1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

BAI GIANG MY HOC MAC LENIN

206 173 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 206
Dung lượng 1,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chỉ có cái đẹp trong nghệ thuật mới là cái thẩm mỹ chân chính, bởi vì cáithẩm mỹ trong nghệ thuật là sự biểu hiện của sự vận động của ý niệm và của lýtưởng thông qua các hình tượng.. Về

Trang 1

Chương 1:

MỸ HỌC LÀ MỘT KHOA HỌC TRIẾT HỌC

I Mỹ học là môt khoa học hợp thành các khoa học triết học.

1 Về khái niệm mỹ học

Mỹ học là một khoa học hợp thành các khoa học triết học Đối tượng chủ

yếu của nó là các dạng biểu hiện của cái thẩm my trong toàn bộ hoạt động đời sống của con người Thuật ngữ quốc tế của khoa học này là Aesthétics 1

Các tư tưởng của nhân loại nghiên cứu về cái thẩm mỹ đã xuất hiện từ

500 năm trước công nguyên, song các tư tưởng đó thường gắn với đạo đức học,

xã hội học, luật học, văn học, sử học, nghệ thuật học Người ta thường gọi hiệntượng này là thời kì văn, sử, triết bất phân

Năm 1735, trong tư duy của nhân loại đã xuất hiện cách đặt vấn đề hình

thành khoa học mỹ học như là một khoa học độc lập Người khởi xướng công

việc này là một nhà triết học ít tên tuổi, dạy lý luận văn học và lôgíc học tạitrường đại học Frankfurt ở Đức, tên là Alêchxander Baumgácten (1714-1762)

Theo Baumgácten, mỹ học tìm hiểu những quy luật của nhận thức tìnhcảm, cảm tính Hoặc nói cách khác, mỹ học giúp chúng ta nhận thức được cái

đẹp My học là khoa học nghiên cứu sự thụ cảm cái đẹp Cái thẩm mỹ là đồng

nhất với cái đẹp, gắn bó với tình cảm

Theo Baumgácten thì sự thụ cảm về cái đẹp có sự liên quan đến sự thíchthú của con người về cái hoàn thiện Mục tiêu của mỹ học là sự hoàn thiện nhậnthức cảm tính và ở đây cái đẹp đồng nhất với cái hoàn thiện Trong mỹ học của

Baumgácten, nguyên lý thích thú có sự hoà quyện giữa chức năng nhận thức và

chức năng tính dục Các tình cảm, sự phấn khích, sự khoan khoái của con ngườithường thông qua các giác quan mà có Các giác quan đã mang lại sự đam mêquá khích và thường không tỉnh táo, không phục tùng giác tính của lý trí Và sựxúc động tập trung nhất là lĩnh vực nghệ thuật Chân lý nghệ thuật chấp nhận sự

ưu tiên cho tình cảm Lý trí ở trong nghệ thuật chịu đựng sự khoan dung của tìnhcảm Mọi cái đúng, cái tốt trong mỹ học đều được nghiên cứu từ dạng cảm xúc(Sinlichkeit) Chân lý thẩm mỹ tồn tại dưới dạng tình cảm

Mỹ học của Baumgácten, đại diện cho khuynh hướng duy lý trong triết học

2 Các khuynh hướng mỹ học chủ yếu trong lịch sử mỹ học trước Mác.

a Quan niệm của chủ nghĩa kinh nghiệm về các thẩm mỹ.

Theo Bơccơ (1729-1797), mỹ học là bộ phận của triết học thực nghiệm.Cái thẩm mỹ, có cội nguồn từ các giác quan Các giác quan đã đưa lại cho conngười mùi vị và ánh sáng, các cảm giác ấm và lạnh, những diễn biến vui buồn,ham muốn và phấn khởi trong tâm lý

Theo ông, cái thẩm mỹ là sản phẩm của quan hệ sinh học giữa các hiệntượng tự nhiên và cảm giác của các giác quan Các giác quan của con ngườikhông biến động, các hiện tượng tự nhiên cũng không vận động, do đó cái thẩm

mỹ không mang bản chất xã hội (dân tộc, giai cấp)

b Quan niệm của chủ nghĩa duy tâm chủ quan về cái thẩm mỹ

1 Trong ngôn ngữ khoa học ở nước ta hiện nay có hai thuật ngữ “Mỹ học” Một thuật ngữ của khoa dất nước học.

Trang 2

Trong triết học của Cant (1724–1804), khoa học về cái thẩm mỹ là khoahọc hoàn thiện hệ thống triết học của ông trong quá trình nghiên cứu bộ ba giátrị chân - thiện - mỹ.

Theo Cant, cái đẹp không tồn tại ngoài cuộc sống, nó chỉ là quá trình mỗi

người tìm ra tình cảm của mình mà thôi Mỹ học mà ông gọi là năng lực phán đoán, là khoa học nghiên cứu khả năng của mỗi con người, mỗi một người tự

phát hiện ra sở thích của mình Đó là khoa học nghiên cứu các phán đoán thịhiếu “vấn đề chủ yếu không phải là cái đẹp là cái gì, mà là phán đoán về cái đẹp

là gì”

Cant cho cái đẹp là tình cảm khoan khoái vô tư, không vụ lợi vật chất trựctiếp Các tình cảm này không do đối tượng tác động vào Nó là tình cảm hoàntoàn có tính cá nhân và tinh thần, các tình cảm tự vận động

Các kết luận của Cant về cái thẩm mỹ là thuần tuý chủ quan

c Quan niệm duy tâm khách quan về cái thẩm mỹ

Đối với Hêghen (1770–1831), cái thẩm mỹ tồn tại tập trung trong lĩnh vựcnghệ thuật

Theo ông, cái đẹp có trong tự nhiên, nhưng nó là sự biểu hiện nghèo nàn,không đa dạng, không lâu bền của ý niệm

Chỉ có cái đẹp trong nghệ thuật mới là cái thẩm mỹ chân chính, bởi vì cáithẩm mỹ trong nghệ thuật là sự biểu hiện của sự vận động của ý niệm và của lýtưởng thông qua các hình tượng Do đó nó cao hơn cái thẩm mỹ ngoài cuộcsống

Hêghen khẳng định rằng: cái hài, cái đẹp, cái cao cả được vận động theo

sự vận động của ý niệm trong lĩnh vực nghệ thuật Phân tích các tình huốngnghệ thuật, đề xuất bản chất thẩm mỹ của bi kịch, lý giải khả năng sáng tạo củanghệ sỹ, Hêghen coi cái thẩm mỹ là thuộc tính của lý tưởng

d Khuynh hướng duy vật thế kỷ XIX về cái thẩm mỹ.

Khác với các khuynh hướng duy tâm cho cái thẩm mỹ không có tronghiện thực, các nhà mỹ học duy vật trước Mác khẳng định cái thẩm mỹ tồn tạingay trong đời sống Nhà mỹ học tiêu biểu cho khuynh hướng này là NicolaiGavrilovich Tsecnưsepxky (1828–1889)

Tsecnưsepxky đã khẳng định đúng đắn rằng: cái thẩm mỹ không phải làthuộc tính vốn có của ý niệm mà nó là thuộc tính của đời sống Cái thẩm mỹ lànhững cái đẹp, cái cao cả, cái bi, cái hài trong cuộc sống của con người

Cái đẹp là cái tạo ra cho con người cảm giác hoan hỷ, trong sáng giống

như cảm giác khi ta gặp người yêu “Cái đẹp là cuộc sống Một thực thể đẹp là một thực thể trong đó ta nhìn thấy cuộc sống đúng như quan niệm của chúng ta; một đối tượng đẹp là đối tượng trong đó cuộc sống được thể hiện hay là nó nhắc

ta nghĩ tới cuộc sống”

Cuộc sống, theo Tsecnưsepxky mà nhiều người cảm thấy thoải mái, hoan

hỷ là cuộc sống của những người nông dân lao động Trong cuộc sống, ngoài cái

đẹp còn có cái cao cả “Cái cao cả là cái to lớn hơn tất cả những cái mà ta đem

so sánh với nó Một vật cao cả là một vật có quy mô vượt hẳn những vật mà ta đem so sánh với nó Hiện tượng cao cả là hiện tượng mạnh hơn những hiện tượng khác ta đem so sánh với nó.”

Trang 3

Cái thẩm mỹ trong mỹ học của Tsecnưsepxky còn có cái bi “Bi kịch tồn tại ngay trong cuộc sống Nó là nỗi đau khổ hay là cái chết của người ta Cái bi kịch là cái khủng khiếp trong đời người”.

Theo Tsecnưsepxky, trong cuộc sống thẩm mỹ của con người còn có cái

hài Cái hài không chỉ đối lập với cái cao cả mà con đối lập với cái đẹp “Cái hiển nhiên là hài hước, nó là mặt đối lập của cái đẹp”.

Cái thẩm mỹ trong nghệ thuật là tái hiện cái thẩm mỹ trong hiện thực Cái

thẩm mỹ trong cuộc sống cao hơn cái thẩm mỹ trong nghệ thuật Những sáng tác nghệ thuật còn thấp hơn cái đẹp (cái cao cả, cái bi kịch, cái hài kịch) trong hiện thực cả về ấn tượng, cả về phương diện thẩm my.

3 Mỹ học Mác-Lênin là thành quả phát triển lịch sử của mỹ học nhân loại.

Từ khi mỹ học trở thành một khoa học độc lập, mỹ học đã nghiên cứu cáithẩm mỹ trên nhiều bình diện khác nhau: Bình diện đời sống; bình diện chủquan; bình diện nghệ thuật

Mỗi khuynh hướng mỹ học trước Mác đều nghiên cứu mặt này hay mặtkhác của đời sống thẩm mỹ Không có một khuynh hướng mỹ học nào nghiêncứu toàn diện và chỉnh thể toàn diện đời sống thẩm mỹ của con người

Theo quan điểm mác-xít thì tất cả những nhà mỹ học trước Mác và ngoàimác-xít có những sai lầm là phiến diện ở một số điểm như sau: 1 Coi cái thẩm

mỹ là cái vốn có của ý niệm, của cá nhân con người, của tự nhiên hiện thực 2.

Coi chủ thể thẩm mỹ là chủ thể thần thánh, chủ thể sinh vật, chủ thể người cánhân, 3 Coi lĩnh vực nghệ thuật xa vời bản chất xã hội đích thực của nó

Coi my học là một bộ phận hợp thành của chủ nghĩa duy vật biện chứng, các tư tưởng my học Mác–Lênin gắn bó hữu cơ với ba bộ phận hợp thành của chủ nghĩa Mác Cả Mác, Angghen và Lênin đều nghiên cứu my học gắn liền với chủ nghĩa duy vật biện chứng, kinh tế chính trị học và chủ nghĩa xã hội khoa học.

Trước hết, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác cho rằng: cái thẩm mỹ

không phải là cái vốn có của tư tưởng, của động vật, hay của tồn tại Cái thẩm

my là một quan hệ giữa chủ thể thẩm my và đối tượng thẩm my.

Theo Mác, chủ thể thẩm mỹ là chủ thể người Chủ thể người là một chủ thể văn hoá Đó là những con người trưởng thành về mọi mặt, được thông qua

quá trình lao động từ thế hệ nọ đến thế hệ kia

Cái đặc trưng cơ bản của các chủ thể thẩm mỹ đó là các chủ thể được rèn

luyện, được giáo dục các giác quan sóng đôi: đôi tai, đôi mắt… Chủ thể thẩm

mỹ phải có đôi tai được huấn luyện để nghe âm thanh và đôi mắt được huấnluyện để nhìn hình thức

Quan hệ thẩm my, theo Mác là một quan hệ xã hội chứ không phải là một quan hệ tự nhiên Lần đầu tiên trong lịch sử mỹ học, Mác đã đề xuất vấn đề cái thẩm my có nguồn gốc từ lao động Cái thẩm mỹ không phải là thuộc tính sẵn có

của tự nhiên: Phải bằng lao động, con người mới biến các hiện tượng vật lý, hiệntượng hoá học, hiện tượng sinh học của tự nhiên thành các hiện tượng thẩm mỹcủa xã hội

Sự vật là một khách thể, cái thẩm my là một giá trị xã hội Cái thẩm my được đo bằng các thước đo thẩm my của xã hội Một bông hoa, nếu dùng làm

thuốc để uống thì bông hoa đó không phải là bông hoa thẩm mỹ Một bông hoa

Trang 4

nếu đem vào phòng thí nghiệm để nghiên cứu tính hoá lý của màu sắc, đó cũngkhông phải là bông hoa thẩm mỹ Có các thuộc tính vật chất trong dân tộc này,thời đại này thì được thừa nhận là có yếu tố thẩm mỹ, song ở thời đại khác, giaicấp khác, dân tộc khác lại không có yếu tố thẩm mỹ ấy Cách ăn mặc, cách sống,cách trang trí nội thất ở mỗi thời đại đều có các thước đo thẩm mỹ khác nhaucủa nó.

Khác với các nhà my học trước kia, Mác, Ăngghen không chỉ coi cái thẩm

my là một hình thái của ý thức xã hội, mà nó còn có tính độc lập tương đối so với cơ sở hạ tầng sản sinh ra nó.

Sự phát triển nghệ thuật có quan hệ hữu cơ với cơ sở kinh tế Nghệ thuậtvừa phản ánh, vừa phục vụ sản xuất Nghệ thuật thuộc thượng tầng kiến trúc của

Mác coi cái thẩm my, mà tập của nó là nghệ thuật có phương thức quán triệt thế giới như chính bản thân cái sinh động của cuộc sống, đó là phản ánh thế giới theo cái tổng thể.

Mác và Ăngghen đã bàn đến các mặt cơ bản của cái thẩm my như cái đẹp, cái cao cả, cái bi và cái hài.

Cách xem xét cái thẩm my trong tư tưởng triết học của Mác-Ăngghen, sau

đó là Lênin mở rộng cách xem xét ấy trong điều kiện mới của thế kỷ XX, đã tạo

ra cơ sở lý luận vững chắc cho các nhà my học mác-xít sau này tiếp tục nghiên cứu cái thẩm my sâu sắc và toàn diện hơn.

Đảng ta, nhân dân ta xây dựng nền mỹ học, nền nghệ thuật mới đã thấmnhuần các tư tưởng cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin trong điều kiện cụ thể ở

nước ta Kể từ Đề cương về văn hoá Việt Nam năm 1943 đến nay, Đảng ta đã

lãnh đạo nhân dân ta xây dựng nền văn hoá thẩm mỹ mới theo ba mô thức tiếpbiến liên tục trong lịch sử cách mạng của nhân dân ta Mô thức xây dựng nền

văn hoá mới Việt Nam theo nguyên tắc dân tộc – khoa học – đại chúng được tiến hành từ 1943 Mô thức Xây dựng nền văn hoá nghệ thuật có nội dung xã hội chủ nghĩa và tính dân tộc được tiến hành từ 1960 Từ 1991 là xây dựng nền văn hoá mới theo mô thức Nền văn hoá tiên tiến – đậm đà bản sắc dân tộc.

Mỹ học Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam sẽ thamgia tích cực phản ánh các quan hệ thẩm mỹ dân tộc–hiện đại và đấu tranh chống

lại mọi quan hệ thẩm mỹ lạc hậu, lạc điệu, thấp kém

II Đối tượng và nhiệm vụ của mỹ học Mác–Lênin

Khoa học my học là khoa học nghiên cứu các phạm vi, các quy luật biểu hiện của cái thẩm my trong đời sống và trong nghệ thuật.

Mỹ học của chủ nghĩa duy lý Baumgácten coi đối tượng của mỹ học làtình cảm về cái đẹp Mỹ học là khoa học nghiên cứu tình cảm về cái đẹp

Mỹ học của chủ nghĩa kinh nghiệm Bơccơ coi mỹ học là khoa học nghiêncứu các cảm giác của con người, các diễn biến của con người về cái đẹp và cáicao cả

Trang 5

Mỹ học của chủ nghĩa duy tâm chủ quan Cantơ coi mỹ học là khoa họcnghiên cứu các phán đoán thị hiếu về cái đẹp và cái cao cả, về thiên tài và nghệthuật trò chơi.

Mỹ học của chủ nghĩa duy tâm khách quan Hêghen đã nghiên cứu cái đẹptrong nghệ thuật, trong sáng tạo nghệ thuật

Mỹ học của chủ nghĩa duy vật N.G Tsécnưsepxki nghiên cứu cái đẹp, cái

bi, cái hài, cái cao cả trong đời sống và sự tái hiện của chúng trong nghệ thuật

Tất cả các khuynh hướng mỹ học trước Mác và ngoài mác xít đều coi cáithẩm mỹ là cái vốn có của tinh thần của cá nhân, của cuộc sống Không có mộtkhuynh hướng mỹ học nào nghiên cứu toàn diện các mặt thẩm mỹ của đời sống

Chủ nghĩa Mác đã khẳng định cái thẩm my là một quan hệ giữa chủ thể

và đối tượng Đó là quan hệ đặc biệt của con người, ra đời từ lao động của con người Vì vậy khoa học muốn phát triển toàn diện cái thẩm my phải nghiên cứu

nó trong quan hệ thẩm my giữa con người và hiện thực

Trên cơ sở của chủ nghĩa duy vật biện chứng, Mác và Ăngghen đã phát hiện cái đẹp ra đời từ lao động, nghệ thuật là một hình thái ý thức xã hội, nghệ thuật thuộc kiến trúc thượng tầng của xã hội My học Mác–Lênin coi cái thẩm

my là một quan hệ gồm ba mặt hợp thành:

1 Mặt đối tượng trong quan hệ thẩm my: Đó là những cái đẹp, cái bi, cái

hài, cái cao cả tồn tại khắp mọi nơi trong đời sống xã hội

2 Mặt chủ thể trong quan hệ thẩm my: Đó là các hoạt động của các chủ

thể thẩm mỹ, bao gồm các hoạt động về nhu cầu thẩm mỹ; về thị hiếu thẩm mỹ;

về lý tưởng thẩm mỹ của những con người xã hội

3 Mặt nghệ thuật trong quan hệ thẩm my: Đó là các hoạt động hưởng thụ

nghệ thuật, đánh giá nghệ thuật , sáng tạo nghệ thuật bao gồm các đặc trưng củanghệ thuật, bản chất xã hội của nghệ thuật và chức năng nghệ thuật

Mỹ học Mác–Lênin nghiên cứu toàn diện các quan hệ thẩm my từ đối tượng đến chủ thể và nghệ thuật My học Mác – Lênin không nghiên cứu ba bộ phận quan trọng trong quan hệ thẩm my tách rời nhau Quan hệ thẩm mỹ có dạng tồn tại đối tượng – chủ thể

- Trong mỹ học Mác–Lênin, quan hệ thẩm mỹ luôn vận động theo dân tộc, giai cấp và thời đại Quan hệ thẩm mỹ là quan hệ của con người với cái đẹp.

Mỹ học Mác–Lênin khi nghiên cứu sự vận động của các quan hệ thẩm mỹ, coi

cái đẹp có vị trí quan trọng nhất trong sự vận động đó Cái đẹp giữ vị trí trung tâm trong quan hệ thẩm my.

Mỹ học Mác–Lênin cho rằng cái cao cả, cái bi, cái hài sở dĩ mang yếu tốthẩm mỹ là bởi vì chúng là các hình thức tồn tại khác của cái đẹp

Cái cao cả chính là cái đẹp to lớn, cái đẹp đầy tiềm năng, cái đẹp trên mứcbình thường

Cái bi cũng chính là cái đẹp, là cái cao cả bị thất bại tạm thời mà tạo nên

Trang 6

- Nói đến nghệ thuật là nói đến các quy luật của tình cảm, của cái đẹp Sựphản ánh cái xấu trong nghệ thuật cũng phải gắn với lý tưởng về cái đẹp Do đó

cái đẹp đã làm cho nghệ thuật giữ được bản chất của chính nó Cái đẹp trong và của nghệ thuật là đối tượng nghiên cứu của mỹ học Mác–Lênin.

