Trong ba phần của cuốn sách, tác giả đã tích cực bảo vệ quan điểm thống nhất về nguyên lý cơ bản của phương pháp biện chứng luận trị: nguyên nhân cơ bản phát sinh ra bệnh là mất thế quân
Trang 1TÌM HIỂU ĐÔNG Y
( Những điều tâm đắc )
Lời giới thiệu
Nhiệm vụ của ngành y tế nước nhà là phải kết hợp tây với Đông y để xây dựng một nền y tế Việt Nam Vốn là một thầy thuốc tây y, tôi rất chú ý tìm hiểu
về Đông y
Nhưng qua hơn hai mươi năm học tập, nghiên cứu, đi nghe các lương y giảng giải, chỉ dẫn về Đông y, tôi vẫn thấy lý thuyết Đông y rất phức tạp, có khi trừu tượng không sao hiểu được
Cách đây hơn một năm, tôi được đọc bản thảo cuốn sách này của cụ Trần Đình Sóc Qua phần trình bày những suy nghĩ của cụ về phương pháp điều trị Đông y cũng như phần Tâm đắc (trình bày những ca bệnh, thường là nặng, mà
cụ đã chữa khỏi), tôi đã tìm thấy những lời giải đáp có phần nào sáng tỏ
Trong ba phần của cuốn sách, tác giả đã tích cực bảo vệ quan điểm thống nhất về nguyên lý cơ bản của phương pháp biện chứng luận trị: nguyên nhân cơ
bản phát sinh ra bệnh là mất thế quân bình âm dương, nguyên lý cơ bản chữa khỏi bệnh là phục hồi thế quân bình âm dương đó
Loại trừ những khía cạnh duy tâm, vô lý mà người đã gán ghép cho quan niệm âm dương của triết học phương đông, tác giả đã chứng minh trên các trường hợp cụ thể rằng âm dương bao hàm ở nhiều ý nghĩa vật lý và toán học
về năng lượng học Đó không phải là một cái gì bất động, một khối vật chất hay một khối lượng âm dương cụ thể nào
Dương và âm trong y lý phương đông là cái thế so sánh giữa tổng sinh lực của cơ thể tiêu hao đi, lấy một thế quân bình làm tiêu chuẩn Mất quân bình là sinh bệnh, mà phục hồi được quân bình là tạo điều kiện cơ bản để khỏi bệnh Nhận định này, chúng tôi thấy có phần phù hợp với quan điểm của y học hiện đại mà An-tô-ni Hoóc (A Horst), dựa vào điều khiển học của Vin-nơ (Wiener) đã trình bày trong Bệnh Lý Phân Tử: “Trong cơ thể, các phản ứng hóa
và những hoạt động sống xảy ra theo nguyên tắc tự điều hòa, đưa đến cân bằng động của nội môi… tổng hợp quá mức một chất này, nhưng lại thiếu những chất khác dẫn tới tình trạng cơ thể không điều hòa mà lâm bệnh” (An-tô-ni Hooc, Bệnh Lý Phân tử Cơ thể là một hệ hóa lý tự điều khiển, trang 71 và 82, bản dịch tiếng Việt Nhà xuất bản Y học 1973)
Cách đây gần hai nghìn năm, Trương Trọng Cảnh đã phát hiện vấn đề rối
www.facebook.com/sachdongyduoc
Trang 2loạn quân bình âm dương và xếp các loại bệnh thành ba loại bệnh dương và ba loại bệnh âm
Cụ Trần Đình Sóc, qua nhiều năm nghiên cứu Đông y và qua thực tiễn trị bệnh, đã nghiên cứu cặn kẽ bệnh Thiếu âm và bệnh Quyết âm (thuộc ba loại bệnh âm trong y lý của Trọng Cảnh), và đã có những nhận định và phát triển rất độc đáo về các vấn đề:
Âm dương trong y lý đông phương
Nguyên nhân tổng hợp phát sinh bệnh và nguyên nhân cơ bản chữa khỏi bệnh
Ý nghĩa biện chứng luận trị
Nhận định bệnh thuộc dương hay thuộc âm với sự phân biệt mạch thường
và mạch biến, chân tượng và giả tượng (vấn đề về hiện tượng và bản chất của bệnh hàn và bệnh nhiệt)
Những nguyên tắc và phương pháp quân bình âm dương, điều trị với những bài thuốc là dược liệu cụ thể
Nhưng chính những nét độc đáo đó của tác giả (trong những quan niệm về
y lý, về phương pháp điều trị và dùng dược liệu) mà cuốn sách này sẽ đặt ra không ít những vấn đề khiến nhiều người phải suy nghĩ Tôi được biết tác giả, qua nhiều lần sửa đổi bổ sung, đã cố gắng giải đáp các vấn đề đã đặt ra Song, theo chỗ tôi nhận định, đây chưa phải là một công trình khoa học với đầy đủ tính chất chuẩn xác của nó để có thể thỏa mãn mọi hoài nghi, thắc mắc của độc giả Đây trước hết mới chỉ là những suy nghĩ, những thu hoạch của tác giả qua nhiều năm nghiên cứu và thực nghiệm được ghi lại với mục đích khiêm tốn là phổ biến tới quần chúng, và trước hết là tới các bạn đồng nghiệp, càng sớm và càng rộng càng hay
Tôi đã gặp nhiều người bệnh được cụ Sóc chữa khỏi, cũng như những người, bằng phương pháp tương tự như cụ Sóc, chữa khỏi nhiều bệnh nhân Ở bệnh viện, chỗ tôi công tác, một số bệnh chữa theo phương pháp rút ra từ cuốn sách này cũng đã thu được những kết quả bước đầu
Thực tế trên, kết hợp với phần Tâm đắc mà tác giả đã ghi lại khá tỉ mỉ, cho phép tôi tin rằng cuốn sách sẽ đem lại những lợi ích xứng đáng cho những ai quan tâm đọc nó, vì như người ta thường nói, cuộc sống vốn là một cuốn sách
vĩ đại Chúng ta chờ đợi những kết quả trực tiếp theo kiểm nghiệm giá trị của cuốn sách
Cụ Trần Đình Sóc, năm nay đã 75 tuổi, cụ đã viết cuốn sách này giữa lúc
đế quốc Mỹ đánh phá miền Bắc ác liệt, bản thân lại đang bị ốm rất nặng, với ý
Trang 3thức tốt đẹp là muốn góp phần mình vào công cuộc bảo vệ sức khỏe của nhân dân, đông thời góp phần xây dựng nền y học Xã hội chủ nghĩa của nước nhà Sau này, tuy thường xuyên yếu đau, cụ vẫn để nhiều công sức để sửa chữa và
bổ sung cuốn sách
Trước nhiệt tình các mạng của cụ Sóc, Bác sĩ Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Văn Hưởng đã quan tâm động viên cụ Sóc nhiều để cụ hoàn thành công việc,
đã ủy nhiệm cho tôi viết vài lời giới thiệu
Vậy xin trân trọng giới thiệu tài liệu này với các bạn đồng nghiệp Đông y
và Tây y để tham khảo và đóng góp thêm ý kiến, cũng kính mong các đồng nghiệp, nhất là các vị có những Tâm đắc về Thương hàn luận của ta sẽ viết các Tâm đắc của mình hoặc của ông cha để truyền lại, đặng góp phần xây dựng nền
y học Việt Nam Xã hội chủ nghĩa
Hà Nội, ngày 10 tháng 6 năm 1974
BS Nguyễn Hữu Thuyết
Trang 4Lời nói đầu
Đã từ lâu, Đảng và Chính phủ ta có chỉ thị khai thác và tận dụng vốn y học
cổ truyền (Đông y) là ngành chữa bệnh và phòng bệnh đã phục vụ nhân dân mấy ngàn năm
Chính phủ đã cho thành lập Viện nghiên cứu Đông y, chúng ta có nhiệm
vụ đóng góp phần hiểu biết của mình, trước hết phải cố gắng nắm được nguyên
lý cơ bản và phần triết học của Đông y
Có người nói lý thuyết Đông y rất phức tạp: nào âm dương ngũ hành, nào ngũ vận lục khí, nào hàn nhiệt thực hư, quân hỏa tướng hỏa v.v… thực là trừu tượng; các nhà Đông y biện luận mỗi nhà một khác nhau, thiếu cơ sở khoa học Tóm lại, một số người chỉ cho Đông y là một môn trị liệu theo kinh nghiệm chủ nghĩa, có nhiều tính chất siêu hình
Lại có người nói Đông y hợp tác với nhau để khoa học hóa Đông y
Để giải đáp vấn đề thứ nhất, trước hết chúng ta thử nghiên cứu xem Đông
y có tính khoa học hay không, hay đúng là một môn trị bệnh theo kinh nghiệm chủ nghĩa Sau sẽ nghiên cứu lý do tại sao các nhà Đông y không thống nhất luận cũng như thực hành trị liệu
Giải đáp vấn đề thứ nhất thì vấn đề thứ hai sẽ giải đáp dễ dàng Bởi vì nếu bản thân Đông y vốn có tính chất khoa học thì chỉ nên đặt vấn đề “hiện đại hóa Đông y” mà thôi Còn như Đông y quả thật không có tính khoa học, thì khoa học hóa Đông y là vấn đề rất khó, vì nó đã là không có cơ sở khoa học
Để góp chút ít tư liệu nhằm khẳng định tính chất khoa học của Đông y, mặc dầu khả năng còn có hạn, chúng tôi cũng cố gắng viết tập sách này trên cơ
sở những nguyên lý cơ bản về phương pháp biện chứng luận trị của Trương Trọng Cảnh mà chúng tôi cho là khoa học và thực tiễn hơn cả so với học thuyết của các y gia khác
Sẽ có độc giả thắc mắc cớ sao chúng tôi nói về Trọng Cảnh mà không dẫn chứng lời Trọng Cảnh trong một sách nào, theo như cách viết sách nghiên cứu khoa học hiện thời
Nguyên lai tài liệu của Trọng Cảnh đã mất mát trong thời loạn Tam Quốc Đến thời Tần, Vương Thúc Hòa mới sưu tầm được một số còn lại của Trọng Cảnh viết ra bộ Thương hàn luận và Kim Quỹ Yếu Lược, trong đó có tham gia
ý kiến của mình vào, khiến cho người sau đọc hai bộ sách ấy không nắm được bản sắc của Trọng Cảnh Do đó, Trung Quốc cũng như Việt Nam ít ai trị bệnh như Trọng Cảnh
Đến thời Thanh, có Trần Niệm Tố xuất bản bộ “Trần Tu Viên” theo
Trang 5phương pháp Trọng Cảnh Sau đó, Đường Dung Xuyên ra bộ “Trung Tây Hối Thông”, bổ chính bộ “Trần Tu Viên”, làm cho nhiều người hiểu được phần nào phương pháp Trọng Cảnh, chữa bệnh thu được nhiều hiệu quả tốt
Đồng thời một số y gia Nhật BảnBản dựa vào sáu loại bệnh hình tam dương tam âm, pháp chẩn đoán cũng là pháp và phương của Trọng Cảnh – tuy
đã bị các chú gia chú thích sai lầm – với tinh thần khách quan phê phán và dầy công thực nghiệm, đã khám phá được nhiều điều chính xác của Trọng Cảnh như Đại Chung Kinh Tiết, tác giả bộ “Hoàng Hán Y Học Yếu Quyết”, Thanh Bản Cầu Thân- một nhà tây y đã thực nghiệm phương pháp Trọng Cảnh trong vòng 18 năm – tác giả bộ “Hoàng Hán Y Học”, và nhiều tác giả khác Những y gia Nhật Bản giúp cho giới Đông y hiểu rộng biết nhiều về Trọng Cảnh, thu được kết quả kỳ diệu trong trị bệnh
Dưới đây chúng tôi sẽ có những đoạn chứng dẫn lời của hai tác giả Nhật Bản kể trên
Tập sách này chỉ là những điều Tâm đắc thu hoạch được trong vòng 30 năm nghiên cứu trên kinh nghiệm thực tiễn lâm sàng của bản thân Qua các tài liệu trên, lược thuật và tìm hiểu phương pháp biện chứng luận trị của Trọng Cảnh có phân tích phê phán và tổng hợp, chúng tôi ghi chép lại nhằm mục tiêu: gợi ý các bạn đồng nghiệp đông tây y để chúng ta nghiên cứu tập thể, đặng tìm xem Đông y có cơ sở thật sự khoa học hay không, góp phần nhỏ bé vào công cuộc xây dựng một nền y học Việt Nam Xã hội chủ nghĩa
Tập sách này chưa đáp ứng những đòi hỏi của một số độc giả muốn biết rõ hơn về Trương Trọng Cảnh, xin các vị ấy thông cảm
Chúng tôi cũng trình bày vài nét về sự biến đổi của y học Trung Quốc, và giới thiệu sơ qua về tiểu sử của cụ Tạ Văn Kinh tức cụ Nhất Kinh – một nhà Đông y nổi tiếng – là người Việt Nam gần đây đã phát huy và áp dụng với tinh thần sáng tạo phương pháp của Trọng Cảnh Tiếp đến phần Tâm đắc và phần bệnh án, để chứng minh cụ thể thành quả của phương pháp biện chứng luận trị trong Thương Hàn Luận
Từ trước tới nay, trên mấy ngàn năm thực tiễn và ngày gần đây, Đông y là một kho tàng quý báu về kinh nghiệm, về lý luận, về chữa bệnh, phòng bệnh,
đã giúp ích không phải là nhỏ cho sự sống còn và sự phát triển của các dân tộc
Á Đông Chúng ta có nhiệm vụ kế thừa đúng mức để xây dựng, khỏi lãng phí
và thêm phong phú kho tàng y học nước nhà
Chúng tôi mạnh dạn trình bày với tinh thần khách quan tài liệu này để góp phần hiểu biết thêm về Đông y, đây chỉ là những sở đắc, không dám khẳng định
Trang 6là đúng Chúng tôi ƣớc mong các vị độc giả góp ý phê bình để tài liệu này đƣợc hoàn hảo hơn, xin vô cùng cảm tạ
Tổ Canh
Trần Đình Sóc
