Để tìm hiểu thực trạng môi trường, những ảnh hưởng tíchcực và tiêu cực của làng nghề Vạn Phúc dựa vào cảm nhận của người dân sốngtrong khu vực làng nghề, khách du lịch đến tham quan và đ
Trang 1Mục lục
1
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Nhờ lụa, người dân Vạn Phúc trong vài năm trở lại đây đã có sự đi lên nhanhchóng về kinh tế Việc sản xuất, kinh doanh sản phẩm làng nghề đã góp phần làmtăng thu nhập cho người dân, đóng góp đáng kể vào sự tăng trưởng của phường VạnPhúc đồng thời là động lực cho một số ngành kinh doanh dịch vụ khác phát triển.Bên cạnh những lợi ích kinh tế do làng nghề thì vấn đề môi trường, sự ảnh hưởngcủa làng nghề đến đời sống dân cư lại đang là thực trạng đáng báo động Ngàytrước, các nghệ nhân của làng tạo ra những tấm lụa bên khung cửi bằng gỗ, thuốcnhuộm màu hay tẩy trắng cho lụa chỉ là những nguồn nguyên liệu dân gian được lấy
từ thực vật lá cây hay các loại hoa, quả Giờ đây người làm lụa làng Vạn Phúc đãthay dần bằng những phương pháp mới Trong quá trình nhuộm màu cũng như tẩytrắng lụa, người ta không còn dùng nguyên liệu tự nhiên, thợ làm lụa bây giờ hoàntoàn sử dụng hóa chất Từ chính quá trình thay đổi căn bản trong sản xuất này màmôi trường quê lụa Vạn Phúc đang đứng trước những đe dọa rất lớn với sức khỏecủa con người Điều này đòi hỏi sự quan tâm của các cơ quan chức năng, các tổchức quản lý và cộng đồng dân cư Tuy nhiên, hiện nay công tác quản lý môi trườngtrên địa bàn làng nghề Vạn Phúc vẫn còn nhiều bất cập chưa được giải quyết, cácxung đột vẫn còn xảy ra Để tìm hiểu thực trạng môi trường, những ảnh hưởng tíchcực và tiêu cực của làng nghề Vạn Phúc dựa vào cảm nhận của người dân sốngtrong khu vực làng nghề, khách du lịch đến tham quan và đề xuất một số giải phápnâng cao hiệu quả quản lý, khắc phục các xung đột đã và đang xảy ra, nhóm 3 đã
lựa chọn và thực hiện đề tài “ Ảnh hưởng của làng nghề Vạn Phúc đến đời sống dân cư”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Tìm hiểu ảnh hưởng của làng nghề đến đời sống dân cư dựa vào cảm nhậncủa người dân sống trong khu vực làng nghề, khách du lịch đến tham quan làngnghề, từ đó đánh giá hiệu quả quản lý và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quảnlý
Lập phiếu phỏng vấn điều tra cảm nhận của người dân sống trong khu vực vàkhách du lịch về môi trường sống và công tác quản lý tại làng nghề
Xử lý số liệu điều tra; đề xuất các giải pháp quản lý
Trang 3CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU KHU VỰC NGHIÊN CỨU
1.1. Lịch sử hình thành và phát triển làng nghề Vạn Phúc
Làng nghề dệt lụa Vạn Phúc (làng lụa Hà Đông) được phát triển từ rất sớm
do một người có tên là Lã Thị Nga có công tạo dựng nên ( khoảng giữa thế kỉ VIII, trong thời kì nước ta bị nhà Đường đô hộ) Trải qua các giai đoạn phát triển,lụa Vạn Phúc dần khẳng định danh tiếng, từng được chọn để may trang phục triềuđình và đặc biệt được ưa chuộng dưới triều nhà Nguyễn Lụa Vạn Phúc được giớithiệu lần đầu ra quốc tế tại hội chợ Marseille (1931) Từ 1958, lụa Vạn Phúc đượcxuất sang các nước Đông Âu Từ 1990, mở rộng xuất khẩu ra nhiều quốc gia trênthế giới Ngày nay, cùng với quá trình đô thị hóa làng nghề vạn phúc đã thay đổi rấtnhiều nhưng vẫn giữ được nhiều nét cổ kính Hiện tại, Hiệp hội làng nghề Vạn Phúcđược thành lập từ năm 2001 đã phát huy và đi vào hoạt động hơn 10 năm nay nhằmmục đích bảo vệ và phát triển sản xuất Từ đó mà thương hiệu “Lụa Hà Đông” đã vàđang được giữ gìn cũng như giới thiệu ra nhiều nơi trên thế giới
VII-Theo phòng kinh tế quận Hà Đông, Vạn Phúc hiện có gần 800 hộ dân làmnghề dệt, chiếm gần 60% trên tổng số hộ sinh sống tại làng nghề Hàng năm, VạnPhúc sản xuất từ 2,5 đến 3 triệu m2 vải, chiếm 63% doanh thu của toàn bộ làng nghề(khoảng 27 tỷ đồng) Trong nhiều gia đình, khung dệt cổ vẫn được giữ lại, xen lẫnvới các khung dệt cơ khí hiện đại Hiện nay, Vạn Phúc có trên 1.000 máy dệt vàhàng ngày có khoảng 400 lao động thời vụ từ quanh vùng đến đây làm việc Cửahàng bán lụa tơ tằm mọc lên ngày càng nhiều, hình thành ba dãy phố lụa với trên
100 cửa hàng nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của du khách
1.2. Vị trí và ranh giới
Làng vạn Phúc nằm ở phía Tây Bắc quận Hà Đông (nay là phường VạnPhúc), cách trung tâm quận Hà Đông 1km và cách trung tâm Hà Nội 10km, là mộtdải đất hình thoi Phía Tây giáp với xã Văn Khê; phía Đông giáp với sông Nhuệ và
xã Văn Yên; phía Nam giáp với hai phường Quang Trung và Yết Kiêu; phía Bắcgiáp với làng Ngọc Trụ và Đại Mỗ - huyện Từ Liêm – Hà Nội
Phường Vạn Phúc có mối liên hệ với Sông Nhuệ nên có thuận lợi về giaothông đường thủy Đặc biệt nơi đây gần đường 430 là con đường lớn thông vớiđường Nguyễn Trãi đi qua trung tâm thành phố Hà Nội cho nên rất thuận tiện chogiao thông buôn bán và các hoạt động dịch vụ khác
3
Trang 4Hình 1: Sơ đồ làng nghề Vạn Phúc
Trang 5CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Phương pháp kế thừa và tổng hợp thông tin
Phương pháp kế thừa và tổng hợp thông tin thực là phương pháp mà ngườinghiên cứu tìm kiếm các tài liệu nhằm kế thừa các kết quả đã sẵn có từ trước đó và
bổ sung những thông tin dữ liệu còn thiếu trong quá trình khảo sát thực địa Nhữngtài liệu tìm kiếm là những báo cáo khoa học, tài liệu tham khảo, luận văn, sáchchuyên ngành, các bộ luật hoặc văn bản dưới luật do chính phủ và các bộ liên quancông bố
Nhóm vận dụng phương pháp trên để tìm hiểu lịch sử phát triển của làngnghề Vạn Phúc, quy trình sản xuất dệt nhuộm,số các chỉ số ô nhiễm so sánh với cáctiêu chuẩn và quy chuẩn… nhằm đưa ra đánh giá, thống kê có căn cứ cho hiện trạngmôi trường làng nghề và những ảnh hưởng của hoạt động sản xuất đến đời sống sảnxuất của cộng đồng địa phương Áp dụng những công cụ pháp lí tìm ra những viphạm trong sản xuất và lỗ hổng sơ sót trong hiện trạng quản lí môi trường làngnghề, từ đó đưa ra được các biện pháp cụ thể trong thực tiễn
