1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TÀI LIỆU THAM KHẢO bài GIẢNG mỹ học mác LÊNIN

44 1,3K 8

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 44
Dung lượng 374,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mỹ học là một khoa học hợp thành các khoa học triết học. Đối tượng chủ yếu của nó là các dạng biểu hiện của cái thẩm mỹ trong toàn bộ hoạt động đời sống của con người. Thuật ngữ quốc tế của khoa học này là Aesthétics. Các tư tưởng của nhân loại nghiên cứu về cái thẩm mỹ đã xuất hiện từ 500 năm trước công nguyên, song các tư tưởng đó thường gắn với đạo đức học, xã hội học, luật học, văn học, sử học, nghệ thuật học. Người ta thường gọi hiện tượng này là thời kì văn, sử, triết bất phân.Năm 1735, trong tư duy của nhân loại đã xuất hiện cách đặt vấn đề hình thành khoa học mỹ học như là một khoa học độc lập. Người khởi xướng công việc này là một nhà triết học ít tên tuổi, dạy lý luận văn học và lôgíc học tại trường đại học Frankfurt ở Đức, tên là Alêchxander Baumgácten (17141762)

Trang 1

Chương 1:

MỸ HỌC LÀ MỘT KHOA HỌC TRIẾT HỌC

I Mỹ học là môt khoa học hợp thành các khoa học triết học.

1 Về khái niệm mỹ học

Mỹ học là một khoa học hợp thành các khoa học triết học Đối tượng chủ yếu

của nó là các dạng biểu hiện của cái thẩm mỹ trong toàn bộ hoạt động đời sống của con người Thuật ngữ quốc tế của khoa học này là Aesthétics 1

Các tư tưởng của nhân loại nghiên cứu về cái thẩm mỹ đã xuất hiện từ 500 nămtrước công nguyên, song các tư tưởng đó thường gắn với đạo đức học, xã hội học, luậthọc, văn học, sử học, nghệ thuật học Người ta thường gọi hiện tượng này là thời kìvăn, sử, triết bất phân

Năm 1735, trong tư duy của nhân loại đã xuất hiện cách đặt vấn đề hình thành

khoa học mỹ học như là một khoa học độc lập Người khởi xướng công việc này là một

nhà triết học ít tên tuổi, dạy lý luận văn học và lôgíc học tại trường đại học Frankfurt ởĐức, tên là Alêchxander Baumgácten (1714-1762)

Theo Baumgácten, mỹ học tìm hiểu những quy luật của nhận thức tình cảm, cảm

tính Hoặc nói cách khác, mỹ học giúp chúng ta nhận thức được cái đẹp Mỹ học là khoa học nghiên cứu sự thụ cảm cái đẹp Cái thẩm mỹ là đồng nhất với cái đẹp, gắn bó

với tình cảm

Theo Baumgácten thì sự thụ cảm về cái đẹp có sự liên quan đến sự thích thú củacon người về cái hoàn thiện Mục tiêu của mỹ học là sự hoàn thiện nhận thức cảm tính

và ở đây cái đẹp đồng nhất với cái hoàn thiện Trong mỹ học của Baumgácten, nguyên

lý thích thú có sự hoà quyện giữa chức năng nhận thức và chức năng tính dục Các tình

cảm, sự phấn khích, sự khoan khoái của con người thường thông qua các giác quan mà

có Các giác quan đã mang lại sự đam mê quá khích và thường không tỉnh táo, khôngphục tùng giác tính của lý trí Và sự xúc động tập trung nhất là lĩnh vực nghệ thuật.Chân lý nghệ thuật chấp nhận sự ưu tiên cho tình cảm Lý trí ở trong nghệ thuật chịuđựng sự khoan dung của tình cảm Mọi cái đúng, cái tốt trong mỹ học đều được nghiêncứu từ dạng cảm xúc (Sinlichkeit) Chân lý thẩm mỹ tồn tại dưới dạng tình cảm

Mỹ học của Baumgácten, đại diện cho khuynh hướng duy lý trong triết học

2 Các khuynh hướng mỹ học chủ yếu trong lịch sử mỹ học trước Mác.

a Quan niệm của chủ nghĩa kinh nghiệm về các thẩm mỹ.

Theo Bơccơ (1729-1797), mỹ học là bộ phận của triết học thực nghiệm Cáithẩm mỹ, có cội nguồn từ các giác quan Các giác quan đã đưa lại cho con người mùi vị

và ánh sáng, các cảm giác ấm và lạnh, những diễn biến vui buồn, ham muốn và phấnkhởi trong tâm lý

Theo ông, cái thẩm mỹ là sản phẩm của quan hệ sinh học giữa các hiện tượng tựnhiên và cảm giác của các giác quan Các giác quan của con người không biến động,các hiện tượng tự nhiên cũng không vận động, do đó cái thẩm mỹ không mang bản chất

xã hội (dân tộc, giai cấp)

b Quan niệm của chủ nghĩa duy tâm chủ quan về cái thẩm mỹ

Trong triết học của Cant (1724–1804), khoa học về cái thẩm mỹ là khoa họchoàn thiện hệ thống triết học của ông trong quá trình nghiên cứu bộ ba giá trị chân -thiện - mỹ

Theo Cant, cái đẹp không tồn tại ngoài cuộc sống, nó chỉ là quá trình mỗi người

tìm ra tình cảm của mình mà thôi Mỹ học mà ông gọi là năng lực phán đoán, là khoa

Trang 2

học nghiên cứu khả năng của mỗi con người, mỗi một người tự phát hiện ra sở thíchcủa mình Đó là khoa học nghiên cứu các phán đoán thị hiếu “vấn đề chủ yếu khôngphải là cái đẹp là cái gì, mà là phán đoán về cái đẹp là gì”.

Cant cho cái đẹp là tình cảm khoan khoái vô tư, không vụ lợi vật chất trực tiếp.Các tình cảm này không do đối tượng tác động vào Nó là tình cảm hoàn toàn có tính cánhân và tinh thần, các tình cảm tự vận động

Các kết luận của Cant về cái thẩm mỹ là thuần tuý chủ quan

c Quan niệm duy tâm khách quan về cái thẩm mỹ

Đối với Hêghen (1770–1831), cái thẩm mỹ tồn tại tập trung trong lĩnh vực nghệthuật

Theo ông, cái đẹp có trong tự nhiên, nhưng nó là sự biểu hiện nghèo nàn, không

đa dạng, không lâu bền của ý niệm

Chỉ có cái đẹp trong nghệ thuật mới là cái thẩm mỹ chân chính, bởi vì cái thẩm

mỹ trong nghệ thuật là sự biểu hiện của sự vận động của ý niệm và của lý tưởng thôngqua các hình tượng Do đó nó cao hơn cái thẩm mỹ ngoài cuộc sống

Hêghen khẳng định rằng: cái hài, cái đẹp, cái cao cả được vận động theo sự vậnđộng của ý niệm trong lĩnh vực nghệ thuật Phân tích các tình huống nghệ thuật, đềxuất bản chất thẩm mỹ của bi kịch, lý giải khả năng sáng tạo của nghệ sỹ, Hêghen coicái thẩm mỹ là thuộc tính của lý tưởng

d Khuynh hướng duy vật thế kỷ XIX về cái thẩm mỹ.

Khác với các khuynh hướng duy tâm cho cái thẩm mỹ không có trong hiện thực,các nhà mỹ học duy vật trước Mác khẳng định cái thẩm mỹ tồn tại ngay trong đời sống.Nhà mỹ học tiêu biểu cho khuynh hướng này là Nicolai Gavrilovich Tsecnưsepxky(1828–1889)

Tsecnưsepxky đã khẳng định đúng đắn rằng: cái thẩm mỹ không phải là thuộctính vốn có của ý niệm mà nó là thuộc tính của đời sống Cái thẩm mỹ là những cáiđẹp, cái cao cả, cái bi, cái hài trong cuộc sống của con người

Cái đẹp là cái tạo ra cho con người cảm giác hoan hỷ, trong sáng giống như cảm

giác khi ta gặp người yêu “Cái đẹp là cuộc sống Một thực thể đẹp là một thực thể trong đó ta nhìn thấy cuộc sống đúng như quan niệm của chúng ta; một đối tượng đẹp

là đối tượng trong đó cuộc sống được thể hiện hay là nó nhắc ta nghĩ tới cuộc sống”

Cuộc sống, theo Tsecnưsepxky mà nhiều người cảm thấy thoải mái, hoan hỷ làcuộc sống của những người nông dân lao động Trong cuộc sống, ngoài cái đẹp còn có

cái cao cả “Cái cao cả là cái to lớn hơn tất cả những cái mà ta đem so sánh với nó Một vật cao cả là một vật có quy mô vượt hẳn những vật mà ta đem so sánh với nó Hiện tượng cao cả là hiện tượng mạnh hơn những hiện tượng khác ta đem so sánh với nó.”

Cái thẩm mỹ trong mỹ học của Tsecnưsepxky còn có cái bi “Bi kịch tồn tại ngay trong cuộc sống Nó là nỗi đau khổ hay là cái chết của người ta Cái bi kịch là cái khủng khiếp trong đời người”.

Theo Tsecnưsepxky, trong cuộc sống thẩm mỹ của con người còn có cái hài Cái

hài không chỉ đối lập với cái cao cả mà con đối lập với cái đẹp “Cái hiển nhiên là hài hước, nó là mặt đối lập của cái đẹp”.

Cái thẩm mỹ trong nghệ thuật là tái hiện cái thẩm mỹ trong hiện thực Cái thẩm

mỹ trong cuộc sống cao hơn cái thẩm mỹ trong nghệ thuật Những sáng tác nghệ thuật còn thấp hơn cái đẹp (cái cao cả, cái bi kịch, cái hài kịch) trong hiện thực cả về ấn tượng, cả về phương diện thẩm mỹ.

3 Mỹ học Mác-Lênin là thành quả phát triển lịch sử của mỹ học nhân loại.

Trang 3

Từ khi mỹ học trở thành một khoa học độc lập, mỹ học đã nghiên cứu cái thẩm

mỹ trên nhiều bình diện khác nhau: Bình diện đời sống; bình diện chủ quan; bình diệnnghệ thuật

Mỗi khuynh hướng mỹ học trước Mác đều nghiên cứu mặt này hay mặt kháccủa đời sống thẩm mỹ Không có một khuynh hướng mỹ học nào nghiên cứu toàn diện

và chỉnh thể toàn diện đời sống thẩm mỹ của con người

Theo quan điểm xít thì tất cả những nhà mỹ học trước Mác và ngoài xít có những sai lầm là phiến diện ở một số điểm như sau: 1 Coi cái thẩm mỹ là cái

mác-vốn có của ý niệm, của cá nhân con người, của tự nhiên hiện thực 2 Coi chủ thể thẩm

mỹ là chủ thể thần thánh, chủ thể sinh vật, chủ thể người cá nhân, 3 Coi lĩnh vực nghệthuật xa vời bản chất xã hội đích thực của nó

Coi mỹ học là một bộ phận hợp thành của chủ nghĩa duy vật biện chứng, các tư tưởng mỹ học Mác–Lênin gắn bó hữu cơ với ba bộ phận hợp thành của chủ nghĩa Mác.

Cả Mác, Angghen và Lênin đều nghiên cứu mỹ học gắn liền với chủ nghĩa duy vật biện chứng, kinh tế chính trị học và chủ nghĩa xã hội khoa học.

Trước hết, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác cho rằng: cái thẩm mỹ không

phải là cái vốn có của tư tưởng, của động vật, hay của tồn tại Cái thẩm mỹ là một quan

hệ giữa chủ thể thẩm mỹ và đối tượng thẩm mỹ.

Theo Mác, chủ thể thẩm mỹ là chủ thể người Chủ thể người là một chủ thể văn hoá Đó là những con người trưởng thành về mọi mặt, được thông qua quá trình lao

động từ thế hệ nọ đến thế hệ kia

Cái đặc trưng cơ bản của các chủ thể thẩm mỹ đó là các chủ thể được rèn luyện,

được giáo dục các giác quan sóng đôi: đôi tai, đôi mắt… Chủ thể thẩm mỹ phải có đôi

tai được huấn luyện để nghe âm thanh và đôi mắt được huấn luyện để nhìn hình thức

Quan hệ thẩm mỹ, theo Mác là một quan hệ xã hội chứ không phải là một quan

hệ tự nhiên Lần đầu tiên trong lịch sử mỹ học, Mác đã đề xuất vấn đề cái thẩm mỹ có

nguồn gốc từ lao động Cái thẩm mỹ không phải là thuộc tính sẵn có của tự nhiên: Phảibằng lao động, con người mới biến các hiện tượng vật lý, hiện tượng hoá học, hiệntượng sinh học của tự nhiên thành các hiện tượng thẩm mỹ của xã hội

Sự vật là một khách thể, cái thẩm mỹ là một giá trị xã hội Cái thẩm mỹ được đo bằng các thước đo thẩm mỹ của xã hội Một bông hoa, nếu dùng làm thuốc để uống thì

bông hoa đó không phải là bông hoa thẩm mỹ Một bông hoa nếu đem vào phòng thínghiệm để nghiên cứu tính hoá lý của màu sắc, đó cũng không phải là bông hoa thẩm

mỹ Có các thuộc tính vật chất trong dân tộc này, thời đại này thì được thừa nhận là cóyếu tố thẩm mỹ, song ở thời đại khác, giai cấp khác, dân tộc khác lại không có yếu tốthẩm mỹ ấy Cách ăn mặc, cách sống, cách trang trí nội thất ở mỗi thời đại đều có cácthước đo thẩm mỹ khác nhau của nó

Khác với các nhà mỹ học trước kia, Mác, Ăngghen không chỉ coi cái thẩm mỹ là một hình thái của ý thức xã hội, mà nó còn có tính độc lập tương đối so với cơ sở hạ tầng sản sinh ra nó.