Trang 7Ông quan niệm người ta khỏe mạnh là do cơ năng hoạt động sinh lý trong thân thể luôn giữ được thể quân bình âm dương, hay là luôn thống nhất được mâu thuẫn giữa âm và dương: người ta có bệnh là do hoạt động sinh lý mất thế quân bình âm dương, hay là không thống nhất được mâu thuẫn giữa âm và dương
Cho nên việc chẩn bệnh là việc tìm hiểu phần âm quá hay bất cập, phần dương thái quá hay bất cập của bệnh nhân để quyết định nguyên nhân phát bệnh do âm thiên thắng hay do dương thiên thắng mà sinh ra hiện tượng này, hiện tượng nọ tức là những chứng bệnh Việc trị bệnh là việc dùng phương pháp điều trị con người có bệnh nhằm mục đích quân bình âm dương, hay thống nhất mâu thuẫn giữa âm và dương của con người ấy thì sẽ khỏi bệnh Trong cơ thể người ta giữ được thế quân bình âm dương thì cơ năng đề kháng bệnh mạnh, điều đó gọi là CHÍNH KHÍ Còn lục dâm: phong, hàn, nhiệt, thấp, táo, hỏa, cho đến vi khuẩn, vi rút, nói chung cái gì ở môi trường bên ngoài xâm nhập vào cơ thể làm thành bệnh tật đều gọi là TÀ KHÍ
Khi chính khí thịnh thì tà khí không xâm nhập được Nếu chính khí suy, tà khí xâm nhập được thì sinh bệnh Bệnh này mang tính chất hoàn cảnh của môi trường bệnh trong cơ thể bệnh nhân mà đổi thành bệnh hàn hay nhiệt Âm dương trong cơ thể mất quân bình là nguyên nhân có trước, tà khí bên ngoài xâm nhập vào làm thành bệnh là nguyên nhân có sau
Phương pháp trị bệnh của Trương Trọng Cảnh nhằm mục đích quân bình
âm dương, chủ yếu là chữa môi trường thụ bệnh, làm cho môi trường không thích hợp với tà khí, đồng thời cơ năng đề kháng bệnh trở nên sung sức đấu tranh với tà khí, bảo vệ cơ thể, tà khí sẽ bị tiêu diệt Một khi môi trường bên trong cơ thể trở lại thế quân bình âm dương, không những tà khí bị tiêu diệt, mà còn điều chỉnh mọi sinh hoạt sinh lý, phục hồi mọi chức năng của phủ tạng, đem lại trạng thái chính thường, và duy trì được thế quân bình mối liên hệ nhịp nhàng giữa cơ thể với môi trường bên ngoài, cho nên con người trở lại khỏe
Trang 8mạnh, bởi vì môi trường bên trong cơ thể thống nhất trên thế thắng với môi trường bên ngoài
Thế là Phương pháp trị bệnh của Trương Trọng Cảnh chữa con người bệnh
là chủ yếu, nói cách khác, chữa nguyên nhân phát bệnh có tính chất tổng thể và tổng hợp, chứ không chữa theo bệnh danh và cục bộ Bởi vì cơ thể là một khối thống nhất mọi mặt hoạt động sinh lý, cả về thể chất lẫn tinh thần
Trọng Cảnh đã phát minh một quy luật khách quan về bệnh tật, đó là vấn
đề hiện tượng và bản chất âm dương sau đây:
Theo Trọng Cảnh, hết thẩy các loại bệnh: ngoại cảnh, nội thương, hư lao, truyền nhiểm, thần kinh, tạp bệnh, thiếu nhi, phụ nữ, thai tiền, sản hậu, cho đến bệnh ngoài da,v.v , bệnh nào cũng có bản chất khác nhau: hoặc âm thiên thắng hoặc dương thiên thắng, mà hiện tượng (tức bệnh chứng) thì đại khái giống nhau Ví dụ: bệnh nhân A mắc bệnh mất ngủ do bản chất âm thiên thắng, bệnh nhân B mắc bệnh mất ngủ do bản chất dương thiên thắng, hai người đều có hiện tượng mất ngủ như nhau Phép điều trị phải căn cứ vào bản chất của bệnh mà chữa mỗi người một khác Bệnh nhân A phải dung loại dương dược (thuốc có chất hưng phấn thần kinh), bệnh nhân B phải dùng loại âm dược (thuốc có tính chất ức chế thần kinh) Một đằng dùng dương dược, một đằng dùng âm dược,
cả hai đều nhằm mục đích thống nhất âm dương của cả hai người bệnh, cho nên
cả hai người đều khỏi Nếu không phân biệt bản chất âm dương, tuyệt đối dùng
âm dược mà chữa, may gặp bệnh dương thiên thắng thì bệnh khỏi, nếu không may gặp bệnh âm thiên thắng, bệnh sẽ biến chứng phiền phức hơn, có thể nguy cho bệnh nhân
Một ví dụ khác: bệnh sốt thương hàn, một thuộc bản chất dương thiên thắng, một thuộc bản chất âm thiên thắng, cả hai đều có hiện tượng đại khái giống nhau: nhiệt độ lên cao trên dưới 40 độ, thân thể ra mồ hôi, nằm trằn trọc không yên, tay chân vật vã, khát nước, nói mê, đại tiện táo kết, có khi lưỡi đen…phép điều trị thuộc bản chất dương thiên thắng-tùy trường hợp – hoặc dùng bài thuốc có vị thạch cao, chi mâu, chi tử…( âm dược) để thanh nhiệt, hoặc dùng bài thuốc hạ (hạ phân táo kết) để thoát nhiệt thì khỏi bệnh Bệnh thuộc bản chất âm thiên thắng, dùng những bài thuốc có vị can khương, phụ tử, quế…(dương dược) để ôn bổ thì khỏi bệnh Phép chữa khác nhau mà cùng chung một mục đích thống nhất âm dương của hai người bệnh đem lại kết quả như nhau Nếu không phân biệt bản chất âm dương, tuyệt đối dùng phép thanh nhiệt hay thoái nhiệt, không may gặp chứng âm thiên thắng thì nguy đến tính mệnh
Trang 9Vấn đề hiện tượng và bản chất âm dương đối với Đông y quan trọng là như thể Nếu bỏ bản chất chạy theo hiện tượng, hay nói theo thuật ngữ Đông y sẽ không còn tính chất khoa học nữa, nó sẽ là một môn trị bệnh theo kinh nghiệm chủ nghĩa
Trang 10VẤN ĐỀ ÂM DƯƠNG TRONG ĐÔNG Y
Lý thuyết âm dương là một khái niệm trừu tượng trong triết lý của đông phương, thể hiện quy luật khách quan về mâu thuẫn phổ biến ở thế giới tự nhiên Nhưng tùy từng trường hợp và phạm vi, nó có nội dung khác nhau, đại đồng và tiểu dị
Trước hết chúng ta phải gạt bỏ cái ý nghĩ âm dương đây là khái niệm máy móc, thô kệch, hẹp hòi, là âm và dương về vật lý, hay là liên tưởng đến điện âm
và điện dương
Nói chung, âm dương là hai trạng thái trong một bản thể có tính chất mâu thuẫn mà không rời nhau, vẫn chống đối nhau, tác động lẫn nhau để đạt được một thế quân bình hai chiều trong bản thể mâu thuẫn ấy, có thể tạm gọi là thống nhất trong từng giai đoạn
Về y lý, âm dương là thế nào?
Âm dương trong y lý khác với âm dương trong điện học, chúng là hai trạng thái có tính chất mâu thuẫn cơ bản trong sự hoạt động của cơ thể con người
Xin lấy những hiện tượng đối lập và thống nhất đi đôi với nhau, không thể tách rời nhau trong cơ thể để hội thong với quy luật âm dương trong y lý:
Sự tiêu hóa và bài tiết trong cơ thể: một số thực phẩm đưa vào ống tiêu hóa, số lượng thực phẩm ấy tạm gọi là cái đến Qua quá trình tiêu hóa, phần nào đồng hóa với cơ thể được thì được huyết đưa đi khắp cơ thể dinh dưỡng tế bào; phần nào dị hóa với cơ thể được bài tiết ra ngoài; cả hai phần này tạm gọi là cái
đi Cái đến và cái đi phải được thống nhất cùng nhau
Lại như sự thay đổi trong cơ thể ; chất dinh dưỡng khi đi theo máu thấm qua thành mao quản vào dinh thể( môi trường trao đổi chất) để cung cấp cho tế bào, đồng thời những chất hủy hoại và khí cacbonic trong tế bào đào thải vào dinh thể lại thấm qua thành mao quản mà vào máu, rồi được bài tiết ra ngoài cơ thể Sự trao đổi chất ấy, sự thay cũ đổi mới ấy phải được thống nhất cùng nhau
Đi sâu một bước nữa, ta thử xem sự trao đổi chất và năng lượng, cùng với
sự đồng hóa trong các tế bào: “sự trao đổi chất và năng lượng thực hiện qua hai quá trình: đồng hóa và dị hóa Đồng hóa là quá trình biến hóa những chất lấy từ ngoài vào, tổng hợp thành những chất sống của cơ thể và tích lũy năng lượng
Dị hóa là quá trình phân giải các chất sống trong cơ thể, giải phóng năng lượng cần thiết cho các hoạt động sống và thải cặn bã ra ngoài Hai quá trình này mâu thuẫn với nhau nhưng liên hệ chặt chẽ với nhau; đồng hóa cần đến năng lượng
Trang 11giải phóng trong dị hóa Nói đúng hơn, đó là hai mặt của một quá trình thống nhất Sự trao đổi chất giữa cơ thể với môi trường thể hiện qua dinh dưỡng và bài tiết mới là biểu hiện bề ngoài của đồng hóa và dị hóa Căn bản hơn là sự đồng hóa, dị hóa xảy ra trong các tế bào”(Sinh vật học hiện đại phổ thông) Đơn giản dễ thấy như việc tuần hoàn: phát huyết và hồi huyết giao lưu với nhau phải được thống nhất cùng nhau; cũng như khả năng sinh nhiệt và khả năng tán nhiệt… đều thế cả
Tất cả những hiện tượng sinh lý đi đôi với nhau mà trái ngược nhau, thống nhất với nhau, ấy là trạng thái chính thường; khi mất quân bình thì một mặt thái quá, một mặt bất cập; ấy là trạng thái bệnh tật Nói chung, hết thẩy tác dụng sinh lý trong cơ thể đều thể hiện theo quy luật mâu thuẫn và thống nhất mâu thuẫn, mà cổ nhân coi là theo quy luật âm dương
Tóm tại, âm dương là hai trạng thái trong cơ thể thể hiện nội dung của quy luật mâu thuẫn này, tác động lẫn nhau, không rời nhau được Cho nên trong cơ thể không có cái gì thuần âm cũng như không có cái gì thuần dương Trong dương có âm, trong âm có dương Đã có dương là có âm, đã có âm là có dương, tức là “âm trung chi dương”, “dương trung chi âm” trong y lý
Âm dương biến động luôn luôn ở trạng thái tương đối, không nhất định ở mức độ nào, cũng không cố định đại biểu cho sự vật nào Tùy theo sự chuyển biến về mặt đối lập của sự vật mà âm dương biến đổi
Nếu quan niệm tuyệt đối cái này là âm, cái kia là dương là quan niệm âm dương tĩnh tại, không đúng với thực tế
Trên đây là nói về tác động âm dương ở từng bộ phận, từng cục bộ hoạt động sinh lý trong cơ thể, cũng như gần đây, người ta quan niệm âm là khiếm năng, dương là dư năng Còn âm dương cụ thể là gì trong y lý đông phương, chúng tôi sẽ trình bày trong một bài khác ở dưới
Trang 12NGƯỜI TẠNG HÀN, TẠNG NHIỆT, BỆNH HÀN BỆNH NHIỆT
Trên thực tế khách quan, qua quá trình thực tiễn lâm sàng, chúng tôi nhận thấy hiển nhiên trong bệnh nhân có người tạng hàn và có người tạng nhiệt Người tạng hàn có bệnh - Bất cứ bệnh gì - bệnh sẽ mang tính chất hoàn cảnh bên trong môi trường cơ thể, trở nên có tính hàn gọi là bệnh hàn ; người tạng nhiệt cũng như trên - bệnh trở nên có tính nhiệt gọi là bệnh nhiệt
Người tạng hàn khi có bệnh hoặc sắp có bệnh, mạch tượng hiện ra: trầm, trì, vi, tế, vô lực Người béo thì béo bệu, trông người có vẻ nặng nề, ì ạch, bụng phệ ít hay nhiều Người tạng hàn nói chung, không phân biệt béo gầy, lớn nhỏ, trai gái, già trẻ, thường có ít nhiều hiện tượng sau đây:
Thể ôn bình thường dưới 37 độ Người hay mệt nhọc, cử động chậm chạp,
da xanh xao hoặc có quầng xanh xám chung quanh mắt Có người mặt lúc đỏ lúc xanh nhợt, hoặc mặt đỏ chân tay lạnh suốt thời gian có bệnh Trời chưa lạnh
họ đã thấy lạnh, trời chưa bức họ đã thấy bức Có người không dám tắm nước lạnh trong mùa hè Hay buồn ngủ mà khó ngủ, hoặc mất nhủ , hoặc ngủ li bì, hay thấy ác mộng Khi khát, uống ít nước và ưa uống nước nóng Ăn ít, khó tiêu hóa, hoặc ăn nhiều, chậm ăn thì mệt lả mà người vẫn gầy yếu, hoặc bụng đói mà miệng không muốn ăn Đại tiện táo hoặc tiền táo hậu đường, hoặc phân không thành khuôn, có người cứ bốn năm giờ sáng phải vội đi ngoài, phân sền sệt Có người hay đi tiểu đêm; nước tiểu ít thì vàng, đục hoặc đỏ, nhiều thì trắng trong; cũng có người hay đi đái rắt, có khi ra huyết Hay sôi bụng, đau bụng hoặc đau ngang thắt lưng, đau hai bả vai.Tay chân hay lạnh, buồn, mỏi, tê hoặc mắt giật khi ngủ Hay nằm co đùi hoặc ôm lấy hai bàn tay Có người hay ù tai, hoa mắt chóng mặt, váng đầu, thị lực kém Khi ốm nặng, sốt thì nhiệt độ lên cao mà sợ rét, trong cơn mê sảng thì chợt mê chợt tỉnh, nói những chuyện cũ
