Nếu không phân biệt bản chất âm dương, tuyệt đối dung dùng âm dược mà chữa, may gặp bệnh dương thiên thắng thì bệnh khỏi, nếu không may gặp bệnh âm thiên thắng, bệnh sẽ biến chứng phiền
Trang 1Lời giới thiệuNhiệm vụ của ngành y tế nước nhà là phải kết hợp tây với đông yĐông y để xây sựng dựng một nền y tế Việt Nam Vốn là một thầy thuốc tây y, tôi rất chú ý tìm hiểu về đông yĐông y.Nhưng qua hơn hai mươi năm học tập, nghiên cứu, đi nghe các lương y giảng giải, chỉ dẫn
về đông yĐông y, tôi vẫn thấy lý thuyết đông yĐông y rất phức tạp, có khi trừu tượng không sao hiểu được
Cách đây hơn một năm, tôi được đọc bản thảo cuốn sách này của cụ Trần Đình Sóc Qua phần trình bày những suy nghĩ của cụ về phương pháp điều trị đông yĐông y cũng như phần tâm đắcTâm đắc (trình bày những ca bệnh, thường là nặng, mà cụ đã chữa khỏi), tôi đã tìm thấy những lời giải đáp có phần nào sáng tỏ.
Trong ba phần của cuốn sách, tác giả đã tích cực bảo vệ quan điểm thống nhất về nguyên lý cơ bản của phương pháp biện chứng luận trị: nguyên nhân cơ bản phát sinh ra bệnh là mất thế quân bình âm dương, nguyên lý cơ bản chữa khỏi bệnh là phục hồi thế quân bình âm dương đó.
Loại trừ những khía cạnh duy tâm, vô lý mà người đã gán ghép cho quan niệm âm dương của triết học phương đông, tác giả đã chứng minh trên các trường hợp cụ thể rằng âm dương bao hàm ở nhiều ý nghĩa vật lý và toán học về năng lượng học Đó không phải là một cái gì bất động, một khối vật chất hay một khối lượng âm dương cụ thể nào
Dương và âm trong y lý phương đông là cái thế so sánh giữa tổng sinh lực của cơ thể tiêu hao đi, lấy một thế quân bình làm tiêu chuẩn Mất quân bình là sinh bệnh, mà phục hồi được quân bình là tạo điều kiện cơ bản để khỏi bệnh
Nhận định này, chúng tôi thấy có phần phù hợp với quan điểm của y học hiện đại mà tô-ni Hoóc (A Horst), dựa vào điều khiển học của Vin-nơ (Wiener) đã trình bày trong Bệnh Lý Phân Tử: “Trong cơ thể, các phản ứng hóa và những hoạt động sống xảy ra theo nguyên tắc tự điều hòa, đưa đến cân bằng động của nội môi… tổng hợp quá mức một chất này, nhưng lại thiếu những chất khác dẫn tới tình trạng cơ thể không điều hòa mà lâm bệnh” (An-tô-ni Hooc, Bệnh
An-Lý Phân tử Cơ thể là một hệ hóa lý tự điều khiển, trang 71 và 82, bản dịch tiếng Việt Nhà xuất bản Y học 1973)
Cách đây gần hai nghìn năm, Trương Trọng Cảnh đã phát hiện vấn đề rối loạn quân bình
âm dương và xếp các loại bệnh thành ba loại bệnh dương và ba loại bệnh âm
Cụ Trần Đình Sóc, qua nhiều năm nghiên cứu đông yĐông y và qua thực tiễn trị bệnh, đã nghiên cứu cặn kẽ bệnh Thiếu âm và bệnh Quyết âm (thuộc ba loại bệnh âm trong y lý của Trọng Cảnh), và đã có những nhận định và phát triển rất độc đáo và về các vấn đề:
• Âm dương trong y lý đông phương
• Nguyên nhân tổng hợp phát sinh bệnh và nguyên nhân cơ bản chữa khỏi bệnh
• Ý nghĩa biện chứng luận trị
• Nhận định bệnh thuộc dương hay thuộc âm với sự phân biệt mạch thường và mạch biến, chân tượng và giả tượng (vấn đề về hiện tượng và bản chất của bệnh hàn và bệnh nhiệt)
• Những nguyên tắc và phương pháp quân bình âm dương, điều trị với những bài thuốc là dược liệu cụ thể
Nhưng chính những nét độc đáo đó của tác giả (trong những quan niệm về y lý, về phương pháp điều trị và dùng dược liệu) mà cuốn sách này sẽ đặt ra không ít những vấn đề khiến nhiều
Trang 2người phải suy nghĩ Tôi được biết tác giả, qua nhiều lần sửa đổi bổ sung, đã cố gắng giải đáp các vấn đề đã đặt ra Song, theo chỗ tôi nhận định, đây chưa phải là một công trình khoa học với đầy đủ tính chất chuẩn xác của nó để có thể thỏa mãm mãn mọi hoài nghi, thắc mắc của độc giả Đây trước hết mới chỉ là những suy nghĩ, những thu hoạch của tác giả qua nhiều năm nghiên cứu
và thực nghiệm được ghi lại với mục đích khiêm tốn là phổ biến tới quần chúng, và trước hết là tới các bạn đồng nghiệp, càng sớm và càng rộng càng hay
Tôi đã gặp nhiều người bệnh được cụ Sóc chữa khỏi, cũng như những người, bằng phương pháp tương tự như cụ Sóc, chữa khỏi nhiều bệnh nhân Ở bệnh viện, chỗ tôi công tác, một số bệnh chữa theo phương pháp rút ra từ cuốn sách này cũng đã thu được những kết quả bước đầu.Thực tế trên, kết hợp với phần tâm đắcTâm đắc mà tác giả đã ghi lại khá tỉ mỉ, cho phép tôi tin rằng cuốn sách sẽ đem lại những lợi ích xứng đáng cho những ai quan tâm đọc nó, vì như người ta thường nói, cuộc sống vốn là một cuốn sách vĩ đại Chúng ta chờ đợi những kết quả trực tiếp theo kiểm nghiệm giá trị của cuốn sách
Cụ Trần Đình Sóc, năm nay đã 75 tuổi, cụ đã viết cuốn sách này giữa lúc đế quốc Mỹ đánh phá miền Bắc ác liệt, bản thân lại đang bị ốm rất nặng, với ý thức tốt đpẹđẹp là muốn góp phần mình vào công cuộc bảo vệ sức khỏe của nhân dân, đông thời góp phần xây dựng nền y học Xxã hội chủ nghĩa của nước nhà Sau này, tuy thường xuyên yếu đau, cụ vẫn để nhiều công chức sức
để sửa chữa và bổ sung cuốn sách.
Trước nhiệt tình các mạng của cụ Sóc, Bác sĩ
Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Văn Hưởng đã quan tâm động viên cụ Sóc nhiều để
Trang 3cụ hoàn thành công việc,
đã ủy nhiệm cho tôi viết vài lời giới thiệu.
Vậy xin trân trọng giới
tham khảo và đóng góp thêm ý kiến, cũng kính mong các đồng nghiệp, nhất là các vị có những
Trang 4Thương hàn luận của ta
ông cha để truyền lại, đặng góp phần xây dựng
hội chủ nghĩa.
Hà Nội, ngày 10 tháng 6 năm 1974
BS Nguyễn Hữu Thuyết.
Trang 5Lời nói đầu
Đã từ lâu, Đảng và Chính phủ ta có chỉ thị khai thác và tận dụng vốn y học cổ truyền (đông yĐông y) là ngành chữa bệnh và phòng bệnh đã phục vụ nhân dân mấy ngàn năm
Chính phủ đã cho thành lập Viên Viện nghiên cứu Đông yĐông y, chúng ta có nhiệm vụ đóng góp phần hiểu biết của mình, trước hết phải cố gắng nắm được nguyên lý cơ bản và phần triết học của đông yĐông y
Có người nói lý thuyết đông yĐông y rất phức tạp: nào âm dương ngũ hành, nào ngũ vận lục khí, nào hàn nhiệt thực hư, quân hỏa tướng hỏa v.v… thực là trừu tượng; các nhà đông yĐông y biện luận mỗi nhà một khác nhau, thiếu cơ sở khoa học Tóm lại, một số người chỉ cho đông yĐông y là một môn trị liệu theo kinh nghiệm chủ nghĩa, có nhiều tính chất siêu hình.Lại có người nói đông yĐông y hợp tác với nhau để khoa học hóa đông yĐông y
Để giải đáp vấn đề thứ nhất, trước hết chúng ta thử nghiên cứu xem đông yĐông y có tính khoa học hay không, hay đúng là một môn trị bệnh theo kinh nghiệm chủ nghĩa Sau sẽ nghiên cứu lý do tại sao các nhà đông yĐông y không thống nhất luận cũng như thực hành trị liệu
Giải đáp vấn đề thức nhất thì vấn đề thứ hai sẽ giải đáp dễ dàng Bởi vì nếu bản thân đông yĐông y vốn có tính chất khoa học thì chỉ nên đặt vấn đề “hiện đại hóa đông yĐông y” mà thôi Còn như đông yĐông y quả thật không có tính khoa học, thì khoa học hóa đông yĐông y là vấn
đề rất khó, vì nó đã là không có cơ sở khoa học
Để góp chút ít tư liệu nhằm khẳng định tính chất khoa học của đông yĐông y, mặc dầu khả năng còn có hạn, chings chúng tôi cũng cố gắng viết tập sách này trên cơ sở những nguyên lý cơ bản về phương pháp biện chứng luận trị của Trương Trọng Cảnh mà chúng tôi cho là khoa học
và thực tiễn hơn cả so với học thuyết của các y gia khác
Sẽ có độc giả thắc mắc cớ sao chúng tôi nói về Trọng Cảnh mà không dẫn chứng lời Trọng Cảnh trong một sách nào, theo như cách viết sách nghiên cứu khoa học hiện thời
Nguyên lai tài liệu của Trọng Cảnh đã mất mát trong thời loạn Tam Quốc Đến thời Tần, Vương Thúc Hòa mới sưu tầm được một số còn lại của Trọng Cảnh viết ra bộ Thương hàn luận
và Kim Quỹ Yếu Lược, trong đó có tham gia ý kiến của mình vào, khiến cho người sau đọc hai
bộ sách ấy không nắm được bản sắc của Trọng Cảnh Do đó, Trung Quốc cũng như Việt Nam ít
ai trị bệnh như Trọng Cảnh
Đến thời Thanh, có Trần Niệm Tố xuất bản bộ “Trần Tu Viên” theo phương pháp Trọng Cảnh Sau đó, Đường Dung Xuyên ra bộ “Trung Tây Hối Thông”, bổ chính bộ “Trần Tu Viên”, làm cho nhiều người hiểu được phần nào phương pháp Trọng Cảnh, chữa bệnh thu được nhiều hiệu quả tốt
Đồng thời một số y gia Nhật BnarBản Bản dựa vào sáu loại bệnh hình tam dương tam âm, pháp chẩn đoán cùng cũng là pháp và phương của Trọng Cảnh – tuy đã bị các chú gia chhus chú thích sai lầm – với tinh thần khách quan phê phán và dầy công thực nghiệm, đã khám phá được nhiều điều chính xác của Trọng Cảnh như Đại Chung Kinh Tiết, tác giả bộ “Hoàng Hán Y Học Yếu Quyết”, Thanh Bản Cầu Thân- một nhà tây y đã thực nghiệm phương pháp Trọng Cảnh trong vòng 18 năm – tác giả bộ “Hoàng Hán Y Học”, và nhiều tác giả khác Những y gia Nhật BnarBản giúp cho giới đông yĐông y hiểu rộng biết nhiều về Trọng Cảnh, thu được kết quả kỳ diệu trong trị bệnh
Dưới đây chúng tôi sẽ có những đoạn chứng dẫn lời của hai tác giả Nhật Bản kể trên
Tập sách này chỉ là những điều tâm đắcTâm đắc thu hoạch được trong vòng 30 năm nghiên
Trang 6cứu trên kinh nghiệm thực tiễn lâm sàng của bản thân Qua các tài liệu trên, lược thuật và tìm hiểu phương pháp biện chứng luận trị của Trọng Cảnh có phân tích phê phán và tổng hợp, chúng tôi ghi chép lại nhằm mục tiêu: gợi ý các bạn đồng nghiệp đông tây y để chúng ta nghiên cứu tập thể, đặng tìm xem đông yĐông y có cơ sở thật sự khoa học hay không, góp phần nhỉ nhỏ bé vào công cuộc xây dựng một nền y học Việt Nam xã Xã hội chủ nghĩa.
Tập sách này chưa đáp ứng những đòi hỏi của một số độc giả muốn biết rõ hơn về Trương Trọng Cảnh, xin các vị ấy thông cảm
Chúng tôi cũng trình bày vài nét về sự biến đổi của y học Trung Quốc, và giới thiệu sơ qua
về tiểu sử của cụ Tạ Văn Kinh tức cụ Nhất Kinh – một nhà đông yĐông y nổi tiếng – là người Việt Nam gần đây đã phát huy và áp dụng với tinh thần sáng tạo phương pháp của Trọng Cảnh Tiếp đến phần tâm đắcTâm đắc và phần bệnh án, để chứng minh cụ thể thành quả của phương pháp biện chứng luận trị trong Thương Hàn Luận
Từ trước tới nay, trên mấy ngàn năm thực tiễn và ngày gần đây, đông yĐông y là một kho tàng quý báu về kinh nghiệm, về lý luận, về chữa bệnh, phòng bệnh, đã giúp ích không phải là nhỏ cho sự sống còn và sự phát triển của các dân tộc Á Đông Chúng ta có nhiệm vụ kế thừa đúng mức để xây dựng, khỏi lãng phí và thêm phong phú kho tàng y học nước nhà
Chúng tôi mạnh dạn trình bày với tinh thần khách wuan quan tài liệu này để góp phần hiểu
sở đắc, không dám khẳng định là đúng Chúng tôi ước mong các vị độc giả góp ý phê bình để tài liệu này được hoàn hảo hơn, xin vô cùng cảm tạ.