Sự phát triển nghệ thuật có quan hệ hữu cơ với cơ sở kinh tế Nghệ thuật vừaphản ánh, vừa phục vụ sản xuất Nghệ thuật thuộc thượng tầng kiến trúc của xã hội

Nghệ thuật và các hình thái thẩm mỹ khác mang tính độc lập tương đối so với sựphát triển cơ sở hạ tầng

Nghệ thuật phản ánh đời sống, nhưng phản ánh bằng hình tượng, bằng khoáicảm và tương đối tự do so với các hình thái ý thức xã hội khác Vì vậy nghệ thuật cóthể phản ánh đi trước, có thể thúc đẩy, có thể kìm hãm cơ sở hạ tầng sản sinh ra nó

Trang 4

Mác coi cái thẩm mỹ, mà tập của nó là nghệ thuật có phương thức quán triệt thế giới như chính bản thân cái sinh động của cuộc sống, đó là phản ánh thế giới theo cái tổng thể.

Mác và Ăngghen đã bàn đến các mặt cơ bản của cái thẩm mỹ như cái đẹp, cái cao cả, cái bi và cái hài.

Cách xem xét cái thẩm mỹ trong tư tưởng triết học của Mác-Ăngghen, sau đó là Lênin mở rộng cách xem xét ấy trong điều kiện mới của thế kỷ XX, đã tạo ra cơ sở lý luận vững chắc cho các nhà mỹ học mác-xít sau này tiếp tục nghiên cứu cái thẩm mỹ sâu sắc và toàn diện hơn.

Đảng ta, nhân dân ta xây dựng nền mỹ học, nền nghệ thuật mới đã thấm nhuầncác tư tưởng cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin trong điều kiện cụ thể ở nước ta Kể từ

Đề cương về văn hoá Việt Nam năm 1943 đến nay, Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân ta

xây dựng nền văn hoá thẩm mỹ mới theo ba mô thức tiếp biến liên tục trong lịch sửcách mạng của nhân dân ta Mô thức xây dựng nền văn hoá mới Việt Nam theo nguyên

tắc dân tộc – khoa học – đại chúng được tiến hành từ 1943 Mô thức Xây dựng nền văn hoá nghệ thuật có nội dung xã hội chủ nghĩa và tính dân tộc được tiến hành từ 1960.

Từ 1991 là xây dựng nền văn hoá mới theo mô thức Nền văn hoá tiên tiến – đậm đà bản sắc dân tộc.

Mỹ học Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam sẽ tham giatích cực phản ánh các quan hệ thẩm mỹ dân tộc–hiện đại và đấu tranh chống lại mọi

quan hệ thẩm mỹ lạc hậu, lạc điệu, thấp kém

II Đối tượng và nhiệm vụ của mỹ học Mác–Lênin

Khoa học mỹ học là khoa học nghiên cứu các phạm vi, các quy luật biểu hiện của cái thẩm mỹ trong đời sống và trong nghệ thuật.

Mỹ học của chủ nghĩa duy lý Baumgácten coi đối tượng của mỹ học là tình cảm

về cái đẹp Mỹ học là khoa học nghiên cứu tình cảm về cái đẹp

Mỹ học của chủ nghĩa kinh nghiệm Bơccơ coi mỹ học là khoa học nghiên cứucác cảm giác của con người, các diễn biến của con người về cái đẹp và cái cao cả

Mỹ học của chủ nghĩa duy tâm chủ quan Cantơ coi mỹ học là khoa học nghiêncứu các phán đoán thị hiếu về cái đẹp và cái cao cả, về thiên tài và nghệ thuật trò chơi

Mỹ học của chủ nghĩa duy tâm khách quan Hêghen đã nghiên cứu cái đẹp trongnghệ thuật, trong sáng tạo nghệ thuật

Mỹ học của chủ nghĩa duy vật N.G Tsécnưsepxki nghiên cứu cái đẹp, cái bi, cáihài, cái cao cả trong đời sống và sự tái hiện của chúng trong nghệ thuật

Tất cả các khuynh hướng mỹ học trước Mác và ngoài mác xít đều coi cái thẩm

mỹ là cái vốn có của tinh thần của cá nhân, của cuộc sống Không có một khuynhhướng mỹ học nào nghiên cứu toàn diện các mặt thẩm mỹ của đời sống

Chủ nghĩa Mác đã khẳng định cái thẩm mỹ là một quan hệ giữa chủ thể và đối tượng Đó là quan hệ đặc biệt của con người, ra đời từ lao động của con người Vì vậy khoa học muốn phát triển toàn diện cái thẩm mỹ phải nghiên cứu nó trong quan hệ thẩm mỹ giữa con người và hiện thực

Trên cơ sở của chủ nghĩa duy vật biện chứng, Mác và Ăngghen đã phát hiện cái đẹp ra đời từ lao động, nghệ thuật là một hình thái ý thức xã hội, nghệ thuật thuộc kiến trúc thượng tầng của xã hội Mỹ học Mác–Lênin coi cái thẩm mỹ là một quan hệ gồm

ba mặt hợp thành:

1 Mặt đối tượng trong quan hệ thẩm mỹ: Đó là những cái đẹp, cái bi, cái hài,

cái cao cả tồn tại khắp mọi nơi trong đời sống xã hội

Trang 5

2 Mặt chủ thể trong quan hệ thẩm mỹ: Đó là các hoạt động của các chủ thể

thẩm mỹ, bao gồm các hoạt động về nhu cầu thẩm mỹ; về thị hiếu thẩm mỹ; về lýtưởng thẩm mỹ của những con người xã hội

3 Mặt nghệ thuật trong quan hệ thẩm mỹ: Đó là các hoạt động hưởng thụ nghệ

thuật, đánh giá nghệ thuật , sáng tạo nghệ thuật bao gồm các đặc trưng của nghệ thuật,bản chất xã hội của nghệ thuật và chức năng nghệ thuật

Mỹ học Mác–Lênin nghiên cứu toàn diện các quan hệ thẩm mỹ từ đối tượng đến chủ thể và nghệ thuật Mỹ học Mác – Lênin không nghiên cứu ba bộ phận quan trọng trong quan hệ thẩm mỹ tách rời nhau Quan hệ thẩm mỹ có dạng tồn tại đối tượng – chủ thể

- Trong mỹ học Mác–Lênin, quan hệ thẩm mỹ luôn vận động theo dân tộc, giai cấp và thời đại Quan hệ thẩm mỹ là quan hệ của con người với cái đẹp Mỹ học Mác– Lênin khi nghiên cứu sự vận động của các quan hệ thẩm mỹ, coi cái đẹp có vị trí quan trọng nhất trong sự vận động đó Cái đẹp giữ vị trí trung tâm trong quan hệ thẩm mỹ.

Mỹ học Mác–Lênin cho rằng cái cao cả, cái bi, cái hài sở dĩ mang yếu tố thẩm

mỹ là bởi vì chúng là các hình thức tồn tại khác của cái đẹp

Cái cao cả chính là cái đẹp to lớn, cái đẹp đầy tiềm năng, cái đẹp trên mức bìnhthường

Cái bi cũng chính là cái đẹp, là cái cao cả bị thất bại tạm thời mà tạo nên sựđồng cảm, đồng khổ xã hội rộng lớn

Cái hài là mặt đối lập của cái đẹp, đội lốt cái đẹp, nhân danh cái đẹp, vờ là cáiđẹp, bị cái đẹp phát hiện đột ngột và tiếng cười vâng lên

- Về mặt chủ thể trong quan hệ thẩm mỹ cũng thế Các hoạt động nhu cầu, thịhiếu, lý tưởng của chủ thể rất đa dạng Chỉ có các nhu cầu về cái đẹp, các thị hiếu vềcái đẹp, các lý tưởng về cái đẹp mới là đối tượng trực tiếp của mỹ học Mác–Lênin

- Nói đến nghệ thuật là nói đến các quy luật của tình cảm, của cái đẹp Sự phảnánh cái xấu trong nghệ thuật cũng phải gắn với lý tưởng về cái đẹp Do đó cái đẹp đã

làm cho nghệ thuật giữ được bản chất của chính nó Cái đẹp trong và của nghệ thuật là

đối tượng nghiên cứu của mỹ học Mác–Lênin

Như vậy đối tượng và phạm vi nghiên cứu của mỹ học Mác–Lênin là các quan

hệ thẩm mỹ Về bản chất các quan hệ này đều tồn tại xoay quanh cái đẹp Song cả cáiđẹp, cái bi, cái hài, cái cao cả trong cuộc sống, trong tâm hồn, trong nghệ thuật đều tồn

tại dưới dạng tổng thể không chia cắt, người ta gọi là dạng hình tượng Đặc trưng cơ

bản của mọi quan hệ thẩm mỹ là tính hình tượng của nó Mỹ học Mác–Lênin coi hìnhtượng là khâu cơ bản của mọi quan hệ thẩm mỹ Sự khác biệt cơ bản giữa quan hệ khoahọc và quan hệ thẩm mỹ là ở khâu hình tượng Khoa học gắn với cái trừu tượng, giữ lạicái chung, đơn nghĩa Quan hệ thẩm mỹ là quan hệ tình cảm giữa chủ thể và đối tượng

Nó giữ lại cái riêng, cái tổng thể của đời sống

Tóm lại, đối tượng nghiên cứu của mỹ học Mác–Lênin là một bộ phận hợp thành của triết học Mác–Lênin, dựa trên cơ sở của chủ nghĩa duy vật biện chứng, nghiên cứu sự vận động của các quan hệ thẩm mỹ giữa con người và hiện thực, trong

đó cái đẹp là trung tâm, hình tượng là khâu cơ bản, nghệ thuật là biểu hiện tập trung nhất.

Hay nói cách khác, mỹ học Mác–Lênin là một bộ phận hợp thành của triết học Mác–Lênin, dựa trên cơ sở của chủ nghĩa duy vật biện chứng, nó nghiên cứu sự vận động của cái đẹp và các hình thức tồn tại khác nhau của cái đẹp.

III Ý nghĩa thực tiễn của mỹ học Mác–Lênin (đặc điểm của mỹ học xít).

Trang 6

mác-Là bộ phận hợp thành của triết học Mác–Lênin, mỹ học Mác–Lênin phát ngôncho quan điểm thẩm mỹ của chủ nghĩa duy vật biện chứng Mỹ học Mác–Lênin khẳngđịnh rằng mọi niềm vui, khát vọng và những đam mê của con người trong cuộc sốngđều gắn liền với hoạt động lao động và thực tiễn sinh hoạt xã hội của con người Conngười hưởng thụ, sáng tạo, đánh giá thẩm mỹ là do những nhu cầu sinh tồn, nhu cầugiao tế, nhu cầu hoàn thiện mình tạo nên Cái đẹp, cái cao cả trong cuộc sống và trongnghệ thuật chỉ có thể nảy sinh từ thực tiễn lao động và chiến đấu của con người.