Như vậy đối tượng và phạm vi nghiên cứu của mỹ học Mác–Lênin là cácquan hệ thẩm mỹ Về bản chất các quan hệ này đều tồn tại xoay quanh cái đẹp.Song cả cái đẹp, cái bi, cái hài, cái cao cả trong cuộc sống, trong tâm hồn, trong

nghệ thuật đều tồn tại dưới dạng tổng thể không chia cắt, người ta gọi là dạng hình tượng Đặc trưng cơ bản của mọi quan hệ thẩm mỹ là tính hình tượng của

nó Mỹ học Mác–Lênin coi hình tượng là khâu cơ bản của mọi quan hệ thẩm

mỹ Sự khác biệt cơ bản giữa quan hệ khoa học và quan hệ thẩm mỹ là ở khâuhình tượng Khoa học gắn với cái trừu tượng, giữ lại cái chung, đơn nghĩa Quan

hệ thẩm mỹ là quan hệ tình cảm giữa chủ thể và đối tượng Nó giữ lại cái riêng,cái tổng thể của đời sống

Tóm lại, đối tượng nghiên cứu của my học Mác–Lênin là một bộ phận hợp thành của triết học Mác–Lênin, dựa trên cơ sở của chủ nghĩa duy vật biện chứng, nghiên cứu sự vận động của các quan hệ thẩm my giữa con người và hiện thực, trong đó cái đẹp là trung tâm, hình tượng là khâu cơ bản, nghệ thuật

là biểu hiện tập trung nhất.

Hay nói cách khác, my học Mác–Lênin là một bộ phận hợp thành của triết học Mác–Lênin, dựa trên cơ sở của chủ nghĩa duy vật biện chứng, nó nghiên cứu sự vận động của cái đẹp và các hình thức tồn tại khác nhau của cái đẹp.

III Ý nghĩa thực tiễn của mỹ học Mác–Lênin (đặc điểm của mỹ học mác-xít).

Là bộ phận hợp thành của triết học Mác–Lênin, mỹ học Mác–Lênin phátngôn cho quan điểm thẩm mỹ của chủ nghĩa duy vật biện chứng Mỹ học Mác–Lênin khẳng định rằng mọi niềm vui, khát vọng và những đam mê của conngười trong cuộc sống đều gắn liền với hoạt động lao động và thực tiễn sinhhoạt xã hội của con người Con người hưởng thụ, sáng tạo, đánh giá thẩm mỹ là

do những nhu cầu sinh tồn, nhu cầu giao tế, nhu cầu hoàn thiện mình tạo nên.Cái đẹp, cái cao cả trong cuộc sống và trong nghệ thuật chỉ có thể nảy sinh từthực tiễn lao động và chiến đấu của con người

Mỹ học Mác–Lênin là kim chỉ nam để mỗi người trong học tập, lao động,công tác hướng tới giành cái đẹp, cái cao cả mới

Mỹ học Mác–Lênin là khoa học vận dụng sáng tạo thế giới quan của giaicấp công nhân Nó có khả năng định hướng đúng đắn cho mọi người trong hoạtđộng hỉíng thụ, đánh giá và sáng tạo trong cuộc sống và nghệ thuật

Trong đời sống thẩm mỹ hiện nay ở nước ta có sự đan xen giữa quan hệthẩm mỹ tiên tiến và quan hệ thẩm mỹ lạc hậu Mỹ học Mác-Lênin trong tìnhhình này trở thành công cụ phương pháp luận quan trọng hướng dẫn việc hưởngthụ thẩm mỹ đúng đắn và đấu tranh chống các tư tưởng thẩm mỹ phản động

Mỹ học Mác-Lênin tham gia vào cuộc đấu tranh tư tưởng bảo vệ chủnghĩa hiện thực trong nghệ thuật và ra sức làm lành mạnh hoá các quan hệ thẩm

mỹ của nước ta

Trang 7

Nhân dân Việt Nam đang xây dựng nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắcdân tộc Mỹ học Mác-Lênin khi nêu lên các giá trị phổ biến của nhân loại đồngthời giúp chúng ta củng cố bản sắc dân tộc.

Trong nhiệm vụ thực tiễn của mình, mỹ học Mác–Lênin với các nguyên lýphổ biến của nó đã từng đi sâu vào lĩnh vực lao động, lối sống và các hoạt độngkhác trong sinh hoạt xã hội của con người Gắn với văn hoá thẩm mỹ, nhiều nămtrở lại đây, mỹ học Mác–Lênin đã được phân xuất thành mỹ học lao động, mỹhọc hành vi, mỹ học kỹ thuật, mỹ học sư phạm và mỹ học nghệ thuật

Mỹ học lao động nghiên cứu và định hướng các hoạt động lao động, các

tổ chức lao động, các sản phẩm lao động sao cho có nội dung thẩm mỹ

Mỹ học hành vi coi sự hài hoà giữa con người và con người là giá trị thẩm

mỹ cơ bản Các giá trị trong cộng đồng được bình đẳng và được tôn trọng nhưnhau Không có giá trị này áp đặt hay chèn ép giá trị kia

Mỹ học kỹ thuật là sản phẩm của thời đại công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Nó trực tiếp can thiệp vào thẩm mỹ hoá môi trường sống và môi trường laođộng

Mỹ học sư phạm gắn với việc định hướng, đánh giá các nhân cách vềthẩm mỹ trong lĩnh vực trường quy Nó xác lập các chương trình toàn diện đểnâng cao năng lực thẩm mỹ của toàn dân Mục tiêu của mỹ học sư phạm là làmcho con người được phát triển hài hoà cả trí tuệ, đạo đức, thể chất và thẩm mỹ

Mỹ học nghệ thuật là khoa học định hướng hoạt động hưởng thụ, đánh giá

và sáng tạo nghệ thuật trong đời sống tinh thần của xã hội theo nguyên lý của sựthích thú thẩm mỹ lành mạnh và chân thật

Mỹ học Mác-Lênin là công cụ nhận thức, hiểu biết, khám phá và sáng tạocác quan hệ thẩm mỹ trong đời sống và trong nghệ thuật một cách đúng đắn

Mỹ học Mác-Lênin có một vai trò rất to lớn trong toàn bộ đời sống tinhthần của xã hội Trong chiến lược xây dựng và phát triển nền văn hoá tiên tiếnđậm đà bản sắc dân tộc, Đảng ta đòi hỏi phải coi trọng “việc giáo dục thẩm mỹ,giáo dục thị hiếu nghệ thuật cho thanh niên, thiếu niên, nhi đồng, học sinh” lànhững chủ nhân hôm nay và tương lai về tất cả những cái đẹp, cái cao cả, cáianh hùng của đất nước

Chương 2 CÁC QUAN HỆ THẨM MỸ CỦA CON NGƯỜI VỚI HIỆN THỰC

I Quan hệ và quan hệ thẩm mỹ.

Nhà mỹ học duy vật dân chủ cách mạng Nga Tsecnưsepxky quan niệm:

Khái niệm quan hệ thẩm my được xác định là vai trò của cuộc sống hiện thực

đối với mỹ cảm của con người và nghệ thuật

My học Mác–Lênin khẳng định quan hệ thẩm my là đối tượng nghiên cứu của mình, coi mọi hiện tượng thẩm my đều có mối liên hệ bên trong và tương tác lẫn nhau với các quan hệ khác Quan hệ thẩm my, đó là các quan hệ của con người về mặt thẩm my Quan hệ thẩm my của con người đối với hiện thực thể hiện tập trung ở ba lĩnh vực chính: Lao động sáng tạo; Khám phá, đánh giá; Chiêm ngưỡng thưởng ngoạn.

Lao động, học tập và sáng tạo là nguồn gốc của mọi quan hệ thẩm mỹ.Hoạt động sản xuất của con người là vương quốc chân chính của các quan hệthẩm mỹ Lao động sáng tạo là một dạng sản xuất ra giá trị mới theo quy luật

Trang 8

của cái đẹp, trong đó sáng tạo nghệ thuật là biểu hiện tập trung của sáng tạothẩm mỹ.

Quan hệ thẩm mỹ còn được thể hiện trong đánh giá thẩm mỹ Đánh giáthẩm mỹ là phán đoán về giá trị thẩm mỹ của khách thể, của tác phẩm nghệthuật, là xác định ý nghĩa thẩm mỹ của khách thể, của tác phẩm đối với conngười, với xã hội Đánh giá thẩm mỹ là hoạt động phức tạp của quan hệ thẩm

mỹ Nó là một sự tổng hợp của các yếu tố sau đây: Đối tượng đánh giá, chủ thểđánh giá, cơ sở đánh giá và tính chất đánh giá

Đối tượng của hoạt động đánh giá là đời sống thẩm mỹ trong đó có nghệthuật với tất cả tính độc đáo của nó Đánh giá thẩm mỹ về bản chất là một quan

hệ thẩm mỹ năng động

Quan hệ thẩm mỹ trong đánh giá nghệ thuật có cơ sở chủ quan và kháchquan bao gồm: chuẩn mực, những tiêu chí thẩm mỹ như tính tư tưởng, tính nghệthuật, tính điển hình, tính đảng, tính chân lý nghệ thuật…

Đánh giá thẩm mỹ không phải là đánh giá thuần tuý lôgíc Trong đánh giáthẩm mỹ, những xúc cảm thẩm mỹ do tác động của đời sống thẩm mỹ tạo nên làkhông thể thiếu được Trong quá trình đánh giá thẩm mỹ, chủ thể vận dụng cáctiêu chuẩn, mà những tiêu chuẩn này gắn kết với nhau không phải theo một cơchế lôgíc nghiêm ngặt, cứng nhắc như trong đánh giá khoa học

Quan hệ thẩm mỹ xuất hiện trong đánh giá thẩm mỹ có sự thống nhất giữatình cảm và lý trí, giữa kinh nghiệm cá nhân và các chuẩn mực xã hội Đánh giáthẩm mỹ, mà đặc biệt là đánh giá nghệ thuật là một hoạt động rất phức tạp củaquan hệ thẩm mỹ

Quan hệ thẩm mỹ cũng thể hiện rõ ở thưởng thức thẩm mỹ Thưởng thứcthẩm mỹ là hoạt động của toàn bộ thế giới nội tâm của con người chịu sự chiphối của một loạt những yếu tố bên trong như: Quan điểm lý tưởng thẩm mỹ;Tình cảm và tri thức thẩm mỹ; Thị hiếu thẩm mỹ và từng trải, lối sống, đạo đức

và am hiểu nghệ thuật, điều kiện tâm sinh lý v.v

Mỹ học mác-xít đã khẳng định thưởng thức thẩm mỹ là một biểu hiện phổquát của quan hệ thẩm mỹ Thưởng thức thẩm mỹ là hoạt động đặc thù của conngười, của từng chủ thể Thưởng thức thẩm mỹ không phải là một hoạt động tuỳtiện mà là một hoạt động lựa chọn, không phải thuần tuý do lý trí, mà còn là vàchủ yếu là do tình cảm trong quan hệ thẩm mỹ quyết định

Thưởng thức thẩm mỹ là hoạt động có mục đích của chủ thể Chủ thểthưởng thức có thể có nhiều mục đích, nhưng mục đích quan trọng nhất là nhằmtạo ra sự thích thú, nhằm đạt tới khoái cảm thẩm mỹ

Nói quan hệ thẩm my xuất hiện trong quá trình sáng tạo, đánh giá và thưởng thức thẩm my, có nghĩa là quan hệ thẩm my xuất hiện mọi nơi trong cuộc sống, trong lối sống, trong lao động và sinh hoạt hàng ngày.

Khía cạnh thẩm my của lối sống cũng là biểu hiện rất cơ bản của quan hệ thẩm my trong đời sống Một lối sống đẹp phải là lối sống có đạo đức, nhân đạo.

Lối sống đẹp phải gắn với các quan hệ thẩm mỹ hài hoà giữa cá nhân và cộngđồng, giữa thể chất và tinh thần, giữa tình cảm và lý trí Sự phát triển tự do củamỗi người phải là điều kiện cho sự phát triển tự do của mọi người Lối sống đẹpphải là lối sống yêu lao động, có thái độ tự giác trong lao động, vươn lên làmchủ khoa học kỹ thuật Lối sống đẹp còn có nghĩa là phải gìn giữ và bảo vệ môitrường

Trang 9

Quan hệ thẩm my được thể hiện trong lối sống gắn bó chặt chẽ với cái hữu ích, cái hài hoà, các giá trị nhân ái và sự tôn trọng lẫn nhau Lĩnh vực phổ biến nht của quan hệ thẩm my là cái đẹp trong cuộc sống hàng ngày Sống văn minh, hạnh phúc là một đặc trưng quan trọng của quan hệ thẩm my trong đời sống.

II Các đặc trưng và bản chất của các quan hệ thẩm mỹ.

1 Các đặc trưng của các quan hệ thẩm mỹ.

Đặc trưng đầu tiên của các hiện tượng thẩm my là nằm trong quan hệ thẩm my của hoạt động thẩm my của con người Cái thẩm my là một quan hệ chủ thể-đối tượng về mặt thẩm my.

Thứ hai, trong quan hệ thẩm my đối với hiện thực, đặc trưng nổi bật là con người tự khẳng định mình về mặt cảm xúc đối với hiện thực đó Ở đó tư duy

và lý luận thống nhất đặc biệt về mặt cảm xúc Không có sự tham gia của cảm

xúc với tư cách là một yếu tố tâm lý thì không thể có một quan hệ thẩm mỹ nào.Song, không có nghĩa quan hệ thẩm mỹ đồng nhất với xúc cảm Xúc cảm chỉ làmột trong các yếu tố cấu thành tất yếu của quan hệ thẩm mỹ giữa con người với

hiện thực, chứ nó không phải là tất cả Xúc cảm là yếu tố đặc trưng tạo cho quan hệ thẩm my khác với quan hệ khác Các xúc cảm phù hợp với lợi ích xem

như xúc cảm ngoài thẩm mỹ Các xúc cảm không vụ lợi là các xúc cảm thẩm

mỹ Sự khác nhau giữa xúc cảm thẩm mỹ với xúc cảm nói chung quy định ở tínhphù hợp mục đích của nhu cầu

Thứ ba, hình thức nhận thức bằng hình ảnh, bằng hình tượng đó là đặc

trưng cơ bản của quan hệ thẩm mỹ của con người đối với hiện thực

Thứ tư, quan hệ thẩm my có một đặc trưng điển hình là tính toàn vẹn, không chia cắt Thiếu tính toàn vẹn giữa con người và hiện thực, không thể trở thành quan hệ thẩm my được.

Thứ năm, quan hệ thẩm my tập trung nhất của con người là quan hệ của con người với nghệ thuật Bản chất và đặc trưng của nghệ thuật là phản ánh thế

giới bằng hình tượng Hình tượng là tế bào cơ bản của quan hệ thẩm mỹ củanghệ thuật với hiện thực

Thứ hai, quan hệ thẩm my thực chất là một quan hệ giá trị Cái thẩm mỹ

gắn liền với cái thước đo giá trị trong một quan hệ xã hội nhất định Do kháiniệm giá trị là một khái niệm phức tạp mà các thước đo thẩm mỹ là không thuầnnhất Các quan hệ thẩm mỹ có nhiều hình thức thẩm mỹ khác nhau liên quan tớicác hình thức đánh giá khác nhau Quan hệ thẩm mỹ là quan hệ giá trị, bởi quan

hệ đó phụ thuộc vào các chủ thể thẩm mỹ bao gồm ý thức và năng lực của nó

Thứ ba, quan hệ thẩm my là một quan hệ xã hội Quan hệ thẩm mỹ ra đời

từ quan hệ xã hội, nó bị quy định bởi các quan hệ văn hó lịch sử cụ thể Không

có quan hệ thẩm mỹ phi xã hội, phi lịch sử Các quan hệ thẩm mỹ ghi trọn cácdâu ấn của thời đại, của dân tộc, của giai cấp sản sinh ra nó Tính chất của quan

hệ xã hội nằm ngay trong bản chất giá trị của nó

Trang 10

Bản chất xã hội của các quan hệ thẩm mỹ được thể hiện ở ba phươngdiện: Tính dân tộc của quan hệ thẩm mỹ; Tính giai cấp của quan hệ thẩm mỹ;Tính thời đại của quan hệ thẩm mỹ.

Các quan hệ thẩm my hiện nay ở nước ta được định hướng theo chuẩn mực cơ bản của nền văn hoá tiến tiến đậm đà bản sắc dân tộc Điều ấy có nghĩa

là các quan hệ thẩm my của chúng ta gắn với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, linh hồn của nó là chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.

Các quan hệ thẩm my của chúng ta vì các giá trị nhân văn cao cả, vì hạnh phúc và sự phát triển tự do, toàn diện, hài hoà phong phú của con người.

Nó vừa tiên tiến vừa gắn liền với các giá trị lâu bền của dân tộc Nó luôn mở rộng giao lưu quốc tế, tiếp biến cái hay, cái tiến bộ của nhân loại.

III Kết cấu của quan hệ thẩm mỹ.

Cơ cấu của quan hệ thẩm mỹ giữa con người và hiện thực được xác địnhtương đối gồm ba bộ phận hợp thành:

1 Chủ thể thẩm mỹ bao gồm các hoạt động: Tri giác thẩm mỹ; Biểutượng thẩm mỹ; Phán đoán thẩm mỹ Các hoạt động đó được biểu hiện thành:Nhu cầu thẩm mỹ; Thị hiếu thẩm mỹ; Lý tưởng thẩm mỹ; Các quan điểm mỹhọc

2 Đối tượng thẩm mỹ (Khách thể thẩm mỹ) gồm: Cái đẹp, cái bi, cái hài,cái cao cả và các dạng phát sinh của chúng

3 Sản phẩm của sự tương tác giữa chủ thể và khách thể thẩm mỹ: Cáithẩm mỹ đạo đức; Các sản phẩm thủ công; Sản phẩm nghệ thuật bao gồm cảhưởng thụ, đánh giá và sáng tạo nghệ thuật

Có thể nói, c cu cuía quan hệ thẩm mỹ là do ba bộ phận: Chủ thể thẩmmỹ; Khách thể thẩm mỹ; Nghệ thuật hợp thành Quan hệ thẩm mỹ trong cơ cấucủa nó do gắn chủ thể với đối tượng mà trung tâm là hoạt động thực tiễn của conngười nên nó liên hệ rất nhiều đến các lĩnh vực khác của đời sống xã hội Ba bộphận đó quan hệ rất chặt chẽ và toàn diện với các mặt, các khâu cơ bản của mỗinền văn hoá, đặc biệt là văn hoá thẩm mỹ

Cơ cấu của quan hệ thẩm mỹ hoạt động trong đời sống xã hội được gọi làvăn hoá thẩm mỹ Nói đến văn hoá thẩm mỹ là nói đến hoạt động của các quan

hệ thẩm mỹ trong nền văn hoá nói chung Nó có hai tư cách:Tư cách thăng hoacủa các giá tri thẩm mỹ trong lao động, giao tiếp, quản lý, vui chơi giải trí ; Tưcách bộ phận của nó là tư cách thực thể như: văn hóa đạo đức, văn hóa phápluật, văn hóa chính trị

Tổng thể tư cách thăng hoa, tư cách thực thể của văn hoá là do sự vậnđộng của quan hệ thẩm mỹ quyết định

Văn hóa thẩm mỹ, bao chứa ba mối quan hệ lớn: quan hệ của con ngườiđối với tự nhiên, quan hệ của con người với xã hội và sự phát triển của bản thâncon người Ba mối quan hệ này đan quyện trong sự vận động của quan hệ thẩmmỹ

Có thể nói cấu trúc của quan hệ thẩm mỹ chứa đựng các khả năng sángtạo được nhiều giá trị thẩm mỹ mới và đặc biệt là hiện thực hoá ý đồ sáng tạonghệ thuật phong phú nhiều hình, nhiều vẻ trong các quan hệ xã hội

Quan hệ thẩm mỹ là một quan hệ rộng nhất và là nền tảng của mỹ họcMác- Lênin

Trang 11

Chương 3 CÁC KHÁCH THỂ THẨM MỸ

A CÁI ĐẸP.

I Bản chất thẩm mỹ của cái đẹp.