Trang 7Tổ Canh
Trần Đình Sóc
Trang 8Ông quan niệm người ta khỏe mạnh là do cơ năng hoạt động sinh lý trong thân thể luôn giữ được thể quân bình âm dương, hay là luôn thống nhất được mâu thuẫn giữa âm và dương: người
ta có bệnh là do hoạt động sinh lý mất thế quân bình âm dương, hay là không thống nhất được mâu thuẫn giữa âm và dương
Cho nên việc chẩn bệnh là việc tìm hiểu phần âm quá hay bất cập, phần dương thái quá hay bất cập của bệnh nhân để quyết định nguyên nhân phát bệnh do âm thiên thắng hay do dương thiên thắng mà sinh ra hiện tượng này, hiện tượng nọ tức là những chứng bệnh Việc trị bệnh là việc dung dùng phương pháp điều trị con người có bệnh nhằm mục đích quân bình âm dương, hay thống nhất mâu thuẫn giữa âm và dương của con người ấy thì sẽ khỏi bệnh
Trong cơ thể người ta giữ được thế quân bình âm dương thì cơ năng đề kháng bệnh mạnh, điều đó gọi là CHÍNH KHÍ Còn lục dâm: phong, hàn, nhiệt, thấp, táo, hỏa, cho đến vi khuẩn, vi rút, nói chung cái gì ở môi trường bên ngoài xâm nhập vào cơ thể làm thành bệnh tật đều gọi là
TÀ KHÍ
Khi chính khí thịnh thì tà khí không xâm nhập được Nếu chính khí suy, tà khí xâm nhập được thì sinh bệnh Bệnh này mang tính chất hoàn cảnh của môi trường bệnh trong cơ thể bệnh nhân mà đổi thành bệnh hàn hay nhiệt Âm dương trong cơ thể mất quân bình là nguyên nhân có trước, tà khí bên ngoài xâm nhập vào làm thành bệnh là nguyên nhân có sau
Phương pháp trị bệnh của Trương Trọng Cảnh nhằm mục đích quân bình âm dương, chủ yếu là chữa môi trường thụ bệnh, làm cho môi trường không thích hợp với tà khí, đồng thời cơ năng đề kháng bệnh trở nên sung sức đấu tranh với tà khí, bảo vệ cơ thể, tà khí sẽ bị tiêu diệt Một khi môi trường bên trong cơ thể trở lại thế quân bình âm dương, không những tà khí bị tiêu diệt, mà còn điều chỉnh mọi sinh hoạt sinh lý, phục hồi mọi chức năng của phủ tạng, đem lại trạng thái chính thường, và duy trì được thế quân bình mối lien liên hệ nhịp nhàng giữa cơ thể với môi trường bên ngoài, cho nên con người trở lại khỏe mạnh, bởi vì môi trường bên trong cơ thể thống nhất trên thế thắng với môi trường bên ngoài
Thế là Phương pháp trị bệnh của Trương Trọng Cảnh chữa con người bệnh là chủ yếu, nói cách khác, chữa nguyên nhân phát bệnh có tính chất tổng thể và tổng hợp, chứ không chữa theo bệnh danh và cục bộ Bởi vì cơ thể là một khối thống nhất mọi mặt hoạt động sinh lý, cả về thể chất lẫn tinh thần
Trọng Cảnh đã phát minh một quy luật khách quan về bệnh tật, đó là vấn đề hiện tượng và bản chất, đó là vấn đề hiện tượng và bản chất âm dương sau đây:
Theo Trọng Cảnh, hết thẩy các loại bệnh: ngoại cảnh, nội thương, hư lao, truyền nhiểm, thần kinh, tạp bệnh, thiếu nhi, phụ nữ, thai tiền, sản hậu, cho đến bệnh ngoài da,v.v , bệnh nào cũng có bản chất khác nhau: hoặc âm thiên thắng hoặc dương thiên thắng, mà hiện tượng (tức bệnh chứng) thì đại khái giống nhau Ví dụ: bệnh nhân A mắc bệnh mất ngủ do bản chất âm
Trang 9thiên thắng, bệnh nhân B mắc bệnh mất ngủ do bản chất dương thiên thắng, hai người đều có hiện tượng mất ngủ như nhau Phép điều trị phải căn cứ vào bản chất của bệnh mà chữa mỗi người một khác Bệnh nhân A phải dung loại dương dược (thuốc có chất hung hưng phấn thần kinh), bệnh nhân B phải dung dùng loại âm dược (thuốc có tính chất ức chế thần kinh) Một đằng dùng dương dược, một đằng dùng âm dược, cả hai đều nhằm mục đích thống nhất âm dương của
cả hai người bệnh, cho nên cả hai người đều khỏi Nếu không phân biệt bản chất âm dương, tuyệt đối dung dùng âm dược mà chữa, may gặp bệnh dương thiên thắng thì bệnh khỏi, nếu không may gặp bệnh âm thiên thắng, bệnh sẽ biến chứng phiền phức hơn, có thể nguy cho bệnh nhân.Một ví dụ khác: bệnh sốt thương hàn, một thuộc bản chất dương thiên thắng, một thuộc bản chất âm thiên thắng, cả hai đều có hiện tượng đại khái giống nhau: nhiệt độ lên cao trên dưới
40 độ, thân thể ra mồ hôi, nằm trằn trọc không yên, tay chân vật vã, khát nước, nói mê, đại tiện táo kết, có khi lưỡi đen…phép điều trị thuộc bản chất dương thiên thắng-tùy trường hợp – hoặc dung dùng bài thuốc có vị thạch cao, chi mâu, chi tử…( âm dược) để thanh nhiệt, hoặc dung dùng bài thuốc hạ (hạ phân táo kết) để thoát nhiệt thì khỏi bệnh Bệnh thuộc bản chất âm thiên thắng, dung dùng những bài thuốc có vị can khương, phụ tử, quế…(dương dược) để ôn bổ thì khỏi bệnh Phép chữa khác nhau mà cùng chung một mục đích thống nhất âm dương của hai người bệnh đem lại kết quả như nhau Nếu không phân biệt bản chất âm dương, tuyệt đối dung dùng phép thanh nhiệt hay thoái nhiệt, không may gặp chứng âm thiên thắng thì nguy đến tính mệnh
Vấn đề hiện tượng và bản chất âm dương đối với đông yĐông y quan trọng là như thể Nếu
bỏ bản chất chạy theo hiện tượng, hay nói theo thuật ngữ đông yĐông y sẽ không còn tính chất khoa học nữa, nó sẽ là một môn trị bệnh theo kinh nghiệm chủ nghĩa
Trang 10VẤN ĐỀ ÂM DƯƠNG TRONG ĐÔNG YĐÔNG Y
Lý thuyết âm dương là một khái niệm trừu tượng trong triết lý của đông phương, thể hiện quy luật khách quan về mâu thuẫn phổ biến ở thế giới tự nhiên Nhưng tùy từng trường hợp và phạm vi, nó có nội dung khác nhau, đại đồng và tiểu dị
Trước hết chúng ta phải gạt bỏ cái ý nghĩ âm dương đây là khái niệm máy móc, thô kệch, hẹp hòi, là âm và dương về vật lý, hay là lien liên tưởng đến điện âm và điện dương
Nói chung, âm dương là hai trạng thái trong một bản thể có tính chất mâu thuẫn mà không rời nhau, vẫn chống đối nhau, tác động lẫn nhau để đạt được một thế quân bình hai chiều trong bản thể mâu thuẫn ấy, có thể tạm gọi là thống nhất trong từng giai đoạn
Về y lý, âm dương là thế nào?
Âm dương trong y lý khác với âm dương trong điện học, chúng là hai trạng thái có tính chất mâu thuẫn cơ bản trong sự hoạt động của cơ thể con người
Xin lấy những hiện tượng đối lập và thống nhất đi đôi với nhau, không thể tách ròi rời nhau trong cơ thể để hội thong với quy luật âm dương trong y lý:
Sự tiêu hóa và bài tiết trong cơ thể: một số thực phẩm đưa vào ống tiêu hóa, số lượng thực phẩm ấy tạm gọi là cái đến Qua quá trình tiêu hóa, phần nào đồng hóa với cơ thể được thì được huyết đưa đi khắp cơ thể dinh dưỡng tế bào; phần nào dị hóa với cơ thể được bài tiết ra ngoài; cả hai phần này tạm gọi là cái đi Cái đến và cái đi phải được thống nhất cùng nhau
Lại như sự thay đổi trong cơ thể ; chất dinh dưỡng khi đi theo máu thấm qua thành mao quản vào dinh thể( môi trường trao đổi chất) để cung cấp cho tế bào, đồng thời những chất hủy hoại và khí cacbonic trong tế bào đào thải vào dinh thể lại thấm qua thành mao quản mà vào máu, rồi được bài tiết ra ngoài cơ thể Sự trao đổi chất ấy, sự thay cũ đổi mới ấy phải được thống nhất cùng nhau
Đi sâu một bước nữa, ta thử xem sự trao đổi chất và năng lượng, cùng với sự đồng hóa trong các tế bào: “sự trao đổi chất và năng lượng thực hiện qua hai quá trình: đồng hóa và dị hóa Đồng hóa là quá trình biến hóa những chất lấy từ ngoài vào, tổng hợp thành những chất sống của
cơ thể và tích lũy năng lượng Dị hóa là quá trình phân giải các chất sống trong cơ thể, giải phóng năng lượng cần thiết cho các hoạt động sống và thải cặn bã ra ngoài Hai quá trình này mâu thuẫn với nhau nhưng lien liên hệ chặt chẽ với nhau; đồng hóa cần đến năng lượng giải phóng trong dị hóa Nói đúng hơn, đó là hai mặt của một quá trình thống nhất Sự trao đổi chất giữa cơ thể với môi trường thể hiện qua dinh dưỡng và bài tiết mới là biểu hiện bề ngoài của đồng hóa và dị hóa Căn bản hơn là sự đồng hóa, dị hóa xảy ra trong các tế bào”(Sinh vật học hiện đại phổ thông)
Đơn giản dễ thấy như việc tuần hoàn: phát huyết và hồi huyết giao lưu với nhau phải được thống nhất cùng nhau; cũng như khả năng sinh nhiệt và khả năng tán nhiệt… đều thế cả
Tất cả những hiện tượng sinh lý đi đôi với nhau mà trái ngược nhau, thống nhất với nhau,
ấy là trạng thái chính thường; khi mất quân bình thì một mặt thái quá, một mặt bất cập; ấy là trạng thái bệnh tật Nói chung, hết thẩy tác dụng sinh lý trong cơ thể đều thể hiện theo quy luật mâu thuẫn và thống nhất mâu thuẫn, mà cổ nhân coi là theo quy luật âm dương
Tóm tại, âm dương là hai trạng thái trong cơ thể thể hiện nội dung của quy luật mâu thuẫn này, tác động lẫn nhau, không rời nhau được Cho nên trong cơ thể không có cái gì thuần âm cũng như không có cái gì thuần dương Trong dương có âm, trong âm có dương Đã có dương là
Trang 11có âm, đã có âm là có dương, tức là “âm trung chi dương”, “dương trung chi âm” trong y lý.
Âm dương biến động luôn luôn ở trạng thái tương đối, không nhất định ở mức độ nào, cũng không cố định đại biểu cho sự vật nào Tùy theo sự chuyển biến về mặt đối lập của sự vật
mà âm dương biến đổi
Nếu quan niệm tuyệt đối cái này là âm, cái kia là dương là quan niệm âm dương tĩnh tại, không đúng với thực tế
Trên đây là nói về tác động âm dương ở từng bộ phận, từng cục bộ hoạt động sinh lý trong
cơ thể, cũng như gần đây, người ta quan niệm âm là khiếm năng, dương là dư năng Còn âm dương cụ thể là gì trong y lý đông phương, chúng tôi sẽ trình bày trong một bài khác ở dưới
Trang 12NGƯỜI TẠNG HÀN, TẠNG NHIỆT, BỆNH HÀN BỆNH NHIỆT
Trên thực tế khách quan, qua quá trình thực tiễn lâm sàng, chúng tôi nhận thấy hiển nhiên trong bệnh nhân những có người tạng hàn và có người tạng nhiệt Người tạng hàn có bệnh - Bất
cứ bệnh gì - bệnh sẽ mang tính chất hoàn cảnh bên trong môi trường cơ thể, trở nên có tính hàn gọi là bệnh hàn ; người tạng nhiệt cũng như trên - bệnh trở nên có tính nhiệt gọi là bệnh nhiệt.Người tạng hàn khi có bệnh hoặc sắp có bệnh, mạch tượng hiện ra: trầm, trì, vi, tế, vô lực Người béo thì béo bệu, trông người có vẻ nặng nề, ì ạch, bụng phệ ít hay nhiều Người tạng hàn nói chung, không phân biệt béo gầy, lớn nhỏ, trai gái, già trẻ, thường có ít nhiều hiện tượng sau đây:
Thể ôn bình thường dưới 37 độ Người hay mệt nhọc, cử động chậm chạp, da xanh xao hoặc có quầng xanh xám chung quang quanh mắt Có người mặt lúc đỏ lúc xanh nhợt, hoặc mặt
đỏ chân tay lạnh suốt thời gian có bệnh Trời chưa lạnh họ đã thấy lạnh, trời chưa bức họ đã thấy bức Có người không giám dám tắm nước lạnh trong mùa hè Hay buồn ngủ mà khó ngủ, hoặc mất nhủ , hoặc ngủ li bì, hay thấy ác mộng Khi khát, uống ít nước và ưa uống nước nóng Ăn ít, khó tiêu hóa, hoặc ăn nhiều, chậm ăn thì mệt lả mà người vẫn gầy yếu, hoặc bụng đói mà miệng không muốn ăn Đại tiện táo hoặc tiền tào táo hậu đường, hoặc phân không thành khuôn, có người cứ bốn năm giờ sáng phải vội đi ngoài, phân sền sệt Có người hay đi tiểu đêm; nước tiểu
ít thì vàng, đục hoặc đỏ, nhiều thì trắng trong; cũng có người hay đi đái rắt, có khi ra huyết Hay sôi bụng, đau bụng hoặc đau ngang thắt lưng, đau hai bả vai.Tay chân hay lạnh, buồn, mỏi, tê hoặc máy mắt giật khi ngủ Hay nằm co đùi hoặc ôm lấy hai bàn tay Có người hay ù tai, hoa mắt chóng mặt, váng đầu, thị lực kém Khi ốm nặng, sốt thì nhiệt độ lên cao mà sợ rét, trong cơn mê sảng thì chợt mê chợt tỉnh, nói những chuyện cũ mà mình đã trải qua Nếu bị lưỡi đen thì lưỡi vẫn ướt như lúc bình thường, lấy ngón tay sờ thấy mặt trên lưỡi thấy mềm mại trơn nhẵn, và thân thể hay có âm thư ( nhọt bọc) Về mặt tinh thần, bạc nhược, bi quan, tiêu cực, hay nghi ngờ, do
dự, hay lo nghĩ vớ vẩn, mất bình tĩnh, gắt gỏng, kém trí nhớ Trẻ em nhỏ tuổi thường biểu hiện
da xanh trong, xanh bủng, bụng to, bụng ỏng, hay chớ, không chịu ăn, đi ngoài thất thường: phân lỏng, phân xanh, sống phân, phân có mùi tanh; nhiều nước mũi, nước dãi, dử mắt, miệng hôi; thân thể hay nóng âm ấm về đêm, ra mồ hôi trộm, chân lạnh, hoặc gan bàn chân nóng hơn chỗ khác Đặc biết có em ngủ hay nằm sấp Các Em cũng hay có rôm, nhọt, mụn, đầu đanh màu đỏ tím…
Người tạng nhiệt khi có bệnh hoặc sắp có bệnh , mạch tượng hiện ra: phù, sác, khẩn, hoạt, hữu lực Người béo thì béo chắc, có vẻ vững vàng, hoạt bát; cũng có người gày gò, cằn cỗi như cành khô Người tạng nhiệt nói chung- cũng không phân biệt béo, gầy, già, trẻ, lớn, nhỏ… có những hiện tượng tương phản rõ rệt với người tạng hàng, có những hiện tượng đại khái giống nhau, nhưng nhận xét ký vẫn có màu vẻ khác nhau; họ chịu được rét, được bức, hoạt động linh lợi Nếu có khát thì uống nhiều nước mà ưa uống nước nguội, nước lạnh, thích ăn thức ăn mát như trái cây, rau sống …Nếu có mệt nhọc cũng không mệt nhọc lắm; có người mặt đỏ chân không lạnh; khó ngủ hoặc mất ngủ, ngủ không li bì, ít mộng mị; đắng miệng, khô cổ, se môi, giộp lưỡi, lở miệng, chóng mặt, choáng váng, nhức đầu; trong lồng ngực, hai bên sườn đầy hơi bí bích; đau ngực, viêm cổ họng, đau lưng, đau bụng khan, đại tiện táo bón, tiểu tiện khó đi, đi đái rắt, đi tiểu ra huyết, nước tiểu ít, vàng, đỏ Khi ốm hay phát sốt rét hoặc sốt nóng, sợ nóng mà không sợ rét, có khi chân tay lạnh, ra nhiều mồ hôi; mê sảng thì liên miên không tỉnh, nói những
Trang 13chuyện lảm nhảm, câu nọ sọ câu kia, nếu lưỡi bị đen thì khô lưỡi, nóng hôi hổi, lấy ngón tay sờ vào mặt lưỡi thấy nổi gai ram ráp, mắt nhìn thao láo, tay quờ quạng tục gọi là tay bắt chuồn chuồn Bệnh thể hay khẩn cấp, đầu não hay căng thẳng; hay bị bang băng huyết , nục huyết, ứ huyết, khái huyết, phát viêm, nhiều đờm; nếu có huyết áp cao hay bị ngất, xuất huyết não, hay có mụn nhọt Về mặt tâm lý tinh thần: quả quyết, bộp chộp, nóng nảy Trẻ em nhỏ tuổi da không xanh nhợt, xanh bủng, ít mũi dãi, bụng ít to, không ỏng, đại tiện ít phân lỏng, phân xanh, hay nóng bức, nhiều mồ hôi, hay mọc rôm sẩy, mụn, nhọt màu đỏ tía…
Trên đây là hiện tượng và mạch tượng thông thường của người tạng hàng, tạng nhiệt Đôi khi có trường hợp đặc biệt là người tạng hàn hiện ra một vài hiện tượng người tạng nhiệt của người tạng nhiệt, người tạng nhiệt hiện lên một vài hiện tượng của người tạng hàn Mạch tượng
cũng xảy ra vài trường hợp như thể Cái trái ngược đó được gọi là giả tượng Cũng có khi vì tập
quán từ thưở bé, ví như người tạng hàn lại ưa uống nước lạnh Cho nên chẩn đoán bệnh nhân gặp trường hợp đặc biệt ấy, cần phải tế tâm nhận xét cái nào là giả tượng (hiện tượng trái với bản chất), cái nào là chân tượng (hiện tượng đúng với bản chất), cái nào là thói quen, để khỏi ngộ nhận người tạng hàn, tạng nhiệt, bệnh hàn, bệnh nhiệt
Trang 14NGƯỜI KHÔNG THUỘC VÀO TẠNG HÀN, TẠNG NHIỆT
Người không thuộc vào tạng hàn, tạng nhiệt là người khỏe mạnh, không có bệnh Hoạt động sinh lý của cơ thể người ấy luôn luôn giữ được thế quân bình âm dương, tức là thống nhất thường xuyên sự mâu thuẫn cơ thể Nói theo đông yĐông y là người có toàn vẹn chính khí hay nguyên khí bản thân
Những người này thích ứng được với môi trường ở bên ngoài, họ không bị ảnh hưởng về thời tiết thay đổi đột ngột, họ chịu được khí hậu bức cũng như rét, họ đến nơi sam sơn lơn lam chướng khí cũng chẳng sao; họ ăn uống theo sở thích; chẳng có thức ăn thức uống thong thông thường làm giảm việc tiêu hóa; họ ngủ hay thức dễ dàng tùy ý, họ lao động bền bỉ và dẻo dai Về mặt tinh thần: họ vui vẻ, thích hoạt động, tự chủ được mình
Nhưng nếu họ không bảo vệ được sự quân bình âm dương trong cơ thể bằng phép vệ sinh; thể dục thể thao có chừng mực, ăn ngủ có điều độ, lao động thao tác đều đều, ít tham vọng thị dục…nếu ẩm thực khởi cư mất điều độ, quá lao tâm, lao lực, nhiều dục vọng, trác tán…họ sẽ trở nên người tạng hàn hay tạng nhiệt
Còn như thấy một bệnh nhân phát cả chứng hàn và chứng nhiệt mà gọi là người tạng bán hàn và bán nhiệt thì không đúng với thực tế Đó là người tạng hàn có hiện tượng giả nhiệt
Trang 15TẠI SAO THỂ TRẠNG NGƯỜI TA CHIA RA HAI TRẠNG THÁI KHÁC NHAU TRONG KHI CÓ BỆNH HOẶC SẮP CÓ BỆNH VÀ ÂM DƯƠNG TRONG Y LÝ CỤ
THỂ LÀ GÌ?