mà mình đã trải qua Nếu bị lưỡi đen thì lưỡi vẫn ướt như lúc bình thường, lấy ngón tay sờ thấy mặt trên lưỡi thấy mềm mại trơn nhẵn, và thân thể hay có âm thư ( nhọt bọc) Về mặt tinh thần, bạc nhược, bi quan, tiêu cực, hay nghi ngờ,
do dự, hay lo nghĩ vớ vẩn, mất bình tĩnh, gắt gỏng, kém trí nhớ Trẻ em nhỏ tuổi thường biểu hiện da xanh trong, xanh bủng, bụng to, bụng ỏng, hay chớ, không chịu ăn, đi ngoài thất thường: phân lỏng, phân xanh, sống phân, phân có mùi tanh; nhiều nước mũi, nước dãi, dử mắt, miệng hôi; thân thể hay nóng âm
ấm về đêm, ra mồ hôi trộm, chân lạnh, hoặc gan bàn chân nóng hơn chỗ khác Đặc biết có em ngủ hay nằm sấp Các Em cũng hay có rôm, nhọt, mụn, đầu đanh màu đỏ tím…
Trang 13Người tạng nhiệt khi có bệnh hoặc sắp có bệnh, mạch tượng hiện ra: phù, sác, khẩn, hoạt, hữu lực Người béo thì béo chắc, có vẻ vững vàng, hoạt bát; cũng có người gày gò, cằn cỗi như cành khô Người tạng nhiệt nói chung- cũng không phân biệt béo, gầy, già, trẻ, lớn, nhỏ… có những hiện tượng tương phản
rõ rệt với người tạng hàn, có những hiện tượng đại khái giống nhau, nhưng nhận xét ký vẫn có màu vẻ khác nhau; họ chịu được rét, được bức, hoạt động linh lợi Nếu có khát thì uống nhiều nước mà ưa uống nước nguội, nước lạnh, thích ăn thức ăn mát như trái cây, rau sống …Nếu có mệt nhọc cũng không mệt nhọc lắm; có người mặt đỏ chân không lạnh; khó ngủ hoặc mất ngủ, ngủ không
li bì, ít mộng mị; đắng miệng, khô cổ, se môi, giộp lưỡi, lở miệng, chóng mặt, choáng váng, nhức đầu; trong lồng ngực, hai bên sườn đầy hơi bí bích; đau ngực, viêm cổ họng, đau lưng, đau bụng khan, đại tiện táo bón, tiểu tiện khó đi,
đi đái rắt, đi tiểu ra huyết, nước tiểu ít, vàng, đỏ Khi ốm hay phát sốt rét hoặc sốt nóng, sợ nóng mà không sợ rét, có khi chân tay lạnh, ra nhiều mồ hôi; mê sảng thì liên miên không tỉnh, nói những chuyện lảm nhảm, câu nọ sọ câu kia, nếu lưỡi bị đen thì khô lưỡi, nóng hôi hổi, lấy ngón tay sờ vào mặt lưỡi thấy nổi gai ram ráp, mắt nhìn thao láo, tay quờ quạng tục gọi là tay bắt chuồn chuồn Bệnh thể hay khẩn cấp, đầu não hay căng thẳng; hay bị băng huyết , nục huyết,
ứ huyết, khái huyết, phát viêm, nhiều đờm; nếu có huyết áp cao hay bị ngất, xuất huyết não, hay có mụn nhọt Về mặt tâm lý tinh thần: quả quyết, bộp chộp, nóng nảy Trẻ em nhỏ tuổi da không xanh nhợt, xanh bủng, ít mũi dãi, bụng ít
to, không ỏng, đại tiện ít phân lỏng, phân xanh, hay nóng bức, nhiều mồ hôi, hay mọc rôm sẩy, mụn, nhọt màu đỏ tía…
Trên đây là hiện tượng và mạch tượng thông thường của người tạng hàn, tạng nhiệt Đôi khi có trường hợp đặc biệt là người tạng hàn hiện ra một vài hiện tượng của người tạng nhiệt, người tạng nhiệt hiện lên một vài hiện tượng
của người tạng hàn Mạch tượng cũng xảy ra vài trường hợp như thể Cái trái
ngược đó được gọi là giả tượng Cũng có khi vì tập quán từ thưở bé, ví như
người tạng hàn lại ưa uống nước lạnh Cho nên chẩn đoán bệnh nhân gặp trường hợp đặc biệt ấy, cần phải tế tâm nhận xét cái nào là giả tượng (hiện tượng trái với bản chất), cái nào là chân tượng (hiện tượng đúng với bản chất), cái nào là thói quen, để khỏi ngộ nhận người tạng hàn, tạng nhiệt, bệnh hàn, bệnh nhiệt
Trang 14NGƯỜI KHÔNG THUỘC VÀO TẠNG HÀN, TẠNG NHIỆT
Người không thuộc vào tạng hàn, tạng nhiệt là người khỏe mạnh, không có bệnh Hoạt động sinh lý của cơ thể người ấy luôn luôn giữ được thế quân bình
âm dương, tức là thống nhất thường xuyên sự mâu thuẫn cơ thể Nói theo Đông
y là người có toàn vẹn chính khí hay nguyên khí bản thân
Những người này thích ứng được với môi trường ở bên ngoài, họ không bị ảnh hưởng về thời tiết thay đổi đột ngột, họ chịu được khí hậu bức cũng như rét, họ đến nơi sơn lam chướng khí cũng chẳng sao; họ ăn uống theo sở thích; chẳng có thức ăn thức uống thông thường làm giảm việc tiêu hóa; họ ngủ hay thức dễ dàng tùy ý, họ lao động bền bỉ và dẻo dai Về mặt tinh thần: họ vui vẻ, thích hoạt động, tự chủ được mình
Nhưng nếu họ không bảo vệ được sự quân bình âm dương trong cơ thể bằng phép vệ sinh; thể dục thể thao có chừng mực, ăn ngủ có điều độ, lao động thao tác đều đều, ít tham vọng thị dục…nếu ẩm thực khởi cư mất điều độ, quá lao tâm, lao lực, nhiều dục vọng, trác tán…họ sẽ trở nên người tạng hàn hay tạng nhiệt
Còn như thấy một bệnh nhân phát cả chứng hàn và chứng nhiệt mà gọi là người tạng bán hàn và bán nhiệt thì không đúng với thực tế Đó là người tạng hàn có hiện tượng giả nhiệt
Trang 15TẠI SAO THỂ TRẠNG NGƯỜI TA CHIA RA HAI TRẠNG THÁI KHÁC NHAU TRONG KHI CÓ BỆNH HOẶC SẮP CÓ BỆNH VÀ ÂM DƯƠNG
TRONG Y LÝ CỤ THỂ LÀ GÌ?
Qua những biểu hiện khác nhau kể trên, chúng tôi đặt vấn đề tại sao trạng thái thể tạng con người có bệnh hoặc sắp có bệnh lại chia ra hai loại như vậy?
Và về y lý, âm dương cụ thể là gì?
Chúng tôi xin giải thích cụ thể như sau:
Người ta sống đòi hỏi một số lượng sinh lực nhất định cho hoạt động cơ thể: tiêu hóa, hô hấp, tuần hoàn, bài tiết, vận động, suy nghĩ…sinh lực là danh
từ chung để chỉ cho năng lực dùng trong sự sống có thể là nhiệt năng để đảm bảo nhiệt độ, hóa năng để tiêu hóa thức ăn, cơ năng để hoạt động tim phổi, ruột… có thể là điện năng trong vấn đề tư duy
Cái khả năng tổng hợp của cơ thể con người để phát huy số sinh lực này có
dư trên số lượng yêu cầu có thể coi là tạng nhiệt (dương hữu dư), số sinh lực này quá dư (dương thiên thắng) thì cơ thể mất thế quân bình âm dương sẽ phát hiện ít nhiều hiện tượng bất thường (như đã kể trên đây), ấy là nguyên nhân có trước của bệnh tật Khi gặp nguyên nhân có sau xảy đến như cảm mạo lục dâm: phong, hàn, nhiệt, thấp, táo, hỏa (ngoại cảm), vi khuẩn, vi rút xâm nhập (truyền nhiễm), những sự việc do người ta làm ra như ăn uống, khởi cư nhất nghi, lao tâm, lao lực quá độ, thị dục, trác tang, vô hạn…(nội thương), hết thẩy những cái
ấy đều gọi là tà khí hay bệnh tà, khi cơ thể của người ấy sẽ đủ điều kiện phát bệnh Bệnh này sẽ mang tính chất hoàn cảnh của môi trường bên trong cơ thể
mà bệnh nhiệt hay là bệnh có tính chất dương thiên thắng Chứng cấp tính, chứng phát viêm, chứng xung huyết thường thấy ở người tạng nhiệt
Cái khả năng tổng hợp của cơ thể con người để phát huy số lượng sinh lực nhất định trong cơ thể ở dưới số lượng yêu cầu, có thể coi là tạng hàn ( dương bất túc tức âm hữu dư), số lượng sinh lực này quá thấp ( âm thiên thắng) thì cơ thể mất thế quân bình âm dương, sẽ phát hiện ít nhiều hiện tượng khác thường ( như đã kể trên) , ấy là nguyên nhân có trước Một khi có nguyên nhân có sau xảy đến, cơ thể có đủ điều kiện phát bệnh Bệnh này sẽ mang tính chất hoàn cảnh của môi trường bên trong cơ thể mà thành bệnh hàn hay là bệnh có tính chất âm thiên thắng Chứng mạn tính( cũng có nhiều chứng cấp tính và phát viêm), bệnh kinh niên, trầm kha, cố tật, bệnh suy nhược thần kinh thường thấy
ở người tạng hàn
Trang 16Có trường hợp số sinh lực nhất định cho hoạt động cơ thể quá thấp dưới số lượng yêu cầu ( tức là dương suy) không đủ khả năng chuyển hóa thành tân dịch gọi là âm dương câu hư (âm dương câu hư không có nghĩa là âm dương đều hư ngang nhau) Trường hợp này do nhiều nguyên nhân gây ra:
1 Tiên thiên bất túc tức là suy nhược ngay trong bào thai
2 Thị dục quá độ
3 Ngộ độc nghiêm trọng hoặc bị mất máu nhiều quá
4 Ăn uống thiếu chất dinh dưỡng
5 Tuổi suy lão…
Do đó, Đông y căn cứ vào bệnh có tính chất dương thiên thắng hay âm thiên thắng làm nguyên lý cơ bản để trị bệnh, nhằm quân bình âm dương để khôi phục trạng thái chính thường của sự hoạt động sinh lý trong cơ thể - hay nói theo Đông y - để khôi phục chính khí trong cơ thể , chính khí sẽ tạo điều kiện cho tự nhiên liệu năng tự chữa khỏi bệnh, bảo vệ sinh lực và điều chỉnh mọi sai lệch trong hoạt động sinh lý theo quy luật của tự nhiên Tuy những hoạt động sinh lý là phức tạp, tựu chung chúng vẫn phối hợp chặt chẽ với nhau theo quy luật khách quan chi phối thống nhất toàn thân con người, kể cả thể chất và tinh thần
Khi chính khí đã trở lại bên trong cơ thể, không những nó tự chữa khỏi bệnh, đem lại trạng thái chính thường trong hoạt động sinh lý, mà còn duy trì thế quân bình hay là thống nhất mối liên hệ nhịp nhàng giữa môi trường bên trong cơ thể và môi trường bên ngoài tức là thế giới tự nhiên, cho nên ngoại tà không vào được cơ thể gây bệnh tật
Chích pháp luận trong sách Tố Vấn nói:” Chính khí toàn vẹn ở môi trường
bên trong cơ thể, tà khí ở môi trường bên ngoài không xúc phạm vào được” (chính khí tồn nội, tà bất khả can) Bình nhiệt luận trong sách ấy nói:” tà khí tập hợp được ở trong cơ thể, tất nhiên là chính khí không vẹn toàn” (tà chi sở tấn,
kỳ khí tất hư)
Cái mà Đông y gọi là chính khí hay nguyên khí phải chăng là cái khả năng tổng hợp phát huy số lượng sinh lực trong cơ thể vừa đúng số lượng yêu cầu không hơn không kém?
Để đề phòng bệnh tật khi thấy trong người đã phát sinh ít nhiều hiện tượng khác thường , thầy thuốc chẩn đoán phối hợp mạch tượng với hiện tượng đã xảy ra, xem người ấy:
Trang 17 Nếu âm hữu dư tức là số lượng sinh lực ở dưới số lượng yêu cầu nhất định, thì dùng thuốc dương dược để nâng cao số lượng sinh lực đạt tới mức yêu cầu (quân bình âm dương)
Nếu dương hữu dư tức là số lượng sinh lực có dư trên số lượng yêu cầu nhất định, thì dùng thuốc âm dược để hạ thấp số lượng sinh lực đạt tới mức yêu cầu (quân bình âm dương)
Nếu âm dương câu hư tức là số lượng sinh lực quá thấp dưới số lượng yêu cầu nhất định, không đủ khả năng hóa tân dịch, thì dùng thuốc dương dược để tăng cường sinh lực đạt tới mức yêu cầu là chủ yếu, đồng thời phối hợp với âm dược có tính chất tư dưỡng tân dịch là chủ yếu, đó là bổ dương tư âm (quân bình âm dương)
(Sự chuyển hóa ra tân dịch đòi hỏi cơ thể nhiều hóa năng, đòi hỏi rất nhiều năng lượng tổng hợp, làm tiêu hao rất nhiều năng lượng cơ thể, cho nên Đông y hay quan niệm tân dịch là âm)
Một khi âm dương quân bình, chính khí trở lại trong con người bệnh ấy, bệnh tà không có điều kiện xâm nhập làm thành bệnh được, mà người khỏe mạnh Trọng Cảnh nói: “Thầy thuốc giỏi chữa bệnh từ khi chưa phát bệnh” (Thượng công trị vị bệnh), có phải là thế chăng?