2.2. Phương pháp khảo sát thực địa
Cả nhóm tiến hành khảo sát thực địa tại khu vực làng nghề Vạn Phúc,phường Vạn Phúc, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội Quá trình thực địa tiến hànhtrong ngày 21/4/2017 và thu thập được 52 phiếu tham vấn cộng đồng
Mục đích của quá trình khảo sát thực địa: Đánh giá ảnh hưởng của hoạt độnglàng nghề Vạn Phúc đời sống dân cư bao gồm: Thu thập thông tin về hoạt động sảnxuất dệt nhuộm, hiện trạng quản lý, hoạt động của khách du lịch trên khu vựcnghiên cứu, quan sát, chụp ảnh, quay video và phỏng vấn trực tiếp trên khu vựclàng nghề Vạn Phúc
2.3. Phương pháp điều tra xã hội học
Phương pháp điều tra xã hội học được nhóm áp dụng để điều tra, đánh giáảnh hưởng của làng nghề Vạn Phúc đến đời sống của người dân nơi đây Trước khitiến hành điều tra cả nhóm đã lên ý tưởng thiết kế phiếu phỏng vấn bằng bảng hỏi
Phương pháp tiến hành điều tra:
• Hình thức: Phiếu phỏng vấn bằng bảng hỏi
• Phỏng vấn 52 hộ gia đình và bất kì ai gặp trên đường trong khu vực gồmđối tượng sản xuất, đối tượng không sản xuất và đối tượng du lịch
5
Trang 6Bảng 1: Nội dung phiếu hỏi
Đối tượng sản xuất Đối tượng không
sản xuất Đối tượng du lịch
Phần chung
Họ và tên, tuổi, địa chỉ, nghề nghiệp, sốnhân khẩu, nguồn thu nhập chính
1 Hiện trạng môi trường làng nghề
2 Xung đột trong khu vực làng nghề
3 Sức khỏe cộng đồng trong khu vựclàng nghề
4 Hiện trạng quản lý làng nghề tại địaphương
Họ và tên, tuổi,nghề nghiệp, địachỉ
Phần riêng
-Đặc điểm cơ sở sảnxuất
- Cảm nhận vềmôi trường làngnghề
- Những xung độttrong môi trườnglàng nghề
Loại câu hỏi
- Câu hỏi đóng: Thuộc dạng câu hỏi có đáp án sẵn
mà nhóm đã đưa ra cho người được phỏng vấnđược lựa chọn
- Câu hỏi mở: Là những câu hỏi không có đáp ánsẵn, người được phỏng vấn sẽ nói theo những gì họbiết và nhóm sẽ ghi chép các ý mà họ nói
(Phụ lục 1: Phiếu điều tra)
Lưu ý khi phỏng vấn:
• Ghi chép lại thông tin nhanh, chính xác (có thể sử dụng thiết bị thu âm)
• Quan sát biểu cảm, ứng xử khéo léo đề cao lợi ích người được phỏngvấn, lựa chọn đưa ra những câu hỏi một cách phù hợp, tránh những vấn
đề tế nhị
• Không nài nỉ, kì kèo khi người phỏng vấn từ chối trả lời câu hỏi
Trang 7Hình 2: Quá trình phỏng vấn tại làng nghề Vạn Phúc
2.4 Phương pháp xử lý số liệu trên excel
Xử lí thông tin chia ra:
• Định tính: Dựa vào suy luận logic để suy luận để đưa ra đánh giá nhận xét
• Định lượng: Dùng excel, nhập số liệu, thống kê số liệu, gán giá trị, mã hóa các
số liệu, cho điểm trên excel, xử lý dữ liệu Sau đó nhập bảng số liệu, tính cácgiá trị, vẽ các biểu đồ cột, tròn
Các bước thực hiện: Điều tra tổng hợp phiếu, tổng hợp số liệu, nhập số liệu, mãhóa số liệu, cho điểm giá trị, sử dụng Excel tính giá trị trung bình của một sốtiêu chí, vẽ biểu đồ cần thiết và thích hợp với các giá trị sau đó giải thích, đưa ranhận xét và kết luận
• Kiểm tra lại phiếu và nhập số liệu: Tổng hợp lại các phiếu đã phỏng vấn, phânchia loại bảng hỏi và chia cho các thành viên cho nhóm nhập số liệu vào bảng
“Raw” trên Excel
7
Trang 8• Mã hóa các giá trị: Các tiêu chí trong từng câu được mã hóa theo thứ tự từ tráiqua phải từ trên xuống dưới lần lượt là 1, 2, 3, 4, 5 … ở bảng “Code” trênExcel.
• Cho điểm các giá trị: Công thức cho điểm X ij = (x ij -X min )/(X max -X min ), thang
điểm từ 0-1, 1 có nghĩa là mức ảnh hưởng ở mức tốt nhất, 0 là mức ảnh hưởng
tệ nhất Đưa giá trị đã cho điểm ra “Bangnhap”
• Xuất kết quả: Sử dụng hàm Countif để đếm các tiêu chí giống nhau, hàm Average để tính giá trị trung bình giá của một số tiêu chí sau đó vẽ biểu đồ của
các tiêu chí tương ứng để đưa ra nhận xét đánh giá
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 3.1 Nhận thức chung về môi trường
Hình 3: Đánh giá mức độ ảnh hưởng của hộ không sản xuất
Qua quá trình phỏng vấn các đối tượng sản xuất và không sản xuất đang sinhsống tại làng nghề dệt nhuộm Vạn Phúc về vấn đề ảnh hưởng của hoạt động dệtnhuộm tới đời sống dân cư thì có khoảng 53% các ý kiến cho rằng hoạt động dệtnhuộm không ảnh hưởng gì đến môi trường sống của họ (Hình 3) Điều này cũng dễhiểu vì giờ đây hoạt động dệt nhuộm không còn nhiều trên địa bàn làng nghề nữa,chỉ còn một số hộ gia đình, cơ sở sản xuất nhỏ lẻ tiếp tục hoạt động Tác nhân gâyảnh hưởng: 85,7% tiếng ồn, còn lại là nước thải và khí thải (Hình 4) Các khách dulịch đến với làng nghề thì có 77,78% cảm thấy cảnh quan xung quanh sạch sẽ hơn(Hình 5)
Hình 4: Tác nhân gây ảnh hưởng đến dân cư
Hình 5: Cảm nhận của khách du lịch về cảnh quan
Tuy nhiên, đấy chỉ là vẻ bề ngoài, khi đi sâu vào khu sản xuất thì có thể thấyphát sinh các chất thải gây ô nhiễm được xả trực tiếp ra cống, kênh, rạch,…
Trang 9Hình 6: Nước, rác thải sau sản xuất dệt nhuộm tại làng nghề Vạn Phúc
Từ hình 6 cho thấy các chất thải bao gồm nước thải, rác thải sau sản xuấtchưa được xử lý chiếm tỷ lệ tương đối cao (61,36%) gây ảnh hưởng trực tiếp tớimôi trường nước, đất, không khí, sức khỏe của người dân sống trong khu vực này
3.1.1 Môi trường nước
Theo kết quả xét nghiệm của Viện khoa học và công nghệ môi trường(trường Đại học Bách khoa Hà Nội) thì 100% mẫu nước thải ở các làng nghề đềuvượt quá tiêu chuẩn cho phép, đều có dấu hiệu ô nhiễm Ở làng dệt lụa Vạn Phúc,theo cuộc khảo sát thực tế của nhóm, 75% số người được hỏi cho rằng nguồn nước