KHI CÓ BỆNH HOẶC SẮP CÓ BỆNH VÀ ÂM DƯƠNG TRONG Y LÝ CỤ THỂ LÀ GÌ?
Qua những biểu hiện khác nhau kể trên, chúng tôi đặt vấn đề tại sao trạng thái thể tạng con người có bệnh hoặc sắp có bệnh lại chia ra hai loại như vậy? Và về y lý, âm dương cụ thể là gì?Chúng tôi xin giải thích cụ thể như sau:
Người ta sống đòi hỏi một số lượng sinh lực nhất định cho hoạt động cơ thể: tiêu hóa, hô hấp, tuần hoàn, bài tiết, vận động, suy nghĩ…sinh lực là danh từ chung để chỉ cho năng lực dung dùng trong sự sống có thể là nhiệt năng để đảm bảo nhiệt độ, hóa năng để tiêu hóa thức ăn, cơ năng để hoạt động tim phổi, ruột… có thể là điện năng trong vấn đề tư duy
Cái khả năng tổng hợp của cơ thể con người để phát huy số sinh lực này có dư trên số lượng yêu cầu có thể coi là tạng nhiệt (dương hữu dư), số sinh lực này quá dư (dương thiên thắng) thì cơ thể mất thế quân bình âm dương sẽ phát hiện ít nhiều hiện tượng bất thường (như
đã kể trên đây), ấy là nguyên nhân có trước của bệnh tật Khi gặp nguyên nhân có sau xảy đến như cảm mạo lục dâm: phong, hàn, nhiệt, thấp, táo, hỏa (ngoại cảm), vi khuẩn, vi rút xâm nhập (truyền nhiễm), những sự việc do người ta làm ra như ăn uống, khởi cư nhất nghi, lao tâm, lao lực quá độ, thị dục, trác tang, vô hạn…(nội thương), hết thẩy những cái ấy đều gọi là tà khí hay bệnh tà, khi cơ thể của người ấy sẽ đủ điều kiện phát bệnh Bệnh này sẽ mang tính chất hoàn cảnh của môi trường bên trong cơ thể mà bệnh nhiệt hay là bệnh có tính chất dương thiên thắng Chứng cấp tính, chứng phát viêm, chứng xung huyết thường thấy ở người tạng nhiệt
Cái khả năng tổng hợp của cơ thể con người để phát huy số lượng sinh lực nhất định trong
cơ thể ở dưới số lượng yêu cầu, có thể coi là tạng hàn ( dương bất túc tức âm hữu dư), số lượng sinh lực này quá thấp ( âm thiên thắng) thì cơ thể mất thế quân bình âm dương, sẽ phát hiện ít nhiều hiện tượng khác thường ( như đã kể trên) , ấy là nguyên nhân có trước, Một khi có nguyên nhân có sau xảy đến, cơ thể có đủ điều kiện phát bệnh Bệnh này sẽ mang tính chất hoàn cảnh của môi trường bên trong cơ thể mà thành bệnh hàn hay là bệnh có tính chất âm thiên thắng Chứng mạn tính( cũng có nhiều chứng cấp tính và phát viêm), bệnh kinh niên, trầm kha,
cố tật, bệnh suy nhược thần kinh thường thấy ở người tạng hàn
Có trường hợp số sinh lực nhất định cho hoạt động cơ thể quá thấp dưới số lượng yêu cầu ( tức là dương suy) không đủ khả năng chuyển hóa thành tân dịch gọi là âm dương câu hư (âm dương câu hư không có nghĩa là âm dương đều hư ngang nhau) Trường hợp này do nhiều nguyên nhân gây ra:
1 Tiên thiên bất túc tức là suy nhược ngay trong bào thai
2 Thị dục quá độ
3 Ngộ độc nghiêm trọng hoặc bị mất máu nhiều quá
4 Ăn uống thiếu chất dinh dưỡng
5 Tuổi suy lão…
Do đó, Đông yĐông y căn cứ vào bệnh có tính chất dương thiên thắng hay âm thiên thắng làm nguyên lý cơ bản để trị bệnh, nhằm quân bình âm dương để khôi phục trạng thái chính thường của sự hoạt động sinh lý trong cơ thể - hay nói theo đông yĐông y - để khôi phục chính khí trong cơ thể , chính khí sẽ tạo điều kiện cho tự nhiên liệu năng tự chữa khỏi bệnh, bảo vệ sinh lực và điều chỉnh mọi sai lệch trong hoạt động sinh lý theo quy luật của tự nhiên Tuy những
Trang 16hoạt động sinh lý là phức tạp, tựu chung chúng vẫn phối hợp chặt chẽ với nhau theo quy luật khách quan chi phối thống nhất toàn than thân con người, kể cả thể chất và tinh thần.
Khi chính khí đã trở lại bên trong cơ thể, không những nó tự chữa khỏi bệnh, đem lại trạng thái chính thường trong hoạt động sinh lý, mà còn duy trì thế quân bình hay là thống nhất mối lien liên hệ nhịp nhàng giữa môi trường bên trong cơ thể và môi trường bên ngoài tức là thế giới
tự nhiên, cho nên ngoại tà không vào được cơ thể gây bệnh tật
Chích pháp luật luận trong sách Tố Vấn nói:” Chính khí toàn vẹn ở môi trường bên trong
cơ thể, tà khí ở môi trường bên ngoài không xúc phạm vào được” (chính khí tồn nội, tà bất khả can) Bình nhiệt luận trong sách ấy nói:” tà khí tập hợp được ở trong cơ thể, tất nhiên là chính khí không vẹn toàn” (tà chi sở tấn, kỳ khí tất hư)
Cái mà đông yĐông y gọi là chính khí hay nguyên khí phải chăng là cái khả năng tổng hợp phát huy số lượng sinh lực trong cơ thể vừa đúng số lượng yêu cầu không hơn không kém?
Để đề phòng bệnh tật khi thấy trong người đã phát sinh ít nhiều hiện tượng khác thường , thầy thuốc chẩn đoán phối hợp mạch tượng với hiện tượng đã xảy ra, xem người ấy:
• Nếu âm hữu dư tức là số lượng sinh lực ở dưới số lượng yêu cầu nhất định, thì dùng thuốc dương dược để nâng cao số lượng sinh lực đạt tới mức yêu cầu (quân bình âm dương)
• Nếu dương hữu dư tức là số lượng sinh lực có dư trên số lượng yêu cầu nhất định, thì dùng thuốc âm dược để hạ thấp số lượng sinh lực đạt tới mức yêu cầu (quân bình âm dương)
• Nếu âm dương câu hư tức là số lượng sinh lực quá thấp dưới số lượng yêu cầu nhất định, không đủ khả năng hóa tân dịch, thì dùng thuốc dương dược để tăng cường sinh lực đạt tới mức yêu cầu là chủ yếu, đồng thời phối hợp với âm dược có tính chất tư dưỡng tân dịch là chủ yếu, đó là bổ dương tư âm (quân bình âm dương)
(Sự chuyển hóa ra tân dịch đòi hỏi cơ thể nhiều hóa năng, đòi hỏi rất nhiều năng lượng tổng hợp, làm tiêu hao rất nhiều năng lượng cơ thể, cho nên đông yĐông y hay quan niệm tâm tân dịch là âm).
Một khi âm dương quân bình, chính khí trở lại trong con người bệnh ấy, bệnh tà không có điều kiện xâm nhập làm thành bệnh được, mà người khỏe mạnh Trọng Cảnh nói: “Thầy thuốc giỏi chữa bệnh từ khi chưa phát bệnh” (Thượng công trị vị bệnh), có phải là thế chăng?
Giải thích quy luật âm dương của đông yĐông y theo những nguyên lý của năng lượng về sinh lý:
Như vậy có thể giải thích tổng hợp và cụ thể âm và dương ở cơ thể con người trong y lý đông phương là hai cái thế của khả năng phát huy sinh lực dưới hay trên một cái thế yêu cầu lấy làm tiêu chuẩn quân bình của một cơ thể con người Chúng là hai tỷ lệ so sánh giữa tổng sinh lực phát sinh và tổng sinh lực tiêu hao đi Âm và dương không phải là hai tính chất của một vật gì, một chất gì như là tính lý hóa: vật này là âm, chất kia là dương, như người ta thường quan niệm chất lượng là âm, năng lượng là dương chẳng hạn - đó là do nghĩa âm dương suy luận ra
Trong đông yĐông y có quan niệm huyết âm, khí là dương, ngũ tạng là âm, lục phủ là dương v.v…theo nhơ như chúng tôi hiểu: đó là cổ nhân dùng hai chữ âm dương làm dấu hiệu nhận thức cái này với cái kia có quan hệ mật thiết với nhau
Khi đã thống nhất được sự phát sinh tổng sinh lực và sự tiêu hao tổng sinh lực (tức là khôi phục thế quân bình âm dương), thì cơ thể tự giải quyết tổng hợp tất cả những mâu thuẫn âm
Trang 17dương trong từng bộ phận, từng cục bộ - như đã nói ở trên – của toàn thân người bệnh.
TÍNH CHẤT CỤ THỂ CỦA CÁC CHẤT TRONG Y LÝ
Đối với con người, các chất trong thực phẩm, nhất là trong dược liệu, đều có tính chất riêng: hoặc là ức chế, hoặc là hưng phấn sự phát huy sinh lực của cơ thể, không phải là do bản chất những thực phẩm, những dược liệu ấy là âm hay là dương như có điện âm hay điện dương Chất nào có bản tính giảm phát huy sinh lực, hay đòi hỏi nhiều năng lượng quá trong sự đồng hóa mà làm giảm sự phát huy sinh lực, hoặc nó tiêu hao quá nhiều số lượng sinh lực trong (bị mất chữ)cơ thể nên nó mang tính chất hàn gọi là âm Trái lại, chất nào có dặc tính đẩy mạnh sự phát huy sinh lực, tăng cường sự hoạt động trong cơ thể nên nó mang tính chất nhiệt họi là dương Lại có chất có tính năng kích thích sự hoạt động sinh lý như tính năng tuần hoàn máu, tăng hô hấp, tăng nhiệt độ v.v do đó, hô hấp đòi hỏi nhiều không khí, ăn uống đòi hỏi nhiều thứ mát v.v đó là nó làm tăng trong một thời gian nào đó sự hoạt động trong sơ thể, có khi quá mất cân đối, nên nó mang tính chất nhiệt nhất thời, cũng có thể gọi là giả nhiệt
Vậy thì khái niệm âm dương trong y ký lý phương đông rõ ràng duy vật và khoa học, chứ không phải siêu hình như ta tưởng
Đông yĐông y phát minh lý thuyết âm dương - quy luật phổ biến chi phối thống nhất toàn thể con người – cho nên đông yĐông y tuy thiếu tri thức về khoa học thực nghiệm như sinh lý học, giải phẫu học, bệnh lý học, vi khuẩn học v.v… mà vẫn chữa khỏi bệnh một cách chắc chắn,
vì nắm được quy luật âm dương nói trên, tìm ra nguyên nhân tổng hợp gây phát dinh sinh ra bệnh tật và các nguyên lý chữa khỏi tật bệnh
CÁC HIỆN TƯỢNG VỀ SINH LÝ VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA NGƯỜI TẠNG NHIỆT VÀ
âm hữu dư hay âm thiên thắng) Vì hạn chế về tri thức sinh lý học, chúng tôi không thể trình bày
cụ thể được bằng những trạng thái cơ bản về sinh lý học biểu diễn trong cơ thể con người tạng nhiệt và tạng hàn, ví như tình hình, thành phần dinh thể (môi trường thay đổi chất của tế bào), những sở trở ngại về sự đồng hóa và dị hóa trong tế bào, hay là sự phát tiết và bài tiết chẳng hạn.Theo kinh nghiệm, ngoài những hiện tượng thông thường như chúng tôi đã nói ở trên, chúng tôi nhận thấy người tạng nhiệt có bệnh nặng thường bị thiếu thành phần nước trong cơ thể, hoặc thiết tân dịch (nội tiết và ngoại tiết) mà đông yĐông y quen gọi là âm hư Người tạng hành
có bệnh nặng thường hay bị thừa thành phàn phần nước trong cơ thể, nên hay sinh ra nhiều đờm dãi thành bệnh ho, han, phù thũng, cổ chướng v.v…hay phát nhiệt về chiều, về đông yĐông y gọi là “nội hàn ngoại nhiệt” Những bệnh nhận nhân tạng hàn uống thuốc bổ (bổ dương) thường
tự bài tiết ra nhiều nước hoặc đờm (do thổ, tiểu tiện, đại tiện, hãn theo tưng từng trường hợp) trước khi khỏi bệnh Những bệnh nhân mà chúng tôi gọi là tạng hàn, nếu họ được kiểm nghiệm
Trang 18mức độ tạng hàn càng nhiều thì số lượng hồng cầu càng ít Đây cũng là một triệu chứng khá cụ thể của người bị tạng hàn Những điều kể trên là hiện trượng mấu chốt về sinh lý thường hiện ra trên những người tạng nhiệt và tạng hàn trong khi họ có bệnh mà chúng tôi nhận thấy.
