1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Thi tập quê hương nguồn cội

143 334 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 143
Dung lượng 597,75 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhưng khi may mắn được đọc tập thơ Quê Hương Nguồn Cội và khoảng 650 bài khác nữa của nhà thơ Mặc Giang, một tập thơ chan chứa tình quê hương dân tộc, với tâm hồn bao la, sâu rộng bằng t

Trang 1

MỤC LỤC Trang

Biểu hiện tinh thần khí chất Hồ Bảo Quốc

01 Xin nguyện làm người Nước Việt Nam

Việt Nam non nước tôi

Miền Bắc quê hương tôi

Miền Trung quê hương tôi

05 Miền Nam quê hương tôi

Cao Nguyên quê hương tôi

Trung Du quê hương tôi

Đảo Hòn quê hương tôi

Sắc thân tam thể Việt Nam

10 Việt Nam quê hương tôi

Ba chị em

Ba anh em

Quê hương tồn sinh bất diệt

Tiếng hát Việt Nam muôn đời

15 Quê hương nguồn cội

Tình ca muôn thuở của người Việt Nam

Việt Nam còn đó muôn đời

Dòng thơ gọi tình người

Trọn chưa nửa kiếp con người

20 Ta đi trên nước non mình

Trang 2

Ta còn Việt Nam sông núi hồn thiêng

Tiếng gọi quê hương

Bài ca sỏi đá

Con chim nho nhỏ bay quanh lối về

25 Reo bình minh thức dậy

Bước đi rơi rụng mây ngàn

Vương hình cát bụi lang thang

Con người phiêu bạt

Nghe rừng khua gió núi

30 Đi đâu cũng nhớ quê mình người ơi

Đỡ nét mây ngàn

Ta đưa nhau đi trên quê huơng ta đó

Đường lên viễn xứ

Em bé mồ côi

35 Đi đâu cũng nhớ trở về

Không biết ngày mai tôi trở về

Tôi gọi tên tôi

Mái tranh nghèo xa xưa ấy

Trang 3

Ta xin góp mặt cuộc đời

Trẻ thơ bên cạnh cuộc đời

Tôi là một con tàu

Những em bé cơ cùng

Một cành hoa dâng Mẹ

60 Công đức sinh thành

Đừng có mãi hoàng hôn và đêm tối

Ta đây, hiện hữu vô cùng !

Xin chắp đôi bàn tay

Hoa nở giữa rừng hoang

70 Là của Việt Nam

*****

Lời Giới Thiệu

Trang 4

Qua năm mươi năm, tiếp bước tiền nhân tôi trót vào con đường khảo cứu lịch sử văn học dân tộc Tôi đã đọc rất nhiều thơ và cũng làm được một số việc cho các thế hệ thơ ca

Nhưng khi may mắn được đọc tập thơ Quê Hương Nguồn Cội (và khoảng 650 bài khác nữa) của nhà thơ Mặc Giang, một tập thơ chan chứa tình quê hương dân tộc, với tâm hồn bao la, sâu rộng bằng trái tim và dòng máu của người Việt Nam, tập thơ đã làm cho tôi hòa đồng trong tác phẩm không còn phân biệt được tâm tư

và cảm giác của mình và chỉ còn là một con tim, một dòng máu chung của dân tộc trộn lẫn vào sự cấu tạo chung trải qua mấy ngàn năm lịch sử của núi sông

Hỡi các thế hệ con cháu Lạc Hồng ! Đã bao người ví quê hương như một chiếc nôi nuôi dưỡng những dòng máu của Tổ Tiên sinh ra để lớn lên dù sống nơi đâu, dù làm gì nơi đâu cũng không thể quên nổi chiếc nôi ấy

Đọc thơ Mặc Giang, tôi tự cảm giác như cùng nhà thơ đang nằm chung trong chiếc nôi muôn thuở đó, mà reo lên tình tự quê hương, rung lên tình ca dân tộc, và bước

đi theo dòng lịch sử của tổ quốc

Trang 5

Gần quê nhà hay xa quê nhà, sống nơi chôn nhau cắt rốn hay xa mái tranh nghèo mới cảm hoài nhớ nhung trăn trở ?

Điều tôi muốn nói ở đây là tâm tư và nghệ thuật của Mặc Giang đã gợi mở trong một tác phẩm thi ca, một tác phẩm xứng đáng để phổ biến và lưu giữ trong văn học Việt Nam

Tôi chân thành giới thiệu với bạn đọc hãy cùng vào đây, bằng tình cảm và con tim qua những vần thơ của Mặc Giang để mà rung động, say sưa hòa nhập với thời gian trên quê hương đất Tổ từ thuở ngàn xưa, đến hôm nay và mãi mãi mai sau

Ngày 01 tháng 3 năm 2007

Mộng Bình Sơn

Nào Có Ra Đi

Trang 6

“Dù xa cách mấy trùng dương

Ở đâu cũng có quê hương trong lòng”

Tháng 3/2007, có người trao cho tôi Tuyển tập nhạc

Dòng Thơ Gọi Tình Người và Tập thơ Quê Hương Nguồn Cội của cùng tác giả Mặc Giang Tôi nay đã 80,

đang tập trung viết hồi ký, từ bỏ mọi sinh hoạt thù tạc, nhưng khi nhìn tựa đề 2 cuốn sách, tự dưng có thiện cảm nên gác lại mọi việc để đọc trong nhiều đêm, suy

tư chìm lắng… thẳm sâu… ưu tư… với

hồn thơ Mặc Giang

Qua các bài : Quê hương còn đó, Ta đi trên quê hương,

Ta đi trên nước non mình, Đưa nhau đi trên quê hương, Về thăm quê cũ, Việt Nam còn đó muôn đời, Sông núi hồn thiêng, tôi liền bị cuốn hút theo Mặc

Giang vào dòng chảy tình tự về kỷ niệm tuổi thơ, gia đình, bè bạn, và danh lam, thắng cảnh, gấm vóc, sử tích, cội nguồn v.v…

Mỗi nhà thơ là một vũ trụ thu hẹp Vũ trụ của nhà thơ Mặc Giang không những đậm đà, sâu lắng, dịu vợi, bao trùm cả quê hương ba miền Trung Nam Bắc, mà còn lan tỏa đến tình thương nhân loại Vũ trụ tâm hồn của Mặc Giang thật là cao rộng

Trang 7

Không hề biết mặt, không hề một lần giao tiếp, với mối đồng cảm của nhà thơ cao tuổi, tôi xin đón nhận và vẫy chào

Theo tôi, không nên chẻ sợi tóc làm ba đánh giá so le khi chưa thấu triệt ý nghĩa trầm tích trong từng bài thơ

: Tình cha muôn thuở, Tình mẹ muôn đời, Reo binh minh thức dậy, Nghe rừng khua gió núi, Con người phiêu bạt, Lời thùy dương, Chiếc bóng thời gian, Miền Bắc quê hương tôi, Miền Trung quê hương tôi, Miền Nam quê hương tôi … Chúng vừa là ấn tượng, vừa là

tiếng nói con tim của tâm linh tiềm tàng tình quê, hồn nước, sâu lắng trong hơi thở, cô đọng trong huyết thống của mỗi người Việt Nam đối với quê hương cố thổ

Mỗi người đều ôm ấp quê hương trong lòng, bởi Tình quê hong giọt nắng, Thuyền về bến cũ, Mơ màng ôm vũ trụ, dù sống ở đâu, vẫn có đôi mắt trong trái tim, trái

tim trong ánh mắt, để nhớ để thương từng tên sông tên núi, từng ngọn cỏ lá rau, từng bóng dáng thân quen trên mọi nẻo đường Từ niềm vui lẫn nỗi buồn cũng như từ

hy vọng lẫn đau thương, Mặc Giang viết rất thật, cảm thụ rất sâu, nên người đọc không riêng gì thân nhân mà độc giả mỗi miền đều có sự đồng cảm với tác giả

Trang 8

Tâm hồn Mặc Giang tuy bay bổng nhưng biết đáp xuống trên từng phần đất mà tổ tiên dày công khai phá, gìn giữ, bảo tồn, và tứ thơ Mặc Giang khơi dậy nỗi niềm, tâm tư, chất chứa niềm tự hào, khí tiết của dòng chảy truyền lưu qua từng thế hệ

