồn tại vĩnh viễn và ở một giai đoạn phát triển nhất định của mình nó mới sản sinh ra tư duy Do tư duy phản ánh thế giới vật chất, nên trong quá trình nhận thức đối tượng ta không được xuất phát từ

tư duy, từ ý kiến chủ quan của chúng ta về đối tượng mà phải xuất phát từ chính bản thân đối tượng, từ bản chất của nó, không được “bắt” đối tượng tuân theo tư duy mà phải “bắt” tư duy tuân theo đối tượng Không ép đối tượng thỏa mãn một

sơ đồ chủ quan hay một “lôgíc” nào đó, mà phải rút ra những sơ đồ từ đối tượng, tái tạo trong tư duy các hình tượng, tư tưởng- cái lôgíc phát triển của chính đối tượng đó

Khi nhận thức các hiện tượng xã hội chúng ta phải chú trọng đến mức độ quan tâm và năng lực nhận thức của các lực lượng xã hội đối với việc giải quyết các vấn đề xã hội, đối với khuynh hướng phát triển của các hiện tượng xã hội, đối với việc đánh giá tình hình xã hội … những đánh giá có giá trị hơn, những cách giải quyết đúng hơn thường là những đánh giá, những cách giải quyết thuộc về các lực lượng xã hội biết đứng trên lập trường của giai cấp tiên tiến, của những lực lượng cách mạng của thời đại đó Vì vậy tính khách quan trong xem xét các hiện tượng xã hội nhất quán với nguyên tắc tính đảng Việc xem thường nguyên tắc này

dễ dẫn đến vi phạm yêu cầu của nguyên tắc khách quan trong xem xét, dễ biến nó thành chủ nghĩa khách quan, cản trở việc nhận thức đúng đắn các hiện tượng xã hội phức tạp

1.1.3 Vai trò của nguyên tắc khách quan trong nhận thức và hoạt động cải tạo thế

giới

Nguyên tắc khách quan đòi hỏi việc nhận thức phải dựa vào những cơ sở thực

tế khách quan, xuất phát từ chính bản thân đối tượng, từ những thuộc tính và mối liên hệ vốn có của nó, từ những quy luật vận động và phát triển của bản thân nó; không thể dựa vào ý muốn chủ quan hoặc lấy ý chí chủ quan áp đặt cho thực tế, đồng thời không được cắt xén, không được gán ghép cho sự vật, hiện tượng những

gì mà chúng vốn không có Trong Bút ký triết học, V.I.Lênin chỉ ra rằng, “tính khách quan của sự xem xét (không phải thí dụ, không phải dài dòng, mà bản thân

sự vật tự nó)”

Nắm vững và vận dụng đúng đắn nguyên tắc khách quan sẽ góp phần thiết thực trong việc xây dựng năng lực tư duy biện chứng cho người học Việc quán triệt nguyên tắc này giúp họ thấy được rằng, phải quan sát các sự vật và hiện tượng trong thực tế hoặc phải tiến hành các thí nghiệm khoa học để có được những tư liệu cần thiết nhằm rút ra tri thức khoa học đúng đắn Những kết quả nghiên cứu

Trang 7

phải được kiểm tra, đối chiếu, so sánh và đánh giá có phù hợp với hiện thực khách quan hay không Nắm vững nguyên tắc khách quan giúp người học hiểu được sự cần thiết phải quan sát thực tế một cách tỉ mỉ, chính xác; phải xuất phát từ bản thân đối tượng, phải xem xét đối tượng đúng như nó vốn có trong thực tế