Giải thích quy luật âm dương của Đông y theo những nguyên lý của năng lượng về sinh lý:
Như vậy có thể giải thích tổng hợp và cụ thể âm và dương ở cơ thể con người trong y lý đông phương là hai cái thế của khả năng phát huy sinh lực dưới hay trên một cái thế yêu cầu lấy làm tiêu chuẩn quân bình của một cơ thể con người Chúng là hai tỷ lệ so sánh giữa tổng sinh lực phát sinh và tổng sinh lực tiêu hao đi Âm và dương không phải là hai tính chất của một vật gì, một chất gì như là tính lý hóa: vật này là âm, chất kia là dương, như người ta thường quan niệm chất lượng là âm, năng lượng là dương chẳng hạn - đó là do nghĩa
âm dương suy luận ra
Trong Đông y có quan niệm huyết âm, khí là dương, ngũ tạng là âm, lục phủ là dương v.v…theo như chúng tôi hiểu: đó là cổ nhân dùng hai chữ âm dương làm dấu hiệu nhận thức cái này với cái kia có quan hệ mật thiết với nhau
Khi đã thống nhất được sự phát sinh tổng sinh lực và sự tiêu hao tổng sinh lực (tức là khôi phục thế quân bình âm dương), thì cơ thể tự giải quyết tổng hợp tất cả những mâu thuẫn âm dương trong từng bộ phận, từng cục bộ - như đã nói
ở trên – của toàn thân người bệnh
Trang 18TÍNH CHẤT CỤ THỂ CỦA CÁC CHẤT TRONG Y LÝ
Đối với con người, các chất trong thực phẩm, nhất là trong dược liệu, đều
có tính chất riêng: hoặc là ức chế, hoặc là hưng phấn sự phát huy sinh lực của
cơ thể, không phải là do bản chất những thực phẩm, những dược liệu ấy là âm hay là dương như có điện âm hay điện dương Chất nào có bản tính giảm phát huy sinh lực, hay đòi hỏi nhiều năng lượng quá trong sự đồng hóa mà làm giảm
sự phát huy sinh lực, hoặc nó tiêu hao quá nhiều số lượng sinh lực trong cơ thể nên nó mang tính chất hàn gọi là âm Trái lại, chất nào có dặc tính đẩy mạnh sự phát huy sinh lực, tăng cường sự hoạt động trong cơ thể nên nó mang tính chất nhiệt họi là dương Lại có chất có tính năng kích thích sự hoạt động sinh lý như tính năng tuần hoàn máu, tăng hô hấp, tăng nhiệt độ v.v do đó, hô hấp đòi hỏi nhiều không khí, ăn uống đòi hỏi nhiều thứ mát v.v đó là nó làm tăng trong một thời gian nào đó sự hoạt động trong sơ thể, có khi quá mất cân đối, nên nó mang tính chất nhiệt nhất thời, cũng có thể gọi là giả nhiệt
Vậy thì khái niệm âm dương trong y lý phương đông rõ ràng duy vật và khoa học, chứ không phải siêu hình như ta tưởng
Đông y phát minh lý thuyết âm dương - quy luật phổ biến chi phối thống nhất toàn thể con người – cho nên Đông y tuy thiếu tri thức về khoa học thực nghiệm như sinh lý học, giải phẫu học, bệnh lý học, vi khuẩn học v.v… mà vẫn chữa khỏi bệnh một cách chắc chắn, vì nắm được quy luật âm dương nói trên, tìm ra nguyên nhân tổng hợp gây phát sinh ra bệnh tật và các nguyên lý chữa khỏi tật bệnh
CÁC HIỆN TƯỢNG VỀ SINH LÝ VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA NGƯỜI TẠNG
sự sống ở dưới số lượng yêu cầu, có thể coi là tạng hàn (dương bất túc tức âm hữu dư hay âm thiên thắng) Vì hạn chế về tri thức sinh lý học, chúng tôi không thể trình bày cụ thể được bằng những trạng thái cơ bản về sinh lý học biểu diễn
Trang 19trong cơ thể con người tạng nhiệt và tạng hàn, ví như tình hình, thành phần dinh thể (môi trường thay đổi chất của tế bào), những trở ngại về sự đồng hóa và dị hóa trong tế bào, hay là sự phát tiết và bài tiết chẳng hạn
Theo kinh nghiệm, ngoài những hiện tượng thông thường như chúng tôi đã nói ở trên, chúng tôi nhận thấy người tạng nhiệt có bệnh nặng thường bị thiếu thành phần nước trong cơ thể, hoặc thiết tân dịch (nội tiết và ngoại tiết) mà Đông y quen gọi là âm hư Người tạng hành có bệnh nặng thường hay bị thừa thành phần nước trong cơ thể, nên hay sinh ra nhiều đờm dãi thành bệnh ho, han, phù thũng, cổ chướng v.v…hay phát nhiệt về chiều, về Đông y gọi là “nội hàn ngoại nhiệt” Những bệnh nhân tạng hàn uống thuốc bổ (bổ dương) thường
tự bài tiết ra nhiều nước hoặc đờm (do thổ, tiểu tiện, đại tiện, hãn theo từng trường hợp) trước khi khỏi bệnh Những bệnh nhân mà chúng tôi gọi là tạng hàn, nếu họ được kiểm nghiệm máu ở bệnh viện đều thấy số lượng hồng cầu của họ ít hơn số lượng trung bình, mà người nào mức độ tạng hàn càng nhiều thì số lượng hồng cầu càng ít Đây cũng là một triệu chứng khá cụ thể của người bị tạng hàn Những điều kể trên là hiện trượng mấu chốt về sinh lý thường hiện ra trên những người tạng nhiệt và tạng hàn trong khi họ có bệnh
mà chúng tôi nhận thấy
Vấn đề này, chúng tôi mong các nhà khoa học tây y lý hội cái khái niệm về tạng nhiệt và tạng hàn của chúng tôi đã trình bày để bổ sung bằng tài liệu khoa học cho vấn đề được thêm phần cụ thể
Điều kiện về sinh lý của âm dương có thể biểu hiện bằng thông số Sơ bộ
có những điều kiện mà tây y đã nắm vững sau đây:
Số hồng cầu trên một mm3? Khả năng sinh hồng cầu?
Số bạch cầu trên một mm3? Khả năng sinh bạch cầu?
Khả năng sinh nhiệt của máu?
Nhiệt độ trung bình của máu?
Tỷ lệ glucose trong máu (gr)? pH của máu?
Tỷ lệ một số chất (vi lượng trong máu) có tính chất xúc tác?
Áp suất trong máu?
Sức mạnh tuần hoàn? Mạch và tim?
Trang 20SÁU LOẠI BỆNH HÌNH CỦA TRƯƠNG TRỌNG CẢNH
Từ thời xưa cách đây khoảng năm nghìn năm, Trung Quốc đã có khoa chữa bệnh bằng khoa châm cứu, lấy lục kinh trong sách Nội kinh làm nền tảng
Lý thuyết lục kinh quan niệm trong cơ thể con người có hệ thống kinh lạc phân bố khắp cơ thể từ đầu đến mình mẩy, chân tay, liên lạc từ bì phu qua cơ nhục vào phủ tạng, có quan hệ với tác động sinh lý trong cơ thể (là một hệ thống đặc thù không phải hệ thống thần kinh), có chức năng chi phối quy luật
âm dương giữa các phủ tạng, các bộ vị có quan hệ trực tiếp hoặc gián tiếp với nhau thành một chỉnh thể thống nhất Tác dụng kinh lạc tiến hành hoạt động sinh lý theo quy luật âm dương trong khi cơ thể trong trạng thái chính thường Khi cơ thể mất thế quân bình âm dương, phát sinh bệnh biến ở bộ vị nào trong
cơ thể, nó sẽ phản ánh mạch tượng và chứng hậu đặc trưng ở bộ vị ấy Do đó, thầy thuốc chuẩn đoán có cơ sở để phân biệt bệnh thuộc tính chất âm thiên thắng hay dương thiên thắng và chữa, nhằm mục đích phục hồi thế quân bình
âm dương trong cơ thể thì bệnh sẽ khỏi
Hệ thống kinh lạc có sáu đường kinh gọi là lục kinh: ba đường kinh thuộc
về dương là: kinh Thái dương, kinh Thiếu dương, kinh Dương minh: ba đường kinh thuộc về âm là: kinh Thái âm, kinh Thiếu âm, kinh Quyết âm Kinh thái dương chia ra kinh Thủ thái dương tiểu trường và kinh Túc thái dương bàng quang; kinh Thiếu dương chia ra làm linh Thủ thiếu dương tam tiêu và kinh Túc thiếu dương đởm; kinh Dương minh chia ra kinh Thủ dương minhh đại trường và kinh Túc dương minh vị Kinh Thái âm chia ra làm kinh Thủ thái âm phế và kinh Thúc thái âm tỳ; kinh Thúc thiếu âm thận; kinh Quyết âm cha ra kinh thủ Quyết âm tâm bào lạc và kinh túc Quyết âm can Những kinh kể trên cộng lại thành mười hai kinh gọi là “Thập nhị kinh mạch” Kinh mạch là đường
đi của mười hai kinh Kinh nào cũng từ tay và từ chân đi qua các bộ vị trên thân thể rồi vào phủ, tạng, liên lạc với nhau có mạch lạc, có thống hệ Học thuyết lục kinh là cơ sở khoa học của Đông y nói chung, của Khoa Châm cứu nói riêng Tổng kết tài liệu trong sách Nội kinh là một cách sáng tạo và có phát minh, Trọng Cảnh đã hệ thống hóa và tinh giản hóa lý thuyết lục kinh vào trong sáu loại bệnh hình sáng lập ra phương pháp Biện chứng luận trị Sáu loại bệnh hình là: bệnh Thái dương, bệnh Thiếu dương, bệnh Dương minh, bệnh Thái âm, bệnh Thiếu âm, bệnh Quyết âm Ba loại bệnh dương thuộc bản chất dương thiên thắng tức bệnh nhiệt, gọi là bệnh tam dương Ba loại bệnh âm thuộc bản chất âm thiên thắng tức bệnh hàn, gọi là bệnh tam âm Sáu loại bệnh này, mỗi
Trang 21loại có mạch tượng và một nhóm hậu chứng đặc chưng của nó đi đôi với nhau làm mục tiêu để nhận thức từng loại bệnh và những phương thuốc thích nghi cho những trường hợp bệnh biến của từng loại bệnh ấy
Xin trình bày sáu loại bệnh hình sau đây:
1 Bệnh Thái dương, mạch phù, đầu nhức, gáy cứng, phát nhiệt mà sợ rét (đề cương) Bệnh tà có tính chất nhiệt ở cơ biểu, tức là ở vào phần tổ chức mặt ngoài của cơ thể
2 Bệnh Thiếu dương, mạch huyền tế hoặc trầm khẩn, miệng đắng, cổ họng khô, mắt hoa, phát cơn rét đến cơn nóng, trong lồng ngực và hai bên sườn đầy hơi bí bách lắm, người lìm lịm không muốn ăn uống, tim rạo rực, hay buồn nôn (đề cương) Bệnh tà cũng có tính chất nhiệt ở bán biểu bán lý, tức là bệnh tà không ở cơ biểu mà cũng không ở phủ tạng, ở vào khoảng xoang ngực và xoang bụng trên
3 Bệnh Dương minh, mạch dại, bệnh tà có tính chất cực nhiệt xung thực, (chứa đầy) ở dạ dày và ruột, toàn thân nóng có mồ hôi, không sợ rét mà
sợ nóng (đề cương) Bệnh Dương minh có hai chức trạng:
a Toàn thân nóng lắm, ra nhiều mồ hôi, miệng khát, lưỡi khô, tim rạo rực, trong ruột không có phân táo kết, nhiệt tà ở dạ dày, ruột và tán mạn khắp thân thể từ trong ra ngoài cơ phục Mạch tượng hiện ra phù hoạt hoặc hồng dại Đó gọi là chứng “Dương minh kinh”
b Về chiều hôm phát cơn trào nhiệt (cơn nóng lên xuống đúng giờ), tay chân dâm dấp mồ hôi, bụng đầy cứng mà đau, đại tiện bí kết, mê man nói nhảm, bệnh nặng thì tinh thần hoảng hốt, mê man không biết sự việc gì, nhãn cầu lờ đờ mất vẻ trong sáng, mắt nhìn trừng trừng, có cơn ho, tay suyễn nhẹ, tay quờ quạng (tục gọi là “bắt chuồn chuồn”); lưỡi có khi có gáu vàng hoặc đen, trên mặt lưỡi có nổi gai và nóng hôi hổi Mạch tượng hiện ra trầm, thực mà có lực Đó gọi là chứng
“Dương minh phủ”, cũng gọi là chứng “Chính dương dương minh”… Chứng này nguy cấp hơn chứng trên, và là chứng nặng nhất trong ba loại bệnh tam dương
4 Bệnh Thái âm, mạch hoãn và nhược, bụng đầy và đau từng lúc, ăn vào thì thổ ra, đi ngoài luôn luôn (đề cương) Bệnh tà có tính chất hàn tỳ và
vị (bệnh này khác với bệnh Dương mình là hàn ở tỳ và vị thuộc về chứng hư; (bệnh Dương minh thì nhiệt tà ở vị và trường thuộc chứng thực)
Trang 225 Bệnh Thiếu âm, mạch vi, tế, chỉ sợ rét không sợ nóng, mà chỉ hay buồn ngủ (tinh thần bạc nhược, mắt lơ mơ có trạng thái nửa thức nửa ngủ), tay chân giá lạnh (đề cương) Bệnh tà có tính chất cực hàn chủ yếu ở tâm và thận, hàn tà còn ở khắp cơ thể từ trong phủ tạng ra ngoài cơ nhục Đề cương của bệnh thiếu âm chỉ cử ra mạch tượng và chứng hậu đặc trưng: chỉ hay buồn ngủ của nó làm mục tiêu để phân biệt với năm loại bệnh hình kia, nhất là phân biệt với bệnh Dương minh; vì hai loại bệnh này, trong khi có sốt thương hàn, thường hay phát hiện những chứng trạng tương đối giống nhau; nếu không chú ý có tế nhận đề cương của hai bệnh, sẽ có thể nhầm lẫn thì rất nguy hiểm Bệnh Thiếu âm có chứng hoãn và chứng cấp đều là bệnh nặng
6 Bệnh Quyết âm, mạch vi, tế, hầu như muốn tuyệt hoặc trầm, trì, vô lực, tiêu khát (khát và uống nước không khỏi khát), khí từ hạ tiêu đưa lên xúc động vào tim, trong tim nóng và đau, bụng đói mà miệng không muốn ăn, ăn vào thì thổ ra giun, nếu uống thuốc hạ (hạ phân táo) thì đi ngoài không dứt (đề cương) Bệnh tà căn bản thuộc hàn, có khi phần nửa người bên dưới là lạnh dồn nhiệt lên trên, cho nên nửa phần người bên trên nóng, do đó bệnh Quyết âm gọi là chứng thượng nhiệt hạ hàn; cũng gọi là chứng âm thắng dương thắng phục vì khi dương thắng thì nhiệt,
âm thắng thì hàn Bệnh tà chủ yếu ở can và tâm bào lạc là loại bệnh rất nguy cấp (sẽ có ý kiến về bệnh Quyết âm ở phần Tâm đắc)
Sáu loại bệnh hình này (cũng có thể gọi là sáu phạm trù bệnh tật), mỗi loại bệnh biểu hiện thể chất của bệnh nhân như tạng hàn, tạng nhiệt; mức độ hàn nhiệt nhiều hay ít; bộ vị phát bệnh nông hay sâu; bệnh tình hoãn hay cấp Nói chung là âm dương, hàn nhiệt, hư thực, biểu lý, thủy hỏa, khí huyết, phủ tạng, tính khí thần cho đến ngũ hành sinh khắc, không nói đến mà đã bao hàm ở trong thân thể phải chăng là sáu trạng thái của thân thể?