Thi sĩ chân chính phải có khí tiết của bậc cao sĩ vô danh, là biết siêu việt và viên dung mọi giá trị đối lập Giá trị này hẳn nhiên đã được gợi mở bằng giáo lý Bồ-tát đạo một giáo lý đề xướng tinh thần cứu độ chúng sinh của nhà Phật Biết nghĩ và làm như thế, nên nhà thơ Mặc Giang có thể đánh động và xoáy động tình người, và hơn thế nữa là kêu gọi thiết lập tình nhân loại, để ai cũng tập nhìn về mối quan hệ “bốn biển đều

là anh em”, để lúc nào cũng thấy rằng, “anh với tôi đâu phải người xa lạ, dù không quen cũng gợi cảm tình người ” Là cái nhìn vượt lên mọi phân định về ý thức

hệ, mở ra một chân trời sáng lạn của thông điệp tình thương

Đọc kỹ, nghĩ sâu, phân tích, phân đoạn trong Lời giao cảm của tác giả, chúng ta đã thấu hiểu và khám phá được Mặc Giang một phần lớn rồi Tin tưởng Mặc Giang và mỗi chúng ta còn giữ mãi quê hương trong

lòng đến cuối đời, để muôn kiếp Ta còn Việt Nam, sông núi hồn thiêng

Trang 9

QUÊ HƯƠNG : mãi mãi trường tồn

NGUỒN CỘI : có căn nguyên vẫn là giá trị trầm tích

mà con người cần ôm ấp trong lòng, cần đào xới và gìn giữ

Hy vọng Quê Hương Nguồn Cội của Mặc Giang sẽ

được đa số người Việt Nam ở quê nhà cũng như ở phương xa đón nhận bằng cả tấm lòng

Thơ Mặc Giang đề cập nhiều nội dung, trong đó không chỉ

là triết lý sắc- không, là hoa lá cỏ cây, nghệ thuật ngôn ngữ, mà chủ yếu còn là một mạch tương thông với mộng cảnh nội tâm thâm sâu của tinh thần, tiết tháo, phẩm chất vốn có của người Việt Nam qua bao thời đại Tuy nhiên, đôi khi lại trực tiếp viết

về tinh thần ấy của của người Việt Nam biểu hiện qua lời nói,

Trang 10

hành động; nhưng đôi khi cũng một cách nghệ thuật, biểu hiện chúng bằng cách thông qua miêu tả cái đẹp, cái hồn của vạn vật, thiên nhiên Thơ Mặc Giang cũng bao gồm những từ ngữ hay đẹp như Trường Sơn, Thái Bình, sông Tiền, sông Hậu, sông Hồng Hà, sông Thu Bồn, sông Gianh, Bến Hải, Bắc Ninh, Thăng Long, Hồ Gươm… Có thể nói rằng, thơ Mặc Giang là một trong những từ ngữ đẹp của Việt Nam Nhắc đến thơ Mặc Giang, chúng ta có cảm giác gần gũi, đẹp, thanh thoát và dễ chịu Chúng ta có thể từ trong nghệ thuật ngôn ngữ, di sản văn hóa và non nước hữu tình để xem thơ ông, thì sẽ thấy thật đặc biệt, cao xa nhưng dung dị; thật bình thường dân dã, nhưng không tầm thường

Thơ ông mang một tinh thần văn hóa khiêm dung: nông nghiệp lúa nước, lấy đời sống người dân lao khổ làm trung tâm Ông thường mô tả cái cảnh dân quê lam lũ với ruộng quắn khô cằn, mái tranh nghèo, vườn rau xanh ngát, khói lam chiều phủ kín quê mẹ; xem cả thành thị miền quê đều là trung tâm Mặc Giang còn đề cập đến những vấn đề như : tôn giáo, sức lực nguyên khí tràn đầy, sắc màu cổ kính, một tinh thần văn hóa vừa

kế thừa, vừa sáng tạo Vậy, thi ca Mặc Giang cuối cùng vẫn liên quan đến những gì thuộc tâm linh, tính chất tâm linh của người Việt Nam, đó chính là văn hóa tinh thần thâm sâu của thơ Mặc Giang

Vậy, thơ là gì, là sinh mạng của con người Nó “như mê bỗng giác, như người nô lệ thoát kiếp, như bệnh được lành” Cho thấy, thơ là tất cả những giá trị băng vượt thời gian Thơ chính là thức tỉnh lòng người, là cái gì đó rất gần gũi với thế giới tâm linh và bản thân cơ thể vật lý của chúng ta, là từ trong khốn khổ đau thương, phù phiếm hoa lệ, mà thức tỉnh và thấy được chân

Trang 11

Có hay không có chân thân, thiết nghĩ, trước nên thêm một bước luận chứng điều này Như nhân sanh có huyễn thân và hóa thân, cũng vậy, thơ chính là tự ngã của lòng thương có sức mạnh

và tự bản thân thơ cũng rất đáng yêu, vì là cái đẹp trực giác Ngày xưa có hai vị thiền sư, hôm nọ thảo luận một vấn đề, vị thứ nhất nói nhiều đến vấn đề liên quan trời đất vũ trụ Khi đến lượt vị thứ hai, ông ta bỗng nhiên thấy trong hồ có một đóa hoa sen đã nở, bèn nói : “khi thấy đóa hoa này, rõ biết đời huyễn mộng” Một ví dụ khác: có một Đại sư đêm nọ ngủ trong một khu rừng Bấy giờ có một người hái trộm dưa bên rừng, thấy trăng sáng hiện ra, ông ta lập tức ứng khẩu làm bài thơ:“trăng sáng mày chớ ra, đợi ta hái xong dưa, ta đem dưa đi rồi, mạêc tình mày ẩn hiện.”Vị Đại sư nghe rồi nghĩ rằng, ngay đứa trộm cũng biết làm thơ, ta lẽ nào không biết sao? liền ứng khẩu một bài :“ác Ma! mày chớ xuất hiện, đợi ta đoạn phiền não, phiền não đoạn xong rồi, mặc tình mày ẩn hiện.”Sau khi đọc xong bài thơ, Đại sư lặng lẽ đi sâu vào thiền định Đây cũng là câu chuyện về sự tùy cơ dụng công, là trí huệ, và kết qủa cuối cùng được đánh dấu thông qua trực giác của tâm Do đây, có thể nói, thơ là biểu hiện của trí tuệ, tầm quan trọng của thơ ca chính là tầm quan trọng của trí tuệ; còn đọc thơ là tiếp xúc với kinh nghiệm cảm tính mới mẻ; đọc nhiều thơ, càng tiếp xúc thư giản với những kinh nghiệm cảm tính càng nhiều hơn, cũng như xem hoa, như nhìn trăng Do vậy, đọc thơ đọc đến nhập tâm, đột nhiên cảm thấy, dường như người xưa là người trong mộng của chúng ta, chúng ta lại cũng là thân đời trước của người xưa Đôi lúc thơ là chắt lọc của những hồi tưởng rất ý vị, những nhận thức sâu sắc trong trần thế, những cái nhìn nhạy bén từ góc cạnh thâm sâu trong cuộc sống, nhưng cuối cùng thơ vẫn là những cảm tính luôn mới mẽ, vực dậy từ hố sâu của nhận thức lý tính

Trang 12

Thơ Mặc Giang là những ý thơ, hồn thơ tiêu biểu đại diện cho

sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa hai yếu tố cảm tính và lý tính như vừa nêu trên, nên khi viết về đất nước và con người Việt Nam bằng nhiều hình ảnh và thơ phong khác nhau, thơ ông hoàn toàn

đủ tư cách đại diện cho sự tài hoa trong việc lột tả tinh thần, khí chất, cốt cách của người Việt Nam, con người của sự hướng nội với đời sống tâm linh phong phú, của sự kế thừa nền văn hiến mấy ngàn năm, của kiên trung nghĩa khí, cũng là con người của

sự hội tụ chọn lọc của những gì thâm sâu, huyền bí, nhưng cũng thực tế nhất, hiện thực nhất