ở kênh rãnh, mương chứa nước ở đây được đánh giá là rất ô nhiễm.Nguồn nước nàyđược thải ra từ các hộ gia đình sản xuất thủ công Ở làng dệt lụa Vạn Phúc, hầu hếtcác xưởng nhuộm chưa có hệ thống xử lý nước thải, chất thải mà chỉ được thu gomtập trung nhưng chưa được xử lý trước khi đưa vào môi trường nên lượng nước thải,chất thải này được đổ trực tiếp ra kênh, mương và chảy ra sông Nhuệ khiến nướcsông khu vực này ngả màu đen đặc Ngày trời nắng, không khí bốc mùi hôi thốinồng nặc Ngày trời mưa, trên mặt sông lềnh bềnh những rác thải Ngoài ra, theo ýkiến người dân, cụ thể là anh Vũ Minh Nam ( 40 tuổi, nghề nghiệp buôn bán, ởBạch Đằng-Vạn Phúc) thì nguồn gây ô nhiễm không chỉ do hoạt động nhuộm màcòn do nguồn nước thải từ các nơi khác đổ về
Hình 7: Chất lượng môi trường nước ở sông, rãnh, mương
ở làng dệt lụa Vạn Phúc
Theo khảo sát và nghiên cứu của khoa Hóa học, trường Đại học Khoa Học
Tự Nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội, nguồn nước chảy ra từ các cơ sở nhuộm ở lànglụa Vạn Phúc chứa nồng độ các chất hóa học độc hại như: Na2 CO3, CH3 COOH,H2 S, Na2S,… cao hơn tiêu chuẩn cho phép từ 3- 8 lần Hiện nay, nguồn nước phục
vụ cho mục đích sinh hoạt tại các khu dân cư trên địa bàn quận là nguồn nước ngầm
do nhà máy nước Hà Đông khai thác từ tầng cuội sỏi Nguồn nước này sau khi đượckhai thác đã được xử lý bằng các phương pháp thích hợp như giàn mưa, keo tụ, lọchấp thụ, khử trùng…
Từ kết quả quan trắc chất lượng nước mặt tại làng nghề, nước sinh hoạt tạilàng nghề đều có nồng độ BOD5 và NH4+ cao trên mức cho phép
9
Trang 10Bảng 2: Kết quả phân tích nước tại các điểm xả thải của làng nghề Vạn Phúc
tế, khi được hỏi về đánh giá của người dân sống trong làng về chất lượng không khíkhu vực sinh sống thì 6,52% đánh giá ô nhiễm; 65,22% số người được hỏi đánh giá
là bình thường; 28,26% cho rằng không khí ở đây tốt (Hình 8) Các hoạt động sảnxuất đều diễn ra trong các cơ sở, hộ dân nên cảm nhận, đánh giá chủ yếu của ngườidân về chất lượng không khí nơi đây là bình thường
Hình 8: Chất lượng không khí khu vực làng dệt lụa Vạn Phúc
Một kết quả nghiên cứu cách đây không lâu đã chỉ ra rằng, tiếng ồn ở đây đãvượt quá nhiều lần tiêu chuẩn cho phép từ 10-35dB (Theo trang Thông tin-Sự kiện-KH&CN) Ô nhiễm tiếng ồn có thể gây những tác hại khó lường như: ù tai, rối loạngiấc ngủ, ảnh hưởng tới tim mạch, giảm sự co bóp của hệ tiêu hoá… Tuy nhiên, có
Trang 11một thực tế là chẳng mấy người dân ở đây quan tâm và hiểu mức độ nguy hiểm củaloại ô nhiễm này
3.1.3 Môi trường đất
Theo đa số người dân(86,11%) cho biết rằng môi trường đất không có dấuhiệu bị ô nhiễm nặng (Hình 9) Theo cảm quan họ cho rằng, chất lượng môi trườngđất ở mức độ bình thường hoặc tốt
Hình 9: Chất lượng môi trường đất theo cảm quan của người dân sống trong
khu vực làng dệt lụa Vạn Phúc3.2 Sức khỏe
Chất thải trong hoạt động sản xuất của làng nghề ảnh hưởng trực tiếp hoặcgián tiếp tới sức khỏe của người sản xuất và cộng đồng nói chung Kết quả điều tra
y tế tại khu vực làng dệt lụa Vạn Phúc cho thấy bệnh hô hấp (viêm mũi, viêm họng),bệnh tiêu hóa, bệnh da liễu, bệnh ung thư là các bệnh rất thường gặp ở những ngườisinh sống trong khu vực này Theo kết quả tính toán dựa trên số người phỏng vấncho thấy có đến 57% số người trả lời rằng không thường xuyên kiểm tra sức khỏetại các cơ sở y tế Điều đó chứng tỏ người dân chưa thấy rõ được ảnh hưởng nghiêmtrọng của các hoạt động sản xuất tới sức khỏe của mình do đó còn chủ quan trongviệc kiểm tra sức khỏe thường xuyên
Hình 10: Các bệnh dễ mắc phải của người dân sống ở làng dệt lụa Vạn Phúc
Hình 11: Mức độ mắc bệnh của người dân tại làng dệt lụa Vạn Phúc
Theo biểu đồ trên( Hình 10) thì bệnh hô hấp có số người mắc phải nhiều nhất(48,21%) do thường xuyên phải hít khí thải độc hại do hoạt động dệt nhuộm gây ra.Bệnh ung thư chiếm tỷ lệ khá cao( 19,64%) với mức độ nặng(90,91%)(Hình 11).Ngoài ra bệnh da liễu cũng là bệnh mà người dân thường xuyên mắc phải vì hầu hếtmọi người đều không có thói quen dùng phương tiện bảo hộ khi lao động nên hóachất nhuộm tác động trực tiếp vào tay Ô nhiễm tiếng ồn có thể gây những tác hại
11
Trang 12khó lường như: ù tai, rối loạn giấc ngủ, ảnh hưởng tới tim mạch, giảm sự co bóp của
hệ tiêu hóa Tỷ lệ người mắc bệnh xuất hiện ở mọi lứa tuổi, trong đó người già vàtrẻ nhỏ tại làng nghề dệt lụa Vạn Phúc là dễ mắc bệnh nhất (40%) và có xu hướngngày càng tăng cao(Hình 112)
Hình 12: Các đối tượng dễ mắc bệnh ở làng dệt lụa Vạn Phúc
Một vấn đề đáng lo ngại nữa trong quá trình sản xuất và buôn bán tai làngnghề là tần suất mắc bệnh ngày càng tăng cao, số người mắc bệnh nhiều lần trênmột năm chiếm tỷ lệ cao 55,17% (Hình 13)
Hình 13: Tần suất mắc bệnh của các gia đình sống tại làng dệt lụa Vạn Phúc3.3 Xung đột làng nghề
Hình 14: Xung đột ở làng nghề Vạn Phúc
Kết quả trong số phiếu điều tra của các hộ gia đình trong làng nghề VạnPhúc, tỉ lệ xảy ra xung đột môi trường ở đây ở mức trung bình (43.24%) với mức độxung đột ít nghiêm trọng Ít khi xảy ra vụ xung đột lớn nào ảnh hưởng nghiêm trọngđến đời sống sinh hoạt của người dân (Hình 14)
Xung đột môi trường làng nghề Vạn Phúc chủ yếu xảy ra giữa các nhóm đốitượng: Nhóm các hộ sản xuất (63.64%), nhóm hộ sản xuất và hộ không sản xuấtchiếm 36.36% (Hình 15) Theo điều tra phỏng vấn, người dân cho biết chính quyềnrất ít can thiệp vào chuyện sản xuất của các hộ gia đình, những xung đột nhỏ lẻ giữacác hộ sản xuất với nhau thường là do cạnh tranh sản xuất thì chính quyền địaphương cũng để 2 bên tự giải quyết, hòa giải Do đó xung đột giữa hộ gia đình vàchính quyền hầu như hiếm hoặc không xảy ra
Hình 15: Các nhóm đối tượng xung đột
Trang 13Hình 16: Nguyên nhân gây ra xung đột
Nguyên nhân gây xung đột chủ yếu là cạnh tranh trong sản xuất giữa những