Bản thân các sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan không tồn tại cô lập, tách rời, mà tồn tại trong những mối liên hệ hữu cơ với nhau Hơn nữa, những mối liên hệ ấy lại vô cùng phong phú, đa dạng và hết sức phức tạp, bao gồm cả những mối liên hệ bản chất và không bản chất, tất nhiên và ngẫu nhiên, chủ yếu và thứ yếu Vì thế, khi nhận thức thế giới khách quan, tư duy biện chứng đòi hỏi phải tuân thủ nguyên tắc toàn diện V.I.Lênin viết: “Muốn thực sự hiểu được sự vật, cần phải nhìn bao quát và nghiên cứu tất cả các mặt, tất cả các mối liên hệ và “quan hệ gián tiếp” của sự vật đó Chúng ta không thể làm được điều đó một cách hoàn toàn đầy đủ, nhưng sự cần thiết phải xét tất cả mọi mặt sẽ đề phòng cho chúng ta khỏi phạm phải sai lầm và sự cứng nhắc”

1.2 Quan điểm toàn diện

Phép biện chứng duy vật là một bộ phận lý luận cơ bản hợp thành thế giới quan và phương pháp luận khoa học để nhận thức và cải tạo thế giới, nghiên cứu những quy luật chung nhất của sự vận động và phát triển của tự nhiên, xã hội

và tư duy Phép biện chứng duy vật được xây dựng trên cơ sở một hệ thống gồm 2 nguyên lý (nguyên lý về mối liên hệ phổ biến, nguyên lý về sự phát triển), 6 cặp phạm trù cơ bản (cái riêng-cái chung, nguyên nhân-kết quả, tất nhiên-ngẫu nhiên, nội dung-hình thức, bản chất-hiện tượng, khả năng-hiện thực), 3 quy luật cơ bản (quy luật chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng thành những sự thay đổi về chất và ngược lại, quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập, quy luật phủ định của phủ định) Từ 2 nguyên lý cơ bản trên, ta xây dựng được 3 quan điểm: quan điểm toàn diện, quan điểm phát triển và quan điểm lịch sử - cụ thể Trong đó, quan điểm toàn diện có một vai trò quan trọng bởi bất cứ sự vật hiện tượng nào trong thế giới đều tồn tại trong mối liên hệ với các sự vật hiện tượng khác và mối liên hệ rất đa dạng, phong phú Do đó, quan điểm toàn diện có ý nghĩa hết sức thiết thực trong cuộc sống

1.2.1 Nội dung của quan điểm toàn diện

Quan điểm toàn diện đã được phép biện chứng duy vật khái quát từ nội dung của nguyên lý về mối liên hệ phổ biến

“Mối liên hệ” là một phạm trù triết học dùng để chỉ các mối ràng buộc tương

hỗ, quy định và ảnh hưởng lẫn nhau giữa các yếu tố, bộ phận trong một đối tượng hoặc giữa các đối tượng với nhau

Trang 8

“Mối liên hệ phổ biến” dùng để chỉ tính phổ biến của các mối liên hệ giữa các

sự vật, hiện tượng của thế giới, đồng thời cũng dùng để chỉ các mối liên hệ tồn tại

ở nhiều sự vật, hiện tượng của thế giới, trong đó những mối liên hệ phổ biến nhất

là những mối liên hệ tồn tại ở mọi sự vật, hiện tượng của thế giới Đó là các mối liên hệ giữa: các mặt đối lập, chất và lượng, khẳng định và phủ định, cái chung và cái riêng,…

Mọi mối liên hệ của các sự vật, hiện tượng là khách quan, là cái vốn có của mọi sự vật, hiện tượng, con người chỉ nhận thức và vận dụng các mối liên hệ đó trong hoạt động thực tiễn của mình Mối liên hệ còn mang tính phổ biến bởi bất cứ

sự vật, hiện tượng nào cũng liên hệ với sự vật, hiện tượng khác; bất cứ sự vật, hiện tượng nào cũng bao gồm những yếu tố cấu thành với những mối liên hệ bên trong của nó