Mỹ học Mác–Lênin là kim chỉ nam để mỗi người trong học tập, lao động, côngtác hướng tới giành cái đẹp, cái cao cả mới

Mỹ học Mác–Lênin là khoa học vận dụng sáng tạo thế giới quan của giai cấpcông nhân Nó có khả năng định hướng đúng đắn cho mọi người trong hoạt động hỉíngthụ, đánh giá và sáng tạo trong cuộc sống và nghệ thuật

Trong đời sống thẩm mỹ hiện nay ở nước ta có sự đan xen giữa quan hệ thẩm

mỹ tiên tiến và quan hệ thẩm mỹ lạc hậu Mỹ học Mác-Lênin trong tình hình này trởthành công cụ phương pháp luận quan trọng hướng dẫn việc hưởng thụ thẩm mỹ đúngđắn và đấu tranh chống các tư tưởng thẩm mỹ phản động

Mỹ học Mác-Lênin tham gia vào cuộc đấu tranh tư tưởng bảo vệ chủ nghĩa hiệnthực trong nghệ thuật và ra sức làm lành mạnh hoá các quan hệ thẩm mỹ của nước ta

Nhân dân Việt Nam đang xây dựng nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dântộc Mỹ học Mác-Lênin khi nêu lên các giá trị phổ biến của nhân loại đồng thời giúpchúng ta củng cố bản sắc dân tộc

Trong nhiệm vụ thực tiễn của mình, mỹ học Mác–Lênin với các nguyên lý phổbiến của nó đã từng đi sâu vào lĩnh vực lao động, lối sống và các hoạt động khác trongsinh hoạt xã hội của con người Gắn với văn hoá thẩm mỹ, nhiều năm trở lại đây, mỹhọc Mác–Lênin đã được phân xuất thành mỹ học lao động, mỹ học hành vi, mỹ học kỹthuật, mỹ học sư phạm và mỹ học nghệ thuật

Mỹ học lao động nghiên cứu và định hướng các hoạt động lao động, các tổ chứclao động, các sản phẩm lao động sao cho có nội dung thẩm mỹ

Mỹ học hành vi coi sự hài hoà giữa con người và con người là giá trị thẩm mỹ

cơ bản Các giá trị trong cộng đồng được bình đẳng và được tôn trọng như nhau.Không có giá trị này áp đặt hay chèn ép giá trị kia

Mỹ học kỹ thuật là sản phẩm của thời đại công nghiệp hoá, hiện đại hoá Nó trựctiếp can thiệp vào thẩm mỹ hoá môi trường sống và môi trường lao động

Mỹ học sư phạm gắn với việc định hướng, đánh giá các nhân cách về thẩm mỹtrong lĩnh vực trường quy Nó xác lập các chương trình toàn diện để nâng cao năng lựcthẩm mỹ của toàn dân Mục tiêu của mỹ học sư phạm là làm cho con người được pháttriển hài hoà cả trí tuệ, đạo đức, thể chất và thẩm mỹ

Mỹ học nghệ thuật là khoa học định hướng hoạt động hưởng thụ, đánh giá vàsáng tạo nghệ thuật trong đời sống tinh thần của xã hội theo nguyên lý của sự thích thúthẩm mỹ lành mạnh và chân thật

Mỹ học Mác-Lênin là công cụ nhận thức, hiểu biết, khám phá và sáng tạo cácquan hệ thẩm mỹ trong đời sống và trong nghệ thuật một cách đúng đắn

Mỹ học Mác-Lênin có một vai trò rất to lớn trong toàn bộ đời sống tinh thần của

xã hội Trong chiến lược xây dựng và phát triển nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắcdân tộc, Đảng ta đòi hỏi phải coi trọng “việc giáo dục thẩm mỹ, giáo dục thị hiếu nghệthuật cho thanh niên, thiếu niên, nhi đồng, học sinh” là những chủ nhân hôm nay vàtương lai về tất cả những cái đẹp, cái cao cả, cái anh hùng của đất nước

Chương 2

Trang 7

CÁC QUAN HỆ THẨM MỸ CỦA CON NGƯỜI VỚI HIỆN THỰC

I Quan hệ và quan hệ thẩm mỹ.

Nhà mỹ học duy vật dân chủ cách mạng Nga Tsecnưsepxky quan niệm: Khái

niệm quan hệ thẩm mỹ được xác định là vai trò của cuộc sống hiện thực đối với mỹ

cảm của con người và nghệ thuật

Mỹ học Mác–Lênin khẳng định quan hệ thẩm mỹ là đối tượng nghiên cứu của mình, coi mọi hiện tượng thẩm mỹ đều có mối liên hệ bên trong và tương tác lẫn nhau với các quan hệ khác Quan hệ thẩm mỹ, đó là các quan hệ của con người về mặt thẩm mỹ Quan hệ thẩm mỹ của con người đối với hiện thực thể hiện tập trung ở ba lĩnh vực chính: Lao động sáng tạo; Khám phá, đánh giá; Chiêm ngưỡng thưởng ngoạn.

Lao động, học tập và sáng tạo là nguồn gốc của mọi quan hệ thẩm mỹ Hoạtđộng sản xuất của con người là vương quốc chân chính của các quan hệ thẩm mỹ Laođộng sáng tạo là một dạng sản xuất ra giá trị mới theo quy luật của cái đẹp, trong đósáng tạo nghệ thuật là biểu hiện tập trung của sáng tạo thẩm mỹ

Quan hệ thẩm mỹ còn được thể hiện trong đánh giá thẩm mỹ Đánh giá thẩm mỹ

là phán đoán về giá trị thẩm mỹ của khách thể, của tác phẩm nghệ thuật, là xác định ýnghĩa thẩm mỹ của khách thể, của tác phẩm đối với con người, với xã hội Đánh giáthẩm mỹ là hoạt động phức tạp của quan hệ thẩm mỹ Nó là một sự tổng hợp của cácyếu tố sau đây: Đối tượng đánh giá, chủ thể đánh giá, cơ sở đánh giá và tính chất đánhgiá

Đối tượng của hoạt động đánh giá là đời sống thẩm mỹ trong đó có nghệ thuậtvới tất cả tính độc đáo của nó Đánh giá thẩm mỹ về bản chất là một quan hệ thẩm mỹnăng động

Quan hệ thẩm mỹ trong đánh giá nghệ thuật có cơ sở chủ quan và khách quanbao gồm: chuẩn mực, những tiêu chí thẩm mỹ như tính tư tưởng, tính nghệ thuật, tínhđiển hình, tính đảng, tính chân lý nghệ thuật…

Đánh giá thẩm mỹ không phải là đánh giá thuần tuý lôgíc Trong đánh giá thẩm

mỹ, những xúc cảm thẩm mỹ do tác động của đời sống thẩm mỹ tạo nên là không thểthiếu được Trong quá trình đánh giá thẩm mỹ, chủ thể vận dụng các tiêu chuẩn, mànhững tiêu chuẩn này gắn kết với nhau không phải theo một cơ chế lôgíc nghiêm ngặt,cứng nhắc như trong đánh giá khoa học

Quan hệ thẩm mỹ xuất hiện trong đánh giá thẩm mỹ có sự thống nhất giữa tìnhcảm và lý trí, giữa kinh nghiệm cá nhân và các chuẩn mực xã hội Đánh giá thẩm mỹ,

mà đặc biệt là đánh giá nghệ thuật là một hoạt động rất phức tạp của quan hệ thẩm mỹ

Quan hệ thẩm mỹ cũng thể hiện rõ ở thưởng thức thẩm mỹ Thưởng thức thẩm

mỹ là hoạt động của toàn bộ thế giới nội tâm của con người chịu sự chi phối của mộtloạt những yếu tố bên trong như: Quan điểm lý tưởng thẩm mỹ; Tình cảm và tri thứcthẩm mỹ; Thị hiếu thẩm mỹ và từng trải, lối sống, đạo đức và am hiểu nghệ thuật, điềukiện tâm sinh lý v.v

Mỹ học mác-xít đã khẳng định thưởng thức thẩm mỹ là một biểu hiện phổ quátcủa quan hệ thẩm mỹ Thưởng thức thẩm mỹ là hoạt động đặc thù của con người, củatừng chủ thể Thưởng thức thẩm mỹ không phải là một hoạt động tuỳ tiện mà là mộthoạt động lựa chọn, không phải thuần tuý do lý trí, mà còn là và chủ yếu là do tình cảmtrong quan hệ thẩm mỹ quyết định

Thưởng thức thẩm mỹ là hoạt động có mục đích của chủ thể Chủ thể thưởngthức có thể có nhiều mục đích, nhưng mục đích quan trọng nhất là nhằm tạo ra sự thíchthú, nhằm đạt tới khoái cảm thẩm mỹ

Trang 8

Nói quan hệ thẩm mỹ xuất hiện trong quá trình sáng tạo, đánh giá và thưởng thức thẩm mỹ, có nghĩa là quan hệ thẩm mỹ xuất hiện mọi nơi trong cuộc sống, trong lối sống, trong lao động và sinh hoạt hàng ngày.

Khía cạnh thẩm mỹ của lối sống cũng là biểu hiện rất cơ bản của quan hệ thẩm mỹ trong đời sống Một lối sống đẹp phải là lối sống có đạo đức, nhân đạo Lối sống

đẹp phải gắn với các quan hệ thẩm mỹ hài hoà giữa cá nhân và cộng đồng, giữa thểchất và tinh thần, giữa tình cảm và lý trí Sự phát triển tự do của mỗi người phải là điềukiện cho sự phát triển tự do của mọi người Lối sống đẹp phải là lối sống yêu lao động,

có thái độ tự giác trong lao động, vươn lên làm chủ khoa học kỹ thuật Lối sống đẹpcòn có nghĩa là phải gìn giữ và bảo vệ môi trường

Quan hệ thẩm mỹ được thể hiện trong lối sống gắn bó chặt chẽ với cái hữu ích, cái hài hoà, các giá trị nhân ái và sự tôn trọng lẫn nhau Lĩnh vực phổ biến nht của quan hệ thẩm mỹ là cái đẹp trong cuộc sống hàng ngày Sống văn minh, hạnh phúc là một đặc trưng quan trọng của quan hệ thẩm mỹ trong đời sống.

II Các đặc trưng và bản chất của các quan hệ thẩm mỹ.

1 Các đặc trưng của các quan hệ thẩm mỹ.

Đặc trưng đầu tiên của các hiện tượng thẩm mỹ là nằm trong quan hệ thẩm mỹ của hoạt động thẩm mỹ của con người Cái thẩm mỹ là một quan hệ chủ thể-đối tượng

về mặt thẩm mỹ.

Thứ hai, trong quan hệ thẩm mỹ đối với hiện thực, đặc trưng nổi bật là con người tự khẳng định mình về mặt cảm xúc đối với hiện thực đó Ở đó tư duy và lý luận thống nhất đặc biệt về mặt cảm xúc Không có sự tham gia của cảm xúc với tư cách là

một yếu tố tâm lý thì không thể có một quan hệ thẩm mỹ nào Song, không có nghĩaquan hệ thẩm mỹ đồng nhất với xúc cảm Xúc cảm chỉ là một trong các yếu tố cấuthành tất yếu của quan hệ thẩm mỹ giữa con người với hiện thực, chứ nó không phải là

tất cả Xúc cảm là yếu tố đặc trưng tạo cho quan hệ thẩm mỹ khác với quan hệ khác.

Các xúc cảm phù hợp với lợi ích xem như xúc cảm ngoài thẩm mỹ Các xúc cảm không

vụ lợi là các xúc cảm thẩm mỹ Sự khác nhau giữa xúc cảm thẩm mỹ với xúc cảm nóichung quy định ở tính phù hợp mục đích của nhu cầu

Thứ ba, hình thức nhận thức bằng hình ảnh, bằng hình tượng đó là đặc trưng cơ

bản của quan hệ thẩm mỹ của con người đối với hiện thực

Thứ tư, quan hệ thẩm mỹ có một đặc trưng điển hình là tính toàn vẹn, không chia cắt Thiếu tính toàn vẹn giữa con người và hiện thực, không thể trở thành quan hệ thẩm mỹ được.

Thứ năm, quan hệ thẩm mỹ tập trung nhất của con người là quan hệ của con người với nghệ thuật Bản chất và đặc trưng của nghệ thuật là phản ánh thế giới bằng

hình tượng Hình tượng là tế bào cơ bản của quan hệ thẩm mỹ của nghệ thuật với hiệnthực

2 Bản chất của các quan hệ thẩm mỹ.

Thứ nhất, về bản chất, quan hệ thẩm mỹ là một quan hệ miêu tả, quan hệ hình dung Hoảt động miêu tả đã làm nảy sinh các quan hệ thẩm mỹ Các hoạt động miêu tả

thường thể hiện các trạng thái thích thú của con người khi nắm bắt được sự vật và nhờ

sự vật biểu hiện giúp ra bên ngoài cái nội tâm của con người

Thứ hai, quan hệ thẩm mỹ thực chất là một quan hệ giá trị Cái thẩm mỹ gắn

liền với cái thước đo giá trị trong một quan hệ xã hội nhất định Do khái niệm giá trị làmột khái niệm phức tạp mà các thước đo thẩm mỹ là không thuần nhất Các quan hệthẩm mỹ có nhiều hình thức thẩm mỹ khác nhau liên quan tới các hình thức đánh giá

Trang 9

khác nhau Quan hệ thẩm mỹ là quan hệ giá trị, bởi quan hệ đó phụ thuộc vào các chủthể thẩm mỹ bao gồm ý thức và năng lực của nó.