hộ gia đình sản xuất với nhau chiếm 70% Một số nguyên nhân khác là bất đồngtrong quan điểm sản xuất chiếm 10% và bức xúc về ô nhiễm môi trường chiếm 20%(Hình 16) Bức xúc ô nhiễm môi trường nhiều nhất chính là ô nhiễm tiếng ồn và ônhiễm nguồn nước Trong quá trình sản xuất dệt gây ra những tiếng ồn rất to, khiếnnhững hộ dân không sản xuất xung quanh cảm thấy khó chịu và đau đầu Chưa cómột biện pháp nào có thể giảm thiểu hoặc triệt tiêu vấn đề này Xung đột xảy ra vẫnchưa được giải quyết dẫn đến mối quan hệ 2 bên trở nên căng thẳng
Cơ sở pháp lý giải quyết các bất cập:
Với vấn đề môi trường làng nghề Quốc hội, Chính phủ và Bộ tài nguyên môitrường đã ban hành một số Luật, Thông tư, Nghị định để hướng dẫn cụ thể về côngtác quản lý và bảo vệ môi trường làng nghề khu vực sản xuất
1 Nghị định 66/2006/NĐ-CP ban hành ngày 7/7/2006 của Thủ tướngchính phủ về phát triển ngành nghề nông thôn nêu rõ phát triển ngànhnghề nông thôn phải thực hiện theo quan điểm phát triển bền vững.Tại mục 1 điều 7 và khoản b mục 3 điều 7 quy định về bảo vệ môitrường và xử lý ô nhiễm môi trường trong hoạt động sản xuất nghề ởnông thôn
2 Luật bảo vệ môi trường số 52/2014/QH13 (điều 70, chương 7) đã quyđịnh về việc bảo vệ môi trường trong cơ sở sản xuất làng nghề
3 Thông tư số Số 46/2011/TT-BTNMT Quy định về bảo vệ môi trường làng nghề của Bộ trưởng Bộ TN&MT
• Điều 4, chương II: Khu sản xuất làng nghề Vạn Phúc thuộc nhóm B
• Điều 8.1, 8.2 chương II: Các hộ gia đình sản xuất xả nước thải chưa qua xử lí ra môitrường
• Điều 13.1, 13.2, 13.3 13.6, chương II: Chính quyền chưa phân công, bố chí lực lượng, thiết bị thu gom, vận chuyển chất thải rắn đến điểm tập kết dúng nơi quy định: chưa đôn đốc, kiên quyết trong việc thực hiện giữ vệ sinh công cộng; chưa tham gia giám sát, thực hiện quy trình sản xuất của các cơ sở trên địa bàn; chưa xử
lý theo thẩm quyền khi phát hiện những sai phạm trong khâu xả thải của các cơ sở
Giải pháp giải quyết các mâu thuẫn, xung đột trong làng nghề Vạn Phúc :
1 Sử dụng phương pháp tuyên truyền giáo dục, cho người dân tiếp cận được với các
bộ Luật, Thông tư, Nghị định được ban hành Nâng cao việc nhận thức của người
13
Trang 14dân về vấn đè ô nhiễm môi trường, bảo vệ môi trường chính là bảo vệ cuộc sống của bản thân của cộng đồng không chỉ ở hiện tại mà còn trong tương lai.
2 Sử dụng công cụ kinh tế để thực hiện chế tài trong công tác quản lý làng nghề dệt lụa Vạn Phúc
• Đối với các hành vi xả thải ra môi trường chưa qua xử lý hoặc không đúng với quy định của xã cần có các hình thức xử phạt
• Thực hiện xử lý vi phạm hành chính với hành vi xả nước thải có chứa các thông số môi trường không nguy hại vào môi trường được quy định tại Điều 13, Nghị định 179/2013/NĐ-CP về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
Cụ thể đối với hành vi xả nước thải vượt quy chuẩn kỹ thuật về chất thải dưới 02 lần bị xử phạt từ 1.000.000 đồng đến 700.000.000 đồng tương ứng với lượng nước thải từ 5m3/ngày đến 10.000 m3/ngày; đối với hành vi xả nước thải vượt quy chuẩn
kỹ thuật về chất thải từ 02 lần đến dưới 05 lần bị xử phạt từ 10.000.000 đồng đến 750.000.000 đồng tương ứng với lượng nước thải từ 5m3/ngày đến 10.000
m3/ngày; đối với với hành vi xả nước thải vượt quy chuẩn kỹ thuật về chất thải từ
05 lần đến dưới 10 lần bị xử phạt từ 20.000.000 đồng đến 850.000.000 đồng tương ứng với lượng nước thải từ 5m3/ngày đến 10.000 m3/ngày
3 Tổ chức lại hiệu quả bộ máy hành chính quản lí của chính quền khu vực làng nghề.Các cán bộ môi trường của xã cần thực hiện lập các bản báo cáo đánh giá tác độngmôi trường hàng năm để báo cáo cho cơ quan cao hơn theo quy định tại khoản 12điều 14 quy định về trách nhiệm của UBND cấp xã của thông tư 46/2011/TT –BTNMT
3.4 Hiệu quả quản lý về môi trường
Hình 17: Mức độ thường xuyên kiểm tra của chính quyền về môi trường
Theo hình 17 chỉ có 5% người dân trả lời là chính quyền địa phương thườngxuyên xuống tận nơi kiểm tra, 42% người trả lời là thỉnh thoảng chính quyền cókiểm tra và hơn một nửa số người (53%) trả lời là chính quyền hiếm khi thậm chí làkhông bao giờ xuống kiểm tra Điều đó cho thấy mức độ quan tâm của chính quyềnđịa phương đối với môi trường làng nghề Vạn Phúc là chưa được cao
Như vậy chính quyền cần cử các cán bộ xuống tận nơi thanh tra kiểm trathường xuyên hơn để khi sự cố môi trường xảy ra thì kịp thời phát hiện và xử lý viphạm gây ô nhiễm môi trường
Trang 15Hình 18: Đề xuất của chính quyền giúp giảm ô nhiễm môi trường
Khi được hỏi chính quyền có đề xuất giải pháp gì giúp giảm ô nhiễm môitrường hay không thì chỉ có 13 người (35,14%) trả lời có còn lại 24 người (64,86%)trả lời là không (Hình 18) Người dân ở đây còn cho biết thêm giải pháp rất hiệuquả mà chính quyền đã thực hiện là ngầm hóa hệ thống cống, rãnh giúp cho cảnhquan làng sạch sẽ hơn, chất thải rắn k thể rơi xuống, vào những ngày trời nắng haymưa thì cũng không có mùi thối do nước ở kênh mương bốc lên
Về việc xử lý các hộ gây ô nhiễm, chính quyền đã thực hiện khá tốt việc này,
có đến 64,86% (Hình 18) người dân trả lời rằng các hộ gây ô nhiễm sẽ bị chínhquyền xử lý bằng cách nhắc nhở, nếu vẫn tiếp tục sẽ bị phạt tiền
Hình 19: Mức độ thường xuyên tổ chức các buổi tập huấn, tuyên truyền nâng
cao nhận thức của người dân về môi trường
Để người dân có nhận thức cao về bảo vệ môi trường sống xung quanh thìchính quyền cần có các biện pháp tuyên truyền phù hợp để mọi người dân biết vàlàm theo thì chính quyền đã đưa ra hai biện pháp chính là tổ chức các buổi tập huấntại các tổ dân phố và tuyên truyền cho toàn người dân
Khi được hỏi về mức độ thường xuyên tổ chức các buổi tập huấn và tuyêntruyền thì có nhiều ý kiến khác nhau Trong đó có 5% có câu trả lời là thườngxuyên, 49% câu trả lời là thỉnh thoảng, 32% là hiếm khi và còn lại 14% là khôngbao giờ (Hình 19)