Vấn đề này, chúng tôi mong các nhà khoa học tây y lý hội cái khái niệm về tạng nhiêt nhiệt
và tạng hàn của chúng tôi đã trình bày để bổ sung bằng tài liệu khoa học cho vấn đề được thêm phần cụ thể
Điều kiện về sinh lý của âm dương có thể biểu hiện bằng thông số Sơ bộ có những điều kiện mà tây y đã nắm vững sau đây:
• Số hồng cầu trên một mm3? Khả năng sinh hồng cầu?
• Số bạch cầu trên một mm3? Khả năng sinh bạch cầu?
• Khả năng sinh nhiệt của máu?
• Nhiệt độ trung bình của máu?
• Tỷ lệ glucose trong máu (gr)? pH của máu?
• Tỷ lệ một số chất (vi lượng trong máu) có tính chất xúc tác?
• Áp suất trong máu?
• Sức mạnh tuần hoàn? Mạch và tim?
Trang 19SÁU LOẠI BỆNH HÌNH CỦA TRƯƠNG TRỌNG CẢNH
Từ thời xưa cách đây khoảng năm nghìn năm, Trung Quốc đã có khoa chữa bệnh bằng khoa châm cứu, lấy lục kinh trong sách Nội kinh làm nền tảng
Lý thuyết lục kinh quan niệm trong, cơ thể con người có hệ thống kinh lạc phân bố khắp cơ thể từ đầu đến mình mẩy, chân tay, liên lạc từ bì phu qua cơ nhục vào phủ tạng, có quan hệ với tác động sinh lý trong cơ thể (là một hệ thống đặc thù không phải hệ thống thần kinh), có có chức năng chi phối quy luật âm dương giữa các phủ tạng, các bộ vị có quan hệ trực tiếp hoặc gián tiếp với nhau thành một chỉnh thể thống nhất Tác dụng kinh lạc tiến hành hoạt động sinh lý theo quy luật âm dương trong khi cơ thể trong trạng thái chính thường Khi cơ thể mất thế quân bình âm dương, phát sinh bệnh biến ở bộ vị nào trong cơ thể, nó sẽ phản ánh mạch tượng và chứng hậu đặc trưng ở bộ vị ấy Do đó, thầy thuốc chuẩn đoán có cơ sở để phân biệt bệnh thuộc tính chất âm thiên thắng hay dương thiên thắng và chữa, nhằm mục đích phục hồi thế quân bình
âm dương trong cơ thể thì bệnh sẽ khỏi
Hệ thống kinh lạc có sáu đường kinh gọi là lục kinh: ba đường kinh thuộc về dương là: kinh Thái dương, kinh Thiếu dương, kinh Dương minh: ba đường kinh thuộc về âm là: kinh Thái
âm, kinh Thiếu âm, kinh Quyết âm Kinh thái dương chia ra kinh Thủ thái dương tiểu trường và kinh Túc thái dương bàng quang; kinh Thiếu dương chia ra làm linh Thủ thiếu dương tam tiêu và kinh Túc thiếu dương đởm; kinh Dương minh chia ra kinh Thủ dương minhh đại trường và kinh Túc dương minh vị Kinh Thái âm chia ra làm kinh Thủ thái âm phế và kinh Thúc thái âm tỷtỳ; kinh Thúc thiếu âm thận; kinh Quyết âm cha ra kinh thủ Quyết âm tâm bào lạc và kinh túc Quyết
âm can Những kinh kể trên cộng lại thành mười hai kinh gọi là “Thập nhị kinh mạch” Kinh mạch là đường đi của mười hai kinh Kinh nào cũng từ tay và từ chân đi qua các bộ vị trên thân thể rồi vào phủ, tạng, liên lạc với nhau có mạch lạc, có thống hệ Học thuyết lục kinh là cơ sở khoa học của đông yĐông y nói chung, của Khoa Châm cứu nói riêng
Tổng kết tài liệu trong sách Nội kinh là một cách sáng tạo và có phát minh, Trọng Cảnh đã
hệ thống hóa và tinh giản hóa lý thuyết lục kinh vào trong sáu loại bệnh hình sáng lập ra phương pháp Biện chứng luận trị Sáu loại bệnh hình là: bệnh Thái dương, bệnh Thiếu dương, bệnh Dương minh, bệnh Thái âm, bệnh Thiếu âm, bệnh Quyết âm Ba loại bệnh dương thuộc bản chất dương thiên thắng tức bệnh nhiệt, gọi là bệnh tam dương Ba loại bệnh âm thuộc bản chất âm thiên thắng tức bệnh hàn, gọi là bệnh tam âm Sáu loại bệnh này, mỗi loại có mạch tượng và một nhóm hậu chứng đặc chưng của nó đi đôi với nhau làm mục tiêu để nhận thức từng loại bệnh và những phương thuốc thích nghi cho những trường hợp bệnh biến của từng loại bệnh ấy
Xin trình bày sáu loại bệnh hình sau đây:
1 Bệnh Thái dương, mạch phù, đầu nhức, gáy cứng, phát nhiệt mà sợ rét (đề cương) Bệnh
tà có tính chất nhiệt ở cơ biểu, tức là ở vào phần tổ chức mặt ngoài của cơ thể
2 Bệnh Thiếu dương, mạch huyền tế hoặc trầm khẩn, miệng đắng, cổ họng khô, mắt hoa, phát cơn rét đến cơn nóng, trong lồng ngực và hai bên sườn đầy hơi bí bách lắm, người lìm lịm không muốn ăn uống, tim rạo rực, hay buồn nôn (đề cương) Bệnh tà cũng có tính chất nhiệt ở bán biểu bán lý, tức là bệnh tà không ở cơ biểu mà cũng không ở phủ tạng, ở vào khoảng xoang ngực và xoang bụng trên
3 Bệnh Dương minh, mạch dại, bệnh tà có tính chất cực nhiệt xung thực, (chứa đầy) ở dạ dày và ruột, toàn thân nóng có mồ hôi, không sợ rét mà sợ nóng (đề cương) Bệnh
Trang 20a Toàn thân nóng lắm, ra nhiều mồ hôi, miệng khát, lưỡi khô, tim rạo rực, trong ruột không có phân táo kết, nhiệt tạ tà ở dạ dày, ruột và tán mạn khắp thân thể từ trong ra ngoài cơ phục Mạch tượng hiện ra phù hoạt hoặc hồng dại Đó gọi là chứng “Dương minh kinh”.
b Về chiều hôm phát cơn trào nhiệt (cơn nóng lên xuống đúng giờ), tay chân dâm dấp
mồ hôi, bụng đầy cứng mà đau, đại tiện bí kết, mê man nói nhẩmnhảm, bệnh nặng thì tinh thần hoảng hốt, mê man không biết sự việc gì, nhãn cầu lờ đờ mất vẻ trong sáng, mắt nhìn trừng trừng, có cơn ho, tay suyễn nhẹ, tay quờ quạng (tục gọi là “bắt chuồn chuồn”); lưỡi có khi có gáu vàng hoặc đen, trên mặt lưỡi có nổi gai và nóng hôi hổi Mạch tượng hiện ra trầm, thực mà có lực Đó gọi là chứng “Dương minh phủ”, cũng gọi là chứng “Chính dương dương minh”… Chứng này nguy cấp hơn chứng trên, và
là chứng nặng nhất trong ba loại bệnh tam dương
4 Bệnh Thái âm, mạch hoãn và nhược, bụng đầy và đau từng lúc, ăn vào thì thổ ra, đi ngoài luôn luôn (đề cương) Bệnh tà có tính chất hàn tỳ và vị (bệnh này khác với bệnh Dương mình là hàn ở tỳ và vị thuộc về chứng hư; (bệnh Dương minh thì nhiệt tà ở vị và trường thuộc chứng thực)
5 Bệnh Thiếu âm, mạch vi, tế, chỉ sợ rét không sợ nóng, mà chỉ hay buồn ngủ (tinh thần bạc nhược, mắt lơ mơ có trạng thái nửa thức nửa ngủ), tay chân giá lạnh (đề cương) Bệnh tà có tính chất cực hàn chủ yếu ở tâm và thận, hàn tà còn ở khắp cơ thể từ trong phủ tạng ra ngoài cơ nhục Đề cương của bệnh thiếu âm chỉ cử ta ra mạch tượng và chứng hậu đặc trương: chỉ hay buồn ngủ của nó làm mục tiêu để phân biệt với năm loại bệnh hình kia, nhất là phân biệt với bệnh Dương minh; vì hai loại bệnh này, trong khi có sốt thương hàn, thường hay phát hiện những chứng trạng tương đối giống nhau; nếu không chú ý có tế nhận đề cương của hai bệnh, sẽ có thể nhầm lẫn thì rất nguy hiểm Bệnh Thiếu âm có chững chứng hoãn và chứng cấp đều là bệnh nặng
6 Bệnh Quyết âm, Mạch mạch vi, tế, hầu như muốn tuyệt hoặc trầm, trì, vô lực, tiêu khát (khát và uống nước không khỏi khát), khí từ hạ tiêu đưa lên xúc động vào tim, trong tim nóng và đau, bụng đói mà miệng không muốn ăn, ăn vào thì thổ ra giun, nếu uống thuốc
hạ (hạ phân táo) thì đi ngoài không dứt (đề cương) Bệnh tà căn bản thuộc hàn, có khi phần nửa người bên dưới là lạnh dồn nhiệt lên trên, cho nên nửa phần người bên trên nóng, do đó bệnh Quyết âm gọi là chứng thượng nhiệt hạ hàn; cũng gọi là chứng âm thắng dương thắng phục vì khi dương thắng thì nhiệt, âm thắng thì hàn Bệnh tà chủ yếu
ở can và tâm bào lạc là loại bệnh rất nguy cấp (sẽ có ý kiến về bệnh Quyết âm ở phần Tâm đắcTâm đắc)
Sáu loại bệnh hình này (cũng có thể gọi là sáu phạm trù bệnh tật), mỗi loại bệnh biểu hiện thể chất cỉa của bệnh nhân như tạng hàn, tạng nhiệt; mức độ hàn nhiệt nhiều hay ít; bộ vị phát bệnh nông hay sâu; bệnh tình hoãn hay cấp Nói chung là âm dương, hàn nhiệt, hư thực, biểu lý, thủy hỏa, khí huyết, phủ tạng, tính khí thần cho đến ngũ hành sinh khắc, không nói đến mà đã bao hàm ở trong thân thể phải chăng là sáu trạng thái của thân thể?
Bệnh tam dương có tính bệnh và hợp bệnh
Khi mới phát bệnh, ví như bệnh Thái dương chưa điều trị bệnh chưa khỏi, bệnh chuyển sang bệnh Thiếu dương (bệnh Thái dơpng dương phát ra nướctrước, bệnh Thiếu dương phát ra sau mà bệnh Thái dương còn tồn tại) gọi là Thái dương Thiếu dương tính bệnh; bệnh Thái dương
có trước chưa khỏi lại chuyển sang bệnh Dương minh gọi là Thái dương Dương minh tính bệnh
Trang 21Bệnh Thái dương và bệnh Thiếu dương đồng thời cùng phát gọi là Thái dương Thiếu dương hợp bệnh; bệnh Thiếu dương và bệnh Dương minh đồng thời cùng phát bệnh gọi là Thiếu dương Dương minh hợp bệnh Cả ba bệnh cùng phát một lúc gọi là tam dương hợp bệnh Tính bệnh và hợp bệnh có phương pháp điều trị khác nhau.