Thứ ba, quan hệ thẩm mỹ là một quan hệ xã hội Quan hệ thẩm mỹ ra đời từ

quan hệ xã hội, nó bị quy định bởi các quan hệ văn hó lịch sử cụ thể Không có quan hệthẩm mỹ phi xã hội, phi lịch sử Các quan hệ thẩm mỹ ghi trọn các dâu ấn của thời đại,của dân tộc, của giai cấp sản sinh ra nó Tính chất của quan hệ xã hội nằm ngay trongbản chất giá trị của nó

Bản chất xã hội của các quan hệ thẩm mỹ được thể hiện ở ba phương diện: Tínhdân tộc của quan hệ thẩm mỹ; Tính giai cấp của quan hệ thẩm mỹ; Tính thời đại củaquan hệ thẩm mỹ

Các quan hệ thẩm mỹ hiện nay ở nước ta được định hướng theo chuẩn mực cơ bản của nền văn hoá tiến tiến đậm đà bản sắc dân tộc Điều ấy có nghĩa là các quan hệ thẩm mỹ của chúng ta gắn với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, linh hồn của nó là chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh

Các quan hệ thẩm mỹ của chúng ta vì các giá trị nhân văn cao cả, vì hạnh phúc

và sự phát triển tự do, toàn diện, hài hoà phong phú của con người Nó vừa tiên tiến vừa gắn liền với các giá trị lâu bền của dân tộc Nó luôn mở rộng giao lưu quốc tế, tiếp biến cái hay, cái tiến bộ của nhân loại.

III Kết cấu của quan hệ thẩm mỹ.

Cơ cấu của quan hệ thẩm mỹ giữa con người và hiện thực được xác định tươngđối gồm ba bộ phận hợp thành:

1 Chủ thể thẩm mỹ bao gồm các hoạt động: Tri giác thẩm mỹ; Biểu tượng thẩmmỹ; Phán đoán thẩm mỹ Các hoạt động đó được biểu hiện thành: Nhu cầu thẩm mỹ;Thị hiếu thẩm mỹ; Lý tưởng thẩm mỹ; Các quan điểm mỹ học

2 Đối tượng thẩm mỹ (Khách thể thẩm mỹ) gồm: Cái đẹp, cái bi, cái hài, cáicao cả và các dạng phát sinh của chúng

3 Sản phẩm của sự tương tác giữa chủ thể và khách thể thẩm mỹ: Cái thẩm mỹđạo đức; Các sản phẩm thủ công; Sản phẩm nghệ thuật bao gồm cả hưởng thụ, đánh giá

và sáng tạo nghệ thuật

Có thể nói, c cu cuía quan hệ thẩm mỹ là do ba bộ phận: Chủ thể thẩm mỹ;Khách thể thẩm mỹ; Nghệ thuật hợp thành Quan hệ thẩm mỹ trong cơ cấu của nó dogắn chủ thể với đối tượng mà trung tâm là hoạt động thực tiễn của con người nên nóliên hệ rất nhiều đến các lĩnh vực khác của đời sống xã hội Ba bộ phận đó quan hệ rấtchặt chẽ và toàn diện với các mặt, các khâu cơ bản của mỗi nền văn hoá, đặc biệt là vănhoá thẩm mỹ

Cơ cấu của quan hệ thẩm mỹ hoạt động trong đời sống xã hội được gọi là vănhoá thẩm mỹ Nói đến văn hoá thẩm mỹ là nói đến hoạt động của các quan hệ thẩm mỹtrong nền văn hoá nói chung Nó có hai tư cách:Tư cách thăng hoa của các giá tri thẩm

mỹ trong lao động, giao tiếp, quản lý, vui chơi giải trí ; Tư cách bộ phận của nó là tưcách thực thể như: văn hóa đạo đức, văn hóa pháp luật, văn hóa chính trị

Tổng thể tư cách thăng hoa, tư cách thực thể của văn hoá là do sự vận động củaquan hệ thẩm mỹ quyết định

Văn hóa thẩm mỹ, bao chứa ba mối quan hệ lớn: quan hệ của con người đối với

tự nhiên, quan hệ của con người với xã hội và sự phát triển của bản thân con người Bamối quan hệ này đan quyện trong sự vận động của quan hệ thẩm mỹ

Có thể nói cấu trúc của quan hệ thẩm mỹ chứa đựng các khả năng sáng tạo đượcnhiều giá trị thẩm mỹ mới và đặc biệt là hiện thực hoá ý đồ sáng tạo nghệ thuật phongphú nhiều hình, nhiều vẻ trong các quan hệ xã hội

Trang 10

Quan hệ thẩm mỹ là một quan hệ rộng nhất và là nền tảng của mỹ học Lênin.

Mác-Chương 3 CÁC KHÁCH THỂ THẨM MỸ

A CÁI ĐẸP.

I Bản chất thẩm mỹ của cái đẹp.

1 Cái đẹp là nhu cầu sống của con người.

Cái đẹp là một bí mật thật sự của cuộc sống con người Nó là nhu cầu sống củamỗi người, mỗi dân tộc và cả nhân loại

Hạnh phúc lớn lao của mỗi người là được sống với cái đẹp, được thành mộtngười đẹp trong cộng đồng của mình và làm cho nhiều người ngày càng đẹp thêm

Cái đẹp đi vào mọi lĩnh vực của cuộc sống làm cho cái xấu bị lùi xa Trong tất

cả các nền văn hoá của nhân loại, cái đẹp được con người chiêm ngưỡng, giữ gìn vàtiếp tục sáng tạo

Cái đẹp là nhu cầu sống của con người nhưng nó gắn bó mật thiết với đời sống

xã hội Một xã hội có áp bức, bóc lột, con người lao động bị đày đoạ, bị nhấn chìmtrong ngu dốt thì cái đẹp thật sự không thể xuất hiện Trong tình hình đó, những nhucầu giải phóng cái đẹp được đề ra cấp thiết Xã hội xã hội chủ nghĩa sẽ đáp ứng các nhucầu làm đẹp và sáng tạo ra cái đẹp, bởi vì nó mang những giá trị chân chính của conngười, trả lại cho con người

Đảng ta luôn luôn coi cái đẹp là vấn đề trọng đại của đời sống con người và hếtsức giúp đỡ cho mọi cái đẹp được nảy sinh từ trong đời sống

2 Cái đẹp là đối tượng nghiên cứu của khoa học mỹ học.

Trong khoa học mỹ học có phân biệt cái đẹp với cái thẩm mỹ Cái đẹp chỉ là một

bộ phận của cái thẩm mỹ, chứ không phải là cái thẩm mỹ

Cái đẹp tuy là một bộ phận hợp thành của cái thẩm mỹ, nhưng cái đẹp và cái

thẩm mỹ đều có một tố chất chung Trước hết, chúng đều mang yếu tố tinh thần:

Thưởng ngoạn, đánh giá, miêu tả chứ không phải là yếu tố thực dụng để ăn, uống, nếm

Thứ hai, chúng đều mang yếu tố tình cảm sâu sắc Yếu tố xúc cẩm là yếu tố đặc trưng

của quan hệ thẩm mỹ, đồng thời là yếu tố điển hình của cái đẹp

Bản chất của cái thẩm mỹ là cái đẹp Cái đẹp là biểu hiện tập trung nhất của cái thẩm mỹ, nó có tính chất vô tư Trước hết, yếu tố vô tư của cái đẹp là ở chỗ, cái đẹp được nhận biết, được cảm thụ bằng tai, mắt chứ không phải bằng các giác quan khác như lưỡi, mũi Thứ hai, khái niệm vô tư ở đây là chỉ cái đẹp không vụ lợi ích vật chất tầm thường.

Cái đẹp phải mang yếu tố hình tượng, toàn vẹn, không chia cắt nhiều tầng, nhiều lớp.

Cái đẹp phải mang bản chất xã hội Do cái đẹp có sự vận động và không ngừng được sáng tạo, được khám phá mà cái đẹp luôn luôn biểu hiện cho tính xã hội của nó.

Mỹ học Mác-Lênin nghiên cứu sự vận động lịch sử của cái đẹp trong các quá trình lao động sáng tạo và chiến đấu của con người.

3 Cái đẹp là một lĩnh vực đa dạng và phức tạp.

Trước hết, cái đẹp có liên quan tới những niềm tin tâm lý của con người Thứhai, cái đẹp ở các dân tộc, các giai cấp, các thời đại khác nhau được giải thích từ cácthế giới qquan khác nhau Thứ ba, việc hưởng thụ, đánh giá và sáng tạo cái đẹp còn phụthuộc vào các điều kiện giáo dục khác nhau Thứ tư, mỗi thời đại, mỗi dân tộc, mỗi giaicấp đều hình thành các thước đo cái đẹp riêng của mình

Trang 11

II Ba khuynh hướng cơ bản tiếp cận cái đẹp trong lịch sử mỹ học trước Mác.

1 Khuynh hướng duy vật tiếp cận cái đẹp trước Mác.

a) Mỹ học duy vật thời cổ đại.

Theo quan niệm của các nhà duy vật thời cổ đại, cái đẹp là một thuộc tính của

vũ trụ, của con người, của mọi sự vật và động vật Theo họ, vật chất và các sự vật muốn trở thành đẹp trước hết phải có một số biểu hiện sau: Thứ nhất, cái khác biệt phải được thống nhất trong đa dạng Thứ hai, sự vật đẹp phải có một kích thước và một tỷ lệ nhất định Thứ ba, nó là các khoái cảm của con người gắn liền với độ Thứ tư, cái đẹp tuy là thống nhất trong đa dạng, là trật tự, tỷ lệ và kích thước, là phạm trù độ trong khoái cảm, nhưng chúng có tính chất tương đối, không có một cái đẹp nào tuyệt đối Thứ năm, cái đẹp phải là cái có ích, là cái tốt.

b) Quan niệm về cái đẹp của các nhà duy vật thế kỷ XVII-XVIII.

Những đại biểu chính của mỹ học giai đoạn này là Etmun Bơccơ và Diderot.Bơccơ đã chỉ ra bảy dấu hiệu khách quan về cái đẹp: 1.Tính nhỏ nhắn; 2.Tínhtương đối; 3.Sự mịn màng của bề mặt; 4.Sự đa dạng trong tình trạng các bộ phận đượcphân phối; 5.Quan hệ giữa các bộ phận là không cứng nhắc; 6.Cơ cấu uyển chuyển; 7.Mầu này với mầu khác trong cùng sự vật đẹp là không nổi bật quá

Bơccơ đã nghiên cứu tỷ mỷ tất cả các dấu hiệu này của cái đẹp và cung cấpnhiều dẫn chứng thuộc những mặt khác nhau

Theo Diderot, cái đẹp phải là cái thật, cái tốt Cái đẹp, cái thật và cái tốt là quan

hệ khăng khít nhau Diderot cũng khẳng định có hai cái đẹp, một cái đẹp thực tại và

một cái đẹp ta nhìn thấy Đối với Diderot, cái đẹp là tồn tại khách quan trong tự nhiên.

Tự nhiên là ngọn nguồn của cái đẹp Cái đẹp với cái thật là một.

c) Quan niệm về cái đẹp của các nhà duy vật nhân bản thế kỷ XIX.

Đại diện chính của các nhà duy vật nhân bản thế kỷ XIX là Tsecnưsepxky TheoTsecnưsepxky, bản chất của cái đẹp là tạo cho con người một cảm giác hoan hỷ trongsáng giống như cảm giác ta gặp người yêu

Theo ông, “Cái đẹp là cuộc sống, một thực thể đẹp là thực thể trong đó ta nhìnthấy được cuộc sống đúng như quan niệm của chúng ta Một đối tượng đẹp là đối tượngtrong đó cuộc sống được thể hiện hay là nó nhắc ta nghĩ đến cuộc sống”

Nhìn chung khuynh hướng duy vật trước Mác, trong cả ba thời kỳ phát triển của

nó đều coi cái đẹp tồn tại khách quan, bởi vì nó là một thuộc tính của cuộc sống, củahiện thực Thiên nhiên, cuộc sống của động vật, vật chất đã từng tồn tại trước conngười, do đó cái đẹp đã từng tồn tại trước con người Ở đâu có vật chất là ở đó có cáiđẹp Quan niệm như vậy là đối lập với mọi khuynh hướng duy tâm chủ quan cũng nhưduy tâm khách quan Các nhà mỹ học duy vật đã góp phần quan trọng vào chống lạiquan niệm duy tâm siêu hình về cái đẹp

2 Khuynh hướng duy tâm khách quan trong việc tiếp cận cái đẹp trong lịch

sử mỹ học.