Người dân ở đây cho biết tuyên truyền qua loa phường là một biện phápđược sử dụng phổ biến nhất ở đây, có thể mọi người không có thời gian đi dự cácbuổi tập huấn tuyên truyền nhưng thỉnh thoảng vào buổi sáng hoặc chiều tối là loaphường lại phát rất nhiều thông tin trong đó có môi trường khi đó mọi người ở nhàcũng có thể nghe và biết
Hình 20: Số lần đưa ra kiến nghị của người dân
15
Trang 16Để có môi trường sống tốt hơn thì không chỉ chính quyền cần có những biệnpháp cụ thể mà người dân địa phương cũng cần đồng lòng với chính quyền Khi vấn
đề môi trường không được đảm bảo thì cả người dân với chính quyền cùng chungtay giải quyết vấn đề đó, người dân có thể đưa ra các ý kiến hay kiến nghị để môitrường xanh – sạch – đẹp hơn, chính quyền tham khảo nếu thiết thực thì có thể tiếnhành thực hiện
Khi được hỏi về mức độ thường xuyên đưa ra các ý kiến, kiến nghị của mìnhvới chính quyền địa phương thì trong số những người trả lời chỉ có 13,51% ngườitrả lời là đã từng đưa ra các kiến nghị với chính quyền còn lại là chưa đưa ra kiếnnghị một lần nào 87,49% (Hình 20)
Nhiều người đã đưa ra một số lí do sau để giải thích tại sao cá nhận khôngđưa ra các kiến nghị như: Có thể các kiến nghị đó sẽ không được giải quyết, khôngquan tâm lắm đến vấn đề đó và nhiều người có cùng một lí do là ngại đưa ra cácquan điểm cá nhân Do đó, khi người dân đưa lên những kiến nghị thì chính quyềncần xem xét và giải quyết thỏa đáng các kiến nghị đó, ngoài ra chính quyền cần cócác giải pháp để nâng cao hơn tính dân chủ của người dân, để họ tự do đưa ra các ýkiến riêng của mình không chỉ trong lĩnh vực này mà còn trong tất cả các lĩnh vựckhác nữa
Hình 21: Mức độ hài lòng của người dân đối với chính quyền địa phương về sự
quản lý môi trường
Sau những câu hỏi về những việc mà chính quyền địa phương đã làm thì cuốicùng là câu hỏi về mức độ hài lòng của người dân đối với sự quản lý về môi trườngcủa chính quyền địa phương thì chỉ có 27% người được hỏi hài lòng với sự quản lý
đó, cao nhất là 68% người được hỏi trả lời là bình thường và còn lại và cũng là thấpnhất 5% số người trả lời là không hài lòng với sự quản lý như vậy (Hình 21)
Chỉ có 27% người hài lòng với sự quản lý là một con số thấp, để có đượcnhiều sự tín nhiệm hơn từ người dân nơi đây chính quyền cần làm việc thực sự tráchnhiệm và hiệu quả hơn nữa, tổ chức các buổi tiếp dân định kì để lắng nghe nhữngmong muốn của người dân, người dân có dịp bày tỏ quan điểm của mình từ đó haibên sẽ hiểu rõ nhau hơn khi đó các khúc mắc giữa người dân và chính quyền đượcgiải quyết Từ đó lấy lại lòng tin của người dân
Trang 17Dựa vào kiến thức đã học môn các quản lý tài nguyên thiên nhiên em thấy cóthể áp dụng một số phương pháp và công cụ quản lý sau để quản lý môi trường tạiđịa phương như: Công cụ pháp lý, công cụ kinh tế, công cụ hỗ trợ, công cụ quyhoạch và phương pháp tâm lý giáo dục
Công cụ pháp lý : Áp dụng luật bảo vệ môi trường năm 2014, thông tư số 46/2011/TT – BTNMT Quy định về bảo vệ môi trường làng nghề của Bộ trưởng BộTài nguyên và Môi trường vào trong quản lý môi trường làng nghề, đối với các hộgây ô nhiễm nặng sau khi nhắc nhở mà vẫn để tình trạng đó diễn ra thì cần phải dùng đến pháp luật để xử lý nghiêm minh làm gương cho những đối tượng khác
Ngoài công cụ pháp lý thì công cụ kinh tế: Luật thuế tài nguyên, phí, lệ phí cũng là một công cụ rất hữu ích trong bảo vệ môi trường nơi đây
Công cụ quy hoạch: Thực hiện tái cơ cấu lại làng nghề, di dời các hộ chuyênsản xuất dệt và nhuộm về một khu tập trung sản xuất để tránh làm ảnh hưởng đếndân cư xung quanh và có các biện pháp xử lý hiệu quả và ít tốn kém hơn so với tậptrung rải rác
Công cụ hỗ trợ: Quan trắc chất lượng môi trường đất, nước, không khí đểbiết mức độ ô nhiễm đang ở giai đoạn nào để có biện pháp xử lý thích hợp
Áp dụng phương pháp đồng quản lý vào trong quản lý tài nguyên đất, tàinguyên không khí và tài nguyên nước mặt Cả người dân và chính quyền đều cótrách nhiệm quản lý và sử dụng hợp lý những tài nguyên này Người dân có thể đưa
ra các chiến lược cho chính quyền tham khảo nhưng quyền ra quyết định vẫn làchính quyền
17
Trang 18Tập trung các hộ sản xuất thành khu,
di dời vào khu công nghiệp, cụm côngnghiệp cách xa nơi dân cư Không thể
xả nước thải vượt quy chuẩn kỹ thuật
về chất thải dưới 02 lần bị xử phạt từ 1.000.000 đồng đến 700.000.000 đồng, từ 02 lần đến dưới 05 lần bị xử phạt từ 10.000.000 đồng đến
750.000.000 đồng, từ 05 lần đến dưới
10 lần bị xử phạt từ 20.000.000 đồng đến 850.000.000 đồng tương ứng lượng nước thải từ 5m3/ngày đến 10.000 m3/ngày
Nghị định
179/2013/NĐ-CP về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệmôi trường
khu dân cư
Thành lập khu sản xuất tập trung xa khu dân cư Di dời các hộ sản xuất trong khu dân cư về nơi tập trung
Khoản 2 điều 8, khoản 4điều 15 của Thông tư Số46/2011/TT-BTNMT Quyđịnh về bảo vệ môi trườnglàng nghề của Bộ trưởng
Bộ Tài nguyên và Môitrường
Khoản 12 điều 14 Thông
tư 46/2011/TT – BTNMTQuy định về bảo vệ môitrường làng nghề của Bộtrưởng Bộ Tài nguyên vàMôi trường
Trang 202. Giải pháp
Xử lý nghiêm những hộ sản xuất gây ô nhiễm, giải quyết các bức xúc kiếnnghị của người dân Với người dân thì cần thỏa hiệp, hòa giải để tránh xảy ra cạnhtranh, xung đột
Áp dụng mục 6, Điều 70, Luật bảo vệ môi trường, 2014 về xử lý ô nhiễmmôi trường và chỉ đạo xây dựng hệ thống xử lý nước thải, chất thải rắn, chất gâynguy hại cho làng nghề
Ngoài ra có thể áp dụng công cụ quy hoạch: Thực hiện tái cơ cấu lại làngnghề, di dời các hộ chuyên sản xuất dệt và nhuộm về một khu tập trung sản xuất đểtránh làm ảnh hưởng đến dân cư xung quanh và có các biện pháp xử lý hiệu quả và
ít tốn kém hơn so với tập trung rải rác
Công cụ hỗ trợ: Quan trắc chất lượng môi trường đất, nước, không khí đểbiết mức độ ô nhiễm đang ở giai đoạn nào để có biện pháp xử lý thích hợp
Trang 21Tài liệu tham khảo:
1 Đặng Kim Chi, 2013 Làng nghề Việt Nam và môi trường NXB: Khoa
học và kỹ thuật
2 Thân Trung Dũng, 2009 Quản lý xung đột trong phát triển làng nghề.
Luận văn thạc sĩ Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn
3 Bộ tài nguyên và môi trường, 2008 Báo cáo môi trường quốc gia 2008- Môi trường làng nghề.
4 Ngô Thị Thủy, Trần Thị Thu Hà và Vũ Thu Thủy, 2015 Tạp chí Khoa học và Công nghệ Lâm nghiệp số 2-2015.
5 Phòng kinh tế Quận Hà Đông, 2013 Làng nghề dệt lụa Vạn Phúc – truyền thống nghìn năm.
6 Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Bình Dương, 2012 Hướng dẫn tham vấn cộng đồng trong quá trình lập , thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường.
21
Trang 22BÁO CÁO VỀ HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG LÀNG NGHỀ VẠN PHÚC
HỌ VÀ TÊN: LẠI NGỌC LAN
LỚP: K60-QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG
Trang 23Làng nghề là giải pháp phát triển kinh tế nông thôn rất hiệu quả Chính sách đổi mới kinh tế đã đem lại luồng sinh khí mới cho các ngành nghề thủ công cổ truyền Việt Nam Lao động nghề tại các làng đã giải quyết được vấn đề lao động dư thừa và lao động trong thời gian nông nhàn lại giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc.Bên cạnh những dấu hiệu đáng mừng ấy, một nỗi lo lắng và day dứt là nguy cơ ô nhiễm môi trường tại các làng nghề truyền thống Nguy cơ này phát sinh chính từ hoạt động đặc thù của các làng nghề như: quy mô nhỏ, manh mún, công nghệ thủ công lạc hậu, không đồng bộ phát triển, tự phát chủ yếu, chịu sự chi phối của thị trường
Và một thực tế nữa là do sự thiếu hiểu biết của chính những người dân ở làng nghề
về tác động của hoạt động sản xuất đến sức khỏe bản thân và đời sống của người dân địa phương
Từ những lý do trên, nhóm chúng em chọn đề tài “Ảnh hưởng của làng nghề Vạn Phúc đến đời sống dân cư ” và nhằm làm rõ các vấn đề môi trường tại làng nghề Vạn Phúc, cá nhân em đi sâu vào vấn đề “Hiện trạng môi trường làng nghề Vạn Phúc”.
1.2 Mục tiêu
• Rèn luyện kỹ năng phỏng vấn, điều tra xã hội học bằng phiếu hỏi
• Có được thông tin do các cá nhân, người dân sinh sống và làm việc tại làng nghề Vạn Phúc cung cấp về chất lượng môi trường sống
• Rèn luyện khả năng phân tích, đánh giá vấn đề thông qua đề tài
• Có giải pháp giảm thiểu tác động cho người dân địa phương, cải thiện môi trường địa phương
23
Trang 242 TỔNG QUAN VỀ KHU VỰC LÀNG NGHỀ
Làng lụa Hà Đông hay làng lụa Vạn Phúc (nay thuộc phường Vạn Phúc, quận Hà Đông, cách trung tâm Hà Nội chừng 11km về phía Tây Bắc thành phố) là một làng nghề dệt lụa tơ tằm đẹp nổi tiếng từ ngàn năm trước Được biết đến bằng hoạt động dệt, nhuộm lụa lâu đời nhưng theo khảo sát, những năm gần đây hoạt động nhuộm lụa ngày càng ít dần chỉ còn lại một vài cơ sở chính, chủ yếu chỉ còn các hộ gia đình dệt lụa nhỏ
Hình 1: Địa điểm làng nghề dệt lụa Vạn Phúc
3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Lên khung bài báo cáo, đưa ra ý tưởng, hướng nghiên cứu từ đó đưa raphương pháp nghiên cứu để giải quyết vấn đề theo khung đã lên
3.1 Phương pháp kế thừa và tổng hợp tài liệu
Quá trình tổng hợp tài liệu nhằm kế thừa các kết quả đã có sẵn và bổ sungnhững thông tin, dữ liệu còn thiếu trong quá trình khảo sát thực địa Trong thời gianhoàn thành báo cáo, sinh viên đã tiến hành tổng hợp tài liệu từ rất nhiều nguồn khác
Trang 25nhau về vấn đề ảnh hưởng của hoạt động dệt nhuộm đến cuộc sống của người dânxung quanh Thêm vào đó là tài liệu có liên quan đến vấn đề tính bền vững và pháttriển bền vững, kế thừa kết quả từ các đề tài, dự án nghiên cứu về khu vực, lĩnh vựcnghiên cứ Trên cơ sở đó,phân tích, tổng hợp và xử lý số liệu theo mục đích mongmuốn.