Bệnh Tam âm không có tính bệnh mà có kiêm bệnh
Lại như bệnh nghịch trị là bệnh do thầy thuốc chữa sai nguyên tắc thành ra biến chứng, Trọng Cảnh có phương pháp cứu nghịch để cứu vãn những trường hợp ấy
BẢN SẮC CỦA SÁCH THƯƠNG HÀN LUẬN
Căn cứ vào tên sách là Thương Hàn Luận và tài liệu trong sách Nội Kinh giải thích bệnh thương hàn: “Đông thương vu hàn, xuân tất bệnh ôn” (Mùa đông cảm hàn khí, sang xuân thành bệnh ôn nhiệt), người ta quan niệm phương pháp trị bệnh của Trọng Cảnh chỉ chữa bệnh thương hàn truyền nhiễm thuộc chứng ôn nhiệt mà thôi Bởi vây, học thuyết Trọng Cảnh không được phổ cập trong y giới Sự thực thì sách Thương Hàn Luận vạch ra phương pháp “Biện chứng luận trị” chữa đa số các bệnh kể cả ngoại cảm nội thương, hư lao, truyền nhiễm, thần kinh cho đến bệnh ngoài da với những dược phương đích đáng cho các loại bệnh ấy
Đặc điểm nữa của Trọng Cảnh đã thành lập, quy nạp những cái phức tạp – phải suy luận, nhận xét bối rối khó khăn – như âm dương, hàn nhiệt, hư thực, biểu lý, thủy hoả, khí huyết, phủ tạng, khinh khí thần, bộ vị phát bệnh, bệnh tình, bệnh thế cho tới ngũ hành sinh khắc v.v…vào trong từng bệnh hình trong sáu bệnh hình đã nói trên Qua thực tiễn lâm sàng của bản thân, chúng tôi nhận thấy quả thực là như vây
Thương Hàn chỉ có sáu loại bệnh hình mà nói là chữa đa số các bệnh, mới nghe không khỏi hoài nghi
Nguyên lai thuộc sáu loại bệnh hình thuộc vào sáu kinh trong thân thể con người, chúng là sáu môi trường thụ bệnh, hay nói cách khác, chúng là sáu nguyên nhân có trước của bệnh tật Bởi
vì nếu một kinh, có khi hai, ba kinh trong thân thể mất thế bình quân âm dương ( nguyên nhân có trước) thì bệnh tà (nguyên nhân có sau) mới có điều kiện xâm phạm vào một, hai, ba kinh ấy mà phát bệnh Chữa bệnh là chữa nguyên nhân có trước (môi trường thụ bệnh), không phải là chữa nguyên nhân có sau (bệnh danh) Do đó, vô luận bệnh gì, một khi môi trường đã không còn thích hợp với bệnh thì bệnh phải hết
Sở dĩ Trọng Cảnh không gọi là sáu kinh mà gọi là sáu bệnh, là ông tinh giản hóa với tính cách lập thành thuyết lục kinh vào trong sáu loại bệnh hình ấy, để cho dễ phổ cập, khỏi phải nhận thức với tài liệu phiền phức của thuyết lục kinh Đó là điều độc đáo của Hán y
Chữa bệnh theo thương hàn luận là biện chứng xem bệnh thuộc vào phạm trù loại bệnh hình nào trong sáu loại bệnh hình, sẽ chữa theo lệ chữa loại bệnh hình ấy
Ví dụ: chữa bệnh tả chẳng hạn, kể cả bệnh dịch tả: nếu thấy mạch vi tế, tay chân quyết lãnh, sợ rét mà không sợ nóng, mắt như buồn ngủ (mạch tượng và chứng hậu đặc trưng giống như đề cương của bệnh Thiếu âm), chữa bệnh tả sẽ theo lệ chữa bệnh Thiếu âm; nếu thấy mạch địa, mạch sác hoặc mạch hoạt, có khi mạch trầm mà hữu lực, không sợ rét mà sợ nóng, nếu khát thì uông uống nhiều nước và ưa nước nguội (mạch tượng và chứng hậu đặc trưng giống như đề cương của bệnh Dương minh), chữa bệnh tả theo lệ chữa bệnh Dương minh; nếu thấy mạch hoãn
và nhược, bụng đầy và đau từng lúc, ăn vào thì thổ, đi ngoài luôn luôn (mạch tượng và chứng
Trang 22hậu đặc trưng giống đề cương bệnh Thái âm), chữa bệnh tả sẽ theo lệ chữa bệnh Thái âm Bệnh
tả còn nhiều phụ chứng khác như đau bụng, ra nhiều mồ hôi, khát, bí tiểu tiện, co quắp tay chân, seo da đầu ngón tay v.v… có phụ chứng này hay phụ chứng khác không kể, vẫn căn cứ vào mạch tượng và chứng hậu đặc trưng giống như đề cương của loại bệnh hình nào, sẽ chữa theo lệ chữa bệnh hình ấy, phụ chứng sẽ cùng khỏi với bệnh
Các bệnh khác đều theo tôn chỉ ấy Dĩ nhiên là phải sử dụng phương dược cho thích đáng
có gia giảm, số lượng thuốc nhiều hay ít, hoặc phối hợp hai, ba phương trong một bệnh tùy từng trường hợp
Qua đó chứng minh rằng phương pháp trị bệnh của Trọng Cảnh chữa môi trường thụ bệnh
mà khỏi bệnh
NGUYÊN TẮC QUÂN BÌNH ÂM DƯƠNG TRONG SÁU LOẠI BỆNH HÌNH TAM
DƯƠNG VÀ TAM ÂM.
Ba loại bệnh tam dương đều là chứng thực thuộc bản chất nhiệt tức là dương thiên thắng phương pháp trị liệu đại khía khái như bệnh Thái dương môi trường thụ bệnh ở cơ biểu, dùng thuốc phát hãn để khu trục bệnh tà; bệnh Thiếu dương môi trường thụ bệnh ở bán biểu bán lý, dùng thuốc hòa giải để khu trục bệnh tà; bệnh Dương minh, môi trường thụ bệnh ở vị, trường; nếu là trường hợp chứng Dương minh phủ, sẽ dùng thuốc hạ đẻ để khu trục bệnh tà; nếu trường hợp là chứng Dương minh kinh, sẽ dùng thuốc thanh giải để khu trục bệnh tà v.v… những phép phát hãn, hòa giải, hạ, thanh giải là những phương tiện khác nhau để khu trục bệnh tà mà cứu cánh chung vẫn triệt bớt phần dương thiên thắng để phục hồi thế quân bình âm dương trong cơ thể, đem lại trạng thái chính thường Đó là “tà khứ chính an” (khu trục hết bệnh tà thì chính khí trở lại an toàn)
Ba loại bệnh tam âm đều là chứng hư thuộc bản chất hàn, tức là âm thiên thắng (âm thiên thắng chủ yếu là do dương suy) Phương pháp trị liệu lại khác hẳn: không dùng những phép phát hãn, hòa giải, hạ, thanh giải như trên, mà cả ba lọa loại bệnh đều chỉ dùng phép ôn bổ để khu trục bệnh tà Tuy phương dược của từng loại bệnh có khác nhau, mà căn bản những phương dược ấy vẫn nhằm mục đích ôn bổ, nghĩa là bù phần dương thiếu chủ yếu trị vào căn nguyên của phần
âm thiên thắng, phục hồi thế quân bình âm dương trong cơ thể; một khi cơ năng đầy đủ sẽ tự khu trục bệnh tà bằng cách tự hãn, tự hạ, tự giải , tự nâng cao nhiệt năng v.v…tùy thuộc môi trường thụ bệnh nông sâu, hay bệnh tình nặng hay nhẹ, bệnh thế hoãn cấp, đem lại trạng thái chính thường cho cơ thể Đó là chính an tà khứ (chính khí trở lại an toàn sẽ tự khu trục bệnh tà đi hết).Qua kinh nghiệm lâm sàng của chúng tôi: những bệnh tam âm do đờm ẩm, thủy khí tích tụ quá nhiều trong cơ thể như bệnh cổ chướng, bệnh phù thũng v.v… có thể dùng thuốc ôn hạ để khu trục đờm ẩm, thủy khí ra ngoài qua đường đại tiện, rồi dùng thuốc ôn bổ, chính khí trở lại, sẽ
tự khu trục thủy khí, đờm ẩm ra ngoài trước khi khỏi bệnh Nếu bệnh nhẹ hơn thì sẽ không có sự bài tiết thủy khí, đờm ẩm mà khỏi bệnh
Nếu không nắm vững quy tắc ấy, chữa bệnh tam dương bằng phương pháp trị bệnh tam
Trang 23âm, sẽ có thể gây tai họa cho bệnh nhân Chữa bệnh tam âm bằng phương pháp trị bệnh tam dương sẽ có thể xảy ra biến chứng, có những trường hợp thành hoại bệnh không cứu vãn được với quy tắc trị liệu bệnh tam dương và tam âm trên đây, và qua quá trình thực tiễn kinh nghiệm quá trình lâm sàng của bản thân, chúng tôi rút ra một nguyên tắc như sau:
• Dương thịnh âm suy thì phải phạt dương để cứu âm (bớt dương đi để phục hồi thế quân bình)
• Âm thịnh dương suy thì phải bổ dương để chống âm (thêm dương vào để phục hồi thế quân bình)
Nguyên tắc quân bình âm dương về loại bệnh tam âm giải quyết như vậy là rất khoa học, khác nào như giải một bài toán về đại số, muốn hạôn shaj giá trị tuyệt đối của một con số âm (-) thì phải cộng thêm một con số dương (+), chứ không phải bớt âm (-) bằng cách trừ âm (-)
Ngoài ra Trọng Cảnh đôi khi cũng phối hợp châm cứu với phương dược Để nâng cao hiệu quả trị liệu và tiết kiệm thuốc, chúng ta cũng có thể làm như vâyvậy
Theo chúng tôi nghĩ, việc phối hợp này dựa tên nguyên tắc: công thức, mức độ châm cứu
và phương thang phải thống nhất với nhau để cùng đạt mục đích quân bình âm dương, cụ thể là:
• Đối với bệnh tam dương, bản chất dương thiên thắng, phép chữa là phạt dương (phát hãn, hòa giải, tả, thanh giải) để cứu âm, nên dùng phép châm
Trong mỗi bệnh hình tam dương có phân ra :
Một chứng thực tương đối mà Trọng cảnh kèm thêm tiếp vị ngữ trúng phong, nên dùng phép châm tả là chủ yếu
Một chứng hư tương đối mà Trọng Cảnh kèm thêm tiếp vị ngữ thương hàn, nên dùng phép châm bổ, hoặc bình bổ, bình tả là chủ yếu
• Đối với bệnh tam âm, bản chất dương suy, phép chữa là bổ dương (ôn bổ), nên dùng phép ôn châm và cứu là chủ yếu
Xin chú ý những điều sau đây:
Dương thiên thắng, do nhiệt làm tiêu hao tân dịch mà gọi là dương thịnh âm suy, có nghĩa
là vì dương thịnh làm thương tổn âm, âm là tân dịch Gọi tân dịch là âm, bởi sự chuyển hóa trong
cơ thể tạo thành tân dịch (nội tiết và ngoại tiết) đòi hỏi nhiều năng lượng Bệnh tam dương dùng biện pháp công, tả, hòa giải, thanh giải đều là phương pháp phạt phần dương thừa Nếu không phạt dương kịp thời, thì nhiệt sẽ làm tiêu hao tân dịch (âm), như vậy là vì dương làm thương tổn
âm, chứ không phải vì thiếu âm mà sinh ra phát nhiệt (đây là chân tượng nhiệt) Do thiếu khách quan do nhận định, lấy quả làm nhân, khiến cho hiểu nhầm như thế Chúng ta chớ thấy người xưa dùng lương dược, âm dược đề hòa giải nhiệt, thanh giải nhiệt - phạt phần dương thiên thắng
- mà cho là bổ âm Quan niệm như vậy là sai nguyên tắc quân bình âm dương Nên hiểu theo nghĩa nhiệt giả hàn chi
Trang 24dịch, mà thành ra dương suy tới một mức độ nào đó thành ra âm cũng hư, trên thực tế có nghĩa là thiếu tân dịch (âm) Do thiếu tân dịch, cơ thể sinh ra những giả tượng nhiệt (khát nước, khô môi,
lở lưỡi, lở miệng, mặt đỏ, phát trào nhiệt, đại tiện táo…) Cũng bởi nhận xét thiếu khách quan, người ta cho là âm hư phát nhiệt, có nghĩa là vì thiếu âm mà sinh ra phát nhiệt Cũng do sự lấy quả làm nhân như trên, không phân biệt chân tượng nhiệt và giả tượng nhiệt, dẫn đến hiểu nhầm
là âm hư mà phát nhiệt, nên quen dùng phương pháp bổ âm để chữa như chữa các bệnh dương thiên thắng Đó cũng là làm sai nguyên tắc quân bình âm dương (đáng lẽ phải bổ dương)
Trong ba loại bệnh âm thiên thắng, để khôi phục thế quân bình âm dương, chủ yếu dùng phép ôn bổ (bổ dương) Gặp trường hợp giả tượng nhiệt, biểu hiện một cách trầm trọng, thêm vào những bài thuốc ôn bổ phải tạm thời dùng một vài vị lương dược để giải quyết giả tượng nhiệt ấy; khi giả tượng nhiệt đã hết, bỏ ngay lương dược để ôn dược phát huy đầy đủ tác dụng trong việc giải quyết mâu thuẫn âm dương trong cơ thể Khi thế quân bình âm dương trong cơ thể đã được khôi phục, giả tưởng nhiệt mất hẳn, đồng thời bệnh khỏi và người trở nên khỏe mạnh
Quân bình âm dương là thống nhất hai mặt mâu thuẫn, khả năng phát sinh và khả năng tiêu hao sinh lực, đưa đến một thế cân đối âm dương
Âm dương trong y lý là hai cái thế so sánh giữa tổng sinh lực cơ thể tiêu hao đi, lấy một thế quân bình làm tiêu chuẩn (âm dương là hai tỷ lệ, chứ không phải là hai trạng thái đơn độc) Mỗi người có một thế bình quân âm dương, luôn biến chuyển theo những tác động phức tạp của sinh lý cơ thể Nghĩa là trạng thái động, không phải là trạng thái tĩnh ; không nên cho rằng âm dương là hai khối lực lượng bí hiểm nào đó quân bình ngang nhau trong cơ thể con người
Ý NGHĨA CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG LUẬN TRỊ
Nói về biện chứng luận trị, chúng tôi xin phân biệt hai danh từ chứng hậu và chứng trạng khác nhau như thế nào :
Chứng trạng là những hiện tượng phát nhiệt, sợ rét, nhức đầu, ẩu thổ, nói mê, lưỡi đen, lạnh chân v.v…
Chứng hậu là nhóm chứng trạng đồng thời cùng phát, tổng hợp thành một đề cương của một bệnh hình nào đó trong sáu loại bệnh hình tam dương và tam âm
Những bệnh mà cùng một bệnh danh mà khác chứng hậu và mạch tượng thì phép trị bệnh khác nhau; những bệnh có bệnh danh khác nhau mà chứng hậu và mạch tượng giống nhau thì phép trị bệnh cùng chung một phương pháp.
Xin thuyết trình cụ thể :
Ví dụ chuẩn đoán bệnh phế viêm Ngoài những chứng trạng biểu hiện bệnh phế viêm, lại
có chứng hậu ; phát nhiệt, sợ gió, đau khớp xương, đau mình, đau lưng, phát suyễn, không có mồ hôi, mạch phù khẩn: đó là bệnh phế viêm thuộc phạm trù bệnh Thái dương, phải uống bài Ma hoàng thang để phát hãn thì khỏi
• Bệnh phế viêm mà có chứng hậu : trong lồng ngực và hai bên sườn đầy hơi bí bích lắm, người lìm lịm không muốn ăn uống, mạch phù tế Đó là bệnh phế viêm thuộc phạm trù bệnh Thiếu dương, phải uống bài Tiều sài hồ thang để hòa giải thì khỏi
• Bệnh phế viêm mà có chứng hậu : khạc ra đờm, trong nhực bĩ ngạch (tình trạng bế tắc, cứng rắn), không nằm yên được, khí xung lên yết hầu, thốn mạch vi phù, đó là bệnh
Trang 25phế viêm thuộc phạm trù bệnh Thái dương mà bệnh độc uất trệ ở hung bộ, nên phải uống bài Qua đế tán cho thổ ra thì khỏi.