Trang 13

Vì vậy, nếu khi chúng ta xa quê, mà đọc mấy câu sau trong trong bài Chùa tôi của Mặc Giang, chắc ai cũng ngậm ngùi, như đang đưa hồn mình về với cội nguồn Tiên Tổ :

Chùa tôi nho nhỏ bên làng

Bên dòng sông quyện, bên hàng thông xanh,

…Chùa tôi cửa trước cửa sau,

Mỗi lần Hội lớn kéo nhau ra vào,

Lời kinh tiếng mõ thanh tao,

Tiếng chuông ngân vọng rạt rào hồn quê

…Chùa tôi còn có quê tôi,

Quê tôi còn có chùa tôi muôn đời

Trong quê đã có chùa, và trong chùa cũng vốn có quê Chùa là là một biểu tượng văn hóa không thể thiếu trong quần thể văn hóa vật chất, tượng trưng văn hóa Việt Nam, là nơi kí thác tâm linh và nỗi niềm thầm kín nhất của đa số người Việt Nam Hễ nói đến văn hóa Việt Nam, thì hình ảnh ngôi chùa bỗng hiện lên trong tâm hồn sâu lắng của hầu hết người dân quê Việt Nam Hình ảnh ngôi chùa ăn sâu vào tâm hồn người Việt một cách tự nhiên, không gượng ép, không giáo điều, không quyền thế Bởi trong dòng máu của mỗi người như đeo mang nó

từ lúc cất tiếng chào đời Do đó, Chùa là một hình ảnh sinh động

Trang 14

Nam bởi tính thân thiết, hài hòa, thanh đạm, tự nhiên Chính vì hình ảnh mái Chùa là một giá trị văn hóa quan trọng không thể thiếu trong mạch nguồn văn hóa Việt Nam như thế, nên ngay từ

xa xưa, dân tộc ta đã có câu ca dao :

Mai này tôi bỏ quê tôi

Bỏ trăng bỏ gió, chao ôi ! bỏ Chùa

Người ra đi xa xứ xa quê đó đã sớm xác định được rằng,

“mái chùa che chở hồn dân tộc”, là “nếp sống muôn đời của Tổ tông” Nên nếu phải ra đi, bỏ quên tất cả những kỉ niệm đẹp đẽ thanh tao của quê hương, là đã đau lòng lắm rồi, nhưng cũng có thể nguôi dần theo năm tháng Nhưng Chùa, thì làm sao lại quên, làm sao lại không đau lòng xót ruột, không vấn vương quyến luyến, bịn rịn lúc biệt ly, nên cảm động và than van não nuột: “chao ôi ! bỏ Chùa” Cho thấy, đời sống tâm linh hay tinh thần của người Việt Nam nói chung ngay từ xa xưa đã gắn liền với “đất vua, Chùa làng, phong cảnh Bụt”, là đời sống tâm linh linh thiêng phong phú nhất, mà hình như hiếm tìm thấy ở một quốc gia nào

Đời sống tâm linh gắn liền với ngôi Chùa, chính là đời sống đạo đức tinh thần được thiết lập trên những đạo lý căn bản

về hoàn thiện nhân cách, trong sạch từ lời nói đến hành động Vậy, nếp sống tâm linh hay xu hướng hoàn thiện chuẩn mực đạo đức của người Việt Nam xuyên qua hình ảnh hòa vang thân thiện của ngôi Chùa, cho ta thấy thi sĩ Mặc Giang đã xác định và cũng nâng cao tầm mức chiều sâu tâm hồn Việt Nam, tâm hồn biết xúc cảm và rung động sâu xa trước bao nỗi khổ niềm đau của cuộc đời Đó mới chính là tâm hồn chính thống Việt Nam, là

Trang 15

trái tim Việt Nam, là suối nguồn đi về vô biên của tình thương

Tiếng khóc quê hương tê tỉ ruộng đồng

Tóc mẹ trắng xỏa chiều dài lịch sử

Bàn tay mẹ đưa con về tình tự,

Mái lều tranh ấp ủ những ngọt bùi

(Cuốn một bờ lau)

Con người Việt Nam là con người của dân tộc thuần hậu, hiểu biết, biết lắng nghe, lắng nghe được những đau thương đã qua hay hiện tại của đất nước, hay những niềm đau thầm lặng tím ruột bầm gan của giang sơn, nghe rõ từng tiếng khóc tê tỉ, nghe tận cùng nỗi niềm của dân tộc Khi đọc dòng thơ trên, chúng ta sẽ cảm thấy, trong tiếng khóc quê hương, trong nỗi buồn của mẹ, người con được đưa về trong tình cảm ngọt bùi, chính là bối ảnh của mình, lòng bỗng nhiên cảm thấy cảm động

và ấm áp khó tả Cho thấy, vì thơ Mặc Giang đã biểu đạt nhân

Trang 16

tính tương thông kim cổ, là dùng kinh nghiệm cảm tính vĩnh viễn mới mẻ để biểu đạt Vì vậy nên nói rằng, thơ Mặc Giang, một mặt là nhân tính vĩnh hằng, còn mặt kia là sự mới mẻ, là cảm tính vĩnh viễn Mà nhân tính cổ kim tương thông này chính

là niềm mơ ước trong nội tâm thầm kín của văn hóa Việt Nam Người viết nghĩ, văn hóa Việt Nam của chúng ta, nằm mộng cũng mộng đến chỗ đẹp nhất, sâu sắc nhất, chính là tinh thần nhân tính tương thông cổ kim Vĩnh viễn của ruộng đồng, của mái nhà tranh, sau lưng nó là thế giới nhân tính vĩnh viễn

Chính cái nhân tính vĩnh viễn này đã tạo cho con người Việt Nam một hướng đi theo chiều tích cực khác, càng chứng tỏ đất nước Việt Nam là đất nước của những con người làm nên lịch

sử Và làm sao mà con người Việt Nam đã thực hiện được điều

đó, chúng ta thử xem Mặc Giang viết : như “Noi chí khí là con

đường phía trước Chớ không trùm mền, nằm đợi phía sau, Băng

tang hải đạp biển dâu, Sống hiên ngang, đứng ngẩng đầu”, như

“Nhớ Trưng Vương cỡi voi dẹp giặc đất Mê Linh Nhớ Triệu Trinh ra khơi vỗ sóng cỡi cá kình Nhớ Đống Đa, tuyệt thế Quang Trung” hay như“tôi mạnh bước ra biên thùy dậy sóng”, rồi “thời tao loạn, nhuộm mình trong khói lửa” Đất nước Việt nam là đất nước sinh ra những con người bất khuất như thế đó Con người Việt Nam là anh hùng như thế đó, và sẽ hiên ngang

như vậy đó Đây cũng là khí tiết tự quyết của Trần Quốc Tuấn, dõng dạc dứt khoát của Trần Bình Trọng, quyết đoán của Quang Trung Nguyễn Huệ… Thời đại nào, Việt Nam cũng sẽ có những con người như thế ấy, sẽ tiếp tục trên con đường đó, nếu cần thì sẵn sàng làm người lính tiên phong, xông pha ngẩng đầu đối diện sống chết như cha ông đã băng mình trên sa trường, mà máu hồng mãi như tắm nhuộm cho non sông thêm gấm lệ kiêu hùng

Trang 17

Đề cập những tên tuổi vàng son của những anh hùng bất khuất sáng ngời lịch sử, thi nhân Mặc Giang như cảm thấy ấm lòng, ngòi bút như thần tiên chắp cánh, bởi đã thấy trong con người Việt Nam của mấy ngàn năm văn hiến là sức mạnh Phù Đổng vươn mây, là sự tuôn chảy ồ ạt của sông Hồng, là chiều cao của ngọn Ba Vì, và luôn là trong chiều hướng hội tụ đoàn kết nhân tâm của Hội nghị Diên Hồng Đó cũng là mở đường cho sức mạnh của thời đại Đinh, Lý, Trần, Lê, là thời đại đại diện cho cái nôi tinh thần làm nên chiến thắng vẻ vang sống động sông núi hồn thiêng, biến Việt Nam trở thành tên gọi đất nước của những anh hùng làm nên lịch sử, đất nuớc của sông Hồng xuôi mãi về biển Đông, bồi đắp phù sa cho ruộng đồng cò bay thẳng cánh, là quê hương của muôn đời đi về trong suối mát sực nức hương hoa, để Việt Nam còn mãi là Việt Nam vùng vẫy dọc ngang, đội trời đạp đất vẻ vang giống nòi