Ngoài tính khách quan, tính phổ biến, phép biện chứng duy vật còn khẳng định tính phong phú, đa dạng của mối liên hệ Sự vật, hiện tượng hay quá trình khác nhau đều có mối liên hệ khác nhau, giữ vị trí, vai trò khác nhau đối với sự tồn tại và phát triển của nó Mặt khác, cùng một mối liên hệ nhất định, ở những giai đoạn khác nhau trong quá trình vận động, phát triển của sự vật thì cũng có những tính chất và vai trò khác nhau Tính phong phú, đa dạng của mối liên hệ còn bao hàm quan niệm về sự phong phú, đa dạng của các mối liên hệ phổ biến ở các mối liên hệ đặc thù trong mỗi sự vật, hiện tượng, mỗi quá trình cụ thể, trong những điều kiện không gian và thời gian cụ thể

1.2.2 Yêu cầu của quan điểm toàn diện

Quan điểm toàn diện đòi hỏi trong nhận thức và xử lý các tình huống thực tiễn cần phải xem xét sự vật trong mối quan hệ biện chứng qua lại giữa các bộ phận, giữa các yếu tố, giữa các mặt của chính sự vật và trong sự tác động qua lại giữa sự vật đó với các sự vật khác Đồng thời quan điểm toàn diện đòi hỏi chúng ta phải biết phân biệt từng mối liên hệ, phải biết chú ý tới mối liên hệ bên trong, mối liên hệ bản chất, mối liên hệ chủ yếu,…Chỉ trên cơ sở đó mới có thể nhận thức đúng về bản chất của sự vật và xử lý có hiệu quả các vấn đề của đời sống thực tiễn nhằm đem lại hiệu quả cao nhất trong hoạt động của bản thân Như vậy, quan điểm toàn diện đối lập với quan điểm phiến diện, siêu hình trong nhận thức và đời sống

1.2.3 Vai trò của quan điểm toàn diện trong nhận thức và hoạt động thực tiễn

Từ việc nghiên cứu về mối liên hệ phổ biến của sự vật hiện tượng, triết học Mác – Lênin rút ra quan điểm toàn diện trong nhận thức Vì bất cứ sự vật, hiện tượng nào trên thế giới đều tồn tại trong mối liên hệ với các sự vật, hiện tượng khác và mối liên hệ rất phong phú, đa dạng, do đó khi nhận thức về sự vật, hiện

Trang 9

tượng, chúng ta phải có quan điểm toàn diện, tránh quan điểm phiến diện chỉ xét sự vật, hiện tượng ở một mối liên hệ đã vội vàng kết luận về bản chất hay về tính quy luật của nó

Trong hoạt động thực tiễn, theo quan điểm toàn diện, khi tác động vào sự vật, chúng ta vừa phải chú ý tới những mối liên hệ nội tại của nó, vừa phải chú ý tới những mối liên hệ giữa sự vật ấy với các sự vật khác Từ đó ta phải biết sử dụng đồng bộ các biện pháp, các phương tiện khác nhau để tác động vào sự vật nhằm đem lại hiệu quả cao nhất Hơn thế nữa, quan điểm toàn diện đòi hỏi, để nhận thức được sự vật cần phải xem xét nó trong mối liên hệ với nhu cầu thực tiễn của con người Ứng với mỗi con người, mỗi thời đại và trong một hoàn cảnh lịch sử nhất định, con người bao giờ cũng chỉ phản ánh được một số lượng hữu hạn những mối liên hệ Bởi vậy, tri thức đạt được về sự vật cũng chỉ là tương đối, không đầy đủ trọn vẹn Ý thức được điều này, chúng ta mới tránh được việc tuyệt đối hóa những tri thức đã có về sự vật và tránh xem nó là những chân lí bất biến, tuyệt đối không thể bổ sung, không thể phát triển Để nhận thức được sự vật, cần phải nghiên cứu tất cả các mối liên hệ, cần thiết phải xem xét tất cả mọi mặt để đề phòng cho chúng

ta khỏi phạm phải sai lầm và sự cứng nhắc

Quan điểm toàn diện đối lập với quan điểm phiến diện không chỉ ở chỗ nó chú ý tới nhiều mặt, nhiều mối liên hệ Việc chú ý tới nhiều mặt, nhiều mối liên hệ vẫn có thể là phiến diện nếu chúng ta đánh giá ngang nhau những thuộc tính, những quy định khác nhau của sự vật được thể hiện trong những mối liên hệ khác nhau đó Quan điểm toàn diện chân thực đòi hỏi chúng ta phải đi từ tri thức về nhiều mặt, nhiều mối liên hệ của sự vật đến chỗ khái quát để rút ra cái bản chất chi phối sự tồn tại và phát triển của sự vật hay hiện tượng đó