• Bệnh phế viêm mà có chứng hậu : không đi đại tiện được, phúc bộ đầy cứng, phát suyễn, trào nhiệt, nói mê, mạch trầm trì có lực, đó là bệnh phế viêm thuộc phạm trù bệnh Dương minh, phải uống bài Đại thừa khí thang để hạ thì khỏi
• Bệnh phế viêm mà có chứng hậu : phát nhiệt, sợ rét, chân tay lạnh, mắt như buồn ngủ, mạch vi tế, đó là bệnh phế viêm thuộc phạm trù bệnh Thiếu âm, phải uống bài Phục linh tứ nghịch khứ sâm gia quế thang, thêm tế tân, chế bán hạ, để ôn bổ thì khỏi Năm trường hợp bệnh phế viêm, mỗi trường hợp chữa một khác, vì chúng cùng một bệnh danh mà môi trường phát bệnh và bản chất phát bệnh khác nhau
Một ví dụ khác: chẩn đoán bệnh phế kết hạch, bệnh trường viêm, bệnh thận viêm chẳng hạn Nếu ba bệnh ấy, ngoài những chứng trạng biểu hiện về từng bệnh, lại có chứng hậu trong lồng ngực và hai bên sườn đầy hơi bí bích lắm, mạch phù tế, chứng hậu và mạch tượng cùng giống nhau, thì chữa cả ba bệnh ấy theo lệ chữa bệnh Thiếu dương, vì bệnh danh tuy khác nhau
mà môi trường và bản chất của bệnh là một Nếu ba bệnh ấy đều có chứng hậu phát nhiệt sợ rét, chân lạnh, mắt như buồn ngủ, mạch vi tế, chứng hậu và mạch tượng cùng giống nhau, thì chữa cả
ba bệnh ấy theo lệ chữa bệnh Thiếu âm, vì bệnh danh tuy khác nhau mà môi trường và bản chất của bệnh là một
Nhà danh y Nhật Bản Đại Trủng Kinh Tiết nói về tôn chỉ của Thương hàn luận: “Kỳ chứng nhược đồng tắc vạn bệnh nhất phương; kỳ chứng nhược dị tắc nhất độc vạn phương”, nghĩa là một phương thuốc có thể chữa muôn bệnh khác nhau, nếu những bệnh ấy có chung một chứng hậu (những bệnh ấy có cùng chung một môi trường, một bản chất); những bệnh có cùng chung một bệnh danh mà chứng hậu của chúng khác nhau (môi trường và bản chất của những bệnh ấy khác nhau), thì những bệnh cùng một bệnh danh ấy sẽ chữa với muôn phương thuốc khác nhau
Có thể lấy câu ấy tổng kết phép biện chứng luận trị
Có lẽ có người sẽ hỏi tại sao không thêm những vị hàn lương như sinh địa, mạch môn v.v… để chuyên chữa bệnh phế viêm vào những bài thuốc trong năm trường hợp chữa bệnh phế viêm ở trên đây? Xin trả lời rằng: những bài Ma hoàng thang, Tiểu sài hồ thang, Qua đế tán, Đại thừa khí thang là những bài thuốc không trực tiếp chữa bệnh phế viêm, mà chúng là những phương đi đôi với pháp để chữa những bệnh thuộc phạm trù bệnh tam dương, cho nên không phải thêm vị nào khác Ví dụ như bệnh phế viêm thuộc loại bệnh Thái dương, pháp là phát hãn, phương là Ma hoàng phương, uống thuốc cho ra mồ hôi thì khỏi
• Bệnh phế viêm thuộc loại bệnh Thiếu dương, pháp là hòa giải, phương là Tiểu sài hồ thang, uống thuốc cho môi trường bán biểu, bán lý được hòa giải thì khỏi
• Bệnh phế viêm thuộc loại bệnh Thái dương mà bệnh độc uất trệ ở hung bộ, pháp là thổ, phương là Qua đế tán, uống thuốc cho thổ ra thì khỏi
• Bệnh phế viêm thuộc loại bệnh Dương minh, pháp là hạ, phương là Đại thừa khí thang, uống thuốc cho đi ngoài được thì khỏi
Dùng phép hãn, hòa giải, thổ, hạ, là những phép để triệt bớt phần dương thiên thắng nhằm khôi phục thế quân bình âm dương trong cơ thể Khi cơ thể thống nhất mâu thuẫn giữa âm và dương thì sẽ tự chữa khỏi bệnh
Còn những bệnh thuộc phạm trù bệnh tam âm, pháp của ba loại bệnh Thái âm, Thiếu âm và Quyết âm đều là ôn bổ (bổ dương), cho nên dùng những bài ôn bổ có thể gia những vị trực tiếp
Trang 26nghịch khứ sâm gia quế thang, thêm binh lang, hậu phác chẳng hạn Tuy nhiên, gặp trường hợp bệnh lýy thuộc loại bệnh Thiếu âm quá nặng, phát nhiệt cao độ, mệt lắm, có thể nguy ngay, chúng tôi chữa với Tứ nghịch, không gia vị nào khác, ly lỵ thuộc loại bệnh Quyết âm, dùng bài
Ô mai hoàn, gặp trường hợp âm quá thiên thắng, chúng tôi sử dụng bài Ô mai hoàn, bỏ sâm, quy, liên, bá, đều khỏi Khi âm dương được cân đối trong cơ thể sẽ tự khỏi bệnh
Qua đó thấy rằng đông yĐông y chữa người bệnh nhân nhằm bảo toàn sinh lực, sức khỏe cũng trở lại nhanh chóng
Chúng ta thấy trị bệnh theo phép biện chứng của Trọng Cảnh, pháp và phương đi đôi với nhau như hình với bóng, đơn giản, cụ thể và rõ ràng, tránh được nhiều điều ức đoán trong chuẩn trị, ít phạm sai lầm, thực là một phát minh lớn của đông yĐông y nói chung, của Kinh phương nói riêng
MẠCH THƯỜNG VÀ MẠCH BIẾN CHÂN TƯỢNG VÀ GIẢ TƯỢNG TRONG CÁC
Do đó, y gia Trung Quốc cũng như Nhật Bản đã có người đưa ra ý kiến: mạch hiện ra có khi thường có khi biến, chứng hiện ra có khi chân có khi giả Đại ý nói rằng mạch và chứng phát hiện không máy móc, một chiều, khi thế này, khi thế khác mà vẫn theo quy luật khách quan Cùng một ý trên, có người phát biểu: có khi phải xả mạch cầu chứng và có khi phải xả chứng cầu mạch Nghĩa là có trường hợp phải dựa theo chứng mà bỏ mạch để nhận định bệnh, có trường hợp phải dựa theo mạch mà bỏ chứng để nhận định bệnh Vấn đề được đặt ra mà chưa cụ thể hóa
Bởi vậy cho nên gặp trường hợp đặc biệt này, chúng ta cần phải thận trọng suy xét xem mạch tượng nào là mạch thường, mạch nào là mạch biến Cũng như chứng trạng nào là chân tươngtượng, chứng trạng nào là giả tượng, mới quyết định được bệnh hình nào trong sáu loại bệnh hình
Sự biến đổi này không phải là ngẫu nhiên vô kỷ luật, mà là tính phổ biến của quy luật hỗ tương tác động ở sự vật Chúng ta cần phải chú ý
Cụ thể chúng tôi đã từng gặp những trường hợp mạch hiện ra sác mà chứng hậu hiện ra hoàn toàn đúng như đề cương của bệnh Thiếu âm, ngoài ra còn có vài ba chứng trạng coi như là
Trang 27nhiệt Những trường hợp này, chúng tôi theo chứng, bỏ mạch Khi chẩn mạch thấy mạch sác (có khi mạch động đến 100 lần trong một phút) Nhưng nhận xét kỹ thì thấy mạch động nhanh mà yếu, trọng ấn càng thấy rõ Như thế mạch sác mà vô lực Chúng tôi cho rằng bản thể của tim vốn suy nhược, nhưng tim phải gắng sức co bóp nhanh để bao bảo trợ cho việc tuần hoàn, do đó phát sinh giả tượng mạch sác Sau khi bệnh nhân uống mấy thang thuốc ôn bổ, mạch trở nên vi tế đúng với mạch tượng của bệnh Thiếu âm Bệnh nhân tiếp tục uống thuốc ôn bổ thì khỏi bệnh Điều đó chứng minh giả thuyết của chúng tôi.
Lại có những trường hợp mạch hiện ra vi tế, chứng hạu hậu hiện ra không hoàn toàn đúng như đề cương của bệnh Thiếu âm, mà có những chứng trạng coi như là nhiệt: phát nhiệt cao độ
mà sợ rét, mặt đỏ, miệng khô, có mụn ở lưỡi và ở trong miệng, không khát, đau đầu, mất ngủ, người mệt nhọc lắm Những trường hợp này, chúng tôi theo mạch, bỏ chứng
Chúng tôi cho đó là bệnh Thiếu âm, vì dương quá suy, không đủ khả năng chuyển hóa thành tân dịch, sinh ra giả tượng nhiệt (căn cứ vào bệnh tình: phát nhiệt mà sợ rét, miệng khô, lở loét mà không khát nước cũng đủ chứng tỏ là giả nhiệt) Chúng tôi chữa với những bài Tứ nghịch gia hoàng liên hay là mật lợn (để tư trợ tân dịch) đều khỏi bệnh
Chúng tối thấy trường hợp theo chứng bỏ mạch nhiều hơn theo mạch bỏ chứng., cụ thể ở những bệnh mất mạch Theo phép biện chứng, vẫn có thể có sơ sở vững chắc: dựa vào chứng hậu đề cương của bệnh nhìn hình nào sẽ chữa theo lệ chữa bệnh hình ấy Còn những bệnh không phát hiện đầy đủ như một đề cương cẫn cần có thế thể tế nhận hiện tượng để phân biệt tạng hàn, tạng nhiệt (như chúng tôi đã trình bày cụ thể ở trên) và căn cứ vào bệnh tình nữa Thấy bệnh nhân thuộc vào người tạng nhiệt, theo chứng trạng mà quy nạp vào loại bệnh Tam dương; bệnh nhân thuộc vào người tạng hàn, theo chứng trạng mà quy nạp vào loại bệnh Tam âm Với tinh thần thận trọng, quan sát kỹ lưỡng, chúng tôi tin rằng không đến nỗi phạm sai lầm đáng tiếc.Mạch có khi thường, có khi biến, chứng có chân tượng, giả tượng, cho thấy sự thật nằm trong thực tại hiện ra dưới nhiều hình thức ở bên ngoài, đổi thay chuyển hóa theo điều kiện chủ quan và khách quan, biến diễn luôn luôn ở sự vật
Cơ thể con người là một khối thống nhất và tổng hợp, các chức năng sinh lý, bệnh lý có ảnh hưởng qua lại chặt chẽ với nhau, diễn biến theo quy luật này hay quy luật khác, phổ biến và nhất định, tạo thành những hiện tượng cụ thể Bởi vậy, khi chuẩn đoán, thầy thuốc nhìn nhận toàn diện mạch và chứng phối hợp với nhau, không bỏ sót khía cạnh nào, đem tổng hợp lại sẽ thấy bản chất và nguyên nhân phát bệnh Như vậy tránh khỏi những giả tượng lừa dối
Đông yĐông y chữa theo nguyên nhân phát bệnh và bản chất hàn hay nhiệt của bệnh, không chữa theo hiện tượng (bệnh danh) và cục bộ
Trọng Cảnh cho rằng hết thảy những cái gì ngoại lai như lục dâm: phong, hàn, thử, thấp, táo, hỏa, cho đến vi khuẩn, siêu vi khuẩn, vào trong cơ thể con người, phát bệnh sẽ theo tính chất của môi trường mà phát thành bệnh có tính chất hàn hay nhiệt Do đó, đông yĐông y chữa môi trường phát bệnh, hay là chữa con người bệnh, chứ không chữa bệnh Bởi vậy, chữa bệnh truyền nhiễm, Trọng Cnahr Cảnh chú trọng vấn đề bài trừ vi khuẩn độc (độc tố của vi khuẩn) ra ngoài
cơ thể, bởi vì vi khuẩn độc trực tiếp gây nên bệnh, và điều kiện đã cho phép vi khuẩn sinh ra và lan rộng ra; đồng thời phải bảo vệ sinh lực của người bệnh (sin xin nói thêm trong phần tâm đắcTâm đắc) Ví như chữa bệnh dịch tả chẳng hanhạn, cùng một thời gian, cùng một địa điểm,
mà thường phải chữa mỗi bệnh nhân một khác, tùy thuộc sự chuẩn đoán theo phương pháp biện chứng luận trị Không thể dùng một bài thuốc đem chữa khắp Chữa như vậy có thể gây nên
Trang 28nguy hiểm cho những ai gặp phải thuốc không hợp với tạng hàn hay tạng nhiệt của mình.
Trở lại vấn đề chữa bệnh theo chứng bỏ mạch, hay theo mạch bỏ chứng, là rất tế nhị trong việc nhận thức của đông yĐông y ở những trường hợp khá đặc biệt này, cần phải thận trọng, chu đáo và có nhiều kinh nghiệm
Trang 29KHÔNG NẮM VỮNG NGUYÊN TẮC QUÂN BÌNH ÂM DƯƠNG CHỮA BỆNH SAI
Người xưa đã cảnh báo: “Nhiệt ngộ nhiệt tắc cuồng, hàn ngộ hàn tắc tử” (bệnh nhiệt uống nhầm thuốc ôn nhiệt thì điên, bệnh hàn uống nhầm thuốc hàn lương thì chết) bệnh Bệnh nhiệt uống nhầm thuốc nhiệt sao lại không chết? Bởi vì thuốc nhiệt, so do dược tính thăng phù, nó bốc lên thành điên cuồng, biết ngay là chữa sai mà kịp thời đổi thuốc, cho nên không chết Đó là nói trường hợp bệnh nhiệt vừa, nếu gặp loại bệnh Dương minh (bệnh cực nhiêt) mà cho uống nhầm thuốc nhiệt thì khó lòng cứu vãn được còn Còn bệnh hàn, nếu uống nhầm thuốc hàn lương mà bệnh nhân chết ngay thì biết được là chữa sai nhầmsai lầm, sẽ rút kinh nghiệm về sau Khốn nỗi chữa sai mà bệnh lại đỡ, rồi đột nhiên biến chứng, dai dẳng mãi bệnh nhân mới chết, cho nên thầy thuốc không biết rằng mình đã chữa sai
Trường hợp như thế này đâu phải là ít, nhưng mấy ai đề để tâm nhận xét để rồi rút kinh nghiệm về sau, chỉ coi đó là việc tự nhiên, lý do bởi bước đầu đã thấy công hiệu! Rồi kết luận:
“Chữa được bệnh, không chữa được mệnh”
Cũng có khi bệnh sơ phát thuộc loại bệnh tam dương ôn nhiệt, vì dùng thuốc chưa đúng với bệnh làm cho bệnh kéo dài thời gian không khỏi; hoặc quá hãn, quá hạ, quá thanh nhiệt, cơ năng bệnh nhân suy giảm dần dần đổi thành bệnh tam âm mà không biết, vẫn đinh ninh là bệnh tam dương, vì thấy một vài chứng nhiệt (giả tương) còn phát hiện!