Khác và đối lập với cách tiếp cận cái đẹp của mỹ học duy vật, mỹ học duy tâmkhách quan coi cái đẹp không phải là thuộc tính của vật chất mà là thuộc tính của tinhthần Nói chính xác hơn, Hêghen thừa nhận có cái đẹp của tự nhiên, nhưng những cáiđẹp này là nghèo nàn và thấp hơn rất nhiều so với cái đẹp của nghệ thuật và nó cũngnằm trong tinh thần

Platôn nói rằng, cái đẹp không thể là một sự vật nào đó, không phải là ở sự so

sánh nào đó Thật sự cái đẹp là một ý niệm Cái đẹp là một ý niệm sẵn có, nó làm ra cái

đẹp của sự vật, nó soi sáng cái đẹp của tâm hồn mỗi con người Cái đẹp tồn tại vĩnh

Trang 12

cửu, nó không bị huỷ diệt, không tăng, không giảm Cái đẹp là nhận thức mang lại sựthích thú Cái đẹp chân chính là Chúa Vì thế muốn nhận thức được cái đẹp phải hoà

mình vào Chúa “Chỉ có tinh thần mới là cái chân thực với tính cách một yếu tố bao

quát tất cả, và tất cả cái đẹp sở dĩ là đẹp thực sự chẳng qua vì cái đẹp tham dự vào mộtcái cao cả hơn và do cái cao cả này sản sinh ra Xét theo nghĩa này, thì cái đẹp trong tựnhiên chỉ phản ánh cái đẹp tinh thần”

Hêghen cũng như Platôn và các nhà thần học không giải thích được mối liên hệtồn tại hiện thực của cái đẹp Khuynh hướng duy tâm khách quan trong mỹ học đã cầucứu đến nguyên lý tối cao là tinh thần, và tinh thần một lần nữa biểu hiện trong ý thứccon người Cách tiếp cận vấn đề cái đẹp này đầy vẻ thần bí, tối tăm, rất khó hiểu

3 Khuynh hướng duy tâm chủ quan trong việc tiếp cận cái đẹp trong lịch sử triết học.

Cantơ coi mỹ học là khoa học nghiên cứu các phán đoán thị hiếu Theo Cantơ

“vấn đề chủ yếu không phải là cái đẹp là gì mà là sự phán đoán về cái đẹp là gì”

Phán đoán về cái đẹp là một phán đoán thị hiếu không phải là sự phán đoán vềnhận thức Nó không phải là phán đoán lôgíc mà là phán đoán tình cảm, chủ quan Nótạo nên cái dễ chịu và thích thú Phán đoán thị hiếu thuần tuý có tính thưởng ngoạn.Mọi cái lợi đều làm hư hỏng phán đoán của thị hiếu và tước mất tính trong sáng của nó

Có thể nói, chủ nghĩa duy tâm chủ quan về cái đẹp, coi tiêu chuẩn đánh giá cáiđẹp sẵn có trong mỗi cá nhân Cá nhân cho cái gì gợi lên khoái cảm của mình thì nó sẽcho là đẹp, còn cái gì không gợi lên xúc cảm cá nhân, cái đó không thể là đẹp Quanđiểm này mở đường cho rất nhiều loại cảm xúc cá nhân về cái đẹp Có những cảm giác

và cảm xúc đúng đắn Có những khoái cảm, cảm giác rất kém và bệnh hoạn

III Cách tiếp cận mác-xít về cái đẹp.

1 Sự phê phán mác-xít đối với ba cách tiếp cận cái đẹp ngoài mác xít.

a Đối với quan niệm duy tâm khách quan về cái đẹp.

Platôn, các nhà thần học và Hêghen coi cái đẹp là cái có trước, cơ sở đầu tiêncủa cái mỹ học là ở ý niệm, ở tinh thần tuyệt đối Mỹ học Mác–Lênin cho rằng, cácquan niệm về cái đẹp là cái vốn có của lực lượng siêu nhiên, vốn có ở ý niệm là khôngthể chứng minh bằng cơ sở khoa học được

b Đối với quan niệm duy tâm chủ quan về cái đẹp

Khát vọng của chủ nghĩa duy tâm chủ quan muốn làm nổ tung các chuẩn mực

mà họ cho là chật hẹp về cái đẹp, nhưng các chuẩn mực mà họ đề xuất là một cái tôibất kỳ nào đó sẽ không thể đứng vững được Sự tuyệt đối hoá các cá biệt trong xã hội làkhông có cơ sở đạo đức và luật pháp Có cái tôi tiên tiến, nhưng có cái tôi lạc hậu vàthấp hèn Cái đẹp cao quý không thể có chuẩn mực từ cái tôi thấp hèn Xã hội khôngchấp nhận những thước đo cái đẹp cao quý bằng những tình cảm cá nhân, vị kỷ và trình

độ thẩm mỹ thấp

c Đối với quan niệm duy vật trước Mác về cái đẹp.

Các nhà mỹ học duy vật có công rất lớn trong việc bác bỏ các quan niệm duytâm chủ quan và duy tâm khách quan về cái đẹp Cả Aristốt, Diderot, Tsécnưsepxkyđều cho rằng cái đẹp là một thuộc tính của vật chất, nó có những yếu tố như tỷ lệ, trật

tự, hài hoà, quan hệ Công lao của các nhà mỹ học duy vật là khẳng định tính kháchquan của cái đẹp trong tính vật chất của nó Như vậy là cái đẹp cũng có sẵn trong cáccấu trúc vật chất, mà tự nhiên, vật chất có trước loài người thì cái đẹp cũng có trướcloài người Đối với họ thì thuộc tính đẹp của sự vật thì cũng giống như các thuộc tínhvật lý, thuộc tính sinh học, thuộc tính hoá học của sự vật đều tồn tại khách quan, cótrước loài người

Trang 13

Thực ra, giá trị thẩm mỹ là do con người trong quá trình lao động của mình đãtạo ra một thước đo cùng với năng khiếu thẩm mỹ của mình Cái đẹp là một giá trị xãhội mà con người bằng cả một quá trình lao động đã khai thác được, chứ nó không cósẵn Vàng và bạc có nhiều thuộc tính tự nhiên, nhưng cái đẹp của chúng không phải làthuộc tính tự nhiên, mà là một giá trị xã hội Mọi giá trị mà con người phát hiện được ởtrong cái vật lý, cái sinh học là do cơ cấu của con người và xã hội quyết định.

Các thuộc tính vật lý của sự vật là các thuộc tính có được nhờ cân đo và phântích hoàn toàn chính xác trên cơ sở khoa học Đánh giá thẩm mỹ không thể thựcnghiệm được cái gì là đẹp và trong cái đẹp thì gồm những yếu tố vật chất cụ thể nào

Bông hoa thẩm mỹ không phải do màu đỏ, màu trắng, màu vàng hay sự đắt giácủa nó quyết định Giá trị thẩm mỹ của bông hoa chỉ tồn tại trong quan hệ thực tiễn củacon người với tự nhiên Không có con người thì không có cái đẹp của bông hoa

Các nhà duy vật trước Mác đã đánh đồng sự hài hoà với cái đẹp Hài hoà và cáiđẹp là khác nhau Không phải mọi sự phát triển và hài hoà đều tạo ra cái đẹp “Sự pháttriển hài hoà ở con chuột cống, con sâu, con rắn, con rết không phải là cái đẹp Conngười không thể thích thú trước một người có hai tay dài bằng hai chân, hoặc trên đầu

có hai cái sừng được”

Nhiều nhà duy vật trước Mác cũng đã coi tỷ lệ mực thước, kích thước là bảnchất của cái đẹp Thật ra thì con người đã tạo ra thước đo cho mình và muôn loài.Chính hoạt động lao động của con người tạo ra kích thước của cái đẹp, chứ không phảibản thân vật chất có kích thước đó Cái đẹp thuần tuý của tự nhiên thật ra không tồn tạitrong cuộc sống cũng như trong nghệ thuật

Quan niệm các yếu tố vật lý, sinh học, hoá học là cái đẹp của tự nhiên là một sựsai lầm và hạn chế của chủ nghĩa duy vật trước Mác Những cái gọi là nguyên tắc đềuđặn, sự sắp xếp, tỷ lệ, đường nét, hoà hợp màu sắc nếu nó chưa gắn với các vấn đề của

xã hội, cái đó chưa thể trở thành cái đẹp Bản chất thẩm mỹ của cái đẹp là yếu tố xã hộicủa nó

Các Mác là người đầu tiên phát hiện ra bản chất của cái đẹp gắn liền với lao động Cái đẹp không là cái vốn có Chưa có con người và lao động thì chưa có những hiện tượng thẩm mỹ trong cuộc sống, chưa có cái đẹp.

Cái đẹp mang lại niềm hứng thú không phải chỉ cho một cá nhân riêng lẻ nào

đó, mà phải mang lại hứng thú phổ biến có tính xã hội Cái đẹp vì thế tồn tại độc lập với chủ thể cá nhân Cái đẹp gắn với hoạt động thực tiễn của chủ thể, thoả mãn được tình cảm thẩm mỹ của chủ thể do các thước đo lý tưởng xã hội định hướng.

Quan hệ thực tiễn của con người không chỉ ở lao động, mà còn trong đấu tranh

xã hội Mọi hoạt động nhằm cải thiện các quan hệ xã hội cho phù hợp với ước mơ của mình đều gây được hứng thú thẩm mỹ.

Theo chủ nghĩa Mác-Lênin, cái đẹp ra đời từ lao động, gắn bó chặt chẽ với cáithật, cái tốt và cái hữu ích Cái đẹp xuất hiện trong quan hệ thẩm mỹ, nó có những yếu

tố chung với quan hệ thẩm mỹ Xa rời cái thật không thể có cái đẹp Đối lập với cáithật, cái đẹp sẽ thiếu vắng nội dung, không có cái đẹp chân chính nào lại không có ích.Cái thật, cái tốt, cái có ích phải gắn liền với các hình tượng sinh động mới là cái mỹ.Cái mỹ với tư cách là cái đẹp là một cái mỹ đặc trưng bởi tính hài hoà của nó

Cái đẹp là một phạm trù mỹ học cơ bản, giữ vị trí trung tâm trong quan hệ thẩm mỹ giữa con người với hiện thực, bao chứa các quan hệ chân-thiện-ích, xuất phát từ thực tiễn, tồn tại dưới dạng hình tượng toàn vẹn, cân xứng hài hoà, gây được khoái cảm thẩm mỹ tích cực đối với chủ thể xã hội.

IV Cái đẹp trong cuộc sống và cái đẹp trong nghệ thuật.

Trang 14

Vai trò của cái đẹp trong cuộc sống là: Do nó gây được khoái cảm tích cực, gắnliền với sự hài hoà thẩm mỹ nên nó điều hoà với mọi mối quan hệ khác; Cái đẹp vớinhiều hình thức tồn tại khác nhau, nó làm phong phú đời sống tâm hồn và tình cảm củacon người; Mỗi nhân cách nếu được cái đẹp định hướng thì nó sẽ phát triển hoà hợpgiữa cá nhân và cộng đồng, nó sẽ hoà mình vào xã hội và cái ích kỷ sẽ được khắc phục;Cái đẹp mở ra khả năng sáng tạo nhiều chiều, nhiều lớp; Cái đẹp đúng đắn có tác dụngngăn chăn các phản thẩm mỹ.

Cái đẹp trong cuộc sống là rất phong phú đa dạng Nó bao gồm tất cả những gìbảo đảm ba yêu cầu: đúng đắn, chân thực của cuộc sống; Mang tính nhân bản và nhânvăn tốt đẹp; Là một sự hoàn thiện, hoàn mỹ Như vậy, cái đẹp trong cuộc sống là tất cảnhững gì mang tính hữu ích, tốt, thật và là một quan hệ sóng đôi giữa chủ thể thẩm mỹ

và khách thể thẩm mỹ

Cái đẹp trong nghệ thuật bao giờ cũng mang tính điển hình, là sự thống nhấtbiện chứng giữa nội dung và hình thức Cái đẹp trong nghệ thuật không đua chen vớicái đẹp trong tự nhiên về sự phong phú, đa dạng Nhưng cái đẹp trong tự nhiên phảikhuất phục cái đẹp trong nghệ thuật về chiều sâu nhân văn và triết lý Cái đẹp trongnghệ thuật làm ta kinh ngạc và đi từ bất ngờ này đến bất ngờ khác Nó là sự tổng hợpgiá trị mỹ học với đạo đức, chính trị, khoa học Nó là một giá trị tinh thần trọn vẹn củachỉnh thể Chân-Thiện-Ích, hoà quyện tình cảm, trí tuệ, khát vọng, ý chí của con người

B CÁI CAO CẢ.

I Bản chất thẩm mỹ của cái cao cả.