1 Cái đẹp là nhu cầu sống của con người.

Cái đẹp là một bí mật thật sự của cuộc sống con người Nó là nhu cầusống của mỗi người, mỗi dân tộc và cả nhân loại

Hạnh phúc lớn lao của mỗi người là được sống với cái đẹp, được thànhmột người đẹp trong cộng đồng của mình và làm cho nhiều người ngày càng đẹpthêm

Cái đẹp đi vào mọi lĩnh vực của cuộc sống làm cho cái xấu bị lùi xa.Trong tất cả các nền văn hoá của nhân loại, cái đẹp được con người chiêmngưỡng, giữ gìn và tiếp tục sáng tạo

Cái đẹp là nhu cầu sống của con người nhưng nó gắn bó mật thiết với đờisống xã hội Một xã hội có áp bức, bóc lột, con người lao động bị đày đoạ, bịnhấn chìm trong ngu dốt thì cái đẹp thật sự không thể xuất hiện Trong tình hình

đó, những nhu cầu giải phóng cái đẹp được đề ra cấp thiết Xã hội xã hội chủnghĩa sẽ đáp ứng các nhu cầu làm đẹp và sáng tạo ra cái đẹp, bởi vì nó mangnhững giá trị chân chính của con người, trả lại cho con người

Đảng ta luôn luôn coi cái đẹp là vấn đề trọng đại của đời sống con người

và hết sức giúp đỡ cho mọi cái đẹp được nảy sinh từ trong đời sống

2 Cái đẹp là đối tượng nghiên cứu của khoa học mỹ học.

Trong khoa học mỹ học có phân biệt cái đẹp với cái thẩm mỹ Cái đẹp chỉ

là một bộ phận của cái thẩm mỹ, chứ không phải là cái thẩm mỹ

Cái đẹp tuy là một bộ phận hợp thành của cái thẩm mỹ, nhưng cái đẹp và

cái thẩm mỹ đều có một tố chất chung Trước hết, chúng đều mang yếu tố tinh thần: Thưởng ngoạn, đánh giá, miêu tả chứ không phải là yếu tố thực dụng để

ăn, uống, nếm Thứ hai, chúng đều mang yếu tố tình cảm sâu sắc Yếu tố xúc

cẩm là yếu tố đặc trưng của quan hệ thẩm mỹ, đồng thời là yếu tố điển hình củacái đẹp

Bản chất của cái thẩm my là cái đẹp Cái đẹp là biểu hiện tập trung nhất của cái thẩm my, nó có tính chất vô tư Trước hết, yếu tố vô tư của cái đẹp là ở chỗ, cái đẹp được nhận biết, được cảm thụ bằng tai, mắt chứ không phải bằng các giác quan khác như lưỡi, mũi Thứ hai, khái niệm vô tư ở đây là chỉ cái đẹp không vụ lợi ích vật chất tầm thường.

Cái đẹp phải mang yếu tố hình tượng, toàn vẹn, không chia cắt nhiều tầng, nhiều lớp.

Cái đẹp phải mang bản chất xã hội Do cái đẹp có sự vận động và không ngừng được sáng tạo, được khám phá mà cái đẹp luôn luôn biểu hiện cho tính

Trang 12

thời đại, mỗi dân tộc, mỗi giai cấp đều hình thành các thước đo cái đẹp riêng củamình.

II Ba khuynh hướng cơ bản tiếp cận cái đẹp trong lịch sử mỹ học trước Mác.

1 Khuynh hướng duy vật tiếp cận cái đẹp trước Mác.

a) Mỹ học duy vật thời cổ đại.

Theo quan niệm của các nhà duy vật thời cổ đại, cái đẹp là một thuộc tính của vũ trụ, của con người, của mọi sự vật và động vật Theo họ, vật chất và các

sự vật muốn trở thành đẹp trước hết phải có một số biểu hiện sau: Thứ nhất, cái khác biệt phải được thống nhất trong đa dạng Thứ hai, sự vật đẹp phải có một kích thước và một tỷ lệ nhất định Thứ ba, nó là các khoái cảm của con người gắn liền với độ Thứ tư, cái đẹp tuy là thống nhất trong đa dạng, là trật tự, tỷ lệ

và kích thước, là phạm trù độ trong khoái cảm, nhưng chúng có tính chất tương đối, không có một cái đẹp nào tuyệt đối Thứ năm, cái đẹp phải là cái có ích, là cái tốt.

b) Quan niệm về cái đẹp của các nhà duy vật thế kỷ XVII-XVIII.

Những đại biểu chính của mỹ học giai đoạn này là Etmun Bơccơ vàDiderot

Bơccơ đã chỉ ra bảy dấu hiệu khách quan về cái đẹp: 1.Tính nhỏ nhắn;2.Tính tương đối; 3.Sự mịn màng của bề mặt; 4.Sự đa dạng trong tình trạng các

bộ phận được phân phối; 5.Quan hệ giữa các bộ phận là không cứng nhắc; 6.Cơcấu uyển chuyển; 7 Mầu này với mầu khác trong cùng sự vật đẹp là không nổibật quá

Bơccơ đã nghiên cứu tỷ mỷ tất cả các dấu hiệu này của cái đẹp và cungcấp nhiều dẫn chứng thuộc những mặt khác nhau

Theo Diderot, cái đẹp phải là cái thật, cái tốt Cái đẹp, cái thật và cái tốt làquan hệ khăng khít nhau Diderot cũng khẳng định có hai cái đẹp, một cái đẹp

thực tại và một cái đẹp ta nhìn thấy Đối với Diderot, cái đẹp là tồn tại khách quan trong tự nhiên Tự nhiên là ngọn nguồn của cái đẹp Cái đẹp với cái thật

là một.

c) Quan niệm về cái đẹp của các nhà duy vật nhân bản thế kỷ XIX.

Đại diện chính của các nhà duy vật nhân bản thế kỷ XIX là Tsecnưsepxky.Theo Tsecnưsepxky, bản chất của cái đẹp là tạo cho con người một cảm giáchoan hỷ trong sáng giống như cảm giác ta gặp người yêu

Theo ông, “Cái đẹp là cuộc sống, một thực thể đẹp là thực thể trong đó tanhìn thấy được cuộc sống đúng như quan niệm của chúng ta Một đối tượng đẹp

là đối tượng trong đó cuộc sống được thể hiện hay là nó nhắc ta nghĩ đến cuộcsống”

Nhìn chung khuynh hướng duy vật trước Mác, trong cả ba thời kỳ pháttriển của nó đều coi cái đẹp tồn tại khách quan, bởi vì nó là một thuộc tính củacuộc sống, của hiện thực Thiên nhiên, cuộc sống của động vật, vật chất đã từngtồn tại trước con người, do đó cái đẹp đã từng tồn tại trước con người Ở đâu cóvật chất là ở đó có cái đẹp Quan niệm như vậy là đối lập với mọi khuynh hướngduy tâm chủ quan cũng như duy tâm khách quan Các nhà mỹ học duy vật đãgóp phần quan trọng vào chống lại quan niệm duy tâm siêu hình về cái đẹp

2 Khuynh hướng duy tâm khách quan trong việc tiếp cận cái đẹp trong lịch sử mỹ học.

Trang 13

Khác và đối lập với cách tiếp cận cái đẹp của mỹ học duy vật, mỹ học duytâm khách quan coi cái đẹp không phải là thuộc tính của vật chất mà là thuộctính của tinh thần Nói chính xác hơn, Hêghen thừa nhận có cái đẹp của tựnhiên, nhưng những cái đẹp này là nghèo nàn và thấp hơn rất nhiều so với cáiđẹp của nghệ thuật và nó cũng nằm trong tinh thần.

Platôn nói rằng, cái đẹp không thể là một sự vật nào đó, không phải là ở

sự so sánh nào đó Thật sự cái đẹp là một ý niệm Cái đẹp là một ý niệm sẵn có,

nó làm ra cái đẹp của sự vật, nó soi sáng cái đẹp của tâm hồn mỗi con người.Cái đẹp tồn tại vĩnh cửu, nó không bị huỷ diệt, không tăng, không giảm Cái đẹp

là nhận thức mang lại sự thích thú Cái đẹp chân chính là Chúa Vì thế muốn

nhận thức được cái đẹp phải hoà mình vào Chúa “Chỉ có tinh thần mới là cái chân thực với tính cách một yếu tố bao quát tất cả, và tất cả cái đẹp sở dĩ là đẹp

thực sự chẳng qua vì cái đẹp tham dự vào một cái cao cả hơn và do cái cao cảnày sản sinh ra Xét theo nghĩa này, thì cái đẹp trong tự nhiên chỉ phản ánh cáiđẹp tinh thần”

Hêghen cũng như Platôn và các nhà thần học không giải thích được mốiliên hệ tồn tại hiện thực của cái đẹp Khuynh hướng duy tâm khách quan trong

mỹ học đã cầu cứu đến nguyên lý tối cao là tinh thần, và tinh thần một lần nữabiểu hiện trong ý thức con người Cách tiếp cận vấn đề cái đẹp này đầy vẻ thần

bí, tối tăm, rất khó hiểu

3 Khuynh hướng duy tâm chủ quan trong việc tiếp cận cái đẹp trong lịch sử triết học.

Cantơ coi mỹ học là khoa học nghiên cứu các phán đoán thị hiếu Theo

Cantơ “vấn đề chủ yếu không phải là cái đẹp là gì mà là sự phán đoán về cái đẹp

là gì”

Phán đoán về cái đẹp là một phán đoán thị hiếu không phải là sự phánđoán về nhận thức Nó không phải là phán đoán lôgíc mà là phán đoán tình cảm,chủ quan Nó tạo nên cái dễ chịu và thích thú Phán đoán thị hiếu thuần tuý cótính thưởng ngoạn Mọi cái lợi đều làm hư hỏng phán đoán của thị hiếu và tướcmất tính trong sáng của nó

Có thể nói, chủ nghĩa duy tâm chủ quan về cái đẹp, coi tiêu chuẩn đánhgiá cái đẹp sẵn có trong mỗi cá nhân Cá nhân cho cái gì gợi lên khoái cảm củamình thì nó sẽ cho là đẹp, còn cái gì không gợi lên xúc cảm cá nhân, cái đókhông thể là đẹp Quan điểm này mở đường cho rất nhiều loại cảm xúc cá nhân

về cái đẹp Có những cảm giác và cảm xúc đúng đắn Có những khoái cảm, cảmgiác rất kém và bệnh hoạn

III Cách tiếp cận mác-xít về cái đẹp.

1 Sự phê phán mác-xít đối với ba cách tiếp cận cái đẹp ngoài mác xít.

a Đối với quan niệm duy tâm khách quan về cái đẹp.

Platôn, các nhà thần học và Hêghen coi cái đẹp là cái có trước, cơ sở đầutiên của cái mỹ học là ở ý niệm, ở tinh thần tuyệt đối Mỹ học Mác–Lênin chorằng, các quan niệm về cái đẹp là cái vốn có của lực lượng siêu nhiên, vốn có ở

ý niệm là không thể chứng minh bằng cơ sở khoa học được

b Đối với quan niệm duy tâm chủ quan về cái đẹp

Khát vọng của chủ nghĩa duy tâm chủ quan muốn làm nổ tung các chuẩnmực mà họ cho là chật hẹp về cái đẹp, nhưng các chuẩn mực mà họ đề xuất làmột cái tôi bất kỳ nào đó sẽ không thể đứng vững được Sự tuyệt đối hoá các cá

Trang 14

biệt trong xã hội là không có cơ sở đạo đức và luật pháp Có cái tôi tiên tiến,nhưng có cái tôi lạc hậu và thấp hèn Cái đẹp cao quý không thể có chuẩn mực

từ cái tôi thấp hèn Xã hội không chấp nhận những thước đo cái đẹp cao quýbằng những tình cảm cá nhân, vị kỷ và trình độ thẩm mỹ thấp

c Đối với quan niệm duy vật trước Mác về cái đẹp.

Các nhà mỹ học duy vật có công rất lớn trong việc bác bỏ các quan niệmduy tâm chủ quan và duy tâm khách quan về cái đẹp Cả Aristốt, Diderot,Tsécnưsepxky đều cho rằng cái đẹp là một thuộc tính của vật chất, nó có nhữngyếu tố như tỷ lệ, trật tự, hài hoà, quan hệ Công lao của các nhà mỹ học duy vật

là khẳng định tính khách quan của cái đẹp trong tính vật chất của nó Như vậy làcái đẹp cũng có sẵn trong các cấu trúc vật chất, mà tự nhiên, vật chất có trướcloài người thì cái đẹp cũng có trước loài người Đối với họ thì thuộc tính đẹp của

sự vật thì cũng giống như các thuộc tính vật lý, thuộc tính sinh học, thuộc tínhhoá học của sự vật đều tồn tại khách quan, có trước loài người

Thực ra, giá trị thẩm mỹ là do con người trong quá trình lao động củamình đã tạo ra một thước đo cùng với năng khiếu thẩm mỹ của mình Cái đẹp làmột giá trị xã hội mà con người bằng cả một quá trình lao động đã khai thácđược, chứ nó không có sẵn Vàng và bạc có nhiều thuộc tính tự nhiên, nhưng cáiđẹp của chúng không phải là thuộc tính tự nhiên, mà là một giá trị xã hội Mọigiá trị mà con người phát hiện được ở trong cái vật lý, cái sinh học là do cơ cấucủa con người và xã hội quyết định

Các thuộc tính vật lý của sự vật là các thuộc tính có được nhờ cân đo vàphân tích hoàn toàn chính xác trên cơ sở khoa học Đánh giá thẩm mỹ không thểthực nghiệm được cái gì là đẹp và trong cái đẹp thì gồm những yếu tố vật chất

Các nhà duy vật trước Mác đã đánh đồng sự hài hoà với cái đẹp Hài hoà

và cái đẹp là khác nhau Không phải mọi sự phát triển và hài hoà đều tạo ra cáiđẹp “Sự phát triển hài hoà ở con chuột cống, con sâu, con rắn, con rết khôngphải là cái đẹp Con người không thể thích thú trước một người có hai tay dàibằng hai chân, hoặc trên đầu có hai cái sừng được”

Nhiều nhà duy vật trước Mác cũng đã coi tỷ lệ mực thước, kích thước làbản chất của cái đẹp Thật ra thì con người đã tạo ra thước đo cho mình và muônloài Chính hoạt động lao động của con người tạo ra kích thước của cái đẹp, chứkhông phải bản thân vật chất có kích thước đó Cái đẹp thuần tuý của tự nhiênthật ra không tồn tại trong cuộc sống cũng như trong nghệ thuật

Quan niệm các yếu tố vật lý, sinh học, hoá học là cái đẹp của tự nhiên làmột sự sai lầm và hạn chế của chủ nghĩa duy vật trước Mác Những cái gọi lànguyên tắc đều đặn, sự sắp xếp, tỷ lệ, đường nét, hoà hợp màu sắc nếu nó chưagắn với các vấn đề của xã hội, cái đó chưa thể trở thành cái đẹp Bản chất thẩm

mỹ của cái đẹp là yếu tố xã hội của nó

Các Mác là người đầu tiên phát hiện ra bản chất của cái đẹp gắn liền với lao động Cái đẹp không là cái vốn có Chưa có con người và lao động thì chưa

có những hiện tượng thẩm my trong cuộc sống, chưa có cái đẹp.

Trang 15

Cái đẹp mang lại niềm hứng thú không phải chỉ cho một cá nhân riêng lẻ nào đó, mà phải mang lại hứng thú phổ biến có tính xã hội Cái đẹp vì thế tồn tại độc lập với chủ thể cá nhân Cái đẹp gắn với hoạt động thực tiễn của chủ thể, thoả mãn được tình cảm thẩm my của chủ thể do các thước đo lý tưởng xã hội định hướng.

Quan hệ thực tiễn của con người không chỉ ở lao động, mà còn trong đấu tranh xã hội Mọi hoạt động nhằm cải thiện các quan hệ xã hội cho phù hợp với ước mơ của mình đều gây được hứng thú thẩm my.

Theo chủ nghĩa Mác-Lênin, cái đẹp ra đời từ lao động, gắn bó chặt chẽvới cái thật, cái tốt và cái hữu ích Cái đẹp xuất hiện trong quan hệ thẩm mỹ, nó

có những yếu tố chung với quan hệ thẩm mỹ Xa rời cái thật không thể có cáiđẹp Đối lập với cái thật, cái đẹp sẽ thiếu vắng nội dung, không có cái đẹp chânchính nào lại không có ích Cái thật, cái tốt, cái có ích phải gắn liền với các hìnhtượng sinh động mới là cái mỹ Cái mỹ với tư cách là cái đẹp là một cái mỹ đặctrưng bởi tính hài hoà của nó

Cái đẹp là một phạm trù my học cơ bản, giữ vị trí trung tâm trong quan

hệ thẩm my giữa con người với hiện thực, bao chứa các quan hệ chân-thiện-ích, xuất phát từ thực tiễn, tồn tại dưới dạng hình tượng toàn vẹn, cân xứng hài hoà, gây được khoái cảm thẩm my tích cực đối với chủ thể xã hội.

IV Cái đẹp trong cuộc sống và cái đẹp trong nghệ thuật.

Vai trò của cái đẹp trong cuộc sống là: Do nó gây được khoái cảm tíchcực, gắn liền với sự hài hoà thẩm mỹ nên nó điều hoà với mọi mối quan hệ khác;Cái đẹp với nhiều hình thức tồn tại khác nhau, nó làm phong phú đời sống tâmhồn và tình cảm của con người; Mỗi nhân cách nếu được cái đẹp định hướng thì

nó sẽ phát triển hoà hợp giữa cá nhân và cộng đồng, nó sẽ hoà mình vào xã hội

và cái ích kỷ sẽ được khắc phục; Cái đẹp mở ra khả năng sáng tạo nhiều chiều,nhiều lớp; Cái đẹp đúng đắn có tác dụng ngăn chăn các phản thẩm mỹ

Cái đẹp trong cuộc sống là rất phong phú đa dạng Nó bao gồm tất cảnhững gì bảo đảm ba yêu cầu: đúng đắn, chân thực của cuộc sống; Mang tínhnhân bản và nhân văn tốt đẹp; Là một sự hoàn thiện, hoàn mỹ Như vậy, cái đẹptrong cuộc sống là tất cả những gì mang tính hữu ích, tốt, thật và là một quan hệsóng đôi giữa chủ thể thẩm mỹ và khách thể thẩm mỹ

Cái đẹp trong nghệ thuật bao giờ cũng mang tính điển hình, là sự thốngnhất biện chứng giữa nội dung và hình thức Cái đẹp trong nghệ thuật không đuachen với cái đẹp trong tự nhiên về sự phong phú, đa dạng Nhưng cái đẹp trong

tự nhiên phải khuất phục cái đẹp trong nghệ thuật về chiều sâu nhân văn và triết

lý Cái đẹp trong nghệ thuật làm ta kinh ngạc và đi từ bất ngờ này đến bất ngờkhác Nó là sự tổng hợp giá trị mỹ học với đạo đức, chính trị, khoa học Nó làmột giá trị tinh thần trọn vẹn của chỉnh thể Chân-Thiện-Ích, hoà quyện tình cảm,trí tuệ, khát vọng, ý chí của con người

B CÁI CAO CẢ.

I Bản chất thẩm mỹ của cái cao cả.

Cái cao cả, theo các nhà mỹ học là khái niệm phản ánh các hiện tượngthẩm mỹ to lớn, hùng vĩ, mạnh mẽ của tự nhiên trong các quan hệ thực tiễn củacon người

Khái niệm cái cao cả, ngoài phản ánh sức mạnh bản chất của con ngườitrong tự nhiên, còn phản ánh các hiện tượng thẩm mỹ của xã hội mạnh mẽ, sôi

Trang 16

nổi, rực rỡ, khẩn trương và gây nên những xúc động hào hứng, khâm phục saysưa Cái cao cả còn bao quát cả những nhân vật vĩ đại trong lịch sử.

Bản chất thẩm mỹ của cái cao cả chính là phẩm chất thẩm mỹ của cáchiện tượng, các quá trình lịch sử có quy mô đồ sộ, các hình tượng nghệ thuậthoành tráng, biểu hiện sức mạnh bản chất của con người trong lao động, trongchiến đấu, mở ra những khát vọng mới để con người không ngừng hoàn thiệnbản thân mình và cuộc sống quanh mình

Cái cao cả có liên quan đến nội dung đạo đức của xã hội, nhưng nó khôngphải là một phạm trù đạo đức học Bản chất thẩm mỹ của cái cao cả có liên hệbản chất hầu hết với các phạm trù thẩm mỹ khác Cái cao cả là một hình thứctồn tại khác của cái đẹp và khi nó bị thất bại tạm thời đã làm nảy sinh cái bi, cáicao cả là mặt đối lập của cái hài tuy không phải nó tránh được cái khôi hài

II Các cách tiếp cận khác nhau về cái cao cả trong lịch sử mỹ học.