Chữa bệnh không biệt mạch thường mạch biến, không nhận định chân tượng giả tượng là những hiện trạng thực tế của bệnh đang diễn biến trong cơ thể bệnh nhân, mà chỉ dựa vào chủ quan với thành kiến bất di bất dịch của mình như: dương thường hữu, âm thường bất túc, âm hư phát nhiệt, lục khí đô tòng hóa hỏa v.v…và những hiện tượng phiến diện, gặp trường hợp bệnh tam âm có giả tượng nhiệt, mà chữa theo phép bổ âm thoát nhiệt, tư âm giáng hỏa là không đúng nguyên tắc quân bình âm dương, là một tai họa! Cách trị liệu sai trái như thế đem lại hậu quả có hại lâu dài, đông yĐông y cần phải kịp thời bổ cứu
Nắm được nguyên tắc quân bình âm dương sẽ hiểu chữ “bổ” của Trọng Cảnh có nghĩ là
“bù cái thiếu” để khôi phục thế quân bình âm dương Tác dụng của quân bình âm dương trong cơ thể bao quát cả trị bệnh và bồi bổ sức khỏe con người bởi vì chính khí an toàn, không những đã khỏi bệnh mà còn bảo tồn sinh lực, tất cả những gì cần thiết cho sự sống khỏe mạnh như khí, huyết, tân dịch, các chất v.v… đều được tự chuyển hóa với1 những thức ăn thức uống hàng ngày
có tính chất tư dưỡng thích hợp với thể tạng hàn nhiệt của bệnh nhân Sau khi khỏi bệnh không phải uống thêm thuốc bổ khí, bổ huyết, bổ tỳ, bổ thận v.v… Đó là đặc sắc của Kinh phương.Nguyên tắc quân bình âm dương phù hợp với quy luật khách quan, nó là yếu quyết của phương pháp trị liệu đông yĐông y, là tôn chỉ của Thương hàn luận và Kim quỹ yếu lược
Trang 30NHỮNG ĐIỂM ĐẶC SẮC CỦA ĐÔNG Y ĐÔNG Y
Chúng tôi xin lược thuật một vài kinh nghiệm của ông Thanh Bản Cầu Chân - một nhà tây
y Nhật bản khổ công nghiên cứu “Thương hàn luận” trong mười tám năm - viết trong “Hoàng hán y học” để giới thiệu những điểm đặc sắc của Trọng Cảnh:
“Từ thời Tấn, Đường trở về sau, phép chẩn phúc1 của Trọng Cảnh cơ hồ bỏ mất Theo phép chẩn phúc có thể biết bệnh biến nguyên phát2 ở khí quan A có thể gây bên bệnh biến ở khí quan B hoặc khí quan C Nếu chuẩn đoán thấy chứng cố định3 ở phúc bộ trong những bệnh trạng phức tạp từ nguyên phát bệnh biến ở khí quan A đến tục phát bệnh biến4 ở khí quan B,C, đem dùng những bài thuốc đích đáng với phúc chứng5, thì các bệnh biến ở những khí quan ấy – không
cứ là nguyên phát hay tục phát – đều khỏi cả Ví dụ: khí chẩn đoán thấy chứng cố định ở phục bộ như trong lồng ngực, hai bên sườn đầy hơi bí bách lắm, đó là phúc chứng Phương pháp chẩn đoán để biết phúc chứng là phép chẩn phúc
Phối hợp chẩn mạch, chẩn phúc, chẩn thiệt và ngoại chứng là căn bản của việc chuẩn đoán Như thế có thể quyết định được phép trị bệnh, pháp và phương đi đôi với nhau như bóng với hình
Những khí quan ở trong phúc bộ bị bệnh như vị viêm, trường viêm, can tạng viêm, đởm nang viêm, phế kết hạch, tâm tạng bệnh, cước khí, sốt rét, nếu thất những bệnh ấy có kèm theo phúc chứng: trong lồng ngực, hai bên sườn đầy hơi bí bích lắm hợp với mạch tượn, thiệt chứng
và ngoại chứng của nó (Phúc chứng giống như đề cương của bệnh Thiếu dương, cho nên những bệnh kể trên đều thuộc phạm trù bệnh Thiếu dương, cho nên những bệnh kể trên đều thuôc phạm trù bệnh Thiếu dương, cho nên những bệnh kể trên đều thuộc phạm trù bệnh Thiếu dương - lời người thuật) Sẽ chọn dùng một bài thuốc trong những bài có vị Sài hồ làm chủ như bài Tiểu sài
hồ thang, Đại sài hồ thang, Sài hồ khương quế thang,… (là những bài thuốc chữa loại bệnh Thiếu dương - lời người thuật) thì những bệnh ấy sẽ khỏi Nếu chẩn đoán sai tên bệnh, ví như bệnh phế viêm nhầm là bệnh viêm, bệnh hung mô viêm về phía hữu, nhầm là can tạng bệnh, nhưng chẩn đoán phúc chứng không nhầm, chữa theo phương pháp ấy vẫn khỏi
Cùng một lý ấy, chẩn đoán khó khăn, tuy chưa xác định được tên bệnh, nhưng theo phép chẩn đoán trên đay mà chữa thì vẫn không sai, quyết không làm cho kéo dài thời gian điều trị, cũng không làm cho không thể vãn hồi nguy biến
Cũng cùng một lý ấy, những trường hợp người bệnh đã bị bệnh mà không biết, trông bề ngoài vẫn khỏe mạnh, nếu dùng phương pháp chẩn phúc biết được gốc bệnh ẩn náu ở chỗ nào trong phúc bộ, thì có thể tiêu trừ bệnh độc trước khi chưa phát hiện Trọng Cảnh nói: “thầy thuốc giỏi chữa bệnh từ khi bệnh chưa phát hiện” là thế đấy (đây là ông Than BnarBản Cầu Chân nói riêng về những trường hợp thuộc loại bệnh Thiếu dương)
Xem đó thấy rằng một vị trí trong phúc bộ bị bệnh (nguyên phát), khí quan ở trong vị trí ấy tục phát chứng phát viêm, dùng thuốc chứng nguyên phát ở phúc bộ, tức là chữa môi trường phát bệnh mà khí quan tục phát bệnh ở trong mọi môi trường phát bệnh mà không chữa bệnh Cái mà đông yĐông y họi là “bán biểu bán lý” là môi trường ở hung phúc bộ
Trang 31ứng dụng với đa số bệnh tật và những chứng cấp cứu một bài thuốc có khả năng chữa khỏi nhiều bệnh khác nhau, hoặc trái nhau, nếu nguyên nhân phát bệnh là một.
Xin cử mấy bài làm ví dụ:
Công hiệu của bài Đại thừa khí thang:
1 Phát hiện sợ nóng mà không sợ rét, ra nhiều mồ hôi, không ăn được, bụng đầy cứng, đại tiện bí kết, nói mê
2 Đi đại tiện luôn ra thuần nước, không ăn được, miệng lưỡi khô, phía dưới tim đau
3 Trong lồng ngực đầy hô, hai hàm răng xiết chặt lại, nằm ngửa lưng uốn còn, chân co lại, tức là bệnh kính
4 Sản phục ác lộ không ra được, bí đại tiện, trong lòng bứt dứt, phát hiện không ăn được, nếu có ăn thì thổ
Những bệnh này có chứng trạng giống nhau, có chứng trạng khác nhau, có chứng trạng ngược nhau (dĩ nhiên là cũng chung một mahj tượng), mà đều dùng bài Đại thừa khí thang chữa khỏi, vì chúng thuộc phạm trù bệnh Dương minh, mà bài ấy là bài thuốc hạ (hạ phân táo kết) chữa loại bệnh Dương minh
Công hiệu của bài Trư linh thang:
1 Mạch phù, phát nhiệt, miệng khát, tiểu tiện không lợi
2 Đại tiện lỏng, tiểu tiện không lợi, khát nước, nôn mửa, ho, trong lòng bứt rứt, mất ngủ
3 Tiểu tiện không lợi hoặc đi rỏ giọt, miệng khát
4 Bệnh ở bàng quang và niệu đạo, đi tiểu buốt, miệng khát
5 Tiểu tiện rỏ giọt ra máu mủ, khát nước hoặc miệng khô, tức là bệnh lậu
Những bệnh này đều dùng bài Trư linh thang chữa khỏi, vì chúng thuộc loại bệnh Dương minh
Công hiệu của bài Cắt căn thang:
1 Phát nhiệt sợ gió, nhức đầu, gáy và sống lưng cứng đờ, ngoảnh cổ ra đằng sau khó khăn
và đau, không có mồ hôi
2 Phát nhiệt sợ gió, không có mồ hôi, tiểu tiện ít, khí ở hạ tiêu đưa lên ngực, hai hàm răng xiết chặt lại không nói được
3 Bệnh Thái dương và bệnh Dương minh cùng phát (hợp bệnh), đi đại tiện lỏng
4 Bệnh ma chẩn (lên sởi), bệnh đan độc, bệnh não mô viêm (thuộc tạng nhiệt)
Những bệnh này đều dùng bào Cắt căn thang chữa khỏi, vì chúng thuộc phạm trù bệnh Thái dương, mà bài ấy là một trong những bài phát hãn giải nhiệt thuộc loại bệnh Thái dương.Công hiệu của bài Lý trung thang hoặc hoàn:
1 Đầy bụng mà thổ, không ăn được, đi đạu tiện lỏng, ê ẩm đau bụng
2 Hoắc loạn, nhức đầu, phát hiện sốt rét, mình mẩy đau, không khát nước
3 Kém ăn hoặc ăn khó tiêu, đại tiện phân sền sệt không thành khuôn, ăn thức ăn có tính chất mát đi ngoài phân lỏng
Những bệnh này đều dùng bài Lý trung thang hoặc hoàn chữa khỏi, vì chúng thuộc phạm trù bệnh Thái âm, mà bài ấy là một trong những bài thuốc ôn bổ chữa bệnh tam âm nhẹ
Công hiệu của bài Phục linh tứ nghịch khứ sâm gia quế thang:
1 Phát nhiệt cao độ mà sợ rét, chân lạnh, mắt buồn ngủ, nói mê trằn trọc, tay chân vật vã
2 Bí đại tiểu tiện, ra nhiều mồ hôi, phát hiện sợ rét, tay chân lạnh buốt (quyết nghịch), nằm trằn trọc, tay chân vật vã
3 Đau khớp xương, tay chân hay máy giật, chóng mặt, váng đầu, hoa mắt, hay nhãng trí, buồn bực
Trang 32Những bệnh này đều dùng bài Phục linh tứ nghịch khứ sâm gia quế thang chữa khỏi, vì chúng thuộc phạm trù bệnh Thiếu âm, mà bài ấy là một trong những bài thuốc ôn bổ chữa bệnh tam âm nặng.
Công hiệu của bài Ô mai hoàn:
1 Phát nhiệt cao mà sợ rét, tay chân lạnh buốt, thổ ra giun, không muốn ăn, hơi nóng đưa
từ dưới bụng lên tim, làm tim đau, khát nước (tiêu khát), nằm trằn trọc, vật vã
2 Đi lị, lý cấp hậu trong, phát hiện nhiệt hoặc không, không ăn được, khát nước, mệt nhọc lắm
3 Đi đại tiện thất thường, thỉnh thoảng đau bụng, ăn khó tiêu, bụng đói mà miệng không muốn ăn, có giun đũa hoặc giun kim
Những bệnh này đều dùng bài Ô mai hoàn chữa khỏi, vì chúng thuộc phạm trù bệnh Quyết
âm, mà bài ấy là một trong những bài thuốc ôn bổ chữa bệnh tam âm nặng
Qua kinh nghiệm, cùng với một số y gia nước ngoài, như ông Thang Bản Cầu Chân, với những đặc điểm về phương dược trên đây, suy ra sáu loại bệnh hình, chúng ta có thể tin được rằng Trọng Cảnh tinh giản hóa và hệ thống hóa có tính cách lập thành học thuyết Lục kinh vào sáu loại bệnh hình, thành lập phương pháp biện chứng luận trị chữa khỏi đa số bệnh tật, không còn là vấn đề hoài nghi nữa
TÓM TẮT NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA ĐÔNG Y ĐÔNG Y THEO PHƯƠNG PHÁP BIỆN CHỨNG LUẬN TRỊ CỦA TRƯƠNG TRỌNG CẢNH
Nói tóm lại, phương pháp biện chứng luận trị của Trương Trọng Cảnh: lý luận có hệ thống, thi trị có quy tắc, pháp và phương đi đôi ăn khớp với nhau như hai bánh xe răng tron một bộ máy Trước sau nhất quán dựa trên cơ sở triết học coi cơ thể con người là một chỉnh thể tổng hợp
và thống nhất (cả thể chất lẫn tinh thần) vốn có một lực lượng tự tổng hợp để đề kháng chống mọi bệnh tật xây dựng một phương châm trị liệu là áp dụng những biện pháo để phát huy và bồi dưỡng các lực lượng tự đề kháng của cơ thể con người Nội dung có thể thâu tóm thành mấy quan điểm then chốt sau đây coi như những nguyên tắc cơ bản:
1 Cơ thể con người hoạt động bình thường - tức là khỏe mạnh - là do các cơ quan sinh lý trong thân thể luôn luôn giữ được thế quân bình giữa mâu thuẫn cơ bản của hai cái thế gọi là âm và dương (âm dương theo nghĩa về y lý giải thích cụ thể ở trên là hai cái thế giữa tổng sinh lực cảu cơ thể phát sinh và tổng sinh lực cơ thể hao đi) Nguyên nhân phát sinh ra bệnh là mất sự quân bình âm dương trong cơ thể bệnh nhân
2 Bệnh mang tính chất cơ bản của môi trường nguyên nhân phát sinh ra bệnh, chia ra hai loại cơ bản: loại nhiệt và loại hàn Loại nhiệt có tính chất dương thiên thắng, loại hàn có tính chất âm thiên thắng Mỗi loại có thể có ba mức độ khác nhau: loại bệnh hình về nhiệt, loại hình hàn có ba bệnh về hàn Đó là nhận xét về phương diện âm dương trong các bệnh con người thuộc sáu bệnh hình
3 Chẩn bệnh phải phối hợp mạch tượng và chứng hậu để quy nạo các thứ bệnh sanh giống nhau hoặc khác nhau vào ba loại bệnh hình về nhiệt và ba loại bệnh hình về hàn Điều quan trọng là phải phân biệt mạch thường, mạch biến, chân tượng, giả tượng mới tránh khỏi sự sai lầm về bệnh nhiệt, bệnh hàn, cũng như mức độ hàn nhiệt khác nhau trong sáu loại bệnh hình ấy Đó là phương pháp chẩn đoán tìm ra nguyên nhân phát bệnh
4 Trị bệnh và dược phương phải căn cứ vào bệnh hình các dược tính để quân bình âm dương trong cơ thể bệnh nhân theo nguyên tắc:
Trang 33a Ba loại bệnh hình có tính chất nhiệt tức là ba loại bệnh thuộc dương thiên thắng phải dùng phép hãn, hòa giải, thổ, hạ hoặc thanh giải để triệt bớt dương đi đặng phục hồi thế quân bình trong cơ thể, không có phép bổ âm để phục hồi thế quân bình.