3.2 Phương pháp khảo sát thực địa
Để có tính xác thực và thuyết phục về đề tài nghiên cứu, sinh viên tiến hànhkhảo sát thực địa tại khu vực phường Vạn Phúc, quận Hà Đông, Hà Nội Quá trìnhthực địa tiến hành vào ngày 21 tháng 4 năm 2017
Quá trình khảo sát thực địa nhằm phân tích, đánh giá hiện trạng môi trườnglàng nghề Vạn Phúc, thu thập thông tin về mức độ ảnh hưởng từ hoạt động dệtnhuộm, quan sát, chụp ảnh và phỏng vấn trực tiếp dân cư tại khu vực nghiên cứu
3.3 Phương pháp điều tra xã hội học
Sử dụng phương pháp này để phỏng vấn các hộ gia đình, từ người dân laođộng đến khách du lịch về các vấn đề môi trường tại làng nghề
Việc thực hiện phỏng vấn được thực hiện thông qua phiếu câu hỏi được soạnthảo trước, sau đó trực tiếp phỏng vấn và ghi chép thông tin, sô liệu thu được từngười phỏng vấn Những nội dung chính trong phiếu hỏi như sau:
- Các thông tin chung: tên, địa chỉ, tuổi,nghề nghiệp,…
- Các thông tin về hiện trạng môi trường: chất lượng môi trường sống, chấtlượng nguồn nước ở kênh, rãnh, mương chứa nước, chất lượng khôngkhí, chất lượng môi trường đất, nước, rác thải sau khi sản xuất có đượclưu trữ tập trung hay xử lý không…
Từ các thông tin thu được, sinh viên có thể luận giải được mức độ ảnh hưởngcủa hoạt động dệt nhuộm đến môi trường dân cư
3.4 Xử lý số liệu
- Thu thập, kiểm tra, phân loại bảng hỏi
- Nhập số liệu vào excel, gán giá trị từ 1 đến 3 thể hiện mức độ tốt, bình thường,
ô nhiễm hoặc thể hiện mức độ hài lòng, không hài lòng Cho điểm từ 0 đến 1
- Dùng hàm trong excel để tính hệ số, tỷ lệ %, xây dựng bản đồ số liệu, lập bản
đồ cần thiết
25
Trang 264 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
Hình 1: Ảnh hưởng của hoạt động dệt nhuộm tới chất lượng môi trường
Sự chênh lệch đánh giá ảnh hưởng chất lượng môi trường đã thu hẹp Theongười dân địa phương, trong vài năm gần đây do sự thay đổi của thị trường thì quy
mô dệt nhuộm đã giảm xuống và thay vào đó là chuyển sang hoạt động kinh doanhmặt hàng lụa
4.2 Nước mặt (nước ở kênh, rãnh, mương chứa nước)
Theo cuộc khảo sát thực tế của nhóm, 75% số người được hỏi cho rằngnguồn nước mặt ở đây rất ô nhiễm (Hình 2)
Hình 2: Chất lượng nguồn nước ở kênh, rãnh, mương chứa nước
Nước mặt tại làng nghề chủ yếu là sông, ao, hồ chứa và kênh thoát nước thải
từ các hộ gia đình - là nơi tiếp nhận trực tiếp nguồn nước thải chưa qua xử lý nênmức độ ô nhiễm cao
Từ kết quả quan trắc chất lượng nước mặt tại làng nghề: nước sinh hoạt trêntại làng nghề đều bị ô nhiễm nồng độ BOD5 và NH4+ đều cao trên mức cho phép(Bảng 1)
Bảng 1: Kết của phân tích nước tại các điểm xả thải của làng nghề Vạn Phúc
( năm 2013)
(NT06)
QCVN14:2008/BTNMT
Trang 27(Nguồn: UBND quận Hà Đông, 2014)
Ghi chú: NT06- nước tại mương nhận nước thải từ làng nghề Vạn Phúc; QCVN 14:2008/BTNMT- quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải sinh hoạt
Nguyên nhân gây ô nhiễm là do các cơ sở dệt nhuộm của làng đều chưa có
hệ thống xử lý nước thải tập trung hoặc có nhưng chưa được xử lý triệt để trước khi
đổ ra hệ thống thoát nước của quận, do vậy nước thải đang và sẽ gây nên tình trạng
ô nhiễm tại các kênh, mương tiếp nhận nước thải
Theo khảo sát và nghiên cứu của khoa Hóa học, trường Đại học Khoa Học
Tự Nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội, nguồn nước chảy ra từ các cơ sở nhuộm ở lànglụa Vạn Phúc chứa nồng độ các chất hóa học độc hại như: Na2 CO3, CH3 COOH, H2
S, Na2S,… cao hơn tiêu chuẩn cho phép từ 3- 8 lần Hiện nay, nguồn nước phục vụcho mục đích sinh hoạt tại các khu dân cư trên địa bàn quận là nguồn nước ngầm donhà máy nước Hà Đông khai thác từ tầng cuội sỏi Nguồn nước này sau khi đượckhai thác đã được xử lý bằng các phương pháp thích hợp như giàn mưa, keo tụ, lọchấp thụ, khử trùng…
4.3 Không khí
Không khí là một thứ không thể thiếu trong cuộc sống hằng ngày của mỗicon người Trong một cuộc khảo sát làng lụa Vạn Phúc về vấn đề chất lượng khôngkhí thì 65% số người được hỏi trả lời không khí ở đây bình thường và 28% cho rằngtốt và 7% là rất ô nhiễm (Hình 3)
Hình 3: Chất lượng không khí làng lụa Vạn Phúc
Các hoạt động sản xuất đều diễn ra trong các cơ sở, hộ dân nên cảm nhậnchủ yếu của người dân về chất lượng không khí nơi đây là bình thường
27
Trang 28Môi trường không khí quanh khu dệt, nhuộm ảnh hưởng chủ yếu là bụi vàhơi hóa chất Bụi bông sinh ra trong quá trình giàn sợi, xe sợi, dệt vải… Hơi hóachất phát sinh trong quá trình nấu, tẩy, nhuộm do sử dụng hóa chất ở nhiệt độ cao vàthiết bị sản xuất đều là các thiết bị hở làm cho hơi hóa chất như xút, axit bay ra ảnhhưởng trực tiếp đến công nhân sản xuất và những người xung quanh Khí thải lò đốtchứa nhiều chất gây ô nhiễm môi trường như CO2, SO2, NO, NO2, N2O5…Tìnhtrạng hóa chất cũng chưa có biện pháp khắc phục Cụ thể khi khảo sát một số hộcòn nhuộm thì hóa chất ấy sau khi sử dụng được đổ trực tiếp qua cống thoát nước
và xả thẳng ra môi trường Tuy nhiên, mức độ đã giảm so với trước kia vì chuyểnđổi mục đích kinh tế
Ngoài ra, không giống như những làng nghề khác, ngoài ô nhiễm côngnghiệp và sinh hoạt, người dân làng lụa Vạn Phúc đang phải chịu tiếng ồn trầmtrọng Ngay khi bước chân vào làng, đập ngay vào tai mọi người là tiếng lách cáchcủa thoi đưa, tiếng rầm rầm của máy dệt Mức ô nhiễm tiếng ồn ở đây quả thực rấtđáng lo ngại Tại những xưởng dệt này tiếng người hầu như bị lấn át Nếu muốn nóichuyện phải hét to hoặc ra hiệu Song, nhiều lúc vẫn ko thể hiểu người đối diệnmuốn nói gì
4.4 Đất
Trong cuộc khảo sát thì đa số người dân (75%) cho rằng môi trường đất bìnhthường, không quá ô nhiễm (Hình 4)
Hình 4: Chất lượng môi trường đất
Sự suy thoái đất diễn ra chưa quá nghiêm trọng vì số ít người dân cho rằngchất lượng môi trường đất ô nhiễm (14%) Đa phần rác được thu gom, tập kết đúngnơi quy định
5 KẾT LUẬN
Sự phát triển của làng lụa Vạn Phúc nói riêng và các làng nghề khác nóichung có vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế- xã hội hiện nay Tuy nhiên,chúng ta cần phải quan tâm đến những hệ quả xấu từ việc phát triển của làng nghề
Từ thực trạng cho thấy mức độ ô nhiễm là vấn đề cần được quan tâm và giải quyếthàng đầu
Giải pháp:
Trang 29Thực hiện phương pháp tổ chức hành chính hiệu quả, cụ thể bổ sung nguồnnhân lực quản lý môi trường làng nghề, bổ sung thêm cán bộ môi trường tại TrungVăn có đủ năng lực để tham gia và có những đề xuất mới trong công tác BVMTtại địa phương Các cán bộ môi trường của xã cần thực hiện lập các bản báo cáođánh giá tác động môi trường hàng năm để báo cáo cho cơ quan cao hơn theo quyđịnh tại khoản 12 điều 14 quy định về trách nhiệm của UBND cấp xã của thông tư46/2011/TT – BTNMT
Đối với dự án quy hoạch cụm làng nghề, UBND cấp xã cần kết hợp với cơquan Huyện và Quỹ tín dụng của xã để có giải pháp hỗ trợ cho người dân vay vốn
và khuyến khich người dân làm đơn đăng ký vào khu sản xuất thuộc quy hoạchcụm làng nghề của xã
6 TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Trần Thị Ánh Thuận, 2013 Ô nhiễm môi trường làng nghề dệt nhuộm tơ tằm và phân tích làng nghề dệt nhuộm tơ tằm Vạn Phúc Đồ án tốt nghiệp.