Trang 10

Chương 2: Vận dụng nguyên tắc khách quan, toàn diện của CNDVBC để xem xét vấn đề học tập và rèn luyện của sinh viên Việt Nam hiện nay

2.1 Thực trạng vấn đề học tập của sinh viên Việt Nam hiện nay

Nói đến sinh viên Việt Nam tức là nói đến một thế hệ trẻ đầy sức sống và sức sáng tạo Họ nắm trong tay tri thức của thời đại, chìa khóa mở ra cánh cửa cho tiến

bộ xã hội nói chung và sự phát triển của đất nước nói riêng Nhưng xã hội ngày càng văn minh hiện đại, công nghệ thông tin ngày càng phát triển, công cuộc hội nhập với thế giới càng cao, đời sống con người càng được nâng cao thì càng đặt ra cho sinh viên, tầng lớp tri thức, giới trẻ ngày nay càng nhiều thử thách Những điều này đã ảnh hưởng không ít tới việc học tập của sinh viên Việt Nam ngày nay

Một trong những thực trạng hiện nay đó là cách học thụ động của sinh viên

Đa số sinh viên ít quan tâm đến mục đích của từng môn học mà chỉ quan tâm đến nội dung trong môn học đó để đối phó với thi cử Khi lên lớp, sinh viên chủ yếu để nghe giảng, ghi chép và hoàn toàn dựa vào sự chỉ bảo, hướng dẫn của giảng viên, chỉ học và thực hiện những gì do giảng viên yêu cầu, nếu giảng viên không đọc thì sinh viên cũng không chép, chỉ ngồi nghe và thực tế là kiến thức đọng lại trong đầu khi đó sẽ rất ít, thậm chí là không có gì Hơn nữa sinh viên cũng không có thói quen đọc giáo trình và tự tìm tòi các tài liệu liên quan tới môn học mặc dù có nhiều thời gian rảnh

Bên cạnh đó, các bạn sinh viên ngày nay còn có những nhận thức lệch lạc, chưa xem xét kỹ các vấn đề trong đời sống mà đã vội vàng kết luận dẫn đến những quan điểm sai lầm làm ảnh hưởng tới việc học tập Hiện nay các bạn trẻ đang có xu hướng vừa đi học vừa đi làm thêm, một số thì cho rằng đi làm thêm với mục đích chính là muốn tiếp xúc với xã hội, phát triển các kỹ năng mềm, tạo dựng các mỗi quan hệ… Nhưng không phải ai cũng cũng có mục tiêu đó, có những bạn do hoàn cảnh khó khăn muốn đi làm để kiếm tiền phụ giúp gia đình, có những bạn thì chỉ

có mục đích là dùng cho việc chi tiêu hàng ngày… Rồi dần dần, các bạn sinh viên lại hứng thú với việc đi làm thêm để kiếm tiền hơn là việc học Bắt đầu nảy sinh các quan điểm thiếu tính khách quan, chỉ nhìn nhận một mặt của vấn đề, cho rằng

có tiền sẽ mua được những thứ mình thích, đi chơi tiêu xài không phải lo nghĩ…nhưng chỉ nhận thấy lợi ích trước mắt mà không nhận ra hậu quả phải đánh đổi chính là thời gian để học Càng ngày các bạn ấy lại càng cố gắng đi kiếm tiền lãng quên đi mục đích chính là học tập, bỏ bê việc học dẫn đến kết quả sa sút, thậm chí còn bị buộc thôi học…

Ngày đăng: 12/12/2020, 10:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w