Thời cổ đại: Lý luận cái cao cả chỉ mới xuất hiện ở đầu Công nguyên, khicon người đã vươn lên tách mình ra khỏi tự nhiên và khẳng định sức mạnh củamình, con người đã đặt tự nhiên to lớn trong quan hệ với năng lực cải tạo củamình Lý thuyết về cái cao cả ban đầu là khái quát cách sống của con người gắnvới việc làm chủ các giá trị tinh thần của con người Phong cách sống, phongcách viết, phong cách nói gắn liền với niềm tự hào sâu sắc của bản thân conngười, là đối tượng quan trọng xác lập các lý thuyết về cái cao cả đầu tiên tronglịch sử mỹ học

Thời trung cổ: Theo Pxepđô Longin thì cái cao cả gắn với ba lĩnh vực: Tự

nhiên, Tinh thần, Thần thánh Tự nhiên trở thành nguồn cảm hứng cao cả phải là

sự kỳ vĩ Về tinh thần, cái cao cả thể hiện ở tư tưởng và niềm say mê phi thường

vẻ đẹp của ngôn từ kết hợp với các tư tưởng vĩ đại Cái cao cả là giá trị bêntrong đối lập với cái khuyếch trương bên ngoài Cái cao cả là lòng kiêu hãnh cự

tuyệt hạnh phúc mà mình được hưởng Về thần thánh, cái cao cả bao gồm các

lực lượng siêu nhiên hùng mạnh biểu thị sự vĩ đại của chúa

Theo Pxepđô Longin, quy mô lớn của hiện tượng sức mạnh phi thườngđặt trước con người và các thước đo thông thường không thể đo được sự vật –

đó là bản chất của cái cao cả

Thế kỷ XIX trở đi: Bơccơ cho rằng cái cao cả xuất hiện từ khát vọng conngười tự bảo tồn mình Ông đối lập hai phạm trù cái đẹp và cái cao cả: Cái đẹpthì mang lại tình cảm tích cực, cái cao cả mang lại tình cảm tiêu cực

Vì sao cái cao cả lại mang lại tình cảm tiêu cực mà vẫn có tính chất thẩmmỹ? Sinle giải thích: “Nếu như trong sự lo lắng, hoài nghi, sợ hãi không có mộtphần nào thích thú… thì chúng ta có lẽ không thể lao vào nguy hiểm với một sựgan dạ điên cuồng”

Theo Cant, cái cao cả là cái gì so sánh với nó thì mọi cái khác đều bé cả.Người ta cũng dễ thấy rằng trong thiên nhiên không có một cái gì cả dù chúng tacho là lớn đến đâu đi chăng nữa Không có cái gì là đối tượng của giác quan cóthể gọi là cao cả Cái gì ta gọi là cao cả là do tâm trí sinh ra một biểu tượng nào

đó mà phán đoán suy xét được ứng dụng vào chứ không phải bản thân kháchthể

Trong Mỹ học của Hêghen có hai định nghĩa về cái cao cả Một là “Cáicao cả là ưu thế của quan niệm đối với hình thức” và “Cái cao cả là biểu hiện vềcái vô hạn” Ứng dụng quan niệm này vào trong phân tích cái cao cả trong lĩnh

Trang 17

vực nghệ thuật, Hêghen quan niệm: Nghệ thuật tôn giáo là nghệ thuật cao cả,bởi vì các đề tài của nó gắn với sự chuộc tội, sự tái sinh, trong đó cái tinh thầnvượt qua những hình thức cảm tính Nghệ thuật lãng mạn là nghệ thuật cao cả vì

nó là nghệ thuật tâm hồn, nghệ thuật của tình yêu gắn với sự hy sinh quên mình,

sự khắc khổ và sự sám hối, sự cứu rỗi Hêghen đã cho các loại hình nghệ thuật

âm nhạc, hội hoạ, thi ca là các hình thức biểu hiện rõ nhất của cái cao cả

Theo Tsecnưsexky, quan niệm về cái cao cả gợi trong thâm tâm con người

ý niệm về cái vô hạn là một quan niệm thần bí Cái cao cả là bản thân đối tượngchứ không phải là tư tưởng nào đó do đối tượng gợi lên Dĩ nhiên, khi quan sátmột đối tượng cao cả thì trong đầu ta có ấn tượng đậm hơn về cái cao cả chứ

không phải là ta tạo ra cái cao cả Ông định nghĩa: Cái cao cả là cái to lớn hơn tất cả những cái mà ta mang ra so sánh với nó Một vật cao cả là vật có quy mô vượt hơn những vật mà ta mang ra so sánh với nó Hiện tượng cao cả là hiện tượng mạnh hơn những hiện tượng mà ta mang ra so sánh với nó.”

Khác với tất cả các quan niệm trước mình về cái cao cả và tiếp thu nhữngthành tựu của loài người về cái cao cả, Mác và Ăngghen giải thích cái cao cảxuất hiện trong quá trình lao động và chiến đấu của con người Cái cao cả khôngphải là cái vốn có của tự nhiên, mà nó sản sinh từ thực tiễn thẩm mỹ của conngười, con người đã hiến dâng năng lực bản chất của mình chinh phục tự nhiên

và do đó, con người cũng trở thành cao cả

Trong mỹ học Mác-Lênin, cái cao cả thể hiện tập trung nhất trong những

sự kiện hoặc những hiện tượng trọng đại gợi ra trong con người một tình cảmđặc biệt, gắn liền với sự kính trọng, khâm phục, tự hào và vui sướng Cái cao cảnảy sinh từ những hiện tượng có quy mô, sức mạnh, ý nghĩa lớn lao

Cái cao cả cần được xem xét trong quan hệ thẩm mỹ chứ không phải

trong quan hệ thực dụng Một hiện tượng tự nhiên được gọi là cao cả nó phảinằm trong quan hệ thực tiễn thẩm mỹ của con người và nói rõ sức mạnh bảnchất của con người

Nói rằng cái cao cả tồn tại khách quan, nhưng khách quan trong quan hệvới thực tiễn thẩm mỹ của con người

Theo quan niệm của mỹ học Mác-Lênin, cái cao cả được đặc trưng bằngchất lượng và gần gũi với lý tưởng Nó là cái đẹp trở về với nó tập trung hơn,mạnh mẽ hơn, và có ý nghĩa xã hội rộng lớn hơn

Cái cao cả phải tạo được niềm vui, niềm khâm phục, sự hào hứng trongquá trình con người vươn lên làm chủ thiên nhiên, làm chủ xã hội và làm chủbản thân mình

Có thể nói: Cái cao cả là một phạm trù my học cơ bản thể hiện sức mạnh bản chất của con người trong quan hệ thẩm my, mang giá trị cái đẹp mạnh hơn, gần gũi với lý tưởng xã hội rộng rãi.

III Cái cao cả trong cuộc sống và trong nghệ thuật.

Cái cao cả được biểu hiện trong cuộc sống mang yếu tố thẩm mỹ trước

hết là những cái đẹp của con người Đó là những cái đẹp trong lao động, trongcác hành vi, trong các quan hệ ứng xử, trong đạo đức của con người Cái đẹp đóđược nhân rộng ra, phát triển cao hơn trong những hoàn cảnh khó khăn: Cái đẹp

từ cái thẩm mỹ bình thường đã mang yếu tố của cái cao cả Cái cao cả trongcuộc sống thể hiện sự cố gắng không ngừng của con người, vươn lên thực hiện

Trang 18

các nhiệm vụ có ý nghĩa xã hội rộng lớn được nhiều người tôn vinh Chủ nghĩaanh hùng là một hiện tượng thẩm mỹ nổi bật của cái cao cả trong cuộc sống.

Trong cuộc sống, cái cao cả không chỉ có quan hệ với cái đẹp mà nó cònquan hệ với cái bi Có những trường hợp cái bi làm tôn vinh cái cao cả, tạo chocái cao cả đi vào bất tử trong lòng nhân dân

Cái cao cả cũng có thể quan hệ với cái hài trong đời sống Có nơi, có lúccái cao cả mang yếu tố của cái hài Người ta từng biết nhiều anh hùng chiến sỹthi đua đã rất vụng về trong tình yêu Sự phiến diện đó của cái cao cả trong cuộcsống có thể là nguyên nhân gây cười trong một vài trường hợp nào đó

Nghệ thuật phản ánh cái cao cả bằng hình tượng Cái cao cả trong nghệthuật có thể là những hình tượng anh hùng chiến thắng mọi cái xấu, nhưng cũng

có những hình tượng không vượt qua được những cái xấu Dù là hình tượng anhhùng ca hay là bi kịch thì cái cao cả trong nghệ thuật cũng là những hình tượnghoành tráng

Cái vĩ đại nhất của lịch sử thuộc về nhân dân Cái động lực sâu xa của lịch

sử là hoạt động của quần chúng nhân dân Nhân dân đã tạo nên cái cao cả, nuôidưỡng cái cao cả và là đại biểu xứng đáng nhất của cái cao cả Nghệ thuật phảnánh các khát vọng cao cả của nhân dân sẽ được nhân dân lưu giữ, và đến lượtmình nhân dân sẽ là chủ thể sáng tạo ra mọi cái cao cả của cuộc sống và nghệthuật

Cái cao cả thường được bàn đến dưới bốn dạng thức:

- Cái cao cả thanh cao: Ở dạng thức này, đối tượng không nhất thiết phải

to lớn hùng vĩ, nhưng bên trong lại chứa đựng một vẻ đẹp tiềm tàng, sâu lắng,tinh khiết và hoàn toàn trong sáng Cái cao cả thanh cao gắn liền với sự hiền hòathân thương đầy cảm xúc bất tận mà rất gần với bản chất người chân chính (Nhàsàn của Bác, Chùa Một cột, Đạo đức Hồ Chí Minh, Tình bạn của Mác vàĂngghen, )

- Cái cao cả rợn ngợp: Ở dạng thức này nó hàm chứa ưu thế của sự khủngkhiếp, choáng ngợp, tình cảm đầy ức chế và bị dồn nén sau đó dâng lên mãnhliệt (Lạc giữa rừng một mình bỗng tìm được lối ra; Hành động vua Minh Mạngvung gươm chặt đứt cánh tay của viên thủ kho gian tham rồi lấy cánh tay đó treolên cửa kho; )

- Cái cao cả huy hoàng: Ở dạng thức này hàm chứa cái hoàng tráng, thắnglợi kỳ vĩ của con người (Cảm giác ngắm bình minh trước biển; Cảm xúc về cácbản giao hưởng; Các chiến thắng Điện Biên Phủ; Chiến thắng 30/4/1975 củaViệt Nam; )

- Cái cao cả thán phục: Dạng thức này hàm chứa trong nó vẻ đẹp hùng vĩcủa các đối tượng có tầm vóc to lớn, có sự nghiệp và phẩm cách lớn của vĩ nhân

và anh hùng Nó đem lại cho con người cảm hứng mạnh mẽ tràn đầy, cao quý và

có tác dụng cổ vũ những năng lực to lớn còn ẩn chứa trong con người (Chân lýKhông có gì quý hơn độc lập, tự do của Hồ Chí Minh; Nguyễn Văn Trỗi vớiHãy nhớ lấy lời tôi; Chị Út Tịch với Còn cái lai quần cũng đánh; )

C CÁI BI

I Bản chất thẩm mỹ của cái bi.

Mỹ học không phải là khoa học bàn về mọi cái chết Khái niệm cái chếtbao gồm cái chết sinh học và cái chết xã hội, có cái chết ngẫu nhiên và có cáichết tất yếu, có cái sống mà như đã chết, ngược lại có cái chết lại sống bất tử, có

Trang 19

cái chết của tội ác, có cái chết của cái đẹp Mỹ học sẽ không làm thay nhiệm vụcủa các khoa học khác nghiên cứu cái chết, mà nó sẽ nghiên cứu tính thẩm mỹcủa cái chết Phạm trù cái bi chỉ cái chết và nổi thống khổ có tính xã hội.

Tính thẩm mỹ của cái chết, đó là bản chất xã hội của cái chết Cái chết

mang bản chất thẩm mỹ đều gắn với sự đồng cảm, đồng khổ của xã hội Cái chết có tính bất tử là đối tượng cơ bản của mỹ học.

Bản chất thẩm my của cái bi là cái chết, nỗi thống khổ có ý nghĩa xã hội, tạo ra sự đồng cảm, đồng khổ, sự vui sướng, tự hào cho cộng đồng, gắn bó với

sự bất tử, đặt ra các vấn đề xã hội để tiếp tục giải quyết.

Bản chất thẩm mỹ của cái bi gắn với cái chết, nỗi thống khổ của cái đẹp,cái mới, cái tốt với các vấn đề xã hội sâu sắc của nó Vì sao cái đẹp, cái cao cả,cái tốt, cái mới bị cản trở, bị cái xấu rình rập Cần làm những gì để cho cái cao

cả, cái đẹp, cái mới vượt qua những hiểm nguy đạt tới niềm vui và hạnh phúc?Cái xấu, cái cũ, cái lạc hậu, cái ác sẽ bị phủ định như thế nào? Đó là các vấn đềtriết học sâu sa mà bản chất thẩm mỹ của cái bi đề xuất

II Các cách tiếp cận cái bi trong lịch sử mỹ học.

Cái bi trong tư duy mỹ học cổ đại Trước hết, cả Etsilơ, Xôphốclơ, Ơripitđều khẳng định rằng nguồn gốc lớn lao của cái bi là sự xung đột giữa cái thiện

và cái ác, giữa đạo đức và vô đạo đức, đăt ra các vấn đề số phận con người trong

chiến tranh, các vấn đề giàu nghèo, gia đình và phụ nữ, một tổng thể các mối quan hệ bi kịch giằng xé Thông qua bi kịch thời cổ đại, các vấn đề tình dục, sắc

đẹp và số phận luôn luôn trở thành nội dung cái bi của cuộc sống

Người đầu tiên trong lịch sử lý luận mỹ học đề cập một cách trực diện vànghiêm túc đối với cái bi là Aristốt Theo Aristốt: “bi kịch là sự bắt chước mộthành động quan trọng và hoàn chỉnh, hành động này có một quy mô nhất định Bằng hành động chứ không phải bằng câu chuyện kể, bi kịch tẩy rửa những cảmxúc qua cách khiêu gợi sự xót thương và khủng khiếp.”

Trong thời kỳ trung cổ, bi kịch được cổ vũ bằng lý thuyết tuẫn giáo.

Sếchxpia, thời kỳ Phục hưng đã khẳng định nguyên nhân của cái bi, cáchình thức của cái bi, bản chất của cái bi là những vấn đề xã hội rộng lớn Chính

Sếchxpia và những nhà lý luận thời Phục hưng lần đầu tiên đã đặt ra các vấn đề

xã hội lớn lao của cái bi.

Thế kỷ XVII ở châu Âu, lý luận bi kịch cổ điển của Boalô chính là việc

nhận thức lại thời cổ đại và đề xuất lý thuyết tam duy nhất: Sở trường duy nhất,

Tính cách hành động duy nhất, Thời gian duy nhất Toàn bộ các tính cái bi kịch,

cái bi được ông cổ vũ đó là tính chất tĩnh tại và hạn hẹp.

Người đặt nền móng cho bi kịch thời cổ điển Pháp là Coócnây Ông đềxuất các vấn đề bi kịch từ chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa anh hùng xungquanh vấn đề tự do và tất yếu, hèn nhát và dũng cảm Ông đề cao lý trí để kiềmchế dục vọng

Heeghen đã nghiên cứu cái bi theo một hướng hoàn toàn khác TheoHeeghen, cái bi là sự xung đột giữa cá nhân, đạo đức cá nhân và tinh thần, luân

lý phổ biến Bi kịch có tính tất yếu khi con người không thể thực hiện được haiđạo đức đó cùng một lúc Ông gọi là bi kịch của sự sai lầm, sự phiến diện Lýthuyết về bi kịch của Heeghen cho rằng, sự phiến diện về luân lý phải bị trừngphạt để cho một chân lý hoàn chỉnh tồn tại Lý luận bi kịch của Hêghen không

phải là sự mâu thuẫn giữa cái thiện và cái ác, mà chính là mâu thuẫn trong bản

Trang 20

thân cái thiện, cái thiện phiến diện và cái thiện hoàn thiện Bi kịch có nhiều

loại: 1 Chủ thể không có lỗi thực sự và chỉ là phạm lỗi vì tai nạn, không viphạm phép tắc đạo đức Có nhiều ưu điểm nên đã chết vì nhược điểm 2 Chủthể có hành vi đối lập và sự đau khổ và hậu quả của chính tội lỗi 3 Hình thứccao nhất là sự xung đột về mặt đạo đức Thực hiện điều này thì vi phạm điều kia

Theo Tsecnưsepxky, “bi kịch không có nguồn gốc từ xung đột, từ cái tất

yếu, từ “quy luật vũ trụ”, mà nó gắn với ngẫu nhiên Bi kịch, cái bi chỉ là nỗi đau khổ và chết chóc của người ta “Cái bi kịch là cái khủng khiếp của đời người.”

Khác với tất cả các nhà mỹ học trước mình, Mác và Angghen đã nghiêncứu toàn diện những xung đột xã hội và các ông đã phân tích những xung đột cótính bi kịch và có những nhân vật có số phận bi kịch là những xung đột có sốphận như thế nào

Theo Mác, cái bi, bi kịch cần bắt nguồn từ xung đột Nhưng xung đột cótính bi kịch lại phản ánh sâu sắc tính thời đại, tính lịch sử của nó

Theo Ăngghen, mâu thuẫn bi kịch có tính chân thật phải là: “Xung đột bi

kịch giữa yêu sách tất yếu về mặt lịch sử và tình trạng không tài nào thực hiệnđược điều đó trong thực tiễn… Bỏ qua yếu tố ấy sẽ làm giảm xung đột bi kịch”

Bản chất thẩm my của cái bi là cái đẹp, cái cao cả, cái anh hùng, cái mới, cái muốn vươn tới cái mới mang nội dung xã hội tích cực trong đấu tranh với cái xấu, cái tiêu cực, đã bị thất bại tạm thời, bị tiêu vong, bị hy sinh, tạo nên sự đồng cảm thẩm my, có ý nghĩa bất tử trong chủ thể xã hội tiên tiến.

Điều bí ẩn lớn lao của cái bi chính là sự chuyển biến của nỗi đau sangniềm phấn khích Nghệ thuật bi kịch phản ánh cái bi trong cuộc sống đã tạo nênxúc động to lớn cho nhân loại

III Cái bi trong đời sống và cái bi trong nghệ thuật.

Một hiện tượng xã hội được gọi là mang bản chất của cái bi phải thoả mãnđược các điều kiện sau đây: 1 Trước hết là hiện tượng đó phải gắn bó hữu cơvới cuộc sống của con người, có ý nghĩa đối với sự phát triển của con người và

xã hội, sự tổn thất của nó có ảnh hưởng đến nhiều người 2 Hiện tượng mangdung lượng xã hội ấy phải là một hiện tượng thẩm mỹ, nó nằm trong quan hệthẩm mỹ của con người và hiện thực, nó phải là cái đẹp hoặc cái cao cả, hoặc là

có những yếu tố của cái đẹp và cái cao cả 3 Hiện tượng thẩm mỹ này khi mất

đi đã gây nên được tình cảm thẩm mỹ đối với chủ thể xã hội như sự cảm mến, sựluyến tiếc, sự thương nhớ, sự khâm phục, sự tự hào

Trước hết tình huống bi kịch xảy ra trong cái chết, nỗi thống khổ của cáiđẹp và cái cao cả, cái mà tất yếu họ phải được hưởng hạnh phúc nhưng trongthực tế họ đã bị thất bại

Tình huống thứ hai có thể trở thành bi kịch là tình huống thất bại của cáimới Về tính tất yếu đáng lẽ cái mới xuất hiện, nhưng nó đã xuất hiện sớm quáhoặc chưa đủ điều kiện toàn diện để xuất hiện Cái chết của nó gây nên sự xúcđộng thẩm mỹ đồng cảm, dồng khổ của nhân loại Cái mới bị thất bại tạm thời,những tư tưởng mới, lối sống mới, tập quán mới, cuộc cách mạng mới chưathắng nổi cái cũ và nó đặt ra vấn đề xã hội giải phóng nó

Tình huống thứ ba là tình huống bi kịch của cái cũ, của một giai cấp cũ cóthể xảy ra trong trường hợp đấu tranh chống giai cấp mới nảy sinh, nhưng nóchưa hoàn toàn cũ, chưa cạn kiệt khả năng nội tại, chưa tỏ ra hoàn toàn lỗi thời

Trang 21

Bi kịch của cái cũ cũng phát sinh khi cái cũ trong một tình huống lịch sử nhấtđịnh đang gánh vác một nhiệm vụ tiến bộ mà lại bị tiêu vong, khi mà ở một giaiđoạn lịch sử nào đó nó có góp phần phát triển xã hội.