2 Ngô Thị Thủy, 2015 Tạp chí khoa học và công nghệ lâm nghiệp số 2-2015
3 trang-o-nhiem-moi-truong-tai-cac-lang-nghe-9116/
http://doc.edu.vn/tai-lieu/do-an-thuc-trang-va-giai-phap-nham-giam-thieu-tinh-29
Trang 30BÁO CÁO: CẢM NHẬN VỀ MÔI TRƯỜNG LÀNG NGHỀ VẠN PHÚC LỚP: K60 – QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG
HỌ VÀ TÊN: DƯƠNG THỊ HẢI YẾN
Trang 311 Mở đầu
Làng nghề truyền thống Việt Nam đã có từ hàng chục năm qua, gắn liền vớibản sắc văn hóa dân tộc Sự phát triển của làng nghề đã và đang góp một phầnkhông nhỏ trong việc xóa đói giảm nghèo ở nông thôn, nâng cao thu nhập và cảithiện chất lượng của người dân nơi đây
Tuy nhiên, vấn đề về môi trường luôn được cộng đồng quan tâm và mongmuốn có được các giải pháp tổng hợp về quản lý và kĩ thuật nhằm cải thiện chấtlượng môi trường làng nghề, góp phần phát triển làng nghề bền vững Trong nhữngnăm vừa qua, các cơ quan nhà nước đã có nhiều biện pháp tích cực thúc đẩy cáchoạt động nhằm cải thiện chất lượng môi trường tại các làng nghề
Để tìm hiểu rõ thực trạng môi trường tại các làng nghề hiện nay như thế nàonhóm 3 đã quyết định lựa chọn một trong số nhiều làng nghề trên địa bàn Hà Nội –làng nghề Vạn Phúc để khảo sát Trong đó phần đánh giá khách quan, cảm nhận củangười dân về môi trường nơi đây là rất quan trọng Từ những đánh giá đó giúpchúng ta có cái nhìn tổng quan hơn và nhìn trên phương diện của một nhà quản lýtương lai với các kiến thức đang được học để đánh giá phần nào thực trạng môitrường và mong muốn đề xuất một số giải pháp góp phần cải thiện môt trường sốngcủa người dân địa phương
2 Giới thiệu khu vực nghiên cứu
Làng nghề dệt lụa Vạn Phúc nay thuộc phường Vạn Phúc, quận Hà Đông,cách trung tâm Hà Nội khoảng 10km Là một trong hơn 1.000 làng nghề truyềnthống đã và đang tồn tại ở Việt Nam Được biết đến bằng hoạt động dệt, nhuộm lụalâu đời nhưng theo khảo sát, những năm gần đây hoạt động nhuộm lụa ngày càng ítdần chỉ còn lại một vài cơ sở chính, chủ yếu chỉ còn các hộ gia đình dệt lụa nhỏ lẻ
Hình 1: Bản đồ khu vực làng Vạn Phúc
31
Trang 323 Phương pháp nghiên cứu
3.1 Phương pháp kế thừa và tổng hợp tài liệu
Quá trình tổng hợp tài liệu, thông tin về khu vực khảo sát thực địa từ các kếtquả có sẵn, từ nhiều nguồn đáng tin cậy khác nhau Bên cạnh đó còn có các giáotrình, sách tham khảo liên quan đến đến ảnh hưởng môi trường làng nghề, cảm nhậncủa người dân về ô nhiễm môi trường làng nghề, trên cơ sở đó phân tích, tổng hợp,
xử lý số liệu theo mục đích mong muốn
3.2 Phương pháp điều tra xã hội học
Sử dụng phương pháp này để phỏng vấn các hộ không sản xuất, hộ sản xuất
và đối tượng du lịch
Sinh viên tiến hành phỏng vấn 52 đối tượng khác nhau tại trong và ngoàiphạm vi khu vực nghiên cứu Việc phỏng vấn được thông qua các phiếu câu hỏiđược soạn thảo trước, sau đó trực tiếp phỏng vấn ghi chép thông tin từ người đượcphỏng vấn Những nội dung chính trong phiếu hỏi như sau:
+ Các thông tin chung: tên, tuổi, nghề nghiệp, địa chỉ+ Các thông tin về cảm nhận mức độ hài lòng của người dân về môi trường,sức khỏe, xung đột giữa các đối tượng, hiện trạng quản lý hay cảm nhận khách quan
về môi trường của khách du lịch
Từ những thông tin thu được, sinh viên có thể luận giải được cảm nhận về sựảnh hưởng của hoạt động dệt nhuộm đến môi trường
3.3 Phương pháp xử lý số liệu
+ Thu thập, kiểm tra, phân loại bảng hỏi+ Nhập số liệu vào excel gán các giá trị theo thứ tự 1 đến 3 thể hiện mức độtốt, bình thường, ô nhiễm hoặc thể hiện mức độ hài lòng, không hài lòng Cho điểm
từ 0 đến 1
+ Sử dụng hàm trong excel để tính hệ số, tỷ lệ %, xây dựng bảng số liệu, lậpbản đồ cần thiết
Trang 334 Kết quả nghiên cứu và thảo luận
4.1 Nhận thức chung về vấn đề ô nhiễm làng nghề
Kết quả phỏng vấn đối với các đối tượng là hộ không sản xuất, đã và đangsinh sống ở làng về việc đánh giásự ảnh hưởng của hoạt động dệt nhuộm đối vớichất lượng môi trường sống của gia đình Khoảng 53% các ý kiến cho rằng hoạtđộng này không ảnh hưởng gì đến chất lượng cuộc sống (Hình 3) Người dân đềunói rằng hiện nay hoạt động nhuộm lụa đã không còn, chỉ còn các cơ sở nhỏ lẻ
Hình 3: Đánh giá mức độ ảnh hưởng của hộ không sản xuất
Hộ sản xuất thì đưa ra ý kiến rõ rang hơn về từng mức độ ảnh hưởng Cụ thể
là mức độ ít nghiêm trọng có tỷ lệ cao nhất 57% (Hình 4)
Hình 4: Đánh giá sự ảnh hưởng của hoạt động dệt nhuộm đến chất lượng cuộc sống
Hộp 1: Ý kiến người dân về ảnh hưởng môi trường của dệt nhuộm
Trước đây nhà bà đã từng nhuộm lụa và thu nhập chủ yếu dựa vào hoạtđộng này Nhưng những năm gần đây do thị hiếu và sự xuất hiện của các mặt hàngkhác nên lụa đã không còn giá trị như trước nên nhà bà đã bỏ nhuộm và hiện giờ
đã không gây ảnh hưởng gì đến môi trường nữa rồi
“Trích phỏng vấn bà Đoàn Thị Thúy”
Đối tượng du lịch tính các du khách đến lần đầu như các thành viên trongnhóm và khoảng 93% đối tượng được phỏng vấn đều nhận thấy cảnh quan làng rấtsach sẽ
4.2 Cảm nhận môi trường nước
Kết quả khảo sát ý kiến của người dân địa phương về cảm nhận chất lượngnước Từ cảm quan, nhìn nhận bên ngoài về nguồn nước của sông, kênh, rạch đến
sự đánh giá khi sử dụng nước sinh hoạt tại gia đình cho thấy chất lượng nước khuvực sông Nhuệ rất ô nhiễm
33