Ngoài ra, đề cập đến tinh anh của tinh thần, mặn mà của nhân cách khí chất con người Việt Nam, Người thơ Mặc Giang còn thường thường nhắc đến biển rộng sông dài, núi cao bình nguyên, cảnh quê nghèo dân dã, đồng ruộng khô cằn Thơ ông

có mấy câu như : “biển dâu xanh ngắt một màu”, như “gom

ngàn vạn bóng phù vân, Vén mây trùng điệp tỏa vầng thiều quang”, như “tỏ soi như ánh trăng rằm, ngàn sao lấp lành ngàn

năm vẫn còn”, như “đứng trên bèo bọt ba đào Xô tan dòng

nước vẫy chào trùng khơi” và “ Trường Sơn lan tỏa câu thề, Thái Bình loáng bạc, sóng kề nước reo”, đều là những câu thơ nói lên sức mạnh sung mãn ào ạt, sức sống vươn lên cuồn cuộn,

hùng hậu, là những đức hạnh, những đức tính thanh cao trong sạch, là tinh thần tiết khí “thà làm cây cỏ xanh ngát bên đường,

hơn hoa mỹ thêu thùa bên bờ lau gió bụi” Sông Thái Bình, núi

cao vách lớn, mặt trời, mặt trăng trong thơ Mặc Giang đều

Trang 18

mạnh mẽ nhưng lại mềm mại dẻo dai bền bĩ kinh trời động đất,

hào sảng, tình tiết và hùng tráng Cũng như câu thơ : “trắng vàng

rơi rụng bao màu đã Vàng bạt Trường Sơn trắng biển Đông”,

là sức sống mạnh mẽ, hùng hồn, khí thế Đây chính là đại biểu

thẩm mỹ ý thức của thơ Mặc Giang: cái đẹp của trời đất, hùng vĩ cảnh quan của tự nhiên -đêm trăng, mây, sóng, ánh thiều quang… một khi cùng xuất hiện trong nhân gian, khiến nhân gian trở thành cái đẹp tồn hằng trong các cái đẹp, chúng là đại tự nhiên của sinh mạng hóa, là khuynh hướng mở ra một chân trời hứa hẹn lên màu

Tổng quan ý nghĩa của những câu thơ trên, cho thấy thi nhân Mặc Giang đã khẳng định, cốt cách nòi giống Rồng Tiên là cốt cách của những người sống trên thế gian này mà biết thiện đãi chính mình, nếu không thì phụ đời này, luống uổng đời này Thiện đãi chính mình là thiện đãi quê hương giống nòi, thiện đãi quê hương giống nòi là phụng hiến tâm huyết cho non sông, cho hương hồn liệt vị tiền bối đã không tiếc máu xương của mình, đã nằm xuống cho Việt Nam trời quê thêm xanh ngát ruộng đồng, cho Việt Nam biển Đông thêm ấm gội nắng hồng

Có một số thơ của Mặc Giang, đọc lên nghe rất bình thường an định, trầm tĩnh, nhưng cũng mang cái đẹp nguyên khí quán thông vũ trụ, có trời có đất, trong cái nhiêu khê chật vật chìm nổi, là cái đẹp thường nhiên Như “Cây đa còn đứng đầu đình, cành mai trước ngõ

nghiêng mình trổ bông”, như “thác róc rách trên đèo

heo hốc núi, nước khơi nguồn chìm nổi giữa dòng khe” đều là khí mạch tràn trề không gián đoạn của con người

và vũ trụ Như “đi về thăm hỏi mùa đông, giá băng đâu mất bếp hồng ấm êm Mùa thu còn ngủ bên thềm, rụng

Trang 19

chồi lá non”, chẳng phải là cái đẹp trơi chảy tiềm tàng

vơ biên tế, sinh đợng khơng dừng nghỉ của khơng gian, thời gian, của đất trời, của con người đĩ sao Những câu thơ này đều là tiết tấu sinh mạng của thi nhân, tiết tấu sinh mạng cảm thơng cả vũ trụ

Rồi như khi viết về các tỉnh của Việt Nam dấu yêu,

Người thơ Mặc Giang cĩ mấy câu như : “đi ra tận cửa

Hải Phịng, trùng dương sĩng vỗ, Hạ Long tuyệt vời”,

“Cam Ranh mây nước xanh lam, Đà lạt mơ mộng suối vàng Cam Ly”, “Sài Gịn nĩi thiệt nào hơn, viễn Đơng hịn ngọc dễ sờn mấy ai” Mặc Giang cho ta thấy, cái đẹp nổi bật của tỉnh vùng, cũng là cái đẹp tinh khiết, cái

đẹp như đã được tơi luyện giồi mài trong truyền thống đậm màu tâm linh của trong tâm hồn con người xứ ấy nĩi riêng, của người Việt Nam nĩi chung Chưa dừng lại

ở đây, thi nhân cịn đưa chúng ta đi thưởng thức cái đẹp thanh tao như chưa từng vướng lụy của đất trời :“đi vào sợi nắng long lanh, trời xanh lống bạc rơi nhành thùy dương” Văn tự ở đây rất dễ hiểu, đơn giản, rất bình thường dung dị, nhưng đọc lên, cho ta cĩ cảm giác thật

dễ chịu, thật thơng thấu Mặc Giang cịn cĩ một câu thơ nghe rất hay trong hình tượng tư duy, đẹp trong cái đẹp vần vũ hài hịa của đất trời : “suối vắng ven đồi reo rĩc

rách Đêm thanh giĩ lộng nhạc thần tiên”, là cái đẹp

đặc biệt, mặn mà, đầy nội lực, cái đẹp khơng biến hoại đổi thay theo ngoại cảnh Đọc rồi, cho người ta cảm thấy

cuộc sống rất đẹp, rất mới mẻ hoạt bát, hoạt lực, cĩ sức mạnh tiềm tàng

Ngồi ra, cịn cĩ một số thơ vừa đọc, ta thấy cĩ chút

Trang 20

bên trong rất mạnh, rất sung mãn Như “trăng lặn dòng sông

đêm mấy canh”, “tầng không én liệng buồn bay cuối trời” Vậy

thì đó là cái cảnh buồn thâu não ruột, buồn đến ngẩn ngơ đờ

đẫn, không thiết gì cảnh sống đang vươn lên đầy sinh lực ? hoàn toàn không phải, mà thực tế sau cảnh này là “lúa đơm bông

ngậm sữa ướp tinh anh”, là “như mùi mạ con, mơn mởn xanh

non, như bông lúa thơm chờ mùa lúa chín” Đây đều là những sức sống vươn lên trong sức mạnh của cái đẹp mà sự hoàn thiện

tròn đầy đang chờ mong Ngoài ra, ông cũng có những câu đọc lên nghe một chút âm hưởng giọng điệu u buồn như “tiếng dế

kêu nghe ủ dột mùi sương”, “núi vẫn ngủ bên rừng già giá lạnh,

rừng vẫn yên bên núi thẳm thâm u”, nhưng thực chất chuyển tải

bên trong đó chính là sức mạnh, là cái cảnh huy hoàng ấm áp xán lạn của cảnh vật hòa trong điệu sống tràn đầy sinh khí, hoạt lực vô cùng, mạnh mẽ như vũ bão, mạnh như mạ xanh non chờ lúa mới Trong tiếng kêu ủ dột của tiếng dế, trong giá lạnh của rừng già và âm u của núi, thì lúa mọc lúa tàn, hoa nở hoa rụng, vốn có bao nhiêu vạn vật mãi mãi sinh trưởng tự nhiên mạnh mẽ như hít thở không khí, không gì có thể ngăn cản nổi Cũng thế, bao nhiêu âm thanh hình sắc đều sẽ qua đi, nhưng không phải hoại mất, mà là đang chuyển từ dạng thức này sang dạng thức khác mới mẻ hơn, hoàn chỉnh hơn trong quy luật vận động sinh tồn và chuyển hóa Tâm tính con người Việt Nam, đất nước của những người con máu đỏ da vàng cũng vậy, tuy trong những tiến trình khác nhau trong qúa độ chuyển hướng hoàn thiện hơn trong cuộc sống, đã không ngừng đấu tranh sinh tồn để có một cuộc sống vật chất hoàn thiện và tâm linh trong sáng hơn