Bệnh tam dương có tính bệnh và hợp bệnh
Khi mới phát bệnh, ví như bệnh Thái dương chưa điều trị bệnh chưa khỏi, bệnh chuyển sang bệnh Thiếu dương (bệnh Thái dương phát ra trước, bệnh Thiếu dương phát ra sau mà bệnh Thái dương còn tồn tại) gọi là Thái dương Thiếu dương tính bệnh; bệnh Thái dương có trước chưa khỏi lại chuyển sang bệnh Dương minh gọi là Thái dương Dương minh tính bệnh
Bệnh Thái dương và bệnh Thiếu dương đồng thời cùng phát gọi là Thái dương Thiếu dương hợp bệnh; bệnh Thiếu dương và bệnh Dương minh đồng thời cùng phát bệnh gọi là Thiếu dương Dương minh hợp bệnh Cả ba bệnh
Trang 23cùng phát một lúc gọi là tam dương hợp bệnh Tính bệnh và hợp bệnh có phương pháp điều trị khác nhau
Bệnh Tam âm không có tính bệnh mà có kiêm bệnh
Lại như bệnh nghịch trị là bệnh do thầy thuốc chữa sai nguyên tắc thành ra biến chứng, Trọng Cảnh có phương pháp cứu nghịch để cứu vãn những trường hợp ấy
BẢN SẮC CỦA SÁCH THƯƠNG HÀN LUẬN
Căn cứ vào tên sách là Thương Hàn Luận và tài liệu trong sách Nội Kinh giải thích bệnh thương hàn: “Đông thương vu hàn, xuân tất bệnh ôn” (Mùa đông cảm hàn khí, sang xuân thành bệnh ôn nhiệt), người ta quan niệm phương pháp trị bệnh của Trọng Cảnh chỉ chữa bệnh thương hàn truyền nhiễm thuộc chứng ôn nhiệt mà thôi Bởi vây, học thuyết Trọng Cảnh không được phổ cập trong y giới Sự thực thì sách Thương Hàn Luận vạch ra phương pháp “Biện chứng luận trị” chữa đa số các bệnh kể cả ngoại cảm nội thương, hư lao, truyền nhiễm, thần kinh cho đến bệnh ngoài da với những dược phương đích đáng cho các loại bệnh ấy
Đặc điểm nữa của Trọng Cảnh đã thành lập, quy nạp những cái phức tạp – phải suy luận, nhận xét bối rối khó khăn – như âm dương, hàn nhiệt, hư thực, biểu lý, thủy hoả, khí huyết, phủ tạng, khinh khí thần, bộ vị phát bệnh, bệnh tình, bệnh thế cho tới ngũ hành sinh khắc v.v…vào trong từng bệnh hình trong sáu bệnh hình đã nói trên Qua thực tiễn lâm sàng của bản thân, chúng tôi nhận thấy quả thực là như vây
Thương Hàn chỉ có sáu loại bệnh hình mà nói là chữa đa số các bệnh, mới nghe không khỏi hoài nghi
Nguyên lai thuộc sáu loại bệnh hình thuộc vào sáu kinh trong thân thể con người, chúng là sáu môi trường thụ bệnh, hay nói cách khác, chúng là sáu nguyên nhân có trước của bệnh tật Bởi vì nếu một kinh, có khi hai, ba kinh trong thân thể mất thế bình quân âm dương ( nguyên nhân có trước) thì bệnh tà (nguyên nhân có sau) mới có điều kiện xâm phạm vào một, hai, ba kinh ấy mà phát bệnh Chữa bệnh là chữa nguyên nhân có trước (môi trường thụ bệnh), không phải là chữa nguyên nhân có sau (bệnh danh) Do đó, vô luận bệnh gì, một khi môi trường đã không còn thích hợp với bệnh thì bệnh phải hết
Sở dĩ Trọng Cảnh không gọi là sáu kinh mà gọi là sáu bệnh, là ông tinh giản hóa với tính cách lập thành thuyết lục kinh vào trong sáu loại bệnh hình
Trang 24ấy, để cho dễ phổ cập, khỏi phải nhận thức với tài liệu phiền phức của thuyết lục kinh Đó là điều độc đáo của Hán y
Chữa bệnh theo thương hàn luận là biện chứng xem bệnh thuộc vào phạm trù loại bệnh hình nào trong sáu loại bệnh hình, sẽ chữa theo lệ chữa loại bệnh hình ấy
Ví dụ: chữa bệnh tả chẳng hạn, kể cả bệnh dịch tả: nếu thấy mạch vi tế, tay chân quyết lãnh, sợ rét mà không sợ nóng, mắt như buồn ngủ (mạch tượng và chứng hậu đặc trưng giống như đề cương của bệnh Thiếu âm), chữa bệnh tả sẽ theo lệ chữa bệnh Thiếu âm; nếu thấy mạch địa, mạch sác hoặc mạch hoạt, có khi mạch trầm mà hữu lực, không sợ rét mà sợ nóng, nếu khát thì uống nhiều nước và ưa nước nguội (mạch tượng và chứng hậu đặc trưng giống như đề cương của bệnh Dương minh), chữa bệnh tả theo lệ chữa bệnh Dương minh; nếu thấy mạch hoãn và nhược, bụng đầy và đau từng lúc, ăn vào thì thổ, đi ngoài luôn luôn (mạch tượng và chứng hậu đặc trưng giống đề cương bệnh Thái âm), chữa bệnh tả sẽ theo lệ chữa bệnh Thái âm Bệnh tả còn nhiều phụ chứng khác như đau bụng, ra nhiều mồ hôi, khát, bí tiểu tiện, co quắp tay chân, seo da đầu ngón tay v.v… có phụ chứng này hay phụ chứng khác không kể, vẫn căn
cứ vào mạch tượng và chứng hậu đặc trưng giống như đề cương của loại bệnh hình nào, sẽ chữa theo lệ chữa bệnh hình ấy, phụ chứng sẽ cùng khỏi với bệnh Một ví dụ khác: chữa bệnh sốt rét, kể cả bệnh sốt rét rừng:
Nếu thấy mạch tượng và chứng hậu đặc trưng giống đề cương bệnh Thiếu dương, sẽ chữa khỏi bệnh sốt rét theo lệ chữa bệnh Thiếu dương
Nếu thấy mạch tượng và chứng hậu đặc trưng giống đề cương bệnh Thiếu âm, sẽ chữa khỏi bệnh sốt rét theo lệ chữa bệnh Thiếu âm
Các bệnh khác đều theo tôn chỉ ấy Dĩ nhiên là phải sử dụng phương dược cho thích đáng có gia giảm, số lượng thuốc nhiều hay ít, hoặc phối hợp hai, ba phương trong một bệnh tùy từng trường hợp
Qua đó chứng minh rằng phương pháp trị bệnh của Trọng Cảnh chữa môi trường thụ bệnh mà khỏi bệnh
NGUYÊN TẮC QUÂN BÌNH ÂM DƯƠNG TRONG SÁU LOẠI BỆNH
HÌNH TAM DƯƠNG VÀ TAM ÂM
Ba loại bệnh tam dương đều là chứng thực thuộc bản chất nhiệt tức là dương thiên thắng phương pháp trị liệu đại khái như bệnh Thái dương môi
Trang 25trường thụ bệnh ở cơ biểu, dùng thuốc phát hãn để khu trục bệnh tà; bệnh Thiếu dương môi trường thụ bệnh ở bán biểu bán lý, dùng thuốc hòa giải để khu trục bệnh tà; bệnh Dương minh, môi trường thụ bệnh ở vị, trường; nếu là trường hợp chứng Dương minh phủ, sẽ dùng thuốc hạ để khu trục bệnh tà; nếu trường hợp là chứng Dương minh kinh, sẽ dùng thuốc thanh giải để khu trục bệnh tà v.v… những phép phát hãn, hòa giải, hạ, thanh giải là những phương tiện khác nhau để khu trục bệnh tà mà cứu cánh chung vẫn triệt bớt phần dương thiên thắng để phục hồi thế quân bình âm dương trong cơ thể, đem lại trạng thái chính thường Đó là “tà khứ chính an” (khu trục hết bệnh tà thì chính khí trở lại
an toàn)
Ba loại bệnh tam âm đều là chứng hư thuộc bản chất hàn, tức là âm thiên thắng (âm thiên thắng chủ yếu là do dương suy) Phương pháp trị liệu lại khác hẳn: không dùng những phép phát hãn, hòa giải, hạ, thanh giải như trên, mà cả
ba loại bệnh đều chỉ dùng phép ôn bổ để khu trục bệnh tà Tuy phương dược của từng loại bệnh có khác nhau, mà căn bản những phương dược ấy vẫn nhằm mục đích ôn bổ, nghĩa là bù phần dương thiếu chủ yếu trị vào căn nguyên của phần âm thiên thắng, phục hồi thế quân bình âm dương trong cơ thể; một khi cơ năng đầy đủ sẽ tự khu trục bệnh tà bằng cách tự hãn, tự hạ, tự giải , tự nâng cao nhiệt năng v.v…tùy thuộc môi trường thụ bệnh nông sâu, hay bệnh tình nặng hay nhẹ, bệnh thế hoãn cấp, đem lại trạng thái chính thường cho cơ thể Đó là chính an tà khứ (chính khí trở lại an toàn sẽ tự khu trục bệnh tà đi hết)
Qua kinh nghiệm lâm sàng của chúng tôi: những bệnh tam âm do đờm ẩm, thủy khí tích tụ quá nhiều trong cơ thể như bệnh cổ chướng, bệnh phù thũng v.v… có thể dùng thuốc ôn hạ để khu trục đờm ẩm, thủy khí ra ngoài qua đường đại tiện, rồi dùng thuốc ôn bổ, chính khí trở lại, sẽ tự khu trục thủy khí, đờm ẩm ra ngoài trước khi khỏi bệnh Nếu bệnh nhẹ hơn thì sẽ không có sự bài tiết thủy khí, đờm ẩm mà khỏi bệnh
Nếu không nắm vững quy tắc ấy, chữa bệnh tam dương bằng phương pháp trị bệnh tam âm, sẽ có thể gây tai họa cho bệnh nhân Chữa bệnh tam âm bằng phương pháp trị bệnh tam dương sẽ có thể xảy ra biến chứng, có những trường hợp thành hoại bệnh không cứu vãn được với quy tắc trị liệu bệnh tam dương
và tam âm trên đây, và qua quá trình thực tiễn kinh nghiệm quá trình lâm sàng của bản thân, chúng tôi rút ra một nguyên tắc như sau:
Dương thịnh âm suy thì phải phạt dương để cứu âm (bớt dương đi để phục hồi thế quân bình)
Trang 26 Âm thịnh dương suy thì phải bổ dương để chống âm (thêm dương vào
để phục hồi thế quân bình)
Như thế có nghĩa là :
Dương thiên thắng thì thương tổn âm tức tân dịch (nội tiết và ngoại tiết), cho nên phải triệt bớt dương để bảo vệ âm, bởi vậy dương thiên thắng không có phép bổ âm mà chỉ có phép triệt bớt dương để phục hồi thế quân bình (đó là phép nhiệt giả hàn chi trong sách Nội kinh)
Âm thiên thắng chủ yếu là dương suy, nên phải bổ dương để chống
âm, bởi vậy âm thiên thắng không có phép triệt bớt âm mà chỉ có phép
bổ dương để phục hồi thế quân bình (đó là phép hàn giải nhiệt chi trong sách Nội kinh)
Nguyên tắc quân bình âm dương về loại bệnh tam âm giải quyết như vậy là rất khoa học, khác nào như giải một bài toán về đại số, muốn hạ giá trị tuyệt đối của một con số âm (-) thì phải cộng thêm một con số dương (+), chứ không phải bớt âm (-) bằng cách trừ âm (-)
Ngoài ra Trọng Cảnh đôi khi cũng phối hợp châm cứu với phương dược
Để nâng cao hiệu quả trị liệu và tiết kiệm thuốc, chúng ta cũng có thể làm như vậy