Trong mỗi một thời đại, bi kịch đều đặt ra các vấn đề xã hội của nó Nghệthuật bi kịch cổ đại đã phản ánh các số phận, tính tất yếu lịch sử thông quanhững nhân vật đầy huyền thoại về tự do

Nghệ thuật bi kịch thời Trung cổ đã tuân thủ các chuẩn mực thần họcbằng những đề tài cứu rỗi, sám hối và tình yêu Chúa

Thời Phục hưng, nghệ thuật bi kịch có mục đích quay về với các giá trịcủa bi kịch cổ đại, nhưng trên bình diện vì các giá trị con người, vì tự do cánhân, nó chống lại các tất yếu thần thánh Các nhân vật bi kịch trong thời Phụchưng đã đặt ra một vấn đề xã hội to lớn giữa tự do cá nhân và tất yếu xã hội

Trong bi kịch ở Pháp vào thế kỷ XVII, nó định hạn chế tự do tuyệt đối củacác cá nhân bằng nghĩa vụ của con người đối với Nhà nước Nhưng sau đó mộtmàu sắc bi kịch trữ tình xuất hiện Nó đã tập trung vào sự vỡ mộng của conngười Nó khẳng định tính chất không thể tránh khỏi của điều ác và tính vĩnhcửu tiếp tục cuộc chiến đấu chống cái ác mới Nó không hoà giải được cái thiện

và cái ác và cho ý nghĩa của cuộc sống là phải vùng lên chống cái ác

Cái bi và nghệ thuật miêu tả cái bi có một giá trị thẩm mỹ to lớn trongtâm hồn nhân loại Tri thức về cái bi và bi kịch là một mảng thẩm mỹ quantrọng, có thể nhận thức rõ hơn sự chuyến biến sâu rộng của lịch sử nhân loại

Ba tình huống bi thường được bàn tới với sáu dạng thức bi:

- Cái bi của đêm trường đen tối: Là loại xung đột giữa những yêu sách tấtyếu về mặt lịch sử và tình trạng không thể thực hiện được nó trong hiện thực Làloại xung đột giữa 1 bên là cái mới, tiến bộ mới hình thành còn non yếu (nhưng

là tất yếu của lịch sử) với 1 bên là cái già cỗi, lạc hậu tất yếu phải thay thếnhưng điều kiện bị thay thế chưa chín muồi

Dạng thức này thường đốt lên ngọn lửa thức tỉnh dân tộc, thức tỉnh nhânloại đang chìm đắm trong giấc ngủ triền miên Ở đây, sự hy sinh của cá nhânkhông vì họ, cũng không vì một bộ phận xã hội nhỏ bé, mà là đại diện cho mộtgiai cấp, cho một phong trào nhất định của thời đại Kẻ thù là lực lượng bảo thủđiển hình với sự tàn bạo trắng trợn làm cho xã hội ghê tởm và cảm thấy sợ nó.Anh hùng hy sinh nhưng lý tưởng chưa thực hiện được (Thất bại của khởi nghĩaYên Thế với cái chết của Đề Thám; Sự hy sinh của Hoàng Văn Thụ, Lý TựTrọng, Nguyễn Thị Minh Khai, )

- Cái bi trước bình minh: Là loại xung đột của một bộ phận cái mới, tiến

bộ, cách mạng đang ở thế thắng lợi hoàn toàn, nhưng bị rơi vào hoàn cảnh trớtrêu khiến phải sa cơ và bị tiêu diệt thảm khốc

Dạng bi này trước đó đã được cả thế hệ, dân tộc dấy lên những phong tràonối tiếp xả thân vì lý tưởng ấy Đây không là sa cơ giữa đêm trường đen tối, mà

là ngã xuống ngay ngưỡng cửa bình minh làm bật tung cái then cửa khóa chặtnhiều năm để mọi người ùa ra ánh sáng (Những liệt sỹ ngã xuống ngay ngày đạithắng; 82 ngày đêm ở Quảng Trị năm 1972; )

- Cái bi của cái cũ: Là loại xung đột giữa cái cũ nhưng chưa trở nên xấu

xa, phản động, trái lại còn có ít nhiều vai trò lịch sử, nhưng đã sớm bị tiêu diệtthảm thương Ở đây cái cũ vẫn tin vào tính hợp lý của nó

Trang 22

Đây là bi của sự lầm lạc của cái cũ do không nhận thức được tính tất yếucủa quá trình chết dần đang diễn ra trong cái cũ, mà cố hết sức lực để bảo vệ nónên không thể tránh khỏi thất bại, không thể tránh khỏi bị tiêu diệt.

Sự lầm lạc này không là của cá nhân mà là lầm lạc mang tính lích sử thếgiới

Dạng bi này là tất yếu do không được sự ủng hộ của nhân dân, nhưng cáichết của họ cũng gợi lên một chút xót thương như sự luyến tiếc một chiều đẹptrước hoàng hôn (Thất bại của phong trào Duy Tân; Cái chết của Đôngtisốt;Chiến đấu mù quáng cho một lý tưởng lạc hậu nhưng ít nhiều còn vai trò lịch sử;Chiến đấu theo thói quen, theo truyền thống mà không nhân thức được sức sốngcủa lý tưởng ấy đã quá lung lay, đang ở đoạn cuối của sự phát triển nội tại củanó; )

- Cái bi của cái xấu: Là loại xung đột do tội ác gây nên Tức là sự trừngphát một cách nghiêm khắc trước những tác hại khủng khiếp do cái xấu gây nên

Dạng thức này không lấy nước mắt để răn đời, không lấy xót thương đểluyến tiếc người đã mất, mà lấy sự khủng khiếp để nhắc nhở con người đừnglàm điều khủng khiếp Nó thể hiện một trong những bản chất của cái bị là làmtrong sách hóa những cảm xúc, hướng con người tới cái cao cả bằng khêu gợinhững xót thương khủng khiếp (Tên thủ kho bị vua Minh Mạng chặt đứt cánhtay; Những kẻ phạm pháp bị tuyên xử với hình phạt cao nhất; )

- Cái bi của sự sai lầm, thiếu hiểu biết và ngu dốt: Đây là sự xung đột củamột bên là lầm lẫn hoặc kém hiểu biết hoặc ngu dốt với một bên là những gìmới, tiến bộ với tư cách là cái hiển nhiên, tất yếu của lịch sử

Dạng bi này giúp con người rút ra những bài học xương máu cho đườngđời, nhắc nhở con người những bài học cảnh giác trước sự phức tạp ghê gớmcủa cuộc đời phải tỉnh táo phân biệt phải trái, để tránh mắc phải những đauthương do hành động thiếu suy nghĩ, thiếu hiểu biết của mình gây nên (Cả tincủa An Dương Vương và Mỵ Châu dẫn đến cái chết của họ; Thất bại của hànhđộng chủ quan, duy ý chí; Ôtenlô giết người yêu ngay trên giường hạnh phúckhông phải vì ghen mà vì quá tin nên bị kẻ địch (cha mình) lừa dối, lợi dụng; )

- Cái bi của những khát vọng: Đây là xung đột gay gắt của một bên lànhững khát vọng chính đáng, riêng tư của con người với một bên là khả nănghiện thực không thể thực hiện được các khát vọng ấy

Dạng bi này thể hiện những đau khổ, dằn vặt của cá nhân, nhưng lại đụngchạm đến lẽ sống, tình yêu và sứ mệnh của con người nói chung, nó làm day dứtmãi lòng người về sự trân trọng các khát vọng chính đáng cá nhân ấy (Oan ThịKính; Tài sắc của Kiều; Cuộc đời chị Dậu; Khát vọng làm mẹ của các phụ nữkhông có điều kiện xây dựng gia đình; )

Cái bi trong nghệ thuật của chúng ta với cái đề tài lịch sử và cách mạng sẽbất tử hoá chủ nghĩa yêu nước của người Việt trong thời đại mới

D CÁI HÀI.

I Bản chất thẩm mỹ của cái hài

Cái hài là một hiện tượng thẩm mỹ sống động và sâu rộng của cuộc sống

con người Cái hài thường gắn với tiếng cười, là một hiện tượng đáng cười, một

hiện tượng gây cười chứ không phải là bản thân tiếng cười Cái hài là một hiệntượng thẩm mỹ tồn tại khách quan Cái hài gắn với tiếng cười, nhưng không phảitiếng cười nào cũng biểu hiện của cái hài

Trang 23

Tiếng cười trong cái hài vừa có tính mục đích, vừa có tính phương tiện.

Tính mục đích là làm cho con người được thông tin về nghịch cảnh, được cười vui vẻ Tính phương tiện biểu hiện tập trung trong phương thức phát triển cái

xấu và cười nhạo cái xấu Ở đây cái cười đã trở thành một vũ khí Nghệ thuậtthường dùng tiếng cười như một vũ khí chiến đấu quan trọng chống cái ác, cáixấu khi nó giả danh cái đẹp

Cái hài là một hiện tượng thẩm mỹ tồn tại khách quan và mang tính xã hộirộng lớn Sự tồn tại khách quan của nó cần có sự phát triển của những đôi mắtchủ quan tinh đời

Cái hài với tư cách là một hiện tượng thẩm mỹ khách quan tồn tại cả trongcuộc sống và trong nghệ thuật

Cái hài là một thực tại xã hội, gắn với tình cảm, lý trí và các quan hệ xãhội của con người

Cái hài trong cuộc sống và cái hài trong nghệ thuật cũng không hoàn toànđồng nhất

Phương tiện gây cười biểu hiện tập trung của con người là nghệ thuật,trong đó nghệ thuật hài hước chiếm một vị trí rất quan trọng

Bản chất của cái hài là cái xấu đang tồn tại trong thực tế Nhưng không phải là cái toàn bộ xấu, mà chỉ một bộ phận ma mãnh nhất không đành phận xấu, tìm cách lọt vào vương quốc của cái đẹp Thậm chí khi lọt vào rồi thì hoành hành bắt cái đẹp phải khuất phục nó Và chỉ khi cái đẹp tỉnh ra, rọi sáng, vạch trần nó thì nhân loại được một trận cười thoả thuê.

II Các cách tiếp cận khác nhau về cái hài.

* Thời cổ đại: Platôn nghiên cứu cái hài cả trên hai bình diện: Mục đích

và phương tiện Theo Platôn, cái hài là phương tiện đòi dân chủ, phương tiện

của những người dưới thường dùng để châm chọc người trên và thần thánh Với

tư cách là mục đích, cái hài thực hiện gây cười, tự nó bộc lộ sự thiếu nghiêm túc.Bản chất của cái hài là luôn tỏ ra mới, cười cái cũ để tỏ ra mình mới

Nhận xét về cái gây cười, cái tạo nên tiếng cười như Arixtot là đặc biệttinh tế Theo ông, cái gây cười, cái tạo nên tiếng cười trong đời sống và trong

nghệ thuật chỉ là một bộ phận của cái xấu và nhất là cái xấu này chưa biết mình

là xấu, hoặc giấu cái xấu của mình, bỗng nhiên bị phát hiện Vì thế nó mới vui,mới có ý nghĩa thẩm mỹ

* Suốt thời Trung cổ, người ta không tìm thấy các học thuyết, các bàinghiên cứu về hài Mãi thời kỳ Khai Sáng, các học thuyết, các lý luận về cái hàimới được đề cập ngày một nhiều hơn

* Theo Hốpxơ, chúng ta có thể xác định rằng, tình cảm của nụ cười làthấy được nhược điểm của kẻ bên cạnh hay có khi là thấy được nhược điểm củamình trong quá khứ, từ chỗ đột nhiên nghĩ đến ưu thắng của mình mà đưa đếncảm giác “thắng lợi thình lình” (Sudden glory) Học thuyết Sudden glory củaHốpxơ khái quát một thuộc tính “bất ngờ”, “ngẫu nhiên” trong mỗi chuỗi cácyếu tố hài hước Học thuyết này được Cant và Hêghen phát triển

* Theo Cant, tiếng cười là kết quả một sự kỳ vọng căng thẳng, đột nhiênthất vọng Thuyết kỳ vọng tiêu tan tạo ra tiếng cười, điều đó có lợi cho sức khoẻ

* Hêghen đã nghiên cứu và trình bày về cái hài và hài kịch trên một

nguyên lý tổng thể có tính kịch là những mục đích của cá nhân Theo ông, cái

Trang 24

hài “hài kịch, ở đấy tính chủ thể với tính cách chủ thể trong ý muốn và tronghành động cũng như trường hợp bên ngoài làm chủ mọi mục đích và quan hệ”.

Để làm rõ bản chất của cái hài và cái hài kịch, trước hết Hêghen phân biệtcái lố bịch với cái hài, sau đó ông phân biệt cái hài với cái gây cười Theo ông,chỉ có thái độ vui tính vô cùng tự tin của những con người vươn lên khỏi cáimâu thuẫn trong đó ý mắc phải chứ không phải chịu đựng và cảm thấy bất hạnhthì mới là cái hài mà thôi

Cái hài là một quan hệ giữa đối tượng và chủ thể Một mâu thuẫn kháchquan mà chủ thể sa vào, chủ thể tự tin và gỡ được mâu thuẫn ấy một cách tựnhiên, vui vẻ, đột nhiên

Theo Hêghen, cái hài là đối tượng của hài kịch có các đặc điểm sau:

1 Thói hà tiện, chỉ thấy tiền bạc, của cải là một hình thức giá trị duy nhất.Mục đích và phương tiện mà người hà tiện thực hiện là nhỏ bé mà hành động vàthái độ lại nghiêm trang

2 Mục đích cao, tham vọng lớn, mà bản chất lại hèn kém Về bề ngoàikhuyếch trương, nội dung lại rỗng tuyếch, không có thực lực, không phản ánhđúng bề ngoài

3 Hài kịch phải trình bày cái hợp lý không phải ở trong tình thế nó bị đedoạ phải sụp đổ một cách tương đối khủng khiếp Trái lại, hài kịch phải trình bàycái hợp lý với tính cách nó chống lại sự ngu dốt và tất cả những gì là phi lý ởtrong thực tại và nó chiến thắng

* Tsecnưsepxky nghiên cứu cái hài trong mối tương quan giữa cái cảmgiác dễ chịu và khó chịu của con người Ong viết: “An tượng mà cái hài tạo ratrong con người là lỗi hỗn hợp giữa cảm giác dễ chịu và cảm giác khó chịu, song

ở đó sức mạnh thường nghiêng về phía cảm giác dễ chịu, đôi khi nghiêng hẳnđến mức cảm giác khó chịu hầu như không còn nữa Cảm giác này được biểuhiện bằng tiếng cười Cái khó chịu ở cái hài đối với chúng ta là do cái xấu tạo ra;

dễ chịu là cái chúng ta thấu hiểu đến mức biết rõ cái xấu là xấu, khi cười nhạocái xấu, chúng ta trở nên cao hơn nó.”

* Theo Mác, cái ancien régime (chế độ cũ) ở thời Mác chỉ là một cái vai

hề của trật tự thế giới mà những vai chính đã chết rồi Cái vai hề tức là một cáivai trò cười của trật tự thế giới bởi vì nó không còn đáp ứng gì được nhữngnhiệm vụ lịch sử mới Vai hề đó là sự khuyếch trương về hình thức, che dấu cáitrống rỗng, cái lỗi thời ở bên trong đã tạo ra các vai hề lịch sử của nó Vai hề làmột sự nguỵ trang để tự vệ, để lừa gạt Sống mà để mất quyền tồn tại lại tạo racái giả là mình còn sức sống, đó chính là một trong những bản chất rất cơ bảncủa cái hài

Hài là một hiện tượng thẩm my khách quan, bởi giễu cợt là một mặt quan trọng để biểu hiện thái độ sống và định giá nhân cách con người Hài dùng tiếng cười để tống tiễn cái cũ, chào đón cái mới một cách nhẹ nhàng mà sâu sắc.

Hài là phương tiện phát hiện những xung đột, những mâu thuẫn xã hội, giai cấp, là hình thái phê phán đặc biệt có cảm xúc Nó là hoa của văn minh và

là quả của dư luận xã hội phát triển Hài luôn gắn liền với trình độ lý tưởng xã hội Hai phương diện quan trọng của hài là tính lịch sử và tính giai cấp.

III Cái hài trong cuộc sống và trong nghệ thuật

Trang 25

Trong cuộc sống, cái hài được thể hiện ra dưới rất nhiều hình thức theocác xúc cảm nhiều hình, nhiều vẻ từ bông lơn đến cười mỉm, cười mỉa…

Trong cuốc sống, cái hài thường gắn với cái bất thường, cái khiếm khuyết

về đời sống, về đạo đức, về lý tưởng… tồn tại ở mọi nơi và ở mọi con người.Cái hài xuất hiện khi cái xấu lẩn vào cái đẹp, nhân danh cái đẹp bị phát hiện độtngột, bất ngờ Yếu tố phát hiện cái xấu đột ngột, bất ngờ có liên quan bản chấtđến chủ thể phát hiện các hiện tượng gây cười Người thông minh, nhạy bén, sắcsảo, có liên tưởng tốt và chủ động, đặc biệt là có văn hoá sẽ trở thành chủ thểnhân văn trong quan hệ hài hước

Cái hài trong nghệ thuật là sự phản ánh cái hài trong cuộc sống Trong

cuối mỗi thời đại lịch sử, giai cấp bóc lột đã tỏ rõ sự thối nát của nó, nhưng nó

cố che đậy dưới hình thức mỹ miều Sự trống rỗng về nội dung và sự khuyếchtrương về hình thức đó được phản ánh vào trong nghệ thuật, được nghệ thuật lưugiữ Nói chung, khi tiếp cận với cái hài, nhiều nhà khoa học tìm thấy ở trongnguyên nhân và bản chất sự gây cười có ẩn chứa những mâu thuẫn đối nghịch:Platôn thì cho cái hài có sự đối nghịch giữa nghiêm túc và không nghiêm túc;Arixtot thì cho cái hài là cái đối nghịch giữa cái đẹp và cái xấu; Hốpxơ thì chocái hài là sự đối nghịch giữa tự do và tất yếu; Cant thì cho cái hài là sự đốinghịch giữa hy vọng và trống rỗng; Hêghen thì cho cái hài là sự đối nghịch giữahoàn cảnh và phát triển… Thông qua những đối nghịch này mà rất nhiều biểuhiện khác nhau của cái hài trong đời sống và trong nghệ thuật được phát hiện.Việc phát hiện cái hài có tính lịch sử xã hội của Mác đã mở ra những cách nhìnrộng rãi trong việc nghiên cứu cái hài trong cuộc sống và trong nghệ thuật

Arixtot nói rằng: đối tượng của tiếng cười trong nghệ thuật là caais xấu.Tuy nhiên, ông ta nhắc nhở tất cả các nhà nghệ thuật rằng không phải cái xấunào cũng là đối tượng gây cười Chỉ có cái xấu giả danh cái đẹp, cái xấu chưabiết mình là xấu mới có ý nghĩa thẩm mỹ

Cái hài trong nghệ thuật luôn tạo ra một tiếng cười nhân danh cái đẹp, cáimới, cái tiến bộ Platon nói rằng, tiếng cười trong nghệ thuật luôn tỏ ra là mình ở

về phía cái mới Nghệ thuật không chỉ là thế giới của cái đẹp thông thường, mà

nó còn là biểu hiện tập trung của cái đẹp nhân văn, cái đẹp lý tưởng

Tiếng cười thẩm mỹ trong nghệ thuật thường nhằm vào những yếu điểmcủa con người và những con người có yếu điểm Arixtot nói rằng, nghệ thuật hàihước nhằm tái hiện những người xấu nhưng không hoàn toàn độc ác, xấu xa, màchỉ có nghĩa là sai lầm, không gây nguy hại cho ai, chỉ đáng cười mà thôi Trên

lý tưởng đó, Mác nói rằng, giai đoạn cuối cùng của một hình thái lịch sử chính

là tấm hài kịch của nó Nêu hình tượng hài hước là để nhân loại giã từ quá khứmột cách vui vẻ

Từ giã quá khứ, từ giã cái cũ, cái xấu một cách vui vẻ, đó chính là nộidung nhân đạo của tiếng cười thẩm mỹ trong nghệ thuật Có thể tiếng cười đãlàm hạ bệ những thần tượng bề ngoài tưởng như nghiêm túc, nó tạo thế chiếnthắng và đòi hỏi dân chủ hoá, nhưng tính chất thẩm mỹ của tiếng cười đòi hỏi

nghệ thuật hài hước phải tạo ra tình cảm dễ chịu cho công chúng.