Chỉ có mấy câu thơ, nhưng lại rất thiết thực ích lợi đối với nhân sinh, với đạo lý sinh mạng, có khả năng khai mở một thế giới vô hạn của sự tiến bộ, của tri thức, của tình thương và sự hiểu biết Thơ Mặc Giang đúng là một tâm linh bất tử Thơ ông

Trang 21

lẽ nào không phải biểu đạt mộng ước của con người trong văn hóa tinh thần Việt Nam đó sao Thơ Mặc Giang là tinh thần của

sáng sớm, là sức mạnh tuổi trẻ, không phải là trà chiều Trà chiều là hồi vị, phản tỉnh trầm tư nếu không ngừng suy nghĩ vấn

đề Mà sáng sớm là không đề cập vấn đề, không phân tích; sáng sớm leo lên núi cao, là để dành tình cảm cho núi, ngắm biển thời

ý tràn ra biển, là trong lành mát mẻ, là tinh thần phấn khích phóng khoáng

Chính tất cả sức sống dạt dào, hướng sống mạnh mẽ, dứt khoát trên, đã tạo nên cho con người Việt Nam một tâm hồn rộng mở, sẵn sàng chào đón chăm nhận tình đồng loại Từ sự ít

cố chấp, không hẹp hòi ấy, đã hình thành trong lòng sự cởi mở hào phóng, do đó, tâm hồn họ cũng ý vị sâu sắc, rất hay, rất đẹp

Tại ý này, Mặc Giang có mấy câu như : “tay ôm giấc điệp mân

mê, vầng trăng nghiêng bóng nằm kê gối đầu”, như “bên hồ bóng nguyệt lung lay, nương làn sóng biếc đưa tay lên ngàn”,

“nằm đáy biển gối đầu non, phơi mình dưới nắng tựa hồn đỉnh cao.” Tất cả đều gần như cái khí chất thong dong diễu cợt cùng chiếc bóng thời gian, như là ý thức về giá trị cuối cùng của nhân

sinh là gì, đâu là giá trị chân thật giữa dòng đời phù phiếm điên loạn Đọc mấy câu này, người viết bỗng nhớ đến phong thái của những bậc Hiền Thánh, các vị do sống không kẹt vào ý niệm không gian thời gian, nên thong dong trong giấc ngủ, rồi ngày mai chỉ tựa cửa nhìn trời, và cũng là phong thái :“bẳng quên thân thể chẳng hề vương, lặng lẽ ngồi lâu lạnh cả giường, năm đến trông non không sẵn lịch, nhìn xem cúc nở tiết trùng dương

… Lò hương tàn lụi, mặt trời lên”, là phong cách sống rất Việt Nam, rất thâm thiết với nguồn cội Tiên Rồng Tuy nhiên, Mặc Giang không phải khẳng định sự thống nhất về phong thái sống giữa hai mẫu người, nhưng ít nhất, thi nhân đã tự khẳng định rằng, trong ngàn vạn người sống trong quay lộn loay hoay như

Trang 22

con rối, vẫn luôn xuất hiện những con người siêu thoát ấy, họ tồn tại như một tài liệu sống, và bất kì thời đại nào cũng có Đó chính là sự hội tụ tinh hoa của tâm hồn con người Việt Nam, đỉnh cao của nội lực tinh thần sung mãn, là phong thái của anh hùng Trần Nhân Tông, một hướng sống đại diện cho tâm hồn trí thức Việt Nam triều Trần: “ở đời vui đạo hãy tùy duyên, đói đến thì ăn, mệt ngủ liền, trong nhà có báu thôi tìm kiếm, thấy cảnh

vô tâm hỏi chi thiền.”

Tất cả những tinh thần khí chất trên, đã tạo nên một con người Việt Nam biết vun vén xây đắp tình người như keo sơn, như biển với bờ Mặc Giang có một số câu : như “Thái Bình

ngóng đợi sơn khê, Trường Sơn lan tỏa, vỗ về biển Đông”, như

“núi cao gối tựa non sông, sông sâu in bóng, non bồng núi cao”

và “ngày mai biển trở về sông, non quay về núi, cội trông về nguồn” nghe như một lời chung thủy sắt son, hay như một sự trở

về đoàn viên Đây phải chăng nói lên tình yêu nước của người

lính chiến và mong ngày hoan ca khải hoàn trở về, là tình bạn cảm động thiêng liêng, cùng dìu dắt nhau đi trên cuộc đời, là chung thủy của tình thầy trò, tình Sư đệ, tình quân nhân, tình đồng môn đồng đội, tình chung thủy của vợ chồng, và tình gắn

bó với quê hương nòi giống

Tình chung thủy, tình keo sơn gắn bó trong mọi quan hệ trong cái khí chất trung trinh tiết liệt ấy cố nhiên là niềm tin yêu,

hy vọng ở ngày mai, quyết không thể để cho trái sầu chín rụng, cho sự thất vọng lên ngôi Biểu đạt ý này, người thơ Mặc Giang

có mấy câu sau: “ngày tàn gọi bóng chiều rơi, tà dương chưa

ngủ trên đồi mênh mông”, hay như “bóng tối thâm u lộ chiếu trăng vàng, màn đêm khép lại cho vầng trăng ló dạng”, hay

“đêm về gõ cửa canh thâu, màn đêm e ấp gối đầu bình minh”

Trang 23

khí, cái chất quan trọng quý báu của người Việt Nam Nĩ là sức

mạnh un đúc nên sự chiến thắng, tạo nên cho con người Việt nam cái nhuệ khí mà khơng gì cĩ thể bào mịn, để cho anh cho

em quyết chí hạ thủ cơng phu đèn sách, chờ ngày gặt hái thành quả, thành bậc anh nhi xây đắp cống hiến cho đời; để cho người lính chiến hùng dũng xơng pha ra xa trường; cho người chinh phụ thêm sức sống; cho đất nước bốn mùa mãi xinh tươi trong

niềm vui đầy hứa hẹn như màn đêm e ấp gối đầu bình minh, như

sự đợi chờ hy vọng của cơ Tấm trong chuyện cổ tích

Sở dĩ tinh thần khí chất của dân tộc Việt Nam được thi nhân Mặc Giang nhận định đánh giá một cách khách quan, thơng qua những diễn biến của quá trình lịch sử cũng như phong thái tâm hồn và lối sống, là vì thi nhân đã tiếp thu và xây dựng cho mình

sự hiểu biết rằng, do con người Việt Nam trong thầm kín nội tâm, đã xác định sự quan trọng của tổ hợp thân thể tâm lí và vật

lí này Hay nĩi cụ thể hơn, họ hiểu “con người là cây sậy cĩ tư tưởng”, hay như Đức Lão Tử nĩi “người là linh hồn của vạn vật”, cịn Phật giáo nĩi “con người là tối thượng” và“hãy tơn trọng tánh linh của mình” Điều này muốn nĩi rằng, sinh mạng con người là cái đẹp nhất, quý báu nhất trong khoảng trời đất này mênh mơng này Đây cũng chính là một nhận định quan trọng trong văn hĩa Việt Nam thời cổ đại Do vậy, ơng cha ta ngày xưa đã dạy phương cách để hồn thiện và phát triển nhân tính là: “ngọc nát cịn hơn giữ ngĩi lành”, hay “áo rách cĩ cách người thương” Và cơ sở để thiết lập sức mạnh xây dựng nhân tính, đĩ là sự xác định rõ rằng: “dù xây chín đợt phù đồ, khơng bằng làm phúc cứu cho mợt người ” Nhờ đĩ, con người mới quý tiếc thân mạng này Nĩi tĩm gọn, “con người là tối thượng”

cĩ mấy nghĩa là: con người là sáng tạo thiện ý của vũ trụ, sanh mạng là cao quý tốt đẹp, khơng thể hạ thấp và ép chế nĩ, ý nghĩa con người sống trên đời chính là nét đẹp thiện đãi sinh mạng, nỗ