Cái cao cả, theo các nhà mỹ học là khái niệm phản ánh các hiện tượng thẩm mỹ

to lớn, hùng vĩ, mạnh mẽ của tự nhiên trong các quan hệ thực tiễn của con người

Khái niệm cái cao cả, ngoài phản ánh sức mạnh bản chất của con người trong tựnhiên, còn phản ánh các hiện tượng thẩm mỹ của xã hội mạnh mẽ, sôi nổi, rực rỡ, khẩntrương và gây nên những xúc động hào hứng, khâm phục say sưa Cái cao cả còn baoquát cả những nhân vật vĩ đại trong lịch sử

Bản chất thẩm mỹ của cái cao cả chính là phẩm chất thẩm mỹ của các hiệntượng, các quá trình lịch sử có quy mô đồ sộ, các hình tượng nghệ thuật hoành tráng,biểu hiện sức mạnh bản chất của con người trong lao động, trong chiến đấu, mở ranhững khát vọng mới để con người không ngừng hoàn thiện bản thân mình và cuộcsống quanh mình

Cái cao cả có liên quan đến nội dung đạo đức của xã hội, nhưng nó không phải

là một phạm trù đạo đức học Bản chất thẩm mỹ của cái cao cả có liên hệ bản chất hầuhết với các phạm trù thẩm mỹ khác Cái cao cả là một hình thức tồn tại khác của cáiđẹp và khi nó bị thất bại tạm thời đã làm nảy sinh cái bi, cái cao cả là mặt đối lập củacái hài tuy không phải nó tránh được cái khôi hài

II Các cách tiếp cận khác nhau về cái cao cả trong lịch sử mỹ học.

Thời cổ đại: Lý luận cái cao cả chỉ mới xuất hiện ở đầu Công nguyên, khi conngười đã vươn lên tách mình ra khỏi tự nhiên và khẳng định sức mạnh của mình, conngười đã đặt tự nhiên to lớn trong quan hệ với năng lực cải tạo của mình Lý thuyết vềcái cao cả ban đầu là khái quát cách sống của con người gắn với việc làm chủ các giátrị tinh thần của con người Phong cách sống, phong cách viết, phong cách nói gắn liềnvới niềm tự hào sâu sắc của bản thân con người, là đối tượng quan trọng xác lập các lýthuyết về cái cao cả đầu tiên trong lịch sử mỹ học

Thời trung cổ: Theo Pxepđô Longin thì cái cao cả gắn với ba lĩnh vực: Tự nhiên,

Tinh thần, Thần thánh Tự nhiên trở thành nguồn cảm hứng cao cả phải là sự kỳ vĩ Về tinh thần, cái cao cả thể hiện ở tư tưởng và niềm say mê phi thường vẻ đẹp của ngôn từ

Trang 15

kết hợp với các tư tưởng vĩ đại Cái cao cả là giá trị bên trong đối lập với cái khuyếchtrương bên ngoài Cái cao cả là lòng kiêu hãnh cự tuyệt hạnh phúc mà mình được

hưởng Về thần thánh, cái cao cả bao gồm các lực lượng siêu nhiên hùng mạnh biểu thị

sự vĩ đại của chúa

Theo Pxepđô Longin, quy mô lớn của hiện tượng sức mạnh phi thường đặt trướccon người và các thước đo thông thường không thể đo được sự vật – đó là bản chất củacái cao cả

Thế kỷ XIX trở đi: Bơccơ cho rằng cái cao cả xuất hiện từ khát vọng con người

tự bảo tồn mình Ông đối lập hai phạm trù cái đẹp và cái cao cả: Cái đẹp thì mang lạitình cảm tích cực, cái cao cả mang lại tình cảm tiêu cực

Vì sao cái cao cả lại mang lại tình cảm tiêu cực mà vẫn có tính chất thẩm mỹ?Sinle giải thích: “Nếu như trong sự lo lắng, hoài nghi, sợ hãi không có một phần nàothích thú… thì chúng ta có lẽ không thể lao vào nguy hiểm với một sự gan dạ điêncuồng”

Theo Cant, cái cao cả là cái gì so sánh với nó thì mọi cái khác đều bé cả Người

ta cũng dễ thấy rằng trong thiên nhiên không có một cái gì cả dù chúng ta cho là lớnđến đâu đi chăng nữa Không có cái gì là đối tượng của giác quan có thể gọi là cao cả.Cái gì ta gọi là cao cả là do tâm trí sinh ra một biểu tượng nào đó mà phán đoán suy xétđược ứng dụng vào chứ không phải bản thân khách thể

Trong Mỹ học của Hêghen có hai định nghĩa về cái cao cả Một là “Cái cao cả là

ưu thế của quan niệm đối với hình thức” và “Cái cao cả là biểu hiện về cái vô hạn”.Ứng dụng quan niệm này vào trong phân tích cái cao cả trong lĩnh vực nghệ thuật,Hêghen quan niệm: Nghệ thuật tôn giáo là nghệ thuật cao cả, bởi vì các đề tài của nógắn với sự chuộc tội, sự tái sinh, trong đó cái tinh thần vượt qua những hình thức cảmtính Nghệ thuật lãng mạn là nghệ thuật cao cả vì nó là nghệ thuật tâm hồn, nghệ thuậtcủa tình yêu gắn với sự hy sinh quên mình, sự khắc khổ và sự sám hối, sự cứu rỗi.Hêghen đã cho các loại hình nghệ thuật âm nhạc, hội hoạ, thi ca là các hình thức biểuhiện rõ nhất của cái cao cả

Theo Tsecnưsexky, quan niệm về cái cao cả gợi trong thâm tâm con người ýniệm về cái vô hạn là một quan niệm thần bí Cái cao cả là bản thân đối tượng chứkhông phải là tư tưởng nào đó do đối tượng gợi lên Dĩ nhiên, khi quan sát một đốitượng cao cả thì trong đầu ta có ấn tượng đậm hơn về cái cao cả chứ không phải là ta

tạo ra cái cao cả Ông định nghĩa: Cái cao cả là cái to lớn hơn tất cả những cái mà ta mang ra so sánh với nó Một vật cao cả là vật có quy mô vượt hơn những vật mà ta mang ra so sánh với nó Hiện tượng cao cả là hiện tượng mạnh hơn những hiện tượng

mà ta mang ra so sánh với nó.”

Khác với tất cả các quan niệm trước mình về cái cao cả và tiếp thu những thànhtựu của loài người về cái cao cả, Mác và Ăngghen giải thích cái cao cả xuất hiện trongquá trình lao động và chiến đấu của con người Cái cao cả không phải là cái vốn có của

tự nhiên, mà nó sản sinh từ thực tiễn thẩm mỹ của con người, con người đã hiến dângnăng lực bản chất của mình chinh phục tự nhiên và do đó, con người cũng trở thành caocả

Trong mỹ học Mác-Lênin, cái cao cả thể hiện tập trung nhất trong những sự kiệnhoặc những hiện tượng trọng đại gợi ra trong con người một tình cảm đặc biệt, gắn liềnvới sự kính trọng, khâm phục, tự hào và vui sướng Cái cao cả nảy sinh từ những hiệntượng có quy mô, sức mạnh, ý nghĩa lớn lao

Trang 16

Cái cao cả cần được xem xét trong quan hệ thẩm mỹ chứ không phải trong quan

hệ thực dụng Một hiện tượng tự nhiên được gọi là cao cả nó phải nằm trong quan hệthực tiễn thẩm mỹ của con người và nói rõ sức mạnh bản chất của con người

Nói rằng cái cao cả tồn tại khách quan, nhưng khách quan trong quan hệ vớithực tiễn thẩm mỹ của con người

Theo quan niệm của mỹ học Mác-Lênin, cái cao cả được đặc trưng bằng chấtlượng và gần gũi với lý tưởng Nó là cái đẹp trở về với nó tập trung hơn, mạnh mẽ hơn,

và có ý nghĩa xã hội rộng lớn hơn

Cái cao cả phải tạo được niềm vui, niềm khâm phục, sự hào hứng trong quátrình con người vươn lên làm chủ thiên nhiên, làm chủ xã hội và làm chủ bản thânmình

Có thể nói: Cái cao cả là một phạm trù mỹ học cơ bản thể hiện sức mạnh bản chất của con người trong quan hệ thẩm mỹ, mang giá trị cái đẹp mạnh hơn, gần gũi với lý tưởng xã hội rộng rãi.

III Cái cao cả trong cuộc sống và trong nghệ thuật.

Cái cao cả được biểu hiện trong cuộc sống mang yếu tố thẩm mỹ trước hết là

những cái đẹp của con người Đó là những cái đẹp trong lao động, trong các hành vi,trong các quan hệ ứng xử, trong đạo đức của con người Cái đẹp đó được nhân rộng ra,phát triển cao hơn trong những hoàn cảnh khó khăn: Cái đẹp từ cái thẩm mỹ bìnhthường đã mang yếu tố của cái cao cả Cái cao cả trong cuộc sống thể hiện sự cố gắngkhông ngừng của con người, vươn lên thực hiện các nhiệm vụ có ý nghĩa xã hội rộnglớn được nhiều người tôn vinh Chủ nghĩa anh hùng là một hiện tượng thẩm mỹ nổi bậtcủa cái cao cả trong cuộc sống

Trong cuộc sống, cái cao cả không chỉ có quan hệ với cái đẹp mà nó còn quan

hệ với cái bi Có những trường hợp cái bi làm tôn vinh cái cao cả, tạo cho cái cao cả đivào bất tử trong lòng nhân dân

Cái cao cả cũng có thể quan hệ với cái hài trong đời sống Có nơi, có lúc cái cao

cả mang yếu tố của cái hài Người ta từng biết nhiều anh hùng chiến sỹ thi đua đã rấtvụng về trong tình yêu Sự phiến diện đó của cái cao cả trong cuộc sống có thể lànguyên nhân gây cười trong một vài trường hợp nào đó

Nghệ thuật phản ánh cái cao cả bằng hình tượng Cái cao cả trong nghệ thuật cóthể là những hình tượng anh hùng chiến thắng mọi cái xấu, nhưng cũng có những hìnhtượng không vượt qua được những cái xấu Dù là hình tượng anh hùng ca hay là bi kịchthì cái cao cả trong nghệ thuật cũng là những hình tượng hoành tráng

Cái vĩ đại nhất của lịch sử thuộc về nhân dân Cái động lực sâu xa của lịch sử làhoạt động của quần chúng nhân dân Nhân dân đã tạo nên cái cao cả, nuôi dưỡng cáicao cả và là đại biểu xứng đáng nhất của cái cao cả Nghệ thuật phản ánh các khát vọngcao cả của nhân dân sẽ được nhân dân lưu giữ, và đến lượt mình nhân dân sẽ là chủ thểsáng tạo ra mọi cái cao cả của cuộc sống và nghệ thuật

Cái cao cả thường được bàn đến dưới bốn dạng thức:

- Cái cao cả thanh cao: Ở dạng thức này, đối tượng không nhất thiết phải to lớnhùng vĩ, nhưng bên trong lại chứa đựng một vẻ đẹp tiềm tàng, sâu lắng, tinh khiết vàhoàn toàn trong sáng Cái cao cả thanh cao gắn liền với sự hiền hòa thân thương đầycảm xúc bất tận mà rất gần với bản chất người chân chính (Nhà sàn của Bác, Chùa Mộtcột, Đạo đức Hồ Chí Minh, Tình bạn của Mác và Ăngghen, )

- Cái cao cả rợn ngợp: Ở dạng thức này nó hàm chứa ưu thế của sự khủng khiếp,choáng ngợp, tình cảm đầy ức chế và bị dồn nén sau đó dâng lên mãnh liệt (Lạc giữa

Trang 17

rừng một mình bỗng tìm được lối ra; Hành động vua Minh Mạng vung gươm chặt đứtcánh tay của viên thủ kho gian tham rồi lấy cánh tay đó treo lên cửa kho; )

- Cái cao cả huy hoàng: Ở dạng thức này hàm chứa cái hoàng tráng, thắng lợi kỳ

vĩ của con người (Cảm giác ngắm bình minh trước biển; Cảm xúc về các bản giaohưởng; Các chiến thắng Điện Biên Phủ; Chiến thắng 30/4/1975 của Việt Nam; )

- Cái cao cả thán phục: Dạng thức này hàm chứa trong nó vẻ đẹp hùng vĩ củacác đối tượng có tầm vóc to lớn, có sự nghiệp và phẩm cách lớn của vĩ nhân và anhhùng Nó đem lại cho con người cảm hứng mạnh mẽ tràn đầy, cao quý và có tác dụng

cổ vũ những năng lực to lớn còn ẩn chứa trong con người (Chân lý Không có gì quýhơn độc lập, tự do của Hồ Chí Minh; Nguyễn Văn Trỗi với Hãy nhớ lấy lời tôi; Chị ÚtTịch với Còn cái lai quần cũng đánh; )

C CÁI BI

I Bản chất thẩm mỹ của cái bi.