Tính chất thẩm my của cái hài trong nghệ thuật thường thuộc về những tâm hồn nghệ sy bát ngát một lòng yêu tha thiết cái đẹp Chỉ có lý tưởng thẩm

my trong sáng, năng lực thị hiếu mạnh mẽ mới lôi được cái xấu từ những nơi ẩn

Trang 26

nấp được che chắn một cách kín đáo và nhiều khi còn choáng lộn như bảy sắc cầu vồng ra trước vành móng ngựa của công lý.

Tiếng cười thẩm my trong nghệ thuật là một tiếng cười có ý nghĩa xã hội sâu sắc “Xã hội là vương quốc chân chính của cái hài” Cái hài trong nghệ thuật mang tính lịch sử điển hình Tức đặc trưng của hài trong nghệ thuật là tính kịp thời, tính thời sự rất cao Đồng thời nó mang tính trường tồn, vì nó vạch

ra được phương diện sâu xa bản chất của bản chất cái xấu bị che đậy kín đáo trong hình thái đang bộc lộ của nó.

Nghệ thuật hài là nghệ thuật phát hiện mặt phía sau của sự vật, hiện tượng, đặc biệt là mặt nghịch của lịch sử Vì thế nghệ thuật hài có tính chiến đấu trực diện như đội quân xung kích trong đoàn quan xung phong.

Nghệ thuật hài là nghệ thuật khắc hoạ sâu diện mạo nhân vật phản diện, nhằm vạch thói gian dối chính trị của kẻ thù lịch sử Và đó là nhiệm vụ hàng đầu của nghệ thuật hài Nghệ thuật hài rất cần tiếng cười, nhưng cần hơn vẫn

là bản chất hài hước Nghệ thuật hài phải đạt đến trình độ đả kích Phải đạt đến đỉnh cao của sự thông minh, hóm hỉnh, không dừng lại ở hình thức, mà phải bám vào bản chất mà vạch trần nó.

Nghệ thuật hài có thể được chia thành 3 loại: đả kích, Châm biếm, Khôi hài

Đất nước ta đang ở vào một thời điểm rất đặc biệt: Thời cơ lớn và tháchthức rất cao Nghệ thuật hài hước tham gia vào tiến trình này cần phát hiện ranhững nơi ẩn nấp của cái xấu trên lập trường của cái đẹp đã đành, nó cũng phảinhìn rõ những vận hội lớn, những niềm hoan lạc của cái mới trong tiến trình đổimới của dân tộc

Có cái xấu đang lẩn trốn, đang nhân danh cái cao cả Đảng ta kêu gọinghệ sỹ mài giũa cảm xúc hài hước trên lý tưởng cao đẹp đưa cái xấu của bọntham nhũng, mọt dân ra trước tiếng cười cao thượng của công chúng, ghi chúngvào trong lịch sử nghệ thuật của dân tộc để chúng nhớ đời rằng nhân dân khoandung nhưng không thể tha thứ cho chúng

Chương IV CHỦ THỂ THẨM MỸ

I Chủ thể và chủ thể thẩm mỹ.

Chủ thể thẩm mỹ là chủ thể người hoạt động về mặt thẩm mỹ Thực tiễnthẩm mỹ của con người là hoạt động hướng về cái đẹp, hoàn thiện cuộc sốngtheo quy luật của cái đẹp

Trong lịch sử mỹ học, chủ thể thẩm mỹ là một đối tượng nghiên cứu củarất nhiều khuynh hướng mỹ học khác nhau từ cổ đại đến hiện đại: Nhà triết học

duy tâm khách quan Platon cho rằng chủ thể thẩm mỹ không phải là chủ thể

người đang nhận thức, xúc cảm, mà là con người được thần nhập Có thần nhậpthì có thần lực, có thần lực thì có thần hứng

Theo các nhà mỹ học duy tâm chủ quan, thì hoạt động của chủ thể thẩm

mỹ chủ yếu là hoạt động của thị hiếu thẩm mỹ Đó là các hoạt động tình cảm tự

tìm thấy mình Chúng không liên quan gì đến các vấn đề xã hội Chủ nghĩa duy vật tầm thường coi chủ thể thẩm mỹ có tất cả trong mọi động vật.

Những nhà my học theo chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng, chủ thể thẩm my trước hết đó là con người xã hội Con vật không thể trở thành chủ thể thẩm my được Hoạt động thẩm my mang bản chất của một chủ thể thẩm my,

Trang 27

trước hết phải là hoạt động có mục đích Chỉ có con người mới hoạt động có mục đích và mục đích ấy đã được dự kiến.

Hoạt động có mục đích của con người đã dẫn con người biết sáng tạo

trong toàn bộ cuộc sống của mình Hoạt động sáng tạo ấy là điều kiện chủ yếu

để con người thoát khỏi tình trạng động vật và là nền tảng cho sự tồn tại và pháttriển của xã hội loài người Hoạt động sáng tạo của con người cũng là điều kiệnchủ yếu đưa con người xã hội trở thành một chủ thể thẩm mỹ

Nói đến chủ thể thẩm my là người ta nói đến khả năng thụ cảm, đánh giá

và sáng tạo các giá trị thẩm my Khả năng này không phải là bẩm sinh, vì không thông qua hoạt động sáng tạo trong lao động thì con người không thể có khả năng ấy.

Nói đến các chủ thể thẩm my là nói đến những giác quan có khả năng thụ cảm và sáng tạo thẩm my Trong các giác quan của chủ thể thẩm my được xã hội hoá, thì tai, mắt và hai bàn tay là quan trọng nhất Có thể nói thẩm my là chủ thể người có khả năng hưởng thụ, sáng tạo và đánh giá thẩm my thông qua các giác quan tay, mắt và tai được rèn luyện về sự đồng hoá thế giới về mặt thẩm my.

Mỗi chủ thể thẩm mỹ đều phải thông qua các hoạt động thẩm mỹ mà tồntại Giá trị của mỗi chủ thể thẩm mỹ, sự phong phú của các chủ thể thẩm mỹphải được thể hiện ở các hoạt động thực tiễn thẩm mỹ

Chủ thể thẩm mỹ không phải là những chủ thể bẩm sinh Năng lực thẩm

mỹ của con người là do hoạt động thực tiễn của con người mà có Các khả nănghưởng thụ và sáng tạo những giá trị thẩm mỹ có những yếu tố tâm, sinh lý, có sự

di truyền và có sự bẩm sinh, nhưng nó là những tiềm năng rất sâu kín trong cóthể mà chúng ta gọi là năng khiếu Những năng khiếu đó, chỉ có thể giúp cho sựlớn mạnh, sự giàu có của chủ thể thẩm mỹ, nếu nó được tiếp tục rèn luyện, pháthuy Chỉ có thông qua hoạt động thực tiễn, thông qua cải tạo tự nhiên và xâydựng xã hội thì con người mới có thể “phát triển những năng khiếu tiềm tàngtrong bản thân mình”

Sự hình thành năng lực thẩm mỹ có liên quan mật thiết đến các quan hệ

xã hội thúc đẩy các năng lực thẩm mỹ đúng hướng và phát triển khá nhanh Quátrình nâng cao và hoàn thiện quan hệ xã hội là một quá trình phát triển các nănglực thẩm mỹ

II Các hoạt động cơ bản của chủ thể thẩm mỹ.

1 Hoạt động nhận thức thẩm mỹ.

Các nhà mỹ học mác-xít đã chia hoạt động nhận thức thẩm mỹ ra làm ba

quá trình để dễ nhận biết và nghiên cứu Đó là quá trình tri giác thẩm mỹ; hình thành các biểu tượng thẩm mỹ, hoạt động phán đoán thẩm my.

Ba quá trình này trong hoạt động nhận thức thẩm mỹ của chủ thể thẩm mỹ

có liên quan mật thiết với nhau và tương tác không chia cắt

Trang 28

Nó là trạng thái cần thiết đòi hỏi thoả mãn các thiếu hụt về thẩm mỹ mà trungtâm là thoả mãn về cái đẹp Đây là lĩnh vực khá tinh tế của chủ thể.

Nhu cầu thẩm mỹ chân chính không hề bắt nguồn từ các trò chơi vô mụcđích hay phi lý tính kiểu bản năng Nhu cầu thẩm mỹ cao quý của con người,năng lực mẫn cảm với cái đẹp, khả năng tinh tế trong sáng tạo hoàn toàn xa lạvới nguồn gốc tôn giáo

Nhu cầu thẩm mỹ của con người, tuy là nhu cầu của một chủ thể, nhưng

nó lại tham gia vào việc biểu hiện tiềm năng văn hoá, tiềm năng sáng tạo của xãhội

Mối quan hệ giữa nhu cầu thẩm mỹ, trình độ thẩm mỹ, năng lực thẩm mỹ

cá nhân với xã hội được biểu hiện ở chỗ, xã hội là điều kiện để nhu cầu pháttriển và khi những nhu cầu tốt đẹp ra đời càng chứng minh, càng thúc đẩy tính

ưu việt của xã hội

Có thể quả quyết rằng, nhu cầu thẩm mỹ cơ bản của con người như thếnào thì năng lực thẩm mỹ của con người như thế ấy

Với tính cách là những tình cảm đặc thù của con người tình cảm thẩm my nảy sinh từ tri giác các khách thể, đặc biệt là của các tác phẩm nghệ thuật, sản phẩm đẹp của lao động, vẻ đẹp của tự nhiên Những tình cảm đó kích thích tích cực về mặt xã hội của con người, điều tiết hành vi của họ và tác động đến sự hình thành những ý tưởng chính trị – xã hội, thẩm my, đạo đức, v.v của những

cá nhân Khó lòng hình dung được con người nếu thiếu đi niềm vui mà nghệthuật mang lại cho họ, thiếu hạnh phúc của những tình cảm thẩm mỹ

Tình cảm hối thúc những hành động hàng ngày của chúng ta là tình cảmđạo đức Tình cảm chi phối con người lúc thưởng thức, biểu diễn, phê bình, sángtạo là tình cảm thẩm mỹ

My học Mác – Lênin không đối lập tình cảm đạo đức và tình cảm thẩm

my Đối với chúng ta, tình cảm thẩm my trước hết phải là tình cảm đạo đức, bởi cái đẹp theo quan điểm của chúng ta phải bắt nguồn từ cái tốt, bắt nguồn từ lao động và đấu tranh phục vụ cho nguồn hạnh phúc của mọi người.

Cái đẹp giữ vị trí trung tâm trong các quan hệ thẩm mỹ, thì tình cảm thẩm

mỹ cũng xoay quanh cái đẹp

Tình cảm thẩm mỹ tuy gắn với tình cảm đạo đức nhưng không hề đồng

nhất với tình cảm đạo đức Tình cảm thẩm mỹ bao giờ cũng bao hàm một nội dung hưởng thụ, thưởng thức, biểu hiện như một nhu cầu được thoả mãn Tình

cảm thẩm mỹ cung cấp cho chủ thể khoái cảm đam mê và cho trí tưởng tượngmột năng lực hoạt động Thiếu yếu tố khoái cảm, thì tình cảm chưa thể trở thànhtình cảm thẩm mỹ

Không phải bất cứ sự thoả mãn nào cũng là tình cảm thẩm mỹ Khôngphải tất cả những khoái cảm của con người về mặt tinh thần đều là tình cảmthẩm mỹ Chỉ có thực tiễn mới biến được khách thể thành đối tượng thẩm mỹ vàchủ thể trở thành chủ thể thẩm mỹ

Do hình tượng có vai trò rất cơ bản trong tình cảm thẩm mỹ, vì thế tình

cảm thẩm mỹ đã trở thành động lực để sáng tạo nghệ thuật Tình cảm thẩm mỹ,cũng như chủ thể thẩm mỹ có rất nhiều dạng biểu hiện khác nhau trong quan hệvới nghệ thuật thông qua khâu tưởng tượng

Có sự khác nhau rất lớn giữa những tình cảm thẩm mỹ hàng ngày do hìnhtượng đưa lại và những tình cảm thẩm mỹ trong sáng tạo nghệ thuật Rõ ràng là

Trang 29

giá trị của hình tượng trước hết phụ thuộc vào trình độ sâu sắc của tình cảmthẩm mỹ Tính chân thật của hình tượng nghệ thuật cũng phụ thuộc vào sự đúngđắn của tình cảm thẩm mỹ Bằng những tình cảm thẩm mỹ, con người khám phá

ra vẻ đẹp của thế giới và chính mình Do ảnh hưởng những tình cảm thẩm mỹ,nhân cách con người cũng có những biến đổi lớn lao

Các tình cảm thẩm mỹ có ảnh hưởng tích cực tăng trưởng lực và tối ưuhoá mọi quá trình tâm sinh lý của con người Thường chúng kích thích tính tíchcực sáng tạo xã hội của chúng ta

3 Thị hiếu thẩm mỹ.

Hoạt động của nhu cầu và tình cảm thẩm mỹ có liên hệ bản chất với cácthị hiếu thẩm mỹ và chủ thể thẩm mỹ

Thị hiếu thẩm mỹ là một lĩnh vực phức tạp của tình cảm thẩm mỹ Sựkhác nhau về thị hiếu xuất phát từ các cơ sở tâm lý và kinh nghiệm sống khônggiống nhau của con người Thị hiếu thẩm mỹ là một khái niệm bao hàm nhữngnội dung thẩm mỹ rất đa dạng

Thị hiếu thẩm my là sở thích của con người về phương diện thẩm mỹ Đó

là thái độ tình cảm của con người trước cái đẹp, cái xấu, cái bi, cái hài, cái cao

cả trong cuộc sống và nghệ thuật

Thực chất của thị hiếu thẩm mỹ là sự thống nhất hài hoà giữa nhận xét vớicảm xúc Điều đó làm cho nó trở thành một hiện tượng xã hội chung Một thịhiếu thẩm mỹ phát triển ở mức độ đáng kể đã thấm nhuần một lý tưởng cụ thể

về mặt lịch sử rồi

Thị hiếu thẩm mỹ mang tính chất ổn định tương đối trong hệ thống tình

cảm Do tính chất ổn định tương đối này mà năng lực của con người có khả năng

phản ứng hết sức mau lẹ Do tính ổn định tương đối, thị hiếu thẩm mỹ tốt luôn

luôn là người bạn đồng hành, người trực ban tận tụy của con người

Thị hiếu thẩm mỹ tốt đó là thị hiếu gắn tình cảm với lý trí, gắn cái đẹp vớicái đúng và cái tốt

My học Mác – Lênin khẳng định rằng, thị hiếu thẩm my có những đặc trừng cơ bản sau:

- Đặc trưng đầu tiên của thị hiếu là sự phản ứng mau lẹ Sự phản ứng mau lẹ gần như bản năng của chủ thể thẩm my trước các hiện tượng đẹp, xấu,

bi, hài…

- Đặc trưng thứ hai của thị hiếu thẩm my là tính khoái cảm Trong cuộc sống, cũng như tình cảm thẩm my, thị hiếu thẩm my đánh giá hiện tượng xã hội một cách đầy hào hứng.

- Đặc trưng thứ ba của thị hiếu thẩm my là tính cá biệt Chúng ta tuy coi thị hiếu thẩm my là sản phẩm của các quan hệ thực tiễn nhưng không phủ nhận năng lực tâm lý, các niềm tin tâm lý của thị hiếu Thông qua các cá nhân riêng

lẻ mà sự phản ứng mau lẹ được biểu hiện, mức độ ổn định của tình cảm thẩm

my của cá nhân riêng lẻ sẽ góp vào gia tài phong phú của xã hội.

- Đặc điểm thứ tư là tính kế thừa của thị hiếu thẩm my

Thị thiếu thẩm mỹ ra đời trong những thời đại nhất định và biến đổi cùng thời đại Thị hiếu thẩm mỹ không phải có tính chất nhất thành bất biến mà nó có thay đổi theo từng giai cấp.

Do gắn bó lâu đời với hoàn cảnh tự nhiên của mình, với sinh hoạt xã hộicủa mình, mà mỗi dân tộc đều có thị hiếu thẩm mỹ riêng của mình Tính dân tộc

Trang 30

mà chúng ta quan niệm hiện nay không phải là tính dân tộc khép kín Một mặt

nó gắn liền với truyền thống mặt khác nó lại là dân tộc hiện đại Vì thế tính dântộc của thị hiếu thẩm mỹ theo quan niệm mỹ học Mác – Lênin luôn luôn gắn vớithời đại

Dưới góc độ chủ nghĩa duy vật biện chứng, lý tưởng trước hết là sự phản ánh thực tại khách quan Sự phản ánh hiện thực trong hình thức lý luận không đồng nhất với sự phản ánh hiện thực dưới hình thức cụ thể – cảm tính, là lý tưởng thẩm my.

Lý tưởng khác hẳn các hình thức nhận thức khác của con người như cảmgiác, tri giác, biểu tượng, khái niệm, phán đoán, kết luận Đặc điểm chính của

nó là: Lý tưởng hoàn toàn không nhất thiết phải phản ánh cái đang có, đang tồn

tại trong thực tại; thường nó phản ánh cái có thể có hoặc cần phải có Lý tưởng

có thể phản ánh cái đã có trong cuộc sống nhưng còn chưa phổ biến rộng rãi

Thông thường lý tưởng phản ánh bản thân những xu hướng phát triển lịch sử: lý

tưởng tiến bộ là sự phản ánh cái tất yếu bắt nguồn từ những quy luận phát triển

xã hội nhưng còn chưa được thể hiện ra thành hiện tượng, nói cách khác, nó phản ánh những khả năng căn bản của sự phát triển.

Lý tưởng nói chung và những lý tưởng thẩm mỹ nói riêng có quan hệ trựctiếp nhất với khái niệm “tính chất kết thúc của những mâu thuẫn” Lý tưởngthẩm mỹ không phải gì khác hơn là cách giải quyết được suy nghĩ một cách chủquan đặc thù đối với những mâu thuẫn của cuộc sống và của nghệ thuật trong ýthức con người

Những lý tưởng thẩm mỹ không bao giờ tồn tại như một thuộc tính kháchquan của hiện thực vật chất

Sự hấp dẫn và lôi cuốn của những lỷ tưởng thẩm my, là ở chỗ chúng giải quyết những mâu thuẫn cụ thể về mặt thẩm my Lý tưởng thẩm my là sự biểu hiện khát vọng vươn tới cái đẹp, làm giảm nhẹ và xóa bỏ những mâu thuẫn kéo dài Những mẫu thuẫn này càng mạnh mẽ, thì những lý tưởng thẩm my càng tràn đầy tình cảm, khát vọng đạt tới sự thực hiện trong thực tiễn những lý tưởng

ấy càng tăng thêm.

Trong một xã hội có giai cấp, những lý tưởng thẩm mỹ bao giờ cũng cótính giai cấp

Lý tưởng thẩm mỹ có tính khách quan xã hội Đó là hình ảnh về cuộc sống của một tập toàn xã hội chứ không chỉ là của cá nhân.

Những lý tưởng thẩm mỹ có đặc trưng nhận thức luận nhất định Lý tưởngthẩm mỹ là một trong những hình thức phức tạp nhất của nhận thức thẩm mỹ nói

Trang 31

chung, và đặc trưng của nó bao hàm tất cả những đặc điểm của hình thức thẩm

mỹ của sự nhận thức

Lý tưởng thẩm mỹ là sự khái quát kinh nghiệm thẩm mỹ của con người,của các giai cấp xã hội và thậm chí trong ý nghĩa nhất định, của các thời đại mộtcách sâu sắc hơn, khách quan hơn Lý tưởng thẩm mỹ khái quát sự vận động củacác hiện tượng thẩm mỹ và nêu lên những mục tiêu, đạt tới những mục tiêu ấybằng hình tượng nghệ thuật Lý tưởng thẩm mỹ phản ánh các khía cạnh thẩm mỹcủa thực tại Khách thể phản ánh của lý tưởng thẩm mỹ là con người thuộc mộtthời đại nhất định, một giai cấp nhất định, được xét trong tính toàn vẹn qua tất cảmọi biểu hiện cụ thể cảm tính của họ

Trong nghệ thuật, lý tưởng thẩm my được biểu hiện tập trung nhất Lý tưởng thẩm my là khát vọng niềm tin, ước mơ đúng đắn về xã hội hoàn thiện, về con người hoàn thiện, nền nghệ thuật hoàn thiện được chi phối từ lý tưởng đạo đức đang đặt ra trong cuộc sống và nghệ thuật Lý tưởng của những nhân vật vừa phản ánh, vừa cổ vũ, vừa khẳng định những cái đẹp đã, đang và sẽ tới của cuộc sống.