Trang 24

lực phát huy khả năng của mình để không phụ đời này, không luống uổng đời này Bất luậïn khó khăn đến cỡ nào, cũng không buông lơi Quan trọng như chiếc bè dùng để sang sông, cũng vậy, duy nhất con người mới là nhịp cầu giữa Thánh hiền và phàm phu trầm luân

Ít nhiều, con người Việt Nam trong cái nhìn của thi nhân Mặc Giang, là con người của hội tụ đủ ý thức và kiến giải như trên

Do vậy, tinh thần nhân tính của văn hóa Việt Nam được biểu hiện trong thơ Mặc Giang, có thể có kết luận đó là: tinh thần tận khí (mạnh mẽ xốc vác hết mình), tận tài (dốc hết khả năng tài hoa của mình), tận tâm (dốc hết lòng mình để sống phục vụ trọn vẹn cho quốc gia), tận tình (đem chân tâm thiện ý, chính trực

mà đãi người ) Nhân sanh cần phải như thế, vĩnh viễn như thế không thôi dứt

Những câu thơ tứ thơ có liên quan biểu đạt tinh thần, khí chất con người Việt Nam của Mặc Giang, có thể là những sự nhìn nhận, phát biểu ý kiến của cá nhân đối với tiền bối trong nhiều giai đoạn quá khứ; có thể là vừa nhận định và cũng vừa khuyến giải cho thế hệ hiện tại và cho cả mai sau Thế nhưng, thi nhân cũng như chỉ làm một việc đơn giản, là:

Tôi vẽ một người Việt Nam, máu đỏ da vàng

Tôi vẽ một Nước Việt Nam, gấm vóc ba miền

Tôi vẽ một Nước Việt Nam, sông núi hồn thiêng

Trao từng thế hệ ngàn sau gìn giữ

Trang 25

Lội ngược thời gian theo dòng lịch sử

Của giống Rồng Tiên tình tự xưa nay

Và truyền lưu đến tận ngày mai

Cho rạng rỡ oai linh nước Việt

(ta còn Việt Nam sông núi hồn thiêng)

Đây như là một bài hùng ca cô đọng sau cùng, mà mỗi câu

đã bao hàm xác định, phân tích, giải thích, chứng minh và ngợi

ca về con người, về đất nước của mấy ngàn năm văn vật

Tinh thần sinh mạng tích cực, tiến thủ mạnh mẽ, hướng thượng của thơ mặc Giang không phải chỉ là chất liệu khai phóng thời đại, mà còn là tinh thần rất Việt Nam, rất dân tộc, rất

tự hào, rất nghĩa khí, nó rất cần thiết để xây dựng sức mạnh cả tâm linh cho một đơn vị, một tập thể, một cộng đồng, và xa hơn nữa là cho đến một quốc gia

Ngày nay đang sống trong trào lưu vật chất, trong đắm chìm của cám dỗ cảm giác, thì những khủng hoảng đạo đức nhân tính của con người nói chung luôn là niềm đau nhức thấu tâm can của những kẻ sĩ, của đấng quân tử trượng phu nói chung

và người thơ Mặc Giang nói riêng Cho nên việc làm, ngôn từ và

tứ thơ của họ không những chỉ là sự xác quyết nhận định đầy tự hào kiêu hảnh, đồng thời cũng chính là những nhiệt huyết với tinh thần dân tộc, tinh thần của tính tự quyết tự thiện với những

ý thức cao độ Do đó có thể nói rằng, giờ là bối cảnh phù hợp nhất, là hoàn cảnh cấp thiết nhất để đọc thơ Mặc Giang, nhằm

Trang 26

cải tạo nhân tâm, vun bồi đạo nghĩa, củng cố tình người Nhờ chúng ta là những người mang trong mình dòng máu tiên tổ cha ông với cốt cách và nghĩa khí kiên trinh, nên cho dù hoàn cảnh hay thời đại nào, các bậc trượng phu quân tử cũng hy vọng rằng, người Việt Nam chúng ta sẽ mãi là con người của tình thương,

lý trí, nghị lực, không khuất phục biến thái dưới bất kỳ danh nghĩa nào, để lịch sử Việt Nam mãi chói sáng, để tinh thần khí chất, tiết liệt của người Việt Nam mãi mãi là những giá trị xuyên vượt thời gian

Cuối năm 2006 - Hồ Bảo Quốc

Lời Giao Cảm

Khi được sinh ra, lớn lên, đi vào trường học với chiếc

áo thư sinh chưa thấm vị học đường, bước vào trường đời của kiếp nhân sinh dong ruổi trên mọi nẻo đường lại bạc sắc phong sương Đối diện với phồn tạp bên ngoài, cảm nhận vui-mừng-buồn-đau-thương-tiếc-tự hào, nếu có những gì liên hệ đến hai tiếng Việt Nam Đối diện chiều sâu của tâm tư, rung lên những bồi hồi-cảm xúc-ray rức-nhớ nhung-vọng tưởng khi tự tình lần

mò dấu xưa, tích cũ trôi về dĩ vãng, vương vấn bóng dáng, hình hài từ Quê Hương Nguồn Cội ?

Bên dốc đá nhìn lên đỉnh núi, cạnh bờ sông ngược mãi

về nguồn, trên đầu ghềnh lắng nghe biển cả, càng thấm thía ý nghĩa : “Ba năm bồng ẵm cảm Ơn Cha, Chín

Trang 27

tháng cưu mang nhờ Đức Mẹ”, “Nhớ trăm con một bọc

xa xưa, Năm ngàn năm lịch sử có thừa, Luôn tiếp nối truyền trao thế hệ, Lạc Hồng con cháu gắng nghe chưa”, “Em vẽ một vòng tròn, Anh vẽ một hình vuông, Khép hai chữ vuông tròn, Thành quê hương muôn thuở” Càng khởi động linh tri : nơi cắt rốn chôn nhau còn đó, nơi nguyên quán sinh ra còn đây, đi về dòng sông quê ngoại, bắt gặp rừng nội quê cha, xa hơn, xa hơn nữa, ngược dòng thời gian, lại gặp từng thời kỳ qua các triều đại, hình dung mốc điểm sơ khai, thấy 50 anh em xuống biển mở đường, 50 anh em lên non trấn thủ, và hai bóng cả sinh thành Lạc Long - Âu Cơ đang

vỗ về, nhắn nhủ, bảo bọc, truyền lưu

Từ đó, cho dù bất cứ nơi đâu, nhưng như “ta đi trên nước non mình”, cho dù hoàn cảnh, cuộc sống, đường đời có trôi nổi muôn phương, nhưng dòng máu đang mang là huyết thống cha ông, tình tự lâng lâng là ngọt ngào sữa mẹ, tiếng vô thinh có gõ cửa hư vô, tiếng hữu thinh có đàn hồi âm vọng, ở một góc độ nào vẫn mãi mãi, “Ta còn Việt Nam, sông núi hồn thiêng”

Một âm vọng nào Miền Bắc, tình tự dâng lên cội nguồn gốc rễ phôi sinh cái nôi năm ngàn năm dân tộc Một

âm hưởng nào Miền Trung, hình ảnh mở mang bờ cõi

cả ngàn năm mà tiền nhân đã nằm xuống cho đồi núi chập chùng Một âm vọng nào Miền Nam, bóng dáng

Trang 28

300 năm mồ hôi, nước mắt, máu xương của 3 thế kỷ trải dài cho sông nước Miền Nam vỗ bờ, cho Việt Nam liền dãi cong cong mảnh dư đồ chữ S, từ Nam Quan tới