Mỹ học không phải là khoa học bàn về mọi cái chết Khái niệm cái chết baogồm cái chết sinh học và cái chết xã hội, có cái chết ngẫu nhiên và có cái chết tất yếu,

có cái sống mà như đã chết, ngược lại có cái chết lại sống bất tử, có cái chết của tội ác,

có cái chết của cái đẹp Mỹ học sẽ không làm thay nhiệm vụ của các khoa học khácnghiên cứu cái chết, mà nó sẽ nghiên cứu tính thẩm mỹ của cái chết Phạm trù cái bi chỉcái chết và nổi thống khổ có tính xã hội

Tính thẩm mỹ của cái chết, đó là bản chất xã hội của cái chết Cái chết mang bản

chất thẩm mỹ đều gắn với sự đồng cảm, đồng khổ của xã hội Cái chết có tính bất tử là

đối tượng cơ bản của mỹ học

Bản chất thẩm mỹ của cái bi là cái chết, nỗi thống khổ có ý nghĩa xã hội, tạo ra

sự đồng cảm, đồng khổ, sự vui sướng, tự hào cho cộng đồng, gắn bó với sự bất tử, đặt

ra các vấn đề xã hội để tiếp tục giải quyết.

Bản chất thẩm mỹ của cái bi gắn với cái chết, nỗi thống khổ của cái đẹp, cáimới, cái tốt với các vấn đề xã hội sâu sắc của nó Vì sao cái đẹp, cái cao cả, cái tốt, cáimới bị cản trở, bị cái xấu rình rập Cần làm những gì để cho cái cao cả, cái đẹp, cái mớivượt qua những hiểm nguy đạt tới niềm vui và hạnh phúc? Cái xấu, cái cũ, cái lạc hậu,cái ác sẽ bị phủ định như thế nào? Đó là các vấn đề triết học sâu sa mà bản chất thẩm

mỹ của cái bi đề xuất

II Các cách tiếp cận cái bi trong lịch sử mỹ học.

Cái bi trong tư duy mỹ học cổ đại Trước hết, cả Etsilơ, Xôphốclơ, Ơripit đềukhẳng định rằng nguồn gốc lớn lao của cái bi là sự xung đột giữa cái thiện và cái ác,giữa đạo đức và vô đạo đức, đăt ra các vấn đề số phận con người trong chiến tranh, các

vấn đề giàu nghèo, gia đình và phụ nữ, một tổng thể các mối quan hệ bi kịch giằng xé.

Thông qua bi kịch thời cổ đại, các vấn đề tình dục, sắc đẹp và số phận luôn luôn trởthành nội dung cái bi của cuộc sống

Người đầu tiên trong lịch sử lý luận mỹ học đề cập một cách trực diện vànghiêm túc đối với cái bi là Aristốt Theo Aristốt: “bi kịch là sự bắt chước một hànhđộng quan trọng và hoàn chỉnh, hành động này có một quy mô nhất định Bằng hànhđộng chứ không phải bằng câu chuyện kể, bi kịch tẩy rửa những cảm xúc qua cáchkhiêu gợi sự xót thương và khủng khiếp.”

Trong thời kỳ trung cổ, bi kịch được cổ vũ bằng lý thuyết tuẫn giáo.

Sếchxpia, thời kỳ Phục hưng đã khẳng định nguyên nhân của cái bi, các hìnhthức của cái bi, bản chất của cái bi là những vấn đề xã hội rộng lớn Chính Sếchxpia và

những nhà lý luận thời Phục hưng lần đầu tiên đã đặt ra các vấn đề xã hội lớn lao của cái bi.

Trang 18

Thế kỷ XVII ở châu Âu, lý luận bi kịch cổ điển của Boalô chính là việc nhận

thức lại thời cổ đại và đề xuất lý thuyết tam duy nhất: Sở trường duy nhất, Tính cách

hành động duy nhất, Thời gian duy nhất Toàn bộ các tính cái bi kịch, cái bi được ông

cổ vũ đó là tính chất tĩnh tại và hạn hẹp.

Người đặt nền móng cho bi kịch thời cổ điển Pháp là Coócnây Ông đề xuất cácvấn đề bi kịch từ chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa anh hùng xung quanh vấn đề tự do

và tất yếu, hèn nhát và dũng cảm Ông đề cao lý trí để kiềm chế dục vọng

Heeghen đã nghiên cứu cái bi theo một hướng hoàn toàn khác Theo Heeghen,cái bi là sự xung đột giữa cá nhân, đạo đức cá nhân và tinh thần, luân lý phổ biến Bikịch có tính tất yếu khi con người không thể thực hiện được hai đạo đức đó cùng mộtlúc Ông gọi là bi kịch của sự sai lầm, sự phiến diện Lý thuyết về bi kịch của Heeghencho rằng, sự phiến diện về luân lý phải bị trừng phạt để cho một chân lý hoàn chỉnh tồntại Lý luận bi kịch của Hêghen không phải là sự mâu thuẫn giữa cái thiện và cái ác, mà

chính là mâu thuẫn trong bản thân cái thiện, cái thiện phiến diện và cái thiện hoàn thiện Bi kịch có nhiều loại: 1 Chủ thể không có lỗi thực sự và chỉ là phạm lỗi vì tai

nạn, không vi phạm phép tắc đạo đức Có nhiều ưu điểm nên đã chết vì nhược điểm 2.Chủ thể có hành vi đối lập và sự đau khổ và hậu quả của chính tội lỗi 3 Hình thức caonhất là sự xung đột về mặt đạo đức Thực hiện điều này thì vi phạm điều kia

Theo Tsecnưsepxky, “bi kịch không có nguồn gốc từ xung đột, từ cái tất yếu, từ

“quy luật vũ trụ”, mà nó gắn với ngẫu nhiên Bi kịch, cái bi chỉ là nỗi đau khổ và chết chóc của người ta “Cái bi kịch là cái khủng khiếp của đời người.”

Khác với tất cả các nhà mỹ học trước mình, Mác và Angghen đã nghiên cứutoàn diện những xung đột xã hội và các ông đã phân tích những xung đột có tính bikịch và có những nhân vật có số phận bi kịch là những xung đột có số phận như thếnào

Theo Mác, cái bi, bi kịch cần bắt nguồn từ xung đột Nhưng xung đột có tính bikịch lại phản ánh sâu sắc tính thời đại, tính lịch sử của nó

Theo Ăngghen, mâu thuẫn bi kịch có tính chân thật phải là: “Xung đột bi kịch

giữa yêu sách tất yếu về mặt lịch sử và tình trạng không tài nào thực hiện được điều đótrong thực tiễn… Bỏ qua yếu tố ấy sẽ làm giảm xung đột bi kịch”

Bản chất thẩm mỹ của cái bi là cái đẹp, cái cao cả, cái anh hùng, cái mới, cái muốn vươn tới cái mới mang nội dung xã hội tích cực trong đấu tranh với cái xấu, cái tiêu cực, đã bị thất bại tạm thời, bị tiêu vong, bị hy sinh, tạo nên sự đồng cảm thẩm mỹ,

có ý nghĩa bất tử trong chủ thể xã hội tiên tiến.

Điều bí ẩn lớn lao của cái bi chính là sự chuyển biến của nỗi đau sang niềm phấnkhích Nghệ thuật bi kịch phản ánh cái bi trong cuộc sống đã tạo nên xúc động to lớncho nhân loại

III Cái bi trong đời sống và cái bi trong nghệ thuật.

Một hiện tượng xã hội được gọi là mang bản chất của cái bi phải thoả mãn đượccác điều kiện sau đây: 1 Trước hết là hiện tượng đó phải gắn bó hữu cơ với cuộc sốngcủa con người, có ý nghĩa đối với sự phát triển của con người và xã hội, sự tổn thất của

nó có ảnh hưởng đến nhiều người 2 Hiện tượng mang dung lượng xã hội ấy phải làmột hiện tượng thẩm mỹ, nó nằm trong quan hệ thẩm mỹ của con người và hiện thực,

nó phải là cái đẹp hoặc cái cao cả, hoặc là có những yếu tố của cái đẹp và cái cao cả 3.Hiện tượng thẩm mỹ này khi mất đi đã gây nên được tình cảm thẩm mỹ đối với chủ thể

xã hội như sự cảm mến, sự luyến tiếc, sự thương nhớ, sự khâm phục, sự tự hào

Trang 19

Trước hết tình huống bi kịch xảy ra trong cái chết, nỗi thống khổ của cái đẹp vàcái cao cả, cái mà tất yếu họ phải được hưởng hạnh phúc nhưng trong thực tế họ đã bịthất bại.

Tình huống thứ hai có thể trở thành bi kịch là tình huống thất bại của cái mới

Về tính tất yếu đáng lẽ cái mới xuất hiện, nhưng nó đã xuất hiện sớm quá hoặc chưa đủđiều kiện toàn diện để xuất hiện Cái chết của nó gây nên sự xúc động thẩm mỹ đồngcảm, dồng khổ của nhân loại Cái mới bị thất bại tạm thời, những tư tưởng mới, lốisống mới, tập quán mới, cuộc cách mạng mới chưa thắng nổi cái cũ và nó đặt ra vấn đề

xã hội giải phóng nó

Tình huống thứ ba là tình huống bi kịch của cái cũ, của một giai cấp cũ có thểxảy ra trong trường hợp đấu tranh chống giai cấp mới nảy sinh, nhưng nó chưa hoàntoàn cũ, chưa cạn kiệt khả năng nội tại, chưa tỏ ra hoàn toàn lỗi thời Bi kịch của cái cũcũng phát sinh khi cái cũ trong một tình huống lịch sử nhất định đang gánh vác mộtnhiệm vụ tiến bộ mà lại bị tiêu vong, khi mà ở một giai đoạn lịch sử nào đó nó có gópphần phát triển xã hội

Trong mỗi một thời đại, bi kịch đều đặt ra các vấn đề xã hội của nó Nghệ thuật

bi kịch cổ đại đã phản ánh các số phận, tính tất yếu lịch sử thông qua những nhân vậtđầy huyền thoại về tự do

Nghệ thuật bi kịch thời Trung cổ đã tuân thủ các chuẩn mực thần học bằngnhững đề tài cứu rỗi, sám hối và tình yêu Chúa

Thời Phục hưng, nghệ thuật bi kịch có mục đích quay về với các giá trị của bikịch cổ đại, nhưng trên bình diện vì các giá trị con người, vì tự do cá nhân, nó chống lạicác tất yếu thần thánh Các nhân vật bi kịch trong thời Phục hưng đã đặt ra một vấn đề

xã hội to lớn giữa tự do cá nhân và tất yếu xã hội

Trong bi kịch ở Pháp vào thế kỷ XVII, nó định hạn chế tự do tuyệt đối của các

cá nhân bằng nghĩa vụ của con người đối với Nhà nước Nhưng sau đó một màu sắc bikịch trữ tình xuất hiện Nó đã tập trung vào sự vỡ mộng của con người Nó khẳng địnhtính chất không thể tránh khỏi của điều ác và tính vĩnh cửu tiếp tục cuộc chiến đấuchống cái ác mới Nó không hoà giải được cái thiện và cái ác và cho ý nghĩa của cuộcsống là phải vùng lên chống cái ác

Cái bi và nghệ thuật miêu tả cái bi có một giá trị thẩm mỹ to lớn trong tâm hồnnhân loại Tri thức về cái bi và bi kịch là một mảng thẩm mỹ quan trọng, có thể nhậnthức rõ hơn sự chuyến biến sâu rộng của lịch sử nhân loại

Ba tình huống bi thường được bàn tới với sáu dạng thức bi:

- Cái bi của đêm trường đen tối: Là loại xung đột giữa những yêu sách tất yếu vềmặt lịch sử và tình trạng không thể thực hiện được nó trong hiện thực Là loại xung độtgiữa 1 bên là cái mới, tiến bộ mới hình thành còn non yếu (nhưng là tất yếu của lịch sử)với 1 bên là cái già cỗi, lạc hậu tất yếu phải thay thế nhưng điều kiện bị thay thế chưachín muồi

Dạng thức này thường đốt lên ngọn lửa thức tỉnh dân tộc, thức tỉnh nhân loạiđang chìm đắm trong giấc ngủ triền miên Ở đây, sự hy sinh của cá nhân không vì họ,cũng không vì một bộ phận xã hội nhỏ bé, mà là đại diện cho một giai cấp, cho mộtphong trào nhất định của thời đại Kẻ thù là lực lượng bảo thủ điển hình với sự tàn bạotrắng trợn làm cho xã hội ghê tởm và cảm thấy sợ nó Anh hùng hy sinh nhưng lýtưởng chưa thực hiện được (Thất bại của khởi nghĩa Yên Thế với cái chết của ĐềThám; Sự hy sinh của Hoàng Văn Thụ, Lý Tự Trọng, Nguyễn Thị Minh Khai, )

Trang 20

- Cái bi trước bình minh: Là loại xung đột của một bộ phận cái mới, tiến bộ,cách mạng đang ở thế thắng lợi hoàn toàn, nhưng bị rơi vào hoàn cảnh trớ trêu khiếnphải sa cơ và bị tiêu diệt thảm khốc.