Theo chúng tôi nghĩ, việc phối hợp này dựa tên nguyên tắc: công thức, mức độ châm cứu và phương thang phải thống nhất với nhau để cùng đạt mục đích quân bình âm dương, cụ thể là:
Đối với bệnh tam dương, bản chất dương thiên thắng, phép chữa là phạt dương (phát hãn, hòa giải, tả, thanh giải) để cứu âm, nên dùng phép châm
Trong mỗi bệnh hình tam dương có phân ra :
Một chứng thực tương đối mà Trọng cảnh kèm thêm tiếp vị ngữ trúng phong, nên dùng phép châm tả là chủ yếu
Một chứng hư tương đối mà Trọng Cảnh kèm thêm tiếp vị ngữ thương hàn, nên dùng phép châm bổ, hoặc bình bổ, bình tả là chủ yếu
Đối với bệnh tam âm, bản chất dương suy, phép chữa là bổ dương (ôn bổ), nên dùng phép ôn châm và cứu là chủ yếu
Xin chú ý những điều sau đây:
Dương thiên thắng, do nhiệt làm tiêu hao tân dịch mà gọi là dương thịnh
âm suy, có nghĩa là vì dương thịnh làm thương tổn âm, âm là tân dịch Gọi tân dịch là âm, bởi sự chuyển hóa trong cơ thể tạo thành tân dịch (nội tiết và ngoại
Trang 27tiết) đòi hỏi nhiều năng lượng Bệnh tam dương dùng biện pháp công, tả, hòa giải, thanh giải đều là phương pháp phạt phần dương thừa Nếu không phạt dương kịp thời, thì nhiệt sẽ làm tiêu hao tân dịch (âm), như vậy là vì dương làm thương tổn âm, chứ không phải vì thiếu âm mà sinh ra phát nhiệt (đây là chân tượng nhiệt) Do thiếu khách quan do nhận định, lấy quả làm nhân, khiến cho hiểu nhầm như thế Chúng ta chớ thấy người xưa dùng lương dược, âm dược đề hòa giải nhiệt, thanh giải nhiệt - phạt phần dương thiên thắng - mà cho là bổ
âm Quan niệm như vậy là sai nguyên tắc quân bình âm dương Nên hiểu theo nghĩa nhiệt giả hàn chi
Âm thiên thắng, tức là dương suy, không đủ năng lượng cần thiết để chuyển hóa thành tân dịch, mà thành ra dương suy tới một mức độ nào đó thành
ra âm cũng hư, trên thực tế có nghĩa là thiếu tân dịch (âm) Do thiếu tân dịch,
cơ thể sinh ra những giả tượng nhiệt (khát nước, khô môi, lở lưỡi, lở miệng, mặt đỏ, phát trào nhiệt, đại tiện táo…) Cũng bởi nhận xét thiếu khách quan, người ta cho là âm hư phát nhiệt, có nghĩa là vì thiếu âm mà sinh ra phát nhiệt Cũng do sự lấy quả làm nhân như trên, không phân biệt chân tượng nhiệt và giả tượng nhiệt, dẫn đến hiểu nhầm là âm hư mà phát nhiệt, nên quen dùng phương pháp bổ âm để chữa như chữa các bệnh dương thiên thắng Đó cũng là làm sai nguyên tắc quân bình âm dương (đáng lẽ phải bổ dương)
Trong ba loại bệnh âm thiên thắng, để khôi phục thế quân bình âm dương, chủ yếu dùng phép ôn bổ (bổ dương) Gặp trường hợp giả tượng nhiệt, biểu hiện một cách trầm trọng, thêm vào những bài thuốc ôn bổ phải tạm thời dùng một vài vị lương dược để giải quyết giả tượng nhiệt ấy; khi giả tượng nhiệt đã hết, bỏ ngay lương dược để ôn dược phát huy đầy đủ tác dụng trong việc giải quyết mâu thuẫn âm dương trong cơ thể Khi thế quân bình âm dương trong cơ thể đã được khôi phục, giả tưởng nhiệt mất hẳn, đồng thời bệnh khỏi và người trở nên khỏe mạnh
Quân bình âm dương là thống nhất hai mặt mâu thuẫn, khả năng phát sinh
và khả năng tiêu hao sinh lực, đưa đến một thế cân đối âm dương
Âm dương trong y lý là hai cái thế so sánh giữa tổng sinh lực cơ thể tiêu hao đi, lấy một thế quân bình làm tiêu chuẩn (âm dương là hai tỷ lệ, chứ không phải là hai trạng thái đơn độc) Mỗi người có một thế bình quân âm dương, luôn biến chuyển theo những tác động phức tạp của sinh lý cơ thể Nghĩa là trạng thái động, không phải là trạng thái tĩnh ; không nên cho rằng âm dương là hai khối lực lượng bí hiểm nào đó quân bình ngang nhau trong cơ thể con người
Trang 28Ý NGHĨA CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG LUẬN TRỊ
Nói về biện chứng luận trị, chúng tôi xin phân biệt hai danh từ chứng hậu
và chứng trạng khác nhau như thế nào :
Chứng trạng là những hiện tượng phát nhiệt, sợ rét, nhức đầu, ẩu thổ, nói
mê, lưỡi đen, lạnh chân v.v…
Chứng hậu là nhóm chứng trạng đồng thời cùng phát, tổng hợp thành một
đề cương của một bệnh hình nào đó trong sáu loại bệnh hình tam dương và tam
âm
Những bệnh mà cùng một bệnh danh mà khác chứng hậu và mạch tượng thì phép trị bệnh khác nhau; những bệnh có bệnh danh khác nhau
mà chứng hậu và mạch tượng giống nhau thì phép trị bệnh cùng chung một phương pháp
Xin thuyết trình cụ thể :
Ví dụ chuẩn đoán bệnh phế viêm Ngoài những chứng trạng biểu hiện bệnh phế viêm, lại có chứng hậu; phát nhiệt, sợ gió, đau khớp xương, đau mình, đau lưng, phát suyễn, không có mồ hôi, mạch phù khẩn: đó là bệnh phế viêm thuộc phạm trù bệnh Thái dương, phải uống bài Ma hoàng thang để phát hãn thì khỏi
Bệnh phế viêm mà có chứng hậu : trong lồng ngực và hai bên sườn đầy hơi bí bích lắm, người lìm lịm không muốn ăn uống, mạch phù tế Đó
là bệnh phế viêm thuộc phạm trù bệnh Thiếu dương, phải uống bài Tiều sài hồ thang để hòa giải thì khỏi
Bệnh phế viêm mà có chứng hậu : khạc ra đờm, trong nhực bĩ ngạch (tình trạng bế tắc, cứng rắn), không nằm yên được, khí xung lên yết hầu, thốn mạch vi phù, đó là bệnh phế viêm thuộc phạm trù bệnh Thái dương mà bệnh độc uất trệ ở hung bộ, nên phải uống bài Qua đế tán cho thổ ra thì khỏi
Bệnh phế viêm mà có chứng hậu: không đi đại tiện được, phúc bộ đầy cứng, phát suyễn, trào nhiệt, nói mê, mạch trầm trì có lực, đó là bệnh phế viêm thuộc phạm trù bệnh Dương minh, phải uống bài Đại thừa khí thang để hạ thì khỏi
Bệnh phế viêm mà có chứng hậu : phát nhiệt, sợ rét, chân tay lạnh, mắt như buồn ngủ, mạch vi tế, đó là bệnh phế viêm thuộc phạm trù bệnh Thiếu âm, phải uống bài Phục linh tứ nghịch khứ sâm gia quế thang, thêm tế tân, chế bán hạ, để ôn bổ thì khỏi
Trang 29Năm trường hợp bệnh phế viêm, mỗi trường hợp chữa một khác, vì chúng cùng một bệnh danh mà môi trường phát bệnh và bản chất phát bệnh khác nhau
Một ví dụ khác: chẩn đoán bệnh phế kết hạch, bệnh trường viêm, bệnh thận viêm chẳng hạn Nếu ba bệnh ấy, ngoài những chứng trạng biểu hiện về từng bệnh, lại có chứng hậu trong lồng ngực và hai bên sườn đầy hơi bí bích lắm, mạch phù tế, chứng hậu và mạch tượng cùng giống nhau, thì chữa cả ba bệnh ấy theo lệ chữa bệnh Thiếu dương, vì bệnh danh tuy khác nhau mà môi trường và bản chất của bệnh là một Nếu ba bệnh ấy đều có chứng hậu phát nhiệt sợ rét, chân lạnh, mắt như buồn ngủ, mạch vi tế, chứng hậu và mạch tượng cùng giống nhau, thì chữa cả ba bệnh ấy theo lệ chữa bệnh Thiếu âm, vì bệnh danh tuy khác nhau mà môi trường và bản chất của bệnh là một
Nhà danh y Nhật Bản Đại Trủng Kinh Tiết nói về tôn chỉ của Thương hàn luận: “Kỳ chứng nhược đồng tắc vạn bệnh nhất phương; kỳ chứng nhược dị tắc nhất độc vạn phương”, nghĩa là một phương thuốc có thể chữa muôn bệnh khác nhau, nếu những bệnh ấy có chung một chứng hậu (những bệnh ấy có cùng chung một môi trường, một bản chất); những bệnh có cùng chung một bệnh danh mà chứng hậu của chúng khác nhau (môi trường và bản chất của những bệnh ấy khác nhau), thì những bệnh cùng một bệnh danh ấy sẽ chữa với muôn phương thuốc khác nhau Có thể lấy câu ấy tổng kết phép biện chứng luận trị
Có lẽ có người sẽ hỏi tại sao không thêm những vị hàn lương như sinh địa, mạch môn v.v… để chuyên chữa bệnh phế viêm vào những bài thuốc trong năm trường hợp chữa bệnh phế viêm ở trên đây? Xin trả lời rằng: những bài Ma hoàng thang, Tiểu sài hồ thang, Qua đế tán, Đại thừa khí thang là những bài thuốc không trực tiếp chữa bệnh phế viêm, mà chúng là những phương đi đôi với pháp để chữa những bệnh thuộc phạm trù bệnh tam dương, cho nên không phải thêm vị nào khác Ví dụ như bệnh phế viêm thuộc loại bệnh Thái dương, pháp là phát hãn, phương là Ma hoàng phương, uống thuốc cho ra mồ hôi thì khỏi
Bệnh phế viêm thuộc loại bệnh Thiếu dương, pháp là hòa giải, phương
là Tiểu sài hồ thang, uống thuốc cho môi trường bán biểu, bán lý được hòa giải thì khỏi
Bệnh phế viêm thuộc loại bệnh Thái dương mà bệnh độc uất trệ ở hung bộ, pháp là thổ, phương là Qua đế tán, uống thuốc cho thổ ra thì khỏi
Trang 30 Bệnh phế viêm thuộc loại bệnh Dương minh, pháp là hạ, phương là Đại thừa khí thang, uống thuốc cho đi ngoài được thì khỏi
Dùng phép hãn, hòa giải, thổ, hạ, là những phép để triệt bớt phần dương thiên thắng nhằm khôi phục thế quân bình âm dương trong cơ thể Khi cơ thể thống nhất mâu thuẫn giữa âm và dương thì sẽ tự chữa khỏi bệnh
Còn những bệnh thuộc phạm trù bệnh tam âm, pháp của ba loại bệnh Thái
âm, Thiếu âm và Quyết âm đều là ôn bổ (bổ dương), cho nên dùng những bài