Với tư cách là sự thống nhất giữa cái chung và cái riêng, lý tưởng thẩm

mỹ tham gia giải quyết các quá trình tác động thẩm mỹ của đời sống xã hội

Như một sức mạnh tiềm tàng, lý tưởng thẩm mỹ Mác-Lênin là động lựcthôi thúc những hoạt động sáng tác của mỗi cá nhân của tập thể, của giai cấp vàcủa dân tộc Lý tưởng thẩm mỹ Mác-Lênin là một lý tưởng nhân đạo, quan tâmsâu sắc đến hạnh phúc mỗi người Nó làm nảy sinh nhiều cái đẹp mới trong cuộcsống Nó thôi thúc và cổ vũ cho những cái đẹp, cái cao cả, cái anh hùng trongnghệ thuật Vì thê, lý tưởng thẩm mỹ Mác-Lênin khi bao trùm toàn bộ mọi hoạtđộng sáng tạo ra cái đẹp của cuộc sống, nó sẽ làm cho cuộc sống và nghệ thuậtngày càng hoàn thiện

III Các hình thức tồn tại của chủ thể thẩm mỹ.

Trong hoạt động thực tiễn của con người với hiện thực đã hình thành rấtnhiều chủ thể thẩm mỹ khác nhau Mỹ học Mác-Lênin đã phân chúng thànhnhững nhóm chủ thể hoạt động thẩm mỹ cơ bản sau: 1 Nhóm chủ thể hoạt độngthưởng thức thẩm mỹ 2 Nhóm hoạt động đánh giá thẩm mỹ 3 Nhóm chủ thểhoạt động sáng tạo thẩm mỹ

Từ ba nhóm chủ thể hoạt động thẩm mỹ chính ấy, người ta có thể phânxuất chúng thành một vài nhóm khác nữa Chẳng hạn:

* Các quan sát của chủ thể hoạt động thưởng thức thẩm mỹ diễn ra tronghai quá trình cơ bản: Tìm hiểu các giá trị thẩm mỹ của nó rồi thâm nhập sâu hơnvào các quá trình thẩm mỹ đó tìm ra các quy luật nội tại của đối tượng thẩm mỹ;Nhờ có năng lực thẩm mỹ mà chủ thể thẩm mỹ thưởng thức đã phát hiện, khám

Trang 32

phá ra những đặc điểm của đối tượng, đánh giá đối tượng, phân loại đối tượng

và đi đến kết luận đối tượng một cách nhanh nhất

Cái đẹp, cái xấu, cái bi, cái hài, cái cao cả, cái anh hùng không phải lànhững đối tượng thẩm mỹ dễ phát hiện đối với một chủ thể tiêu thụ Dù là tiêuthụ, là khán giả, là thính giả, chủ thể thưởng thức muốn được các giá trị thẩm

mỹ thức tỉnh, muốn xâm nhập được vào bản chất các giá trị thẩm mỹ ấy, để biếnđổi mình và biến đổi nó, để đạt tới sự tiêu thụ cao hơn thì cần luôn nâng caonăng lực thẩm mỹ

* Nhóm chủ thể đánh giá thẩm my: giá trị của chủ thể sáng tạo ra đã được

đối chiếu, được phản ánh thông qua chủ thể thưởng thức và nhất là chủ thể đánhgiá giá trị

Cơ sở của đánh giá thẩm mỹ phụ thuộc vào nhiều quan hệ: 1 Quan điểmthẩm mỹ của chủ thể 2 Các chuẩn mực trong đánh gía 3 Các đặc trưng thẩm

mỹ của đối tượng

Có thể phân loại các hình thức cơ sở đánh giá thẩm mỹ như sau: 1 Đánhgiá tình cảm, xúc cảm 2 Đánh giá dựa vào các chuẩn mực xã hội nhất định 3.Dựa vào các thước đo giá trị đã ổn định…

Đánh giá thẩm mỹ có các cơ sở khoa học khách quan của nó Đó là sựđánh giá dựa trên lập trường của chủ nghĩa duy vật biện chứng và tôn trọng cácchuẩn mực giá trị đã hình thành trong quan hệ thẩm mỹ Tính nhân dân, tính giaicấp, tính dân tộc, tính thời đại, tính nghệ thuật là cơ sở vững chắc của đánh giáthẩm mỹ và đánh giá nghệ thuật

Chủ thể đánh giá thẩm mỹ giữ vai trò quan trọng trong việc liên kết cácsản phẩm sáng tạo với người tiêu thụ Vai trò to lớn của chủ thể đánh giá là nêulên được những giá trị và phản giá trị chính xác, rút ra được các quy luật tồn tạicủa các sản phẩm sáng tạo, giúp cho cả chủ thể sáng tạo và chủ thể tiêu thụnhững định hướng cần thiết

Tính chất của chủ thể đánh giá phụ thuộc rất nhiều vào kiến thức, vào vănhóa, vào kinh nghiệm sống, vào tâm lý, vào thị hiếu và lý tưởng… của ngườiđịnh hướng Trong quá trình định hướng, chủ thể đánh giá không chỉ là chủ thểthụ động, tiêu thụ ở mức độ cao, mà còn là chủ thể sáng tạo Tính chất sáng tạocủa chủ thể đánh giá không giống như chủ thể sáng tạo ra sản phẩm Sự sáng tạocủa chủ thể đánh giá là trên cơ sở của cái đã sáng tạo, chủ thể đánh giá sáng tạomột lần nữa bằng cách nhấn mạnh những đặc tính còn “chìm” của sáng tạo

Đối với nghệ thuật, chủ thể đánh giá thẩm mỹ đó là phê bình Trước mọihiện tượng văn nghệ, các nhà phê bình nghệ thuật chân chính là người vạch rõđúng, sai, tốt, xấu, chất lượng… của các tác phẩm nghệ thuật

Những nhà chế định đường lối, chính sách văn hóa-văn nghệ của chúng taluôn luôn quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm cách mạng của Đảng vàđược soi sáng từ lý tưởng thẩm mỹ sáng ngời của giai cấp vô sản Vì thế, họtham gia vào tư cách chủ thể định hướng thẩm mỹ như những nhà định hướng cảquá trình sáng tạo

* Nhóm chủ thể sáng tạo: Đây là những chủ thể tiếp nối quá trình tiêu thụ,

quan sát của nhóm chủ thể thưởng thức để chuyển sang một quá trình mới: quátrình sản xuất

Đặc điểm cơ bản đầu tiên của sự thụ cảm biến đổi trong chủ thể sáng tạo

là biết rút ra từ đối tượng những nét bản chất

Trang 33

Quá trình tiếp theo của những xúc cảm biến đổi ấy là những xúc cảm phảiđược vật chất hóa Người ta thường gọi quá trình đó là cái xúc cảm dấu vết.

Các mức độ khác nhau của quá trình vật chất hóa, đối tượng hóa đó có thểnói lên năng lực thẩm mỹ của chủ thể sáng tạo Đối với nghệ sỹ, quá trình vậtchất hóa, đối tượng hóa không thể tự diễn ra nếu không có các phương tiệntruyền cảm

Bản chất của qua trình sáng tạo là một quá trình phản ánh, phản ứng đáplại Quá trình này nêu rõ mục đích, tính giai cấp, tính dân tộc, bản chất xã hộicũng như đặc trưng thẩm mỹ của quá trình sáng tạo Phản ứng đáp lại đối vớimột chủ thể sáng tạo nghệ thuật được quyết định bởi đặc điểm của sự tác động,nghĩa là của cái được phản ánh và cả đặc điểm của bản thân người sáng tạo

Trong chủ thể sáng tạo nghệ thuật thì tưởng tượng, liên tưởng và cá tínhsáng tạo có vai trò cực kỳ quan trọng Chủ thể sáng tạo nghệ thuật không phải làchủ thể thụ động mà là chủ thể tích cực cải tạo hiện thực

Sáng tạo thẩm mỹ là sáng tạo theo quy luật cái đẹp, được thể hiện caonhất trong sáng tạo nghệ thuật Sáng tạo thẩm mỹ, sáng tạo nghệ thuật thườnggắn với tưởng tượng, với hư cấu, với phong cách và trên hết là gắn bó chặt chẽvới cuộc sống

* Chủ thể biểu hiện thẩm my: Đây là một nhóm chủ thể hiện thực việc

truyền đạt sản phẩm của chủ thể sáng tạo thẩm mỹ cho chủ thể tiêu thụ Đặctrưng của nhóm chủ thể biểu đạt khác với chủ thể định hướng là nhằm truyền đạtmột cách trung thành cái bản chất của toàn bộ sản phẩm sáng tạo đến người tiêuthụ

Sản phẩm sáng tạo là một tổng hợp các giá trị phong phú Nhiệm vụ củangười biểu đạt là truyền đạt đúng, đẹp, tốt nhất những giá trị đó của sản phẩmsáng tạo

Mỗi chủ thể biểu hiện không thể biểu đạt được các sản phẩm sáng tạo mà

họ cần phải có những công cụ, phương tiện để biểu đạt Các công cụ đó trướchết phải là ngôn từ Không có ngôn từ thì không thể biểu đạt các được các cảmxúc về sản phẩm sáng tạo

Có hàng trăm dạng chủ thể biểu hiện khác nhau và sử dụng những phươngtiện biểu hiện khác nhau

Việc làm chủ các phương tiện biểu hiện và các cách thức biểu hiện là hoạtđộng thẩm mỹ cực kỳ quan trọng của nhóm chủ thể này

Cùng một bản nhạc, một vở kịch có hàng vạn chủ thể biểu hiện Có thểnói, khả năng đạt tới sự hoàn thiện trong biểu hiện là không có điểm đỉnh

* Nhóm chủ thể của các giá trị thẩm my Đó là nhóm chủ thể mà trong

hình thái học nghệ thuật gọi là nhóm chủ thể tổng hợp các giá trị nghệ thuật.Nhóm này có thể vừa là người thụ cảm, vừa là người sáng tạo, vừa là người biểuhiện và cũng là nhà phê bình Nói đến các đặc trưng của nhóm chủ thể này,người ta thường lưu ý đến khả năng đạo diễn đó là những người thông hiểunhững nghệ thuật không gian lẫn nghệ thuật thời gian

Phương tiện thực hiện và thể hiện các hoạt động thẩm mỹ của nhóm chủthể tổng hợp các giá trị thẩm mỹ rất rộng lớn Các phương tiện ấy bao gồm cácsản phẩm của người sáng tạo các tủ pháp sáng tạo, các công cụ sáng tạo của chủthể biều hiện và cả bản thân chủ thể biểu hiện

Trang 34

Khả năng sáng tạo cảu chủ thể tổng hợp các giá trị thẩm mỹ rất to lớn.Bởi vì chủ thể tổng hợp sử dụng một khối lượng phương tiện cực kỳ đa dạng.

Chúng ta khẳng định rằng, con đường tiến lên của chủ thể thẩm mỹ là conđường từ năng khiếu, thông qua rèn luyện mà đi đến tài năng và thiên tài Chủthể thẩm mỹ cũng là một chủ thể xã hội Nó không phải là một chủ thể tách biệtvới các quan hệ mà nó hoạt động, nó lớn lên và phát triển Tuy nhiên chủ thểthẩm mỹ cũng có những nét đặc trưng riêng Các nét đặc trưng đó thể hiện khá

rõ trong tình cảm, thị hiếu và lý tưởng thẩm mỹ

Chương V: NGHỆ THUẬT

I Khái niệm nghệ thuật.

Trong ngôn ngữ hàng ngày, khái niệm nghệ thuật được sử dụng theo rấtnhiều nghĩa Những nghĩa này có lịch sử lâu đời trong văn hóa các dân tộc:

1 Nghệ thuật là sự khéo léo

2 Từ nghệ thuật có một nghĩa thứ hai là phương tiện dùng những cáchthức để biểu đạt và lưu giữ tình cảm, suy nghĩ của con người

3 Ý nghiã bao trùm nhất và thường dùng nhất và thường dùng nhất hiện

nay là ý nghĩa nhận thức Nghệ thuật là một trong ba hình thức nhận thức cơ bản của con người: a) Hình thức nhận thức khoa học b) Hình thức nhận thức

tôn giáo c) Hình thức nhận thức nghệ thuật Khác với hia hình thức nhận thức

trên, nghệ thuật nhận thức bằng hình tượng

Nghệ thuật khác với khoa học ở chỗ khoa học thiên về các phân tích các

sự vật khách quan, và phân tích một cách khách quan các quan hệ của conngười Nó nhằm đạt tới chân lý, còn nghệ thuật thì quan tâm đến tâm tư, tìnhcảm, các câu chuyên, sự phong phú về mọi mặt của con người Khoa học nghiêncứu các mối quan hệ tương tác giữa các sự vật, còn nghệ thuật thì phản ánh cácxúc động của con người về các sự vật bằng sự hồi hộp và khát vọng của con tim

Nghệ thuật gắn bó máu thịt với trái tim và tình cảm con người Nghệ thuật

là sản phẩm của hoạt động sáng tạo của con người

Con người trở thành trung tâm trong lĩnh vực nghệ thuật Các thước đo,các kích thước của vạn vật mở ra cùng với khát vọng và xúc cảm của con người

Khoa học và nghệ thuật tuy là sản phẩm của hoạt động con người, nhưngnghệ thuật khác với khoa học không chỉ là khác hình thức phản ánh mà còn là ởtrong nội tâm phản ánh Và chính do nội dung này mà nó quy định hình thứcphản ánh Nôi dung cơ bản của nghệ thuật gắn bó chặt chẽ với chủ nghĩa nhânđạo Khoa học thiên về lý trí và nghệ thuật thiên về tình cảm Khoa học giữ lạichân lý trong các định đề, các công thức và tư duy lý luận Con nghệ thuật giữlại tình người, cuộc sống sôi động của con người và mối quan hệ của nó với thếgiới trong các hình ảnh

Trong lịch sử phát triển của khoa học mỹ học nghệ thuật được nhìn nhậntheo các thế giới quan khác nhau

Chủ nghĩa duy tâm khách quan và các nhà thần học từ thời cổ đại, trungthế kỷ, cận đại và hiện đại đều khẳng định rằng nghệ thuật là sản phẩm của conngười lúc thần nhập

Ngược lại với chủ nghĩa duy tâm khách quan, những nhà lý luận mỹ học

và lý luận của chủ nghĩa duy tâm chủ nghĩa giải thích rằng: nghệ thuật có nguồngốc từ các trò chơi tưởng tượng của con người Nghệ thuật là sản phẩm củanhững trò chơi cá nhân Nó không liên quan gì đến đời sống xã hội

Trang 35

Các nhà duy vật từ thời cổ đại đều cho rằng nghệ thuật là sản phẩm của con người trong hoạt động lao động mà có, nghệ thuật là hình thức bắt chước hoặc tái hiện cuộc sống của con người.

Tiếp thu các thành quả nghiên cứu nghệ thuật của các nhà my học trước kia Mác và Ăngghen, coi nghệ thuật là một hình thái ý thức xã hội Theo quan diểm của Mác và Ăngghen, nghệ thuật là hoạt động có tính thẩm my sâu rộng.

Nó mang trong bản thân mình hoạt động có ý thức xã hội.

Với tư cách là một hình thái ý thức xã hội, nghệ thuật có tính đôc lập tương đối Một mặt nó giống như các hình thái ý thức xã hội khác, mặt khác nó cũng không lệ thuộc hoàn toàn vào cơ sở kinh tế xã hội sản sinh ra nó Nghệ thuật phản ánh thế giới bằng phương tiện riêng Theo Mác, phương thức quán triệt thế giới hoặc phản ánh thế giới của nghệ thuật là tính toàn vẹn, tổng thể, là tính hình tượng Phương tiện đặc thù này là hình tượng hóa thế giới khách quan bằng tưởng tượng

Với tư cách là một hình thái ý thức xã hội đặc thù, như vậy tính độc lậptương đối của nghệ thuật còn ở chỗ, khi cơ sở kinh tế sản sinh ra nó đã mất đi,nhưng nó còn tồn tại lâu dài trong lòng người và trong xã hội

Tính chất hình thái ý thức xã hội, đặc thù của nghệ thuật còn thể hiện ởchỗ, nghệ thuật có phản ánh vượt trước, có thể phản ánh quá khứ, hiện tại củacuộc sống

Nghệ thuật có thể thúc đẩy hiện thực tiến lên và có thể kìm hãm hoặc pháhỏng nghệ thuật

Tính chất hình thái ý thức xã hội đặc thù của nghệ thuật theo quan niệm

mác xít có thể hiểu ở chỗ mối quan hệ giữa nhà sáng tạo với cộng đồng.

Tính chất hình thái ý thức xã hội của nghệ thuật theo quan điểm của Mác,còn do mối quan hệ của nghệ thuật với các hình thái ý thức khác quy định nghệthuật phải gắn với đạo đức, với chính trị, với tư tưởng triết học và có khi gắn vớitôn giáo

Khẳng định nghệ thuật là một hình thái ý thức xã hội đặc thù, my học Mác – Lênin luôn luôn coi nghệ thuật là một sản phẩm văn hóa của xã hội Nó

là nguồn gốc sâu sắc từ lao động Nghệ thuật ra đời từ lao động, từ thực tiễn lao động của con người.

Nghệ thuật ra đời là sản phẩm trực tiếp của các hoạt động thẩm mỹ, củachủ thể thẩm mỹ trước các đối tượng thẩm mỹ Nghệ thuật là biểu hiện tập trungcủa quan hệ thẩm mỹ Đó là một quá trình chủ thể hóa có tính chất thẩm mỹ vàkhách thể hóa chủ thể một cách thẩm mỹ

Nghệ thuật ghi dấu ấn của con người trong nhận thức đời sống

Nghệ thuật là sản phẩm hoạt động thực tiễn nhận thức của con người Nó

là phương thức nhận thức và phương tiện phản ánh thế giới, đồng thời tác độngtrở lại nâng cao cuộc sống của con người

Nghệ thuật ra đời từ nhu cầu tổ chức xã hội của con người Người ta dùng

nghệ thuật làm phương tiện tác động vào thế giới nội tâm của con người, làmcho con người gắn bó với cộng đồng

Nghệ thuật ra đời nhằm đánh giá các hoạt động, tình cảm của con người.

Nghệ thuật ra đời từ nhu cầu khẳng định sự đánh giá của con người về cáithiện, cái ác, cái đúng, cái sai, cái đẹp, cái xấu

Đánh giá thế giới bằng nghệ thuật là nhu cầu quan trọng của nhân loại

Trang 36

II Các đặc trưng cơ bản của nghệ thuật

Là một trong những hình thái của ý thức xã hội nghệ thuật khác với hìnhthái ý thức xã hội khác ở rất nhiều điểm:

1 Trong nghệ thuật tình cảm thẩm my phải tập trung Nghệ thuật khác với các hình thái ý thức khác ở chỗ, nó phản ánh thế giới bằng hình tượng, nôi dung chủ yếu của nó là một thế giới hình tượng do những nhà sáng tạo tạo nên, nói đến nghệ thuật tức là nói đến phạm trù hình tượng.

Hình tượng trong lĩnh vực nghệ thuật chủ yếu được biểu hiện qua ba tưcách:

a) Tư cách phương tiện phản ánh

b) Tư cách sản phẩm của sáng tạo

c) Tư cách đối tượng thưởng thức thẩm mỹ

Nghệ thuật thường gắn liền với trí tưởng tượng của con người Nhận thứcnghệ thuật khác với các hình thái ý thức khác là ở chỗ nghệ thuật liên hệ hữu cơvới trí tưởng tượng

2 Nói đến nghệ thuật tức là nói đến quy luật của tình cảm Nghệ thuật vận dụng các quy luật của tình cảm để phản ánh cuộc sống Nghệ thuật cũng tác động mạnh mẽ đến tình cảm của con người Trong nghệ thuật, con người phản ánh thế giới bằng nhiệt độ tình cảm của mình.