Dạng bi này trước đó đã được cả thế hệ, dân tộc dấy lên những phong trào nốitiếp xả thân vì lý tưởng ấy Đây không là sa cơ giữa đêm trường đen tối, mà là ngãxuống ngay ngưỡng cửa bình minh làm bật tung cái then cửa khóa chặt nhiều năm đểmọi người ùa ra ánh sáng (Những liệt sỹ ngã xuống ngay ngày đại thắng; 82 ngày đêm

ở Quảng Trị năm 1972; )

- Cái bi của cái cũ: Là loại xung đột giữa cái cũ nhưng chưa trở nên xấu xa, phảnđộng, trái lại còn có ít nhiều vai trò lịch sử, nhưng đã sớm bị tiêu diệt thảm thương Ởđây cái cũ vẫn tin vào tính hợp lý của nó

Đây là bi của sự lầm lạc của cái cũ do không nhận thức được tính tất yếu củaquá trình chết dần đang diễn ra trong cái cũ, mà cố hết sức lực để bảo vệ nó nên khôngthể tránh khỏi thất bại, không thể tránh khỏi bị tiêu diệt

Sự lầm lạc này không là của cá nhân mà là lầm lạc mang tính lích sử thế giới.Dạng bi này là tất yếu do không được sự ủng hộ của nhân dân, nhưng cái chếtcủa họ cũng gợi lên một chút xót thương như sự luyến tiếc một chiều đẹp trước hoànghôn (Thất bại của phong trào Duy Tân; Cái chết của Đôngtisốt; Chiến đấu mù quángcho một lý tưởng lạc hậu nhưng ít nhiều còn vai trò lịch sử; Chiến đấu theo thói quen,theo truyền thống mà không nhân thức được sức sống của lý tưởng ấy đã quá lung lay,đang ở đoạn cuối của sự phát triển nội tại của nó; )

- Cái bi của cái xấu: Là loại xung đột do tội ác gây nên Tức là sự trừng phát mộtcách nghiêm khắc trước những tác hại khủng khiếp do cái xấu gây nên

Dạng thức này không lấy nước mắt để răn đời, không lấy xót thương để luyếntiếc người đã mất, mà lấy sự khủng khiếp để nhắc nhở con người đừng làm điều khủngkhiếp Nó thể hiện một trong những bản chất của cái bị là làm trong sách hóa nhữngcảm xúc, hướng con người tới cái cao cả bằng khêu gợi những xót thương khủng khiếp(Tên thủ kho bị vua Minh Mạng chặt đứt cánh tay; Những kẻ phạm pháp bị tuyên xửvới hình phạt cao nhất; )

- Cái bi của sự sai lầm, thiếu hiểu biết và ngu dốt: Đây là sự xung đột của mộtbên là lầm lẫn hoặc kém hiểu biết hoặc ngu dốt với một bên là những gì mới, tiến bộvới tư cách là cái hiển nhiên, tất yếu của lịch sử

Dạng bi này giúp con người rút ra những bài học xương máu cho đường đời,nhắc nhở con người những bài học cảnh giác trước sự phức tạp ghê gớm của cuộc đờiphải tỉnh táo phân biệt phải trái, để tránh mắc phải những đau thương do hành độngthiếu suy nghĩ, thiếu hiểu biết của mình gây nên (Cả tin của An Dương Vương và MỵChâu dẫn đến cái chết của họ; Thất bại của hành động chủ quan, duy ý chí; Ôtenlô giếtngười yêu ngay trên giường hạnh phúc không phải vì ghen mà vì quá tin nên bị kẻ địch(cha mình) lừa dối, lợi dụng; )

- Cái bi của những khát vọng: Đây là xung đột gay gắt của một bên là nhữngkhát vọng chính đáng, riêng tư của con người với một bên là khả năng hiện thực khôngthể thực hiện được các khát vọng ấy

Dạng bi này thể hiện những đau khổ, dằn vặt của cá nhân, nhưng lại đụng chạmđến lẽ sống, tình yêu và sứ mệnh của con người nói chung, nó làm day dứt mãi lòngngười về sự trân trọng các khát vọng chính đáng cá nhân ấy (Oan Thị Kính; Tài sắc củaKiều; Cuộc đời chị Dậu; Khát vọng làm mẹ của các phụ nữ không có điều kiện xâydựng gia đình; )

Trang 21

Cái bi trong nghệ thuật của chúng ta với cái đề tài lịch sử và cách mạng sẽ bất tửhoá chủ nghĩa yêu nước của người Việt trong thời đại mới.

D CÁI HÀI.

I Bản chất thẩm mỹ của cái hài

Cái hài là một hiện tượng thẩm mỹ sống động và sâu rộng của cuộc sống con

người Cái hài thường gắn với tiếng cười, là một hiện tượng đáng cười, một hiện tượng

gây cười chứ không phải là bản thân tiếng cười Cái hài là một hiện tượng thẩm mỹ tồntại khách quan Cái hài gắn với tiếng cười, nhưng không phải tiếng cười nào cũng biểuhiện của cái hài

Tiếng cười trong cái hài vừa có tính mục đích, vừa có tính phương tiện Tính mục đích là làm cho con người được thông tin về nghịch cảnh, được cười vui vẻ Tính phương tiện biểu hiện tập trung trong phương thức phát triển cái xấu và cười nhạo cái

xấu Ở đây cái cười đã trở thành một vũ khí Nghệ thuật thường dùng tiếng cười nhưmột vũ khí chiến đấu quan trọng chống cái ác, cái xấu khi nó giả danh cái đẹp

Cái hài là một hiện tượng thẩm mỹ tồn tại khách quan và mang tính xã hội rộnglớn Sự tồn tại khách quan của nó cần có sự phát triển của những đôi mắt chủ quan tinhđời

Cái hài với tư cách là một hiện tượng thẩm mỹ khách quan tồn tại cả trong cuộcsống và trong nghệ thuật

Cái hài là một thực tại xã hội, gắn với tình cảm, lý trí và các quan hệ xã hội củacon người

Cái hài trong cuộc sống và cái hài trong nghệ thuật cũng không hoàn toàn đồngnhất

Phương tiện gây cười biểu hiện tập trung của con người là nghệ thuật, trong đónghệ thuật hài hước chiếm một vị trí rất quan trọng

Bản chất của cái hài là cái xấu đang tồn tại trong thực tế Nhưng không phải là cái toàn bộ xấu, mà chỉ một bộ phận ma mãnh nhất không đành phận xấu, tìm cách lọt vào vương quốc của cái đẹp Thậm chí khi lọt vào rồi thì hoành hành bắt cái đẹp phải khuất phục nó Và chỉ khi cái đẹp tỉnh ra, rọi sáng, vạch trần nó thì nhân loại được một trận cười thoả thuê.

II Các cách tiếp cận khác nhau về cái hài.

* Thời cổ đại: Platôn nghiên cứu cái hài cả trên hai bình diện: Mục đích và

phương tiện Theo Platôn, cái hài là phương tiện đòi dân chủ, phương tiện của những

người dưới thường dùng để châm chọc người trên và thần thánh Với tư cách là mụcđích, cái hài thực hiện gây cười, tự nó bộc lộ sự thiếu nghiêm túc Bản chất của cái hài

là luôn tỏ ra mới, cười cái cũ để tỏ ra mình mới

Nhận xét về cái gây cười, cái tạo nên tiếng cười như Arixtot là đặc biệt tinh tế.Theo ông, cái gây cười, cái tạo nên tiếng cười trong đời sống và trong nghệ thuật chỉ là

một bộ phận của cái xấu và nhất là cái xấu này chưa biết mình là xấu, hoặc giấu cái xấu

của mình, bỗng nhiên bị phát hiện Vì thế nó mới vui, mới có ý nghĩa thẩm mỹ

* Suốt thời Trung cổ, người ta không tìm thấy các học thuyết, các bài nghiêncứu về hài Mãi thời kỳ Khai Sáng, các học thuyết, các lý luận về cái hài mới được đềcập ngày một nhiều hơn

* Theo Hốpxơ, chúng ta có thể xác định rằng, tình cảm của nụ cười là thấy đượcnhược điểm của kẻ bên cạnh hay có khi là thấy được nhược điểm của mình trong quákhứ, từ chỗ đột nhiên nghĩ đến ưu thắng của mình mà đưa đến cảm giác “thắng lợithình lình” (Sudden glory) Học thuyết Sudden glory của Hốpxơ khái quát một thuộc

Trang 22

tính “bất ngờ”, “ngẫu nhiên” trong mỗi chuỗi các yếu tố hài hước Học thuyết này đượcCant và Hêghen phát triển

* Theo Cant, tiếng cười là kết quả một sự kỳ vọng căng thẳng, đột nhiên thấtvọng Thuyết kỳ vọng tiêu tan tạo ra tiếng cười, điều đó có lợi cho sức khoẻ

* Hêghen đã nghiên cứu và trình bày về cái hài và hài kịch trên một nguyên lý

tổng thể có tính kịch là những mục đích của cá nhân Theo ông, cái hài “hài kịch, ở đấy

tính chủ thể với tính cách chủ thể trong ý muốn và trong hành động cũng như trườnghợp bên ngoài làm chủ mọi mục đích và quan hệ”

Để làm rõ bản chất của cái hài và cái hài kịch, trước hết Hêghen phân biệt cái lốbịch với cái hài, sau đó ông phân biệt cái hài với cái gây cười Theo ông, chỉ có thái độvui tính vô cùng tự tin của những con người vươn lên khỏi cái mâu thuẫn trong đó ýmắc phải chứ không phải chịu đựng và cảm thấy bất hạnh thì mới là cái hài mà thôi

Cái hài là một quan hệ giữa đối tượng và chủ thể Một mâu thuẫn khách quan

mà chủ thể sa vào, chủ thể tự tin và gỡ được mâu thuẫn ấy một cách tự nhiên, vui vẻ,đột nhiên

Theo Hêghen, cái hài là đối tượng của hài kịch có các đặc điểm sau:

1 Thói hà tiện, chỉ thấy tiền bạc, của cải là một hình thức giá trị duy nhất Mụcđích và phương tiện mà người hà tiện thực hiện là nhỏ bé mà hành động và thái độ lạinghiêm trang

2 Mục đích cao, tham vọng lớn, mà bản chất lại hèn kém Về bề ngoài khuyếchtrương, nội dung lại rỗng tuyếch, không có thực lực, không phản ánh đúng bề ngoài

3 Hài kịch phải trình bày cái hợp lý không phải ở trong tình thế nó bị đe doạphải sụp đổ một cách tương đối khủng khiếp Trái lại, hài kịch phải trình bày cái hợp lývới tính cách nó chống lại sự ngu dốt và tất cả những gì là phi lý ở trong thực tại và nóchiến thắng

* Tsecnưsepxky nghiên cứu cái hài trong mối tương quan giữa cái cảm giác dễchịu và khó chịu của con người Ong viết: “An tượng mà cái hài tạo ra trong con người

là lỗi hỗn hợp giữa cảm giác dễ chịu và cảm giác khó chịu, song ở đó sức mạnh thườngnghiêng về phía cảm giác dễ chịu, đôi khi nghiêng hẳn đến mức cảm giác khó chịu hầunhư không còn nữa Cảm giác này được biểu hiện bằng tiếng cười Cái khó chịu ở cáihài đối với chúng ta là do cái xấu tạo ra; dễ chịu là cái chúng ta thấu hiểu đến mức biết

rõ cái xấu là xấu, khi cười nhạo cái xấu, chúng ta trở nên cao hơn nó.”

* Theo Mác, cái ancien régime (chế độ cũ) ở thời Mác chỉ là một cái vai hề củatrật tự thế giới mà những vai chính đã chết rồi Cái vai hề tức là một cái vai trò cười củatrật tự thế giới bởi vì nó không còn đáp ứng gì được những nhiệm vụ lịch sử mới Vai

hề đó là sự khuyếch trương về hình thức, che dấu cái trống rỗng, cái lỗi thời ở bêntrong đã tạo ra các vai hề lịch sử của nó Vai hề là một sự nguỵ trang để tự vệ, để lừagạt Sống mà để mất quyền tồn tại lại tạo ra cái giả là mình còn sức sống, đó chính làmột trong những bản chất rất cơ bản của cái hài

Hài là một hiện tượng thẩm mỹ khách quan, bởi giễu cợt là một mặt quan trọng

để biểu hiện thái độ sống và định giá nhân cách con người Hài dùng tiếng cười để tống tiễn cái cũ, chào đón cái mới một cách nhẹ nhàng mà sâu sắc.

Hài là phương tiện phát hiện những xung đột, những mâu thuẫn xã hội, giai cấp, là hình thái phê phán đặc biệt có cảm xúc Nó là hoa của văn minh và là quả của

dư luận xã hội phát triển Hài luôn gắn liền với trình độ lý tưởng xã hội Hai phương diện quan trọng của hài là tính lịch sử và tính giai cấp.

III Cái hài trong cuộc sống và trong nghệ thuật

Ngày đăng: 12/12/2016, 21:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w