Cà Mau, có Biển Đông kê vách, Trường Sơn gối đầu

Thi Tập nầy có thể chứa đựng, phảng phất, cưu mang, chuyển tải, tài bồi, tô thắm, thấm nhuận theo từng cung bậc, trình tự và dòng chuyển miên trường cho tình người ươm sống, hoa trái đơm bông, đều có và xuất phát từ Quê Hương Nguồn Cội

Thi tập nầy, đã được nối kết du dương qua cung bậc

âm sắc thanh tao của khoảng 20 nghệ sĩ tài hoa, được kết điệu 7 nốt trầm bỗng trên dòng nhạc chuyển hóa tuyệt kỳ của khoảng hơn 30 nhạc sĩ tài danh, phải chăng đó là sự giao thoa, âm hưởng và bắt nhịp đồng điệu cho thi ca, tao đàn, âm nhạc cao vút trên nghệ thuật tuyệt vời, cùng rung lên theo dòng sống, tâm hồn, gởi tặng vào đời từ Quê Hương Nguồn Cội

Giọng diễn ngâm đã lan xa, lời hát ca đã cao vút, thì cái gì đón nhận, trao tay, nhìn thấy, đọc xem, khen chê, phê bình, đánh giá, tác giả xin đón nhận từ mọi người, với ước mong bắt một nhịp cầu cảm thông qua thi tập Quê Hương Nguồn Cội

Trang 29

Hy vọng thi tập nầy sẽ đƣợc đến tay quí vị với những thịnh tình cảm mến, hoan hỷ, cởi mở, và là động lực cảm kích, trợ duyên cho hơn 650 bài thơ còn lại sẽ đƣợc dàn trải theo từng chủ đề, lần lƣợt có mặt nhƣ một cống hiến chân thành

Ngày 20-02-2006

Mặc Giang

Vào thơ

Việt Nam non nước Ba Miền

Từng trang sử Việt nối liền từng trang

Việt Nam máu đỏ da vàng

Năm ngàn năm những vinh quang tuyệt vời

Việt Nam còn đó muôn đời

Muôn ngàn năm nữa rạng ngời Việt Nam

Trang 30

Ngàn năm tọa thị tại phương nam

Đông tây thầm bảo cùng phương bắc

Nể mặt phi thường nước Việt Nam

Tôi chỉ là người nước Việt thôi

Năm ngàn năm trước đến nay rồi

Núi sông một dãy liền sông núi

Lấp biển dời non, chẳng đổi dời

Việt Nam tổ quốc quê hương tôi

Thời thế thế thời dẫu đổi ngôi

Lịch sử năm ngàn không biến đổi

Truyền trao thế hệ mãi tô bồi

Hình cong Chữ “S” vịnh cơ đồ

Miền Bắc khai nguyên thuở dựng cờ

Lần kéo về Nam, Trung chính giữa

Tình Nam Trung Bắc đẹp như mơ

Kiếp sau nếu có được làm người

Tiếng khóc quên đi cất tiếng cười

Nở nụ cười vang thay tiếng khóc

Cho người nước Việt mãi xinh tươi

Ngước mặt ngẩng đầu sống dọc ngang

Cho hay con cháu giống da vàng

Kiếp sau nếu được làm người nữa

Trang 31

Xin nguyện làm người nước Việt Nam

Việt Nam Non Nước Tôi

* 7 – 2004 *

Từ thuở Long Quân tuyên phất cờ

Trăm con một bọc mẹ Âu Cơ

Hùng Vương mở nước con giữ nước

Chữ “S” hình cong vững bến bờ

Tổ quốc Việt Nam thật mến yêu

Cầu tre lắt lẻo nhịp cầu kiều

Đò ngang đò dọc non liền nước

Cẩm tú giang sơn thật mỹ miều

Quê hương một dãy kết ba miền

Sông núi muôn đời của Tổ Tiên

Uống nước nhớ nguồn cây nhớ cội

Ngàn năm rạng rỡ giống Rồng Tiên

Từ ngàn năm trước đến ngàn sau

Tuế nguyệt phong sương dẫu đổi màu

Máu đỏ da vàng không biến đổi

Việt Nam muôn thuở mãi cho nhau

Từ Nam Quan đến mũi Cà Mau

Non nước nước non quyện một màu

Trang 32

Đồi núi đồng bằng ra biển cả

Kết tinh thành nước Việt minh châu

Non nước Việt Nam non nước tôi

Nước non non nước bốn phương trời

Nước non vang vọng hồn non nước

Non nước này là non nước tôi

Miền Bắc Quê Hương Tôi !

Miền Bắc quê hương tôi

Từ thuở khai sinh, đã núi rừng hùng vĩ

Từ thuở nằm nôi, đã giòng giống Tiên Rồng

Đầu gối Trường Sơn, chân duỗi Biển Đông

Gắn bó, keo sơn, hy sinh, chịu đựng

Bắc, sáu tỉnh địa đầu, núi rừng gió lộng

Nam, vùng đất phì nhiêu, rộng mở mênh mông

Dân quê tôi, phải nặng gánh giang sơn

Người quê tôi, phải đội trời đạp đất

Miền Bắc quê hương tôi

Mang tiết tháo tự muôn đời, bất khuất

Vác trung trinh tự muôn thuở, kiêu hùng

Gìn ngàn xưa, để giữ đến vô cùng

Luyện gai góc, để rèn gương son sắt

Luôn đi đầu nên trả giá quá đắt

Ghì kỉ cương nên đến lại về sau

Thuyền ngược xuôi, vững tay lái con tàu

Trang 33

Vượt bão táp, miễn về sông bến cũ

Miền Bắc quê hương tôi

Là cái nôi, đầu đời nhắn nhủ

Là văn vật, vóc dáng trâm anh

Là khai nguyên, kiều diễm đan thanh

Tự nguồn gốc và truyền trao thế hệ

Miền Ngược, Miền Xuôi, đi về không dễ

Đá tảng, hòn chồng, lăn lóc nhiêu khê

Năm ngàn năm, vẫn nguyên vẹn ước thề

Cho non nước vẫn đời đời, muôn thuở

Miền Bắc quê hương tôi

Mang điệu hát bi hùng, làm sao không nhớ

Mang lời ca hoành tráng, làm sao không thương

Nên đi đâu, dù cách mấy đoạn đường

Nhớ Việt Nam, là nhớ cái nôi dân tộc

Cả Việt Bắc, là núi rừng đổ dốc

Cả Trung Du, là đèo kéo điệp trùng

Chạy về xuôi, cuối lưu vực sông Hồng

Ra tận biển, bềnh bồng reo sóng nước

Miền Bắc quê hương tôi

Hùng dũng, hiên ngang, quân thù khiếp phục

Khí tiết đường đường, muôn thuở soi chung

Lẫm liệt, hy sinh, chịu đựng tới cùng

Tiếp nối huy hoàng, rạng danh kim cổ

Miền Bắc ơi, quê hương tôi từ độ

Đau thương nhiều, chẳng mấy thuở bình mông

Nên đi đâu, lòng luôn nhớ dặn lòng

Trang 34

Thương cho những con người, ngàn năm văn vật

Miền Bắc quê hương tôi

Gian khó oằn vai, chung lưng đấu cật

Sông núi hiểm nghèo, chống đỡ lầm than

Đất nước hồn thiêng, ngang dọc dọc ngang

Nhưng rất chân tình, và giàu lòng mẫn cảm

Tiếng hát xa đưa, câu hò tản mạn

Khúc nhạc muôn đời, tình tự yêu thương

Ta mang tiếng hát lên đường

Ai người miền Bắc quê hương của mình

Thương nhau như bóng thương hình

Nhớ nhau như nguyệt lung linh trăng vàng

Ta mang tiếng hát âm vang

Thương thương nhớ nhớ trên đàng ta đi !

Tháng 7-2005

Miền Trung Quê Hương Tôi !