ôn bổ có thể gia những vị trực tiếp chữa một bệnh nào đó, ví như bệnh phế viêm thuộc loại bệnh Thiếu âm, dùng bài Phục linh tứ nghịch khứ sâm gia quế thang, thêm binh lang, hậu phác chẳng hạn Tuy nhiên, gặp trường hợp bệnh lý thuộc loại bệnh Thiếu âm quá nặng, phát nhiệt cao độ, mệt lắm, có thể nguy ngay, chúng tôi chữa với Tứ nghịch, không gia vị nào khác, lỵ thuộc loại bệnh Quyết âm, dùng bài Ô mai hoàn, gặp trường hợp âm quá thiên thắng, chúng tôi
sử dụng bài Ô mai hoàn, bỏ sâm, quy, liên, bá, đều khỏi Khi âm dương được cân đối trong cơ thể sẽ tự khỏi bệnh
Qua đó thấy rằng Đông y chữa người bệnh nhân nhằm bảo toàn sinh lực, sức khỏe cũng trở lại nhanh chóng
Chúng ta thấy trị bệnh theo phép biện chứng của Trọng Cảnh, pháp và phương đi đôi với nhau như hình với bóng, đơn giản, cụ thể và rõ ràng, tránh được nhiều điều ức đoán trong chuẩn trị, ít phạm sai lầm, thực là một phát minh lớn của Đông y nói chung, của Kinh phương nói riêng
MẠCH THƯỜNG VÀ MẠCH BIẾN CHÂN TƯỢNG VÀ GIẢ TƯỢNG
Do đó, y gia Trung Quốc cũng như Nhật Bản đã có người đưa ra ý kiến: mạch hiện ra có khi thường có khi biến, chứng hiện ra có khi chân có khi giả Đại ý nói rằng mạch và chứng phát hiện không máy móc, một chiều, khi thế này, khi thế khác mà vẫn theo quy luật khách quan Cùng một ý trên, có người
Trang 31phát biểu: có khi phải xả mạch cầu chứng và có khi phải xả chứng cầu mạch Nghĩa là có trường hợp phải dựa theo chứng mà bỏ mạch để nhận định bệnh, có trường hợp phải dựa theo mạch mà bỏ chứng để nhận định bệnh Vấn đề được đặt ra mà chưa cụ thể hóa rõ ràng
Chúng tôi xin phép được giải thích thế nào là mạch thường và mạch biến, chân tượng và giả tượng:
Mạch thường là mạch hiện ra theo quy luật thông thường, mạch biến là mạch hiện ra không theo quy luật thông thường, vì trong cơ thể lúc ấy nhân có một điều kiện khách quan xảy ra khiến cho mạch biến thành một giả tượng của mạch Chân tượng là hiện tượng đúng với bản chất của bệnh Giả tượng là hiện tượng trái với bản chất của bệnh cũng do một điều kiện khách quan xảy ra trong
cơ thể lúc ấy
Bởi vậy cho nên gặp trường hợp đặc biệt này, chúng ta cần phải thận trọng suy xét xem mạch tượng nào là mạch thường, mạch nào là mạch biến Cũng như chứng trạng nào là chân tượng, chứng trạng nào là giả tượng, mới quyết định được bệnh hình nào trong sáu loại bệnh hình
Sự biến đổi này không phải là ngẫu nhiên vô kỷ luật, mà là tính phổ biến của quy luật hỗ tương tác động ở sự vật Chúng ta cần phải chú ý
Cụ thể chúng tôi đã từng gặp những trường hợp mạch hiện ra sác mà chứng hậu hiện ra hoàn toàn đúng như đề cương của bệnh Thiếu âm, ngoài ra còn có vài ba chứng trạng coi như là nhiệt Những trường hợp này, chúng tôi theo chứng, bỏ mạch Khi chẩn mạch thấy mạch sác (có khi mạch động đến 100 lần trong một phút) Nhưng nhận xét kỹ thì thấy mạch động nhanh mà yếu, trọng ấn càng thấy rõ Như thế mạch sác mà vô lực Chúng tôi cho rằng bản thể của tim vốn suy nhược, nhưng tim phải gắng sức co bóp nhanh để bảo trợ cho việc tuần hoàn, do đó phát sinh giả tượng mạch sác Sau khi bệnh nhân uống mấy thang thuốc ôn bổ, mạch trở nên vi tế đúng với mạch tượng của bệnh Thiếu âm Bệnh nhân tiếp tục uống thuốc ôn bổ thì khỏi bệnh Điều đó chứng minh giả thuyết của chúng tôi
Lại có những trường hợp mạch hiện ra vi tế, chứng hậu hiện ra không hoàn toàn đúng như đề cương của bệnh Thiếu âm, mà có những chứng trạng coi như
là nhiệt: phát nhiệt cao độ mà sợ rét, mặt đỏ, miệng khô, có mụn ở lưỡi và ở trong miệng, không khát, đau đầu, mất ngủ, người mệt nhọc lắm Những trường hợp này, chúng tôi theo mạch, bỏ chứng
Chúng tôi cho đó là bệnh Thiếu âm, vì dương quá suy, không đủ khả năng chuyển hóa thành tân dịch, sinh ra giả tượng nhiệt (căn cứ vào bệnh tình: phát
Trang 32nhiệt mà sợ rét, miệng khô, lở loét mà không khát nước cũng đủ chứng tỏ là giả nhiệt) Chúng tôi chữa với những bài Tứ nghịch gia hoàng liên hay là mật lợn (để tư trợ tân dịch) đều khỏi bệnh
Chúng tối thấy trường hợp theo chứng bỏ mạch nhiều hơn theo mạch bỏ chứng, cụ thể ở những bệnh mất mạch Theo phép biện chứng, vẫn có thể có sơ
sở vững chắc: dựa vào chứng hậu đề cương của bệnh hình nào sẽ chữa theo lệ chữa bệnh hình ấy Còn những bệnh không phát hiện đầy đủ như một đề cương cần có thể tế nhận hiện tượng để phân biệt tạng hàn, tạng nhiệt (như chúng tôi
đã trình bày cụ thể ở trên) và căn cứ vào bệnh tình nữa Thấy bệnh nhân thuộc vào người tạng nhiệt, theo chứng trạng mà quy nạp vào loại bệnh Tam dương; bệnh nhân thuộc vào người tạng hàn, theo chứng trạng mà quy nạp vào loại bệnh Tam âm Với tinh thần thận trọng, quan sát kỹ lưỡng, chúng tôi tin rằng không đến nỗi phạm sai lầm đáng tiếc
Mạch có khi thường, có khi biến, chứng có chân tượng, giả tượng, cho thấy sự thật nằm trong thực tại hiện ra dưới nhiều hình thức ở bên ngoài, đổi thay chuyển hóa theo điều kiện chủ quan và khách quan, biến diễn luôn luôn ở
sự vật
Cơ thể con người là một khối thống nhất và tổng hợp, các chức năng sinh
lý, bệnh lý có ảnh hưởng qua lại chặt chẽ với nhau, diễn biến theo quy luật này hay quy luật khác, phổ biến và nhất định, tạo thành những hiện tượng cụ thể Bởi vậy, khi chuẩn đoán, thầy thuốc nhìn nhận toàn diện mạch và chứng phối hợp với nhau, không bỏ sót khía cạnh nào, đem tổng hợp lại sẽ thấy bản chất và nguyên nhân phát bệnh Như vậy tránh khỏi những giả tượng lừa dối
Đông y chữa theo nguyên nhân phát bệnh và bản chất hàn hay nhiệt của bệnh, không chữa theo hiện tượng (bệnh danh) và cục bộ
Trọng Cảnh cho rằng hết thảy những cái gì ngoại lai như lục dâm: phong, hàn, thử, thấp, táo, hỏa, cho đến vi khuẩn, siêu vi khuẩn, vào trong cơ thể con người, phát bệnh sẽ theo tính chất của môi trường mà phát thành bệnh có tính chất hàn hay nhiệt Do đó, Đông y chữa môi trường phát bệnh, hay là chữa con người bệnh, chứ không chữa bệnh Bởi vậy, chữa bệnh truyền nhiễm, Trọng Cảnh chú trọng vấn đề bài trừ vi khuẩn độc (độc tố của vi khuẩn) ra ngoài cơ thể, bởi vì vi khuẩn độc trực tiếp gây nên bệnh, và điều kiện đã cho phép vi khuẩn sinh ra và lan rộng ra; đồng thời phải bảo vệ sinh lực của người bệnh (xin nói thêm trong phần Tâm đắc) Ví như chữa bệnh dịch tả chẳng hạn, cùng một thời gian, cùng một địa điểm, mà thường phải chữa mỗi bệnh nhân một khác, tùy thuộc sự chuẩn đoán theo phương pháp biện chứng luận trị Không
Trang 33thể dùng một bài thuốc đem chữa khắp Chữa như vậy có thể gây nên nguy hiểm cho những ai gặp phải thuốc không hợp với tạng hàn hay tạng nhiệt của mình
Trở lại vấn đề chữa bệnh theo chứng bỏ mạch, hay theo mạch bỏ chứng, là rất tế nhị trong việc nhận thức của Đông y ở những trường hợp khá đặc biệt này, cần phải thận trọng, chu đáo và có nhiều kinh nghiệm
Trang 34KHÔNG NẮM VỮNG NGUYÊN TẮC QUÂN BÌNH ÂM DƯƠNG CHỮA
BỆNH SAI LẦM MÀ KHÔNG BIẾT
Nếu không quán triệt nguyên tắc quân bình âm dương, chữa bệnh có khi dùng thuốc sai lầmlầm mà không biết Thực tế đã chứng minh: bệnh hàn uống nhầm thuốc hàn lương, vì dược tính trầm giáng, nó lắng bệnh xuống hình như
là dùng thuốc đúng bệnh, vả lại bệnh hàn này có chứng giả thiệt đỡ ngay Do đó thầy thuốc cũng như bệnh nhân đều tin tưởng là thuốc đã đúng bệnh Nào ngờ uống nhiều thuốc hàn lương - số lượng đổi thành chất lượng - tiềm tàng tích lũy, âm càng thiên thắng, đến thời kỳ bột phát sinh ra biến chứng: nào bỏ ăn, mất ngủ, nào phù thũng, nào cổ chướng, nào đường tiết, nào suyễn tức, kéo dài thời gian rồi thiệt mạng
Người xưa đã cảnh báo: “Nhiệt ngộ nhiệt tắc cuồng, hàn ngộ hàn tắc tử” (bệnh nhiệt uống nhầm thuốc ôn nhiệt thì điên, bệnh hàn uống nhầm thuốc hàn lương thì chết) Bệnh nhiệt uống nhầm thuốc nhiệt sao lại không chết? Bởi vì thuốc nhiệt, do dược tính thăng phù, nó bốc lên thành điên cuồng, biết ngay là chữa sai mà kịp thời đổi thuốc, cho nên không chết Đó là nói trường hợp bệnh nhiệt vừa, nếu gặp loại bệnh Dương minh (bệnh cực nhiêt) mà cho uống nhầm thuốc nhiệt thì khó lòng cứu vãn được Còn bệnh hàn, nếu uống nhầm thuốc hàn lương mà bệnh nhân chết ngay thì biết được là chữa sai lầm, sẽ rút kinh nghiệm về sau Khốn nỗi chữa sai mà bệnh lại đỡ, rồi đột nhiên biến chứng, dai dẳng mãi bệnh nhân mới chết, cho nên thầy thuốc không biết rằng mình đã chữa sai
Trường hợp như thế này đâu phải là ít, nhưng mấy ai để tâm nhận xét để rồi rút kinh nghiệm về sau, chỉ coi đó là việc tự nhiên, lý do bởi bước đầu đã thấy công hiệu! Rồi kết luận: “Chữa được bệnh, không chữa được mệnh”
Cũng có khi bệnh sơ phát thuộc loại bệnh tam dương ôn nhiệt, vì dùng thuốc chưa đúng với bệnh làm cho bệnh kéo dài thời gian không khỏi; hoặc quá hãn, quá hạ, quá thanh nhiệt, cơ năng bệnh nhân suy giảm dần dần đổi thành bệnh tam âm mà không biết, vẫn đinh ninh là bệnh tam dương, vì thấy một vài chứng nhiệt (giả tương) còn phát hiện!