Xúc cảm trong nghệ thuật có đặc tính phản ánh tự do Nó có thể lùi lạiquá khứ và hướng tới tương lai Do đó tác dụng giáo dục thẩm mỹ của nghệthuật rất đa dạng Nó có thể nâng cao chủ nghĩa anh hùng, lòng quả cảm và hìnhthành những nhân cách bằng con đường tình cảm

Bằng hư cấu và vượt trước những hiện tượng xảy ra trong đời sống, nghệ

thuật tác động làm kích thích mọi kinh nghiệm thẩm mỹ của con người, nó biếncác kinh nghiệm ấy thành những xúc động, thúc đẩy con người và đánh thứctình cảm, tâm lý trong con người

3 Nghệ thuật có một đặc trưng rất quan trọng là tính cổ vũ của nó Hơn bất cứ lĩnh vực nào khác nghệ thuật có một ma lực đặc biệt Những tác phẩm nghệ thuật xuất sắc thường quyến rũ công chúng rất mạnh

Tính chất thôi miên là đặc trưng rất điển hình của nghệ thuật

4 Nói tới nghệ thuật là phải nói tới bản chất thẩm my của nó Nghệ thuật

là một hoạt động gắn với giá trị thẩm my.

Hình tượng nghệ thuật là sự thống nhất của cái chủ quan và cái kháchquan có ý nghĩa xã hội rộng lớn

5 Nghiên cứu đặc trưng của nghệ thuật, nghiên cứu hình tượng nghệ thuật không thể bỏ qua hệ thống của hình tượng là nội dung và hình thức nghệ thuật Nói đến nghệ thuật tức là nói tới nội dung được phản ánh và hình thức được biểu hiện.

Nội dung nghệ thuật đó là các tư tưởng mà biểu hiện tập trung của nó là

tư tưởng chính trị được thể hiện trong tác phẩm nghệ thuật

Theo quan điểm my học Mác–Lênin, nghệ thuật phải phục vụ chính trị Tuy nghệ thuật không phải là chính trị nhưng nghệ thuật ở trong kinh tế và chính trị Nội dung của nghệ thuật, được đo bằng tác dụng chính trị cải tạo xã hội to lớn của nó Vì là biểu hiện của một hình thái ý thức xã hội, nội dung nghệ thuật không tách rời cơ sở giai cấp đã sản sinh ra nó.

Trang 37

My học Mác–Lênin, khi nêu lên đặc trưng về nội dung của nghệ thuật đã từng khẳng định những đóng góp lớn lao về mặt tư tưởng và tình cảm của nghệ

sĩ Lao động nghệ thuật kỳ diệu, năng lực cảm xúc lớn, trí tưởng tượng táo bạo, rung cảm mảnh liệt của nghệ sĩ đã góp phần làm sáng tỏ đặc trưng sáng tạo của nghệ thuật

Nói tới nội dung của nghệ thuật là nói tới đối tượng thẩm my được phản ánh, nói tới thế giới quan, tư tưởng, tình cảm của người sáng tạo.

Nói đến đặc trưng của nghệ thuật cũng là nói tới hình thức đặc thù của nghệ thuật Không có giá trị nghệ thuật, không có hình thức nghệ thuật cũng không có cái gì gọi là nghệ thuật Hình thức, giá trị nghệ thuật trở thành đặc trưng quan trọng của nghệ thuật

Hình thức nghệ thuật là gì? Theo quan điểm của my học Mác–Lênin hình thức là hình thức của một nội dung Vì thế nó là kết cấu bên trong, sự tổ chức hợp lý của nội dung.

Hình thức của mỗi tác phẩm nghệ thuật là sự tổng hợp rất nhiều mặt phứctạp Hình thức nghệ thuật tổ chức cơ chế tình cảm, lý trí của các nhân vật nghệthuật Sự kết cấu bên trong của hình thức tạo cho tác phẩm nghệ thuật phản ánhđúng hiện thực khách quan và có giá trị cải tạo thế giới một cách mạnh mẽ, lâubền

Hình thức của mỗi tác phẩm nghệ thuật trong nền nghệ thuật của chúng ta

là kết cấu chặt chẽ bên trong của nội dung một cách sâu sắc và hài hòa bằng cáchình tượng sinh động, thông qua các hình tượng sinh động, thông qua cácphương tiện, các thủ pháp, các kĩ xảo phù hợp

6 Nói tới đặc trưng của nghệ thuật là nói tới sự thống nhất biện chứng giữa nội dung và hình thức trong tác phẩm nghệ thuật Sự thống nhất này biểu hiện ở chỗ:

a) Nội dung là nội dung của hình thức và hình thức là biểu hiện của một nội dung nhất định.

b) Nội dung quyết định hình thức, khi nội dung thay đổi thì hình thức trước sau cũng sẽ thay đổi theo

c) Hình thức có ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến nội dung.

Trong quan hệ giữa nội dung và hình thức nghệ thuật, nội dung luôn luônđộng và giữ vai trò chủ đạo Việc ưu tiên nội dung và hoàn thiện hình thức làquy luật khách quan của nền văn nghệ cách mạng

Mối quan hệ giữa nội dung và hình thức trong mỗi nền nghệ thuật đều cónhững giai đoạn đứt đoạn, liên tục và giai đoạn quá độ

Sự vận động của nội dung và hình thức quy định sự phong phú của hệthống hình tượng của tác phẩm Và ngược lại, hệ thống hính tượng là biểu hiệnsinh động quan hệ nội dung và hình thức

Nội dung và hình thức nghệ thuật không tồn tại chung chung mà nó tồn tại trong tác phẩm nghệ thuật

Trong cơ cấu của tác phẩm nghệ thuật đầu tiên người ta phải kể đến đốitượng thẩm mỹ

Các đối tượng thẩm mỹ khi phảm ánh vào tác phẩm nghệ thuật không tồntại với tư cách là cái vật chất chung chung trong cơ cấu tác phẩm mà sự hiệndiện của các đối tượng ấy là có ý nghĩa thẩm mỹ sâu sắc

Trang 38

Yếu tố thứ hai cấu tạo tác phẩm nghệ thuật, đó là các yếu tố giá trị sángtạo của nghệ thuật Toàn bộ các tình cảm, các tư tưởng của tác giả đều trở thành

hệ thống chính của tác phẩm không ai thay đổi được nó Vì thế, tác phẩm rờikhỏi quá trình sáng tạo nghệ sĩ nó có cuộc sống độc lập của nó Có thể nó sẽchết ngay từ lúc mới ra đời nhưng cũng có nó mang lại sức mạnh và niềm tincho con người

Yếu tố thứ ba hợp thành tác phẩm nghệ thuật đó là cấu trúc hình tượngcủa tác phẩm đó Hình tượng nghệ thuật được xem như kết quả của nghệ sĩ phảnánh và sáng tạo Nó như là một hệ thống để ngỏ khơi gợi, thúc dục, thì thầm vớicông chúng nghệ thuật của nhiều thời đại khác nhau

Các hình tượng này chỉ có ba giới hạn: Không gian, Thời gian, Sự phốihợp giữa hai giới hạn này Tùy theo các loại hình nghệ thuật khác nhau mà hìnhtượng đó là Hình tượng không gian hay Hình tượng thời gian hoặc nó là cả Hìnhtượng không gian và Hình tượng thời gian

Quan hệ của nghệ sĩ đối với không gian và thời gian hiện thực giữ vai tròcực kỳ quan trọng cho sự phong phú của hình tượng nghệ thuật

Yếu tố cuối cùng của tác phẩm nghệ thuật đó là tư cách đối tượng thẩm

mỹ đặc thù mới Trong quan hệ mới, tác phẩm nghệ thuật trở thành đối tượng,công chúng nghệ thuật trở thành chủ thể thụ cảm

Tác phẩm nghệ thuật mang trong nó mọi bí ẩn của việc hoàn cải thế giớithuần nhụy và tinh tế khác với các tác phẩm của các hình thái ý thức khác Vìthế, mà tác phẩm nghệ thuật đã tham gia cấu thành một cách đầy đủ, trọn vẹnđặc trưng của nghệ thuật

Nghệ thuật là một hoạt động nhận thức của con người bằng các phương

tiện hình tượng Các hình tượng nghệ thuật được sáng tạo theo các loại hình, loại thể nhất định như kiến trúc, điêu khắc, âm nhạc, nhảy múa, văn chương,

kịch, điện ảnh… Không có một hình thức nghệ thuật chung, chỉ có những loạihình nghệ thuật cụ thể với đối tượng phản ánh riêng, phương thức phản ánhriêng và có những tác động thẩm mỹ riêng

Theo quan điểm mỹ học Mác-Lênin, do hoạt động nghệ thuật vô cùngphong phú, do đó các loại hình và loại thể nghệ thuật cũng rất đa dạng Người ta

có thể dựa vào hai tiêu chí lớn để phân biệt các loại hình và loại thể trong nghệthuật:

1 Có thể dựa vào tiêu chuẩn bản thể học để chia các loại hình nghệ thuật thành những nhóm loại hình lớn: a) Nhóm loại hình nghệ thuật không gian (Hội

họa, đồ họa, điêu khắc, nhiếp ảnh, kiến trúc) b) Nhóm loại hình nghệ thuật thờigian (Nghệ thuật ngôn ngữ, văn chương, thơ ca, âm nhạc) c) Nhóm loại hìnhnghệ thuật không – thời gian (Nghệ thuật diễn viên, nghệ thuật múa)

2 Người ta có thể dựa vào tiêu chí tín hiệu để chia thành các loại hình nghệ thuật thính giác, nghệ thuật thị giác, nghệ thuật miêu tả, nghệ thuật không

miêu tả…

Mỗi loại hình nghệ thuật có một hệ tín hiệu riêng, độc đáo nói lên khảnăng sáng tạo của con người Tổng thể mặt bản thể và tín hiệu có thể chia thànhrất nhiều loại hình, loại thể phong phú

* Về mặt đặc trưng, nghệ thuật có một số loại hình cụ thể sau: Kiến trúc,Nhảy múa, Am nhạc, Điêu khắc, Hội họa, Nghệ thuật ngôn ngữ-văn chương,Nghệ thuật sân khấu, Nghệ thuật điện ảnh

Trang 39

Nghệ thuật ngày nay, luôn gắn liền với cuộc cách mạng khoa học kỹthuật Sự xâm nhập mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật vào thế giới nghệ thuật đãlàm thay đổi, phong phú và đa dạng cái thế giới đầy bí ẩn và cũng tác động rấtlớn vào người nghệ sỹ sáng tạo nghệ thuật.

III Bản chất xã hội của nghệ thuật.

Nói đến bản chất xã hội của nghệ thuật là nói tới tính giai cấp,, tính dân tộc, tính nhân dân, tính thời đại của nghệ thuật.

Mỹ học Mác-Lênin đã khẳng định rằng, nghệ thuật không thể tách rời tínhthời đại, tính giai cấp, tính dân tộc Nghệ sỹ không thể độc lập đối với quyền lợicủa một giai cấp nhất định Một nền nghệ thuật cách mạng của giai cấp vô sảnkhông thể độc lập với thời đại, ngoảnh mặt trước vận mệnh của dân tộc và quaylưng lại với nhân dân

* Trước hết, trong xã hội có giai cấp, nghệ thuật cũng như các hình thái ý thức xã hội khác đều có tính giai cấp Cái gọi là nghệ thuật “thuần túy”, “phi giai cấp”, chủ nghĩa “nhân tính” đều là thiếu cơ sở khoa học.

Trong xã hội có giai cấp thông thường nghệ thuật không miêu tả tình yêukhông giai cấp Nghệ thuật phản ánh các quyền lợi của giai cấp trong xã hội cóđối kháng giai cấp Cuộc đấu tranh giai cấp phát triển đến cao độ, sẽ làm chonghệ thuật không chỉ có tính giai cấp mà còn phát triển thành tính đảng Nói vềbản chất xã hội của nghệ thuật, trong đó nguyên tắc tính đảng chính là linh hồncủa nó

Nguyên tắc tính đảng của văn nghệ do Lênin nêu ra hồi đầu thế kỷ XX, làmột cống hiến lớn vào kho tàng lý luận của chủ nghĩa Mác Hướng văn nghệ vàophục vụ những nhiệm vụ trước mắt của cách mạng vô sản, Lênin đã chú trọngnhiều nhất đến tính tư tưởng của văn nghệ, vai trò chiến đấu của nghệ sĩ Đó làmột nền văn nghệ “công khai gắn chặt với các giai cấp”, giai cấp vô sản kiênquyết chống lại thứ văn học giả dối tự xưng là văn học tự do

Gần một thế kỷ qua, nguyên tắc tính đảng của nghệ thuật do Lênin đềxuất, đã tăng cường sức mạnh chiến đấu to lớn trong nghệ thuật của toàn nhânloại Lãnh đạo cách mạng Việt Nam trước bước ngoặt lớn của lịch sử, Đảng ta

đã phát triển những nguyên tắc tính đảng của Lênin lên một tầm cao mới Đảng

ta khẳng định rằng, một tác phẩm nghệ thuật có tính Đảng vô sản sâu sắc là tácphẩm ấy phải có tính tư tưởng cao thống nhất với tính nghệ thuật cao

Nguyên tắc tính đảng của mỹ học Mác-Lênin là tiêu chuẩn thử thách mọichất lượng chiến đấu của tác phẩm nghệ thuật

Yêu cầu của tính đảng về cả hai mặt tư tưởng và nghệ thuật đòi hỏi vănnghệ sỹ phải có tình cảm, tư tưởng của giai cấp công nhân và phải hướng tới cáiđúng, cái tốt, cái chân chính

Nói đến nghệ thuật là nói đến quy luật tình cảm, tính đảng của văn nghệcòn ở tính nghệ thuật cao, có nghĩa là cần thiết vận dụng một cách nhuần nhuyễnquy luật tình cảm Hệ thống hình tượng trong nghệ thuật phản ánh một chủnghĩa nhân đạo cao đẹp là thước đo giá trị của những tác phẩm có tính đảng

Đảng ta coi lĩnh vực cơ bản của nghệ thuật phụ thuộc vào sức mạnh caoquý và trong sáng của tình cảm nhà sáng tạo Với lý do ấy, Đảng ta luôn luônhướng nghệ sỹ vào khát vọng hạnh phục của nhân dân

Theo mỹ học Mác-Lênin, người nghệ sỹ có tính đảng không những đặttoàn bộ tư tưởng của mình mà còn đặt toàn bộ sáng tạo, tìm tòi về nghệ thuật

Trang 40

dưới sự lãnh đạo của Đảng Khi khẳng định bản chất xã hội của nghệ thuật,Đảng ta luôn luôn nhắc nhở các nhà sáng tạo tránh chủ nghĩa giáo điều trong

nghệ thuật Giữ vững bản chất xã hội của tính đảng cộng sản trong nghệ thuật,

người nghệ sỹ luôn lo lắng và day dứt trách nhiệm của mình đối với nhân dân.Nghệ sỹ sẽ được nâng cao mình, nếu tác phẩm của họ đại biểu xứng đáng vớigiai cấp công nhân tiên tiến và loài người tiến bộ cả về tư tưởng lẫn nghệ thuật

Mỹ học Mác-Lênin coi nguyên tắc tính đảng của nền nghệ thuật hiện thực

xã hội chủ nghĩa là bản chất xã hội cơ bản của nó Nền nghệ thuật xã hội chủnghĩa ở nước ta dựa trên cơ sở thế giới quan Mác-Lênin và tư tưởng Hồ ChíMinh Thế giới quan Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là ngôi sao chỉ đường

và ánh sáng rực rỡ để nghệ sỹ thực hiện trách nhiệm quang vinh của mình trướcthời đại, dân tộc, giai cấp, nhân dân

My học Mác-Lênin khẳng định rằng, nghệ thuật phải bắt nguồn từ sức sống của dân tộc và khát vọng của nhân dân Nhân dân vừa là nguồn gốc, vừa

là mục tiêu của mọi hoạt động nghệ thuật chân chính

Xuất phát từ quan điểm về vai trò sáng tạo lịch sử của quần chúng nhândân, Lênin đã coi nghệ thuật trước hết thuộc về nhân dân Nguyên lý này có ýnghĩa chính trị xã hội sâu sắc Nó công khai thẳng thắn đứng về phía Đảng vôsản, bảo vệ những thành quả sáng tạo của nhân dân và kiên quyết chống lại cácthứ văn học đặc quyền, đặc lợi

Tính nhân dân của nghệ thuật do Lênin nêu lên là một nguyên lý cáchmạng Theo nguyên lý này, nghệ thuật “phải được quần chúng nhân dân ưathích”, “phải liên hợp được tình cảm, tư tưởng, ý chí của nhân dân, nâng họ lênmột trình độ cao hơn, gây lên được và phát triển được những nghệ sỹ từ trongnhững quần chúng ấy”

Đóng góp của nguyên lý tính nhân dân trong nghệ thuật của Lênin đãvạch rõ mối quan hệ giữa nghệ thuật chuyên nghiệp và nghệ thuật dân gian.Nghệ thuật chân chính bám rễ sâu sắc trong nhân dân Văn nghệ dân gian tươimát luôn là sinh lực cho nghệ thuật chuyên nghiệp

Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thấm nhuần nhữngnguyên lý của chủ nghĩa Lênin về tính nhân dân trong nghệ thuật, đã coi đó làmột nguyên tắc lớn để xây dựng nền văn hóa-văn nghệ nước ta từ trước đến nay

Trong tư tưởng về bản chất xã hội nghệ thuật của Đảng ta, tính nhân dân

có quan hệ mật thiết với tính dân tộc Các nghệ sy sinh ra và lớn lên trong cộng đồng dân tộc Bản chất xã hội của nghệ thuật mang tính dân tộc là ở chỗ nghệ

sy mang tâm hồn tình cảm, tiếng nói của dân tộc Bản chất xã hội của tính dân tộc trong tác phẩm văn nghệ được biểu hiện tập trung nhất trong hình tượng nghệ thuật.

Đối với chúng ta, tính dân tộc của văn nghệ không đồng nhất với tính truyền thống Dân tộc chúng ta ngày nay là dân tộc Việt Nam hiện đại Vì vậy

mà tính dân tộc trong văn nghệ thấm nhuần sâu sắc tính hiện đại.

Có thể nói, bản chất xã hội của nghệ thuật thể hiện ở tính dân tộc khi tácphẩm văn nghệ phản ánh đúng đắn hiện thực của dân tộc bằng các hình tượngnghệ thuật chứa đựng tư tưởng, tình cảm, tâm hồn của dân tộc, thông qua cácphương tiện nghệ thuật mà nhân dân ưa thích, tiếp thu được các thành tựu tốtđẹp của truyền thống và gắn bó với tính hiện đại

Ngày đăng: 13/09/2017, 09:25

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. C. Mác và Ph. Ăngghen: Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t42 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C. Mác, Ph. Ăngghen
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 1995
3. Hoài Lam: Tìm hiểu mỹ học Mác – Lênin, NXB Văn hóa, Hà Nội, 1979 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu mỹ học Mác – Lênin
Tác giả: Hoài Lam
Nhà XB: NXB Văn hóa
Năm: 1979
6. Nguyễn Văn Phúc: Cái đạo đức và cái thẩm mỹ trong cuộc sống và trong nghệ thuật, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cái đạo đức và cái thẩm mỹ trong cuộc sống và trong nghệ thuật
Tác giả: Nguyễn Văn Phúc
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 1995
10. Vũ Minh Tâm: Mỹ học và giáo dục thẩm mỹ, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mỹ học và giáo dục thẩm mỹ
Tác giả: Vũ Minh Tâm
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998
11. V.I.Lênin: Về văn học nghệ thuật, NXB Văn hóa nghệ thuật, Hà Nội, 1963 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về văn học nghệ thuật
Tác giả: V.I.Lênin
Nhà XB: NXB Văn hóa nghệ thuật
Năm: 1963
2. Đỗ Huy: Mỹ học với tư cách là khoa học, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996 Khác
4. Hồ Chí Minh toàn tập, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, tập 6, 2000 Khác
5. Giáo trình Mỹ học Mác –Lênin, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001 Khác
7. Nguyễn Văn Đại, Mỹ học Mác – Lênin, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002 Khác
8. Phương Lựu: Học tập tư tưởng văn nghệ của V.I.Lênin, NXB Văn học, Hà Nội, 1979 Khác
9. Vũ Khiêu: Anh hùng và nghệ sỹ, NXB Văn học Giải phóng, TPHCM, 1976 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w