Miền Trung quê hương tôi

Ruộng quắn khô cằn, đất cày lên sỏi đá

Một nắng hai sương, giọt mồ hôi lã chã

Cơm độn ngô khoai, từ thuở mới chào đời

Những khó nghèo, xây xát con người tôi

Theo thời gian, thường già hơn trước tuổi

Miền Trung quê hương tôi

Miền thùy dương, biển ngàn khơi gió gọi

Trang 35

Sóng điệp trùng, xô đẩy kéo bờ xa

Dãy Trường Sơn nghiêng rừng thấp mặn mà

Đèo cao cả vắt đỉnh đồi dịu vợi

Vừa lớn lên đã nghe tiếng mẹ gọi

Bước vào đời lại thẩm thấu lời cha

Nhớ không con, luôn thương nước thương nhà

Dù có trải thời kỳ nào cũng vậy

Miền Trung quê hương tôi

Đất hẹp người đông nên đi đâu cũng thấy

Mang nặng vát đau nhưng miệng thắm môi cười

Một bước đến rồi, muôn bước sẽ không nguôi

Cực khổ trăm chiều, nhưng giàu tình giàu nghĩa

Sống chơn chất như đường lao, lau mía

Lòng thật thà như dìu dịu hương cau

Tâm trung kiên bền ý chí trước sau

Can nghị lực nhộm màu xanh sông núi

Miền Trung quê hương tôi

Đất khô cằn, một đời cặm cụi

Sỏi đá mòn, đánh đổi gian lao

Sóng nhấp nhô, lòng chẳng xôn xao

Biển gầm thét, không hề khiếp phục

Lại nhớ câu, sông có khúc người có lúc

Lại nghe câu, khi lên dốc lúc xuống đèo

Đá dẫu mòn nhưng lòng dạ đẳng đeo

Sông dù cạn nhưng muôn đời không đổi

Miền Trung quê hương tôi

Một nguyện ước, vẹn câu thề mãi mãi

Trang 36

Hai truân chuyên, trọn gánh vác hy sinh

Ba gian lao, rèn đức tính trung trinh

Bốn khó nhọc, luyện can trường nghị lực

Trên đồi dốc hay tận cùng đáy vực

Vẫn ngẩng đầu, và bước tới hiên ngang

Mỗi bước đi là lẫm liệt đàng hoàng

Không khép nép, hay gục đầu cúi mặt

Miền Trung quê hương tôi

Vốn khổ nghèo nên không e khúc ngặt

Dẫm chông gai nên không ngại gió sương

Càng gian truân càng bảo bọc hổ tương

Càng hiểm hốc càng giẫm mềm sỏi đá

Miền thùy dương, ôi mến thương chi lạ

Sóng rạt rào, ôi ngát đượm tình quê

Núi ven non, ấp ủ vẹn ước thề

Sông ven biển, cưu mang tình non nước

Ai có về Miền Trung

Cho tôi xin gởi trước

Thăm con người, và thăm cả Miền Trung

Hẹn lòng hai chữ thủy chung

Trọn tình non nước tận cùng mới thôi

Cho tôi mang cả cuộc đời

Để thương để nhớ ai người Miền Trung !

Tháng 7-2005

Miền Nam Quê Hương Tôi !

Trang 37

Miền Nam quê hương tôi

Ruộng lúa phì nhiêu, cò bay thẳng cánh

Đò dọc đò ngang, sông nước hữu tình

Thuyền nối sóng thuyền, lạch nối bờ kinh

Hương thắm tình nồng, thơm thơm bông lúa

Tiếng hát câu hò, tin yêu chan chứa

Cuộc sống trong lành, gió mát trăng thanh

Lồng lộng mênh mang, mây trắng trời xanh

Kiều diễm mộng mơ, tranh thêu gấm vóc

Miền Nam quê hương tôi

Đất trời cho, ít gian truân, gai góc

Của bạt ngàn, ít khổ cực, trầm kha

Sống thật chân, nên tình nghĩa đậm đà

Đời non trẻ, ba trăm năm lịch sử

Người Miền Nam, như câu hò tình tự

Dân Miền Nam, như tiếng hát đầu đời

Như con cò, bay lả lướt thảnh thơi

Như con cá, nhởn nhơ trên sóng nước

Miền Nam quê hương tôi

Sống đơn sơ, tựa rừng tràm rừng đước

Lòng an nhàn, tựa thuyền vỗ bên đê

Tóc buông vai, xõa một mái ước thề

Hồn cao đẹp như hẹn hò niên thiếu

Môi mỉm cười, kết nụ hoa hàm tiếu

Mộng bình thường, dệt màu tím hoa sim

Tình nồng nàn như máu chảy về tim

Trang 38

Thật bình dị nhưng thanh cao diễm tuyệt

Miền Nam quê hương tôi

Vốn bao dung không nặng nề tiểu tiết

Vốn khiêm từ không câu nệ hơn thua

Lợi danh chi, hoa trái sẵn bốn mùa

Nhân ảnh chi, những bọt bèo dâu biển

Đất miền nam như con đò từng chuyến

Để cho người Miền Bắc, với Miền Trung

Chỗ dừng chân và tìm lại thong dong

Sau những chuỗi đầy gian truân xuôi ngược

Miền Nam quê hương tôi

Dù đi sau nhưng đã được về trước

Ba trăm năm như hiện thể thanh bình

Cho cả quê hương, đất nước của mình

Bông hoa đẹp đã ngàn năm xây dựng

Đất êm ả, đá mềm chân cứng

Ngọc viễn đông, ẩn chứa bạc vàng

Ngày đang lên, đợi sẵn những đêm tàn

Trăng chiếu rọi, chờ hoàng hôn chưa tắt

Miền Nam quê hương tôi

Nước mặn đồng chua, nhưng lúa mùa dư dật

Gạo thóc đầy sân, nắng ấm đã đem phơi

Miền Nam quê của tôi ơi

Tôi mang tiếng hát đầu đời lớn lên

Miền Nam đi dễ khó quên

Như sông bến nước mon men bên đường

Hò đưa tiếng nhạc du dương

Trang 39

Như bông lúa sớm vương vương nắng chiều

Cầu tre lắt lẻo cầu kiều

Người đi kẻ đến dập dìu lại qua

Tôi mang tiếng hát lời ca

Bập bùng bếp lửa mọi nhà Miền Nam

Tôi mang khúc nhạc lên đàng

Lúa reo gió nắng Miền Nam chan hoà

Miền Nam là lá là hoa

Như thêu nến ngọc kết tòa thiên thư !

Miền Nam, quê của tôi ơi !

Tháng 7-2005

Cao Nguyên, Quê Hương Tôi

7 - 2004

Nhạc : Nỗi nhớ Cao Nguyên

Quê hương tôi đó, ở Cao Nguyên

Núi thẳm rừng sâu thật diễm huyền

Suối vắng ven đồi reo róc rách

Đêm thanh gió lộng nhạc thần tiên

Mỗi sáng ra truông trồng tỉa chè

Xuống lên vốc nước cạnh lòng khe

Chiều về đon đả vai gùi gánh

Nếp sống bình yên sướng quá hè

Cao Nguyên như tóc mẹ bềnh bồng

Trang 40

Gió lộng Trường Sơn bạt Biển Đông

Những thuở thanh bình, thêu gấm ngọc

Những khi nguy biến, tựa như đồng

Tôi đã ra đi khắp mọi miền

Hỏi đâu đẹp nhất, ấy Cao Nguyên

Bởi tôi có mặt từ nơi ấy

Hơn nữa, ít hơn thua não phiền

Nhà tôi nho nhỏ cạnh lưng đồi

Có mẹ và em, hàng xóm thôi

Từ giã tôi đi từ thuở ấy

Nhưng tôi vẫn nhớ mãi trong đời

Quê tôi xa lắm, tận Cao Nguyên

Tóc mẹ bạc phơ trắng núi rừng

Tôi đã phiêu du đời viễn mộng

Nhưng tôi còn nhớ mãi Cao Nguyên

Trung Du, Quê Hương Tôi

* 7 – 2004 *

Quê hương tôi đó, ở Trung Du

Những Bản Làng chen sương khói mù

Nương rẫy ngô khoai đời ấp ủ

Núi rừng reo khúc nhạc thiên thu

Nhạc rừng khuya khoắc giữa Trung Du

Ngày đăng: 13/09/2017, 16:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w