Chữa bệnh không biệt mạch thường mạch biến, không nhận định chân tượng giả tượng là những hiện trạng thực tế của bệnh đang diễn biến trong cơ thể bệnh nhân, mà chỉ dựa vào chủ quan với thành kiến bất di bất dịch của mình như: dương thường hữu, âm thường bất túc, âm hư phát nhiệt, lục khí đô tòng hóa hỏa v.v…và những hiện tượng phiến diện, gặp trường hợp bệnh tam âm có
Trang 35giả tượng nhiệt, mà chữa theo phép bổ âm thoát nhiệt, tư âm giáng hỏa là không đúng nguyên tắc quân bình âm dương, là một tai họa! Cách trị liệu sai trái như thế đem lại hậu quả có hại lâu dài, Đông y cần phải kịp thời bổ cứu
Nắm được nguyên tắc quân bình âm dương sẽ hiểu chữ “bổ” của Trọng Cảnh có nghĩ là “bù cái thiếu” để khôi phục thế quân bình âm dương Tác dụng của quân bình âm dương trong cơ thể bao quát cả trị bệnh và bồi bổ sức khỏe con người bởi vì chính khí an toàn, không những đã khỏi bệnh mà còn bảo tồn sinh lực, tất cả những gì cần thiết cho sự sống khỏe mạnh như khí, huyết, tân dịch, các chất v.v… đều được tự chuyển hóa với1 những thức ăn thức uống hàng ngày có tính chất tư dưỡng thích hợp với thể tạng hàn nhiệt của bệnh nhân Sau khi khỏi bệnh không phải uống thêm thuốc bổ khí, bổ huyết, bổ tỳ,
bổ thận v.v… Đó là đặc sắc của Kinh phương
Nguyên tắc quân bình âm dương phù hợp với quy luật khách quan, nó là yếu quyết của phương pháp trị liệu Đông y, là tôn chỉ của Thương hàn luận và Kim quỹ yếu lược
NHỮNG ĐIỂM ĐẶC SẮC CỦA ĐÔNG Y
Chúng tôi xin lược thuật một vài kinh nghiệm của ông Thanh Bản Cầu Chân - một nhà tây y Nhật bản khổ công nghiên cứu “Thương hàn luận” trong mười tám năm - viết trong “Hoàng hán y học” để giới thiệu những điểm đặc sắc của Trọng Cảnh:
ở khí quan B,C, đem dùng những bài thuốc đích đáng với phúc chứng5, thì các bệnh biến ở những khí quan ấy – không cứ là nguyên phát hay tục phát – đều khỏi cả Ví dụ: khí chẩn đoán thấy chứng cố định ở phục bộ như trong lồng ngực, hai bên sườn đầy hơi bí bách lắm, đó là phúc chứng Phương pháp chẩn đoán để biết phúc chứng là phép chẩn phúc
Phối hợp chẩn mạch, chẩn phúc, chẩn thiệt và ngoại chứng là căn bản của việc chuẩn đoán Như thế có thể quyết định được phép trị bệnh, pháp và phương đi đôi với nhau như bóng với hình
Những khí quan ở trong phúc bộ bị bệnh như vị viêm, trường viêm, can tạng viêm, đởm nang viêm, phế kết hạch, tâm tạng bệnh, cước khí, sốt rét, nếu
Trang 36thất những bệnh ấy có kèm theo phúc chứng: trong lồng ngực, hai bên sườn đầy hơi bí bích lắm hợp với mạch tượn, thiệt chứng và ngoại chứng của nó (Phúc chứng giống như đề cương của bệnh Thiếu dương, cho nên những bệnh kể trên đều thuộc phạm trù bệnh Thiếu dương, cho nên những bệnh kể trên đều thuôc phạm trù bệnh Thiếu dương, cho nên những bệnh kể trên đều thuộc phạm trù bệnh Thiếu dương - lời người thuật) Sẽ chọn dùng một bài thuốc trong những bài có vị Sài hồ làm chủ như bài Tiểu sài hồ thang, Đại sài hồ thang, Sài hồ khương quế thang,… (là những bài thuốc chữa loại bệnh Thiếu dương - lời người thuật) thì những bệnh ấy sẽ khỏi Nếu chẩn đoán sai tên bệnh, ví như bệnh phế viêm nhầm là bệnh viêm, bệnh hung mô viêm về phía hữu, nhầm là can tạng bệnh, nhưng chẩn đoán phúc chứng không nhầm, chữa theo phương pháp ấy vẫn khỏi
Cùng một lý ấy, chẩn đoán khó khăn, tuy chưa xác định được tên bệnh, nhưng theo phép chẩn đoán trên đay mà chữa thì vẫn không sai, quyết không làm cho kéo dài thời gian điều trị, cũng không làm cho không thể vãn hồi nguy biến
Cũng cùng một lý ấy, những trường hợp người bệnh đã bị bệnh mà không biết, trông bề ngoài vẫn khỏe mạnh, nếu dùng phương pháp chẩn phúc biết được gốc bệnh ẩn náu ở chỗ nào trong phúc bộ, thì có thể tiêu trừ bệnh độc trước khi chưa phát hiện Trọng Cảnh nói: “thầy thuốc giỏi chữa bệnh từ khi bệnh chưa phát hiện” là thế đấy (đây là ông Than Bản Cầu Chân nói riêng về những trường hợp thuộc loại bệnh Thiếu dương)
Xem đó thấy rằng một vị trí trong phúc bộ bị bệnh (nguyên phát), khí quan
ở trong vị trí ấy tục phát chứng phát viêm, dùng thuốc chứng nguyên phát ở phúc bộ, tức là chữa môi trường phát bệnh mà khí quan tục phát bệnh ở trong mọi môi trường phát bệnh mà không chữa bệnh Cái mà Đông y họi là “bán biểu bán lý” là môi trường ở hung phúc bộ
Xin cử mấy bài làm ví dụ:
Trang 37Công hiệu của bài Đại thừa khí thang:
1 Phát hiện sợ nóng mà không sợ rét, ra nhiều mồ hôi, không ăn được, bụng đầy cứng, đại tiện bí kết, nói mê
2 Đi đại tiện luôn ra thuần nước, không ăn được, miệng lưỡi khô, phía dưới tim đau
3 Trong lồng ngực đầy hô, hai hàm răng xiết chặt lại, nằm ngửa lưng uốn còn, chân co lại, tức là bệnh kính
4 Sản phục ác lộ không ra được, bí đại tiện, trong lòng bứt dứt, phát hiện không ăn được, nếu có ăn thì thổ
Những bệnh này có chứng trạng giống nhau, có chứng trạng khác nhau, có chứng trạng ngược nhau (dĩ nhiên là cũng chung một mahj tượng), mà đều dùng bài Đại thừa khí thang chữa khỏi, vì chúng thuộc phạm trù bệnh Dương minh, mà bài ấy là bài thuốc hạ (hạ phân táo kết) chữa loại bệnh Dương minh Công hiệu của bài Trư linh thang:
1 Mạch phù, phát nhiệt, miệng khát, tiểu tiện không lợi
2 Đại tiện lỏng, tiểu tiện không lợi, khát nước, nôn mửa, ho, trong lòng bứt rứt, mất ngủ
3 Tiểu tiện không lợi hoặc đi rỏ giọt, miệng khát
4 Bệnh ở bàng quang và niệu đạo, đi tiểu buốt, miệng khát
5 Tiểu tiện rỏ giọt ra máu mủ, khát nước hoặc miệng khô, tức là bệnh lậu Những bệnh này đều dùng bài Trư linh thang chữa khỏi, vì chúng thuộc loại bệnh Dương minh
Công hiệu của bài Cắt căn thang:
1 Phát nhiệt sợ gió, nhức đầu, gáy và sống lưng cứng đờ, ngoảnh cổ ra đằng sau khó khăn và đau, không có mồ hôi
2 Phát nhiệt sợ gió, không có mồ hôi, tiểu tiện ít, khí ở hạ tiêu đưa lên ngực, hai hàm răng xiết chặt lại không nói được
3 Bệnh Thái dương và bệnh Dương minh cùng phát (hợp bệnh), đi đại tiện lỏng
4 Bệnh ma chẩn (lên sởi), bệnh đan độc, bệnh não mô viêm (thuộc tạng nhiệt)
Những bệnh này đều dùng bào Cắt căn thang chữa khỏi, vì chúng thuộc phạm trù bệnh Thái dương, mà bài ấy là một trong những bài phát hãn giải nhiệt thuộc loại bệnh Thái dương
Công hiệu của bài Lý trung thang hoặc hoàn:
1 Đầy bụng mà thổ, không ăn được, đi đạu tiện lỏng, ê ẩm đau bụng
Trang 382 Hoắc loạn, nhức đầu, phát hiện sốt rét, mình mẩy đau, không khát nước
3 Kém ăn hoặc ăn khó tiêu, đại tiện phân sền sệt không thành khuôn, ăn thức ăn có tính chất mát đi ngoài phân lỏng
Những bệnh này đều dùng bài Lý trung thang hoặc hoàn chữa khỏi, vì chúng thuộc phạm trù bệnh Thái âm, mà bài ấy là một trong những bài thuốc ôn
bổ chữa bệnh tam âm nhẹ
Công hiệu của bài Phục linh tứ nghịch khứ sâm gia quế thang:
1 Phát nhiệt cao độ mà sợ rét, chân lạnh, mắt buồn ngủ, nói mê trằn trọc, tay chân vật vã
2 Bí đại tiểu tiện, ra nhiều mồ hôi, phát hiện sợ rét, tay chân lạnh buốt (quyết nghịch), nằm trằn trọc, tay chân vật vã
3 Đau khớp xương, tay chân hay máy giật, chóng mặt, váng đầu, hoa mắt, hay nhãng trí, buồn bực
Những bệnh này đều dùng bài Phục linh tứ nghịch khứ sâm gia quế thang chữa khỏi, vì chúng thuộc phạm trù bệnh Thiếu âm, mà bài ấy là một trong những bài thuốc ôn bổ chữa bệnh tam âm nặng
Công hiệu của bài Ô mai hoàn:
1 Phát nhiệt cao mà sợ rét, tay chân lạnh buốt, thổ ra giun, không muốn
ăn, hơi nóng đưa từ dưới bụng lên tim, làm tim đau, khát nước (tiêu khát), nằm trằn trọc, vật vã
2 Đi lị, lý cấp hậu trong, phát hiện nhiệt hoặc không, không ăn được, khát nước, mệt nhọc lắm
3 Đi đại tiện thất thường, thỉnh thoảng đau bụng, ăn khó tiêu, bụng đói mà miệng không muốn ăn, có giun đũa hoặc giun kim
Những bệnh này đều dùng bài Ô mai hoàn chữa khỏi, vì chúng thuộc phạm trù bệnh Quyết âm, mà bài ấy là một trong những bài thuốc ôn bổ chữa bệnh tam âm nặng
Qua kinh nghiệm, cùng với một số y gia nước ngoài, như ông Thang Bản Cầu Chân, với những đặc điểm về phương dược trên đây, suy ra sáu loại bệnh hình, chúng ta có thể tin được rằng Trọng Cảnh tinh giản hóa và hệ thống hóa
có tính cách lập thành học thuyết Lục kinh vào sáu loại bệnh hình, thành lập phương pháp biện chứng luận trị chữa khỏi đa số bệnh tật, không còn là vấn đề hoài nghi nữa
Trang 39TÓM TẮT NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA ĐÔNG Y THEO
PHƯƠNG PHÁP BIỆN CHỨNG LUẬN TRỊ CỦA TRƯƠNG TRỌNG
CẢNH
Nói tóm lại, phương pháp biện chứng luận trị của Trương Trọng Cảnh: lý luận có hệ thống, thi trị có quy tắc, pháp và phương đi đôi ăn khớp với nhau như hai bánh xe răng tron một bộ máy Trước sau nhất quán dựa trên cơ sở triết học coi cơ thể con người là một chỉnh thể tổng hợp và thống nhất (cả thể chất lẫn tinh thần) vốn có một lực lượng tự tổng hợp để đề kháng chống mọi bệnh tật xây dựng một phương châm trị liệu là áp dụng những biện pháo để phát huy
và bồi dưỡng các lực lượng tự đề kháng của cơ thể con người Nội dung có thể thâu tóm thành mấy quan điểm then chốt sau đây coi như những nguyên tắc cơ bản:
1 Cơ thể con người hoạt động bình thường - tức là khỏe mạnh - là do các
cơ quan sinh lý trong thân thể luôn luôn giữ được thế quân bình giữa mâu thuẫn cơ bản của hai cái thế gọi là âm và dương (âm dương theo nghĩa về y lý giải thích cụ thể ở trên là hai cái thế giữa tổng sinh lực cảu
cơ thể phát sinh và tổng sinh lực cơ thể hao đi) Nguyên nhân phát sinh
ra bệnh là mất sự quân bình âm dương trong cơ thể bệnh nhân
2 Bệnh mang tính chất cơ bản của môi trường nguyên nhân phát sinh ra bệnh, chia ra hai loại cơ bản: loại nhiệt và loại hàn Loại nhiệt có tính chất dương thiên thắng, loại hàn có tính chất âm thiên thắng Mỗi loại
có thể có ba mức độ khác nhau: loại bệnh hình về nhiệt, loại hình hàn có
ba bệnh về hàn Đó là nhận xét về phương diện âm dương trong các bệnh con người thuộc sáu bệnh hình
3 Chẩn bệnh phải phối hợp mạch tượng và chứng hậu để quy nạo các thứ bệnh sanh giống nhau hoặc khác nhau vào ba loại bệnh hình về nhiệt và
ba loại bệnh hình về hàn Điều quan trọng là phải phân biệt mạch thường, mạch biến, chân tượng, giả tượng mới tránh khỏi sự sai lầm về bệnh nhiệt, bệnh hàn, cũng như mức độ hàn nhiệt khác nhau trong sáu loại bệnh hình ấy Đó là phương pháp chẩn đoán tìm ra nguyên nhân phát bệnh
4 Trị bệnh và dược phương phải căn cứ vào bệnh hình các dược tính để quân bình âm dương trong cơ thể bệnh nhân theo nguyên tắc:
a Ba loại bệnh hình có tính chất nhiệt tức là ba loại bệnh thuộc dương thiên thắng phải dùng phép hãn, hòa giải, thổ, hạ hoặc thanh giải để
Trang 40triệt bớt dương đi đặng phục hồi thế quân bình trong cơ thể, không có phép bổ âm để phục hồi thế quân bình
b Ba Ba loại bệnh hình có tính chất hàn tức là ba loại bệnh thuộc âm thiên thắng, phải dùng phép bổ dương đăng phục hồi thế quân bình
âm dương trong cơ thể, không cho phép triệt âm đi phục hồi thế quân bình âm dương
c Phục hồi thế quân bình âm dương tức là phát huy và bồi dưỡng các lực lượng tự đề kháng của cơ thể, tạo điều kiện cho tự nhiên liệu năng
tự chữa khỏi bệnh
5 Các dược phương, dược liệu, nói chung các thức có ảnh hưởng đến sinh
lý con người, cả đến thức ăn uống Không khí khô ráo hay ẩm ướt, đều mang tính chất hoặc hàn hoặc nhiệt, phải được cân nhắc phối hợp để đạt tính chất thích hợp với bệnh tình
Trên đây là những quan điểm then chốt, những nguyên lý cơ bản của Đông
y thep phương pháp biện chứng luận trị của Trương Trọng Cảnh mà người ta quen gọi là “Hán y” hay “Kinh phương”
Trong các lý thuyết của Đông y về nguyên nhân cơ bản phát sinh bệnh và các nguyên lý cơ bản chữa khỏi bệnh, chúng tôi đánh giá những nguyên lý cơ bản của phương pháp biện chứng luận trị mà chúng tôi đã cố gắng trình bày ở trên, theo sở đắc của chúng tôi, là có giá trị khoa học cao và có giá trị thực tiễn lớn hơn cả, so với học thuyết của các y gia khác Phương pháp biện chứng luận trj có thể lấy làm cơ sở lý luận khoa học và kinh nghiệm thực tiễn về khoa chữa bệnh của Đông y
Trị bệnh và dược phương sẽ trở thành vấn đề dặt ra một bài toán về cân đối các nguồn năng lượng của bệnh nhân, và những phương thức giải đáp bài toán
đó để bổ sung và bồi dưỡng một cách cân đối thích hợp các nguồn năng lượng
đó
Theo triết lý của trị bệnh và dược phương này, chúng tôi tin Đông y rất có thể kết hợp với tây y đã nghiên cứu sâu sắc, nắm vững được nguyên lý cơ bản của Đông y
LÝ THUYẾT ĐÔNG Y CỦA TRƯƠNG TRỌNG CẢNH CÓ TÍNH CHẤT KHOA HỌC BIỆN CHỨNG
Khoa châm cứu và khoa Đông y của Đông phương đều căn cứ vào thuyết lục kinh, tức là hệ thống kinh lạc trong cơ thể con người
Hiện nay các nhà khoa học chưa nhận thấy hệ thống kinh lạc ấy Nhưng