b Ba Ba loại bệnh hình có tính chất hàn tức là ba loại bệnh thuộc âm thiên thắng, phải dùng phép bổ dương đăng phục hồi thế quân bình âm dương trong cơ thể, không cho phép triệt âm đi phục hồi thế quân bình âm dương
c Phục hồi thế quân bình âm dương tức là phát huy và bồi dưỡng các lực lượng tự đề kháng của cơ thể, tạo điều kiện cho tự nhiên liệu năng tự chữa khỏi bệnh
5 Các dược phương, dược liệu, nói chung các thức có ảnh hưởng đến sinh lý con người,
cả đến thức ăn uống Không khí khô ráo hay ẩm ướt, đều mang tính chất hoặc hàn hoặc nhiệt, phải được cân nhắc phối hợp để đạt tính chất thích hợp với bệnh tình
Trên đây là những quan điểm then chốt, những nguyên lý cơ bản của đông yĐông y thep phương pháp biện chứng luận trị của Trương Trọng Cảnh mà người ta quen gọi là “Hán y” hay
“Kinh phương”
Trong các lý thuyết của đông yĐông y về nguyên nhân cơ bản phát sinh bệnh và các nguyên lý cơ bản chữa khỏi bệnh, chúng tôi đánh giá những nguyên lý cơ bản của phương pháp biện chứng luận trị mà chúng tôi đã cố gắng trình bày ở trên, theo sở đắc của chúng tôi, là có giá trị khoa học cao và có giá trị thực tiễn lớn hơn cả, so với học thuyết của các y gia khác Phương pháp biện chứng luận trj có thể lấy làm cơ sở lý luận khoa học và kinh nghiệm thực tiễn về khoa chữa bệnh của đông yĐông y
Trị bệnh và dược phương sẽ trở thành vấn đề dặt ra một bài toán về cân đối các nguồn năng lượng của bệnh nhân, và những phương thức giải đáp bài toán đó để bổ sung và bồi dưỡng một cách cân đối thích hợp các nguồn năng lượng đó
Theo triết lý của trị bệnh và dược phương này, chúng tôi tin đông yĐông y rất có thể kết hợp với tây y đã nghiên cứu sâu sắc, nắm vững được nguyên lý cơ bản của đông yĐông y
LÝ THUYẾT ĐÔNG Y ĐÔNG Y CỦA TRƯƠNG TRỌNG CẢNH CÓ TÍNH CHẤT
Trương Trọng Cảnh dựa vào nguyên lý quân bình âm dương như đã nói ở trên, và dựa vào
hệ thống kinh lạc (lục kinh), sáng tạo ra sáu lại bệnh hình tam dương và tam âm, làm nền tảng cho chẩn đoán và trị liệu một cách tổng hợp mà lại giản đơn, sát với thực tế khách quan của bệnh, không phải chờ đợi phân tích và suy luận phức tạp
Qua quá trình nghiên cứu và thực tiễn lâm sang của bản thân, chúng tôi nhận thấy Trọng Cảnh đã nắm vững những quy luật mâu thuẫn và thống nhất mây thuẫn, những phạm trù cơ bản
về triết học, như bản chất và hiện tượng, nội dung và hình thức, nguyên nhân và kết quả… Trọng Cảnh đã thấy rõ bất cứ bệnh nào cũng là biểu hiện sự thương tổn của toàn bộ cơ thể con người Cho nên phương châm trị liệu của ông là: điều trị người bệnh chứ không điều trị bệnh Nhưng hạn chế về phương tiện phân tích, về ngôn ngữ khoa học, về phương pháp diễn đạt tư tưởng lúc
Trang 34đương thời, Trọng Cảnh không thể vượt khỏi hoàn cảnh mà làm hơn thế được Tuy nhiên, nhìn vào phép chẩn đoán và trị liệu của ông, chủ yếu phải căn cứ vào mạch tượng và chưgns hậu của bệnh nhân đẻ quy nạp vào một hoặc hai trong sáu loại bệnh hình mà chữa Nếu người thầy thuốc quy nạp đúng vào bệnh hình nào đó của bệnh nhân, thì phương châm và phương dược sẽ có đầy
đủ ở bệnh hình ấy, và sẽ thu được hiệu quả không sai Do đó chúng tôi dám khẳng định rằng phương pháp biện chứng luận trị của Trọng Cảnh có tính chất khoa học Điều này có lẽ do học thuyết của Trọng Cảnh xuất phát từ cơ sở duy vật tợ phát từ cổ nhân từ thời Thần Nông Hoàng đế
Chúng tôi tin rằng với phương pháp nghiên cứu khoa học hiện đại, dưới ánh sáng duy vật biện chứng, chúng ta có thể lột bỏ màn sương duy tâm, siêu hình, thần bí hóa, xuyên tạc lý thuyết của Trương Trọng Cảnh, và làm sáng tỏ chân lý học thuyết của ông, đặng xây dựng một nền y học xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo một phương tiên tiện mới có ý nghĩa thừa kế một cách khoa học
VÀI NÉT VỀ SỰ BIẾN ĐỔI CỦA Y HỌC TRUNG QUỐC
Theo Trung Quốc y học sử, nền y học Trung Quốc có hệ lý luận mở đầu từ thời kỳ Chiến quốc Học thuyết âm dương ngũ hành và nội dung sách Nội kinh xuất hiện từ thời kỳ ấy (theo truyền thuyết thì học thuyết Âm dương ngũ hàn được thi hành toàn thịnh ở thời Hán, nó là cốt lõi của nền y học Trung Quốc
Đến thời Đông Hán, Trương Cơ (tự là Trọng Cảnh) - một nhà danh y kiệt xuất - kế thừa Nội kinh, Dược lục của thời trước, sáng tác sách Thương hàn tạp bệnh luận Ông tổng kết lý luận sách Nội kinh, tìm ra nguyên lý của bệnh tật phù hợp với quy luật khách quan, dựng nên phương pháp Biện chứng luận trị Trọng Cảnh đã đưa học thuật Hán y lên một trình độ rất cao Bởi vậy, đời sau suy tôn ông lên làm Y thánh
Tiếp theo đó, từ thời Ngụy, Tấn, Nam Bắc Triều, tới Tùy, Đường, vì chịu ảnh hưởng của đạo giáo thịnh hành lúc bấy giờ, thuyết Âm dương ngũ hành đã pha màu thần bí Các nhà danh y thời ấy nhơ Đào Hoàng Cảnh, Sào Nguyên Phương, Vương Thúc Hòa, Hoàng Phủ Mật, Từ chi Tài đều mang ít nhiều tư tưởng thần tiên vào y học Vương Băng đem thuyết đạo giáo chú thích sách Tố Vấn, Tô Tư Mịch phải trông đạo giáo và học thuyết Âm dương ngũ hành Cát Hồng chịu ảnh hưởng thần tiên diệu thuật hơn ai hết trong những y gia thời ấy Tuy nhiên về mặt học thuật:
y phương, mạch pháp, bản thảo v.v… các danh y đương thời đã có nhiều cống hiến vào nền y học không phải là không quan trọng
Vương Thúc Hòa thời Tây Tấn đã có công rất lớn sưu tập bộ Thương hàn tạp bệnh luận của Trương Trọng Cảnh trải qua loạn lạc đã bị mất mát không còn nguyên bản Ông tu chỉnh bộ sách ấy thành bộ Thương hàn luận và bộ Kim quỹ yếu lược còn lại ngày nay Trong khi biên thứ, Vương Thúc Hòa không khỏi không tham gia ý kiến của mình vào đó, cho nên về sau có mấy nhà chú thích Bộ Thương hàn luận đã quá lời chê trách họ Vương Nhưng nếu không có Vương Thúc Hòa thì đâu có Trương Trọng Cảnh?
Tiếp đến thời Tống, Lý học do hai nhà nho Trình Y Xuyên va Chu Hối Am sáng lập, ảnh hưởng vào y học không phải là nhỏ: nên y học Trung Quốc bước sang triết học siêu hình của lý học Học thuyết Ngũ vận lục khí (gọi tắt là Vận khí) ra đời Học thuyết này là thuyết ngũ vận: thủy, hỏa, mộc, kim, thổ là năm thế lực thiên nhiên phối hợp với nhau thành một quy luật, nó chi phối không những trong sinh lý, bệnh lý con người, mà nó còn chi phối cả vận hội của trời đất:
Trang 35vạn vật thịnh suy sinh tử, thời thế trị loạn tồn vong, không một cái gì không lệ thuộc vào nó Về bệnh tật, ví dụ: năm Giáp kỷ thuộc về thổ vận, năm Ất canh thuộc về kim vaanh,… năm nào thuộc về khí vận nào trong ngũ vẫn sẽ chi phối bệnh tật phát sinh trong ấy như thế nào… và Thiếu âm quân hỏa, Thiếu dương tướng hỏa, Thái âm thấp thổ, Dương minh táo kim, Quyết âm phong mộc, Thái dương hàn thủy…, thành lập một phương pháp trị liệu có khuynh hướng đi vào phân tích cho li và cục bộ Sau khi Tố Vấn bát thức vận khí luận của Lưu Ôn Như ra đời, lý luận vận khí rất thịnh hành Học thuyết siêu hình này được coi là cốt cán trong y học lúc đương thời
và ảnh hưởng sâu rộng đến đời sau
Y học từ thời Đường, Tống trở về trước không có môn phái riêng biệt, đến thời Kin, Nguyên, có Trương Nguyên Tố tuyên bố: “Vận khí đời xưa khác đời nay, phương dược đời xưa không chữa khỏi bệnh đời nay” (Vận khí bất tè cổ kim dị quỷ, cổ phương tân bệnh bất khả năng trị lũ) Kế đó có bốn nhà y học lớn là Lưu Hà Gian, Trương Tử Hòa, Lý Đông Viên và Chu Đan Khê (người ta quen gọi là “Tứ Đại Gia”) Mỗi người chủ trương một lý thuyết thành bón phái trái nhau Từ đấy về sau, tôn chỉ Hán y đã thay đổi hết
Lưu Hà Gian tôn trọng đặc biệt học thuyết vận khí Lý thuyết của ông là: “Ngũ vận lục khí biến hóa có quan hệ mật thiết với bệnh tật con người sinh khí trong nhân thể tùy thuộc ngũ vận lục khí hưng suy trong bốn mùa, các thứ khí như phong, thấp, táo, hàn trong bệnh lý có thể hóa theo hỏa khí mà sinh ra nhiệt” ÔNg cho rằng: “Tổng số bệnh biến có hơn hai mươi loaị bệnh thuộc hàn khí, còn hơn tám mươi phần trăm bệnh biến đều thuộc dạng hỏa nhiệt” Đó là lý luận
“Lục khí đô tòng hỏa hóa” của ông Ông chủ trương phép Giáng tâm hỏa, ích thận thủy và thiên trọng dùng thuốc hàn lương Do đó Lưu Hà Gian trở thành phái hàn lương hay phái chủ hỏa.Trương Tử Hòa kế thừa Lưu Hà Gian, học thuyết của ông cũng hay nói đến hảo và nhiệt ÔNg cho rằng: “Chữa bệnh không nên để cho tà khí tồn tại trong cơ thể con người, nếu không khu trừ tà khí thì sẽ thương tổn chính khí”, cho nên ông lập ra phép hãnh, hạ, thổ để công tà Ông nói: “Tà khí hết thì chính khí sẽ an toàn, cần chi phải dùng thuốc bổ” Ông cũng hay dùng thuốc hàn lương và thiên trọng về phép công hạ trong trị liệu Do đó, Trương Tử Hòa trở thành phái công hạ
Lý Đông Viên đề xuất thuyết “Tỳ vị tổn thương sẽ phát sinh trăm bệnh” luận điểm của ông là: “Bệnh nội thương hình thành so nguyên khí trong cơ thể không đầy đủ, nguyên khí không đầy đủ do tỳ bị tổn thương Con người khỏe mạnh hay không do nguyên khí quyết định, nguyên khí hư hay thực do tỳ vị quyết định” Luận thuyết của ông chú trọng phi thường vào nguyên khí
và tỳ vị Ông lại nói: “Tỳ thổ (tỳ thuộc thổ trong ngũ vận) chủ động về sinh lý và bệnh lý, vì thổ
là nguồn gốc sinh ra muôn vật” Ông sáng lập phương pháp Bổ trung ích khí, thăng dương ích vị Chữa bệnh, ông thiên về bổ thổ Do đó, Lý Đông Viên trở thành phái bổ thổ
Chu Đan Khê dày công nghiên cứu ba học thuyết Lưu Hà Gian, Trương Tử Hòa và Lý Đông Viên, sáng lập ra thuyết Dương thường hữu dư, âm thường bất túc (Dương thường có thừa
âm, âm thường không đủ) Ông nhận định rằng: “Tướng hỏa tác động trong cơ thể căn nguyên ở can và thận, can thận mất sự điều hòa cho nên tướng hỏa vọng động sinh ra tặc là” Ông chơax bệnh thiên trọng về tư âm Do đó, Chu Đan Khê trở thành phái tư âm
Bốn học phái kể trên là điển hình trong giới y học Trung Quốc suốt từ thời Minh, Thanh cho đến gần đây Kế thừa bốn học phái ấy, có môn phái về hàn lương hoặc chuyên về công hạ,
có môn phái chuyên về bổ tỳ hoặc chuyên về tư âm Lại có môn phái chiết trung tất cả các học thuyết như Vương Khẳng Đường, Tử Xuân Phủ, Lý Diên, Lý Sỹ Tài Cùng trong phái ấy, Từ
Trang 36Linh Thai tuyên bố: ngoại cảnh theo Đông Viên, nhiệt bệnh thep Hà Gian, tạp bệnh theo Đan Khê, nhưng ông thiên về dược liệu có tính chất cương táo Đái Nguyên Lễ, Tự Dụng Thành, Vương luân thuộc về phái tư âm, phái ôn bổ như Trương Cảnh Nhạc, tuy cũng gọi là ổn bổ, ông chỉ dùng Nhân Sâm, Bạch Truật, Hoàng Kỳ,… (khác với Trọng Cảnh dùng Quế, Phụ Tử,…) Ngô Hựu Khả, trong phái công hạ, cho rằng: “Tà có thể khu, nhiệt có thể trục, chữa bệnh chủ yếu là trục tà, đâu phải chỉ trục phân táo” Đặc biệt là Triệu Hiến Khả cơ hồ chỉ dùng hai bài Lục
vị và Bát vị thống trị tất cả các bệnh Ông ta bị Từ Linh Thai bài xích kịch liệt Thế mà môn đồ
họ Triệu về sau vẫn nhiều, như Cao Cố Phong, Đổn Phế Ông, Lữ Vãn Thôn Còn phái Đốc Tín
cổ nhân (dốc lòng then theo người xưa) có Mục Hy Ông
Sau khi học thuyết Vận khí ra đời, từ thời Kim, Nguyên trở về sau, các học phái thi nhau xuất hiện, mooitx nhà chủ trương một lý thuyết không những thiên lệch về một mặt nào đó, thậm chí còn trái ngược nhau Ví dụ: luận điểm của Lý Đông Viên là: tướng hỏa vi nguyên khí chi bản (tướng hỏa là kẻ địch vủa nguyên khí) Ngược lại, Trương Cảnh Nhạc thuyết minh: Tướng hỏa vi nguyên khí chi bản (tướng hỏa là gốc của nguyên khí) Các học phải lập thuyết khác nhau thành
ra công kích lẫn nhau, cạnh tranh với nhau Phái ôn bổ cũng như phái tư âm cùng một quan niệm: Bổ chính khí để khu bệnh tà (chính an tà Khứ) Trái lại, phái công hạ quan niệm: Khu bệnh tà thì chính khí an toàn (Tà khứ chính an) Do đó, phái ôn bổ và phái tư âm được gọi là Vương đạo, phái công hạ được gọi là Bá đạo
Tổng quát các học phái lại chia ra hai môn phái chính:
• Những y gai theo phương pháp Trọng Cảnh, chữa bệnh căn cứ vào môi trường thu bệnh trong bản thân con người có tính cách chính thể, gọi là học phái Kinh phương
• Những y gia theo phương pháo Tứ đại gia Lưu, Trương, Chu, Lý chữa bệnh căn cứ vào thời tiết bốn mùa so ngũ vận lục khí, ngũ hành chi phối làm nguyên nhân phát bệnh, có tính cách phân tích phức tạp và cục bộ, gọi là học phái Thời phương
Các nhà học giả nói trên, mỗi người có cái sở trường riêng biệt, phát minh được một vài khía cạnh nào đó, chưa nhìn nhận nhất quán triệt những nguyên lý cơ bản của y học, nên chưa thống nhất với nhau
Tinh thần tận tụy nghiên cứu góp phần cống hiến phát triển học thuật y thuật đông yĐông
y, và sự đấu tranh với bệnh tật để phục vụ nhân dân của các học giả ấy là rất quý báu Nhưng vì phiến diện và thiên lệch một chiều nên không khỏi có di hại về sau
Đến đây, chúng ta có thể giải đáp vấn đề tại sao các vị lương y lại không thống nhất lý luận cũng như thực hành trị liệu
Xem qua học thuyết về phái Thời phương, chúng ta nhận thấy phần nhiều mâu thuẫn với nhau, các chú gia về sau thêm bớt, tam sao thất bản cũng nhiều Thế mà học tập đông yĐông y, người theo thuyết này, người theo thuyết nọ Về mặt tâm lý thông thường, cái gì học trước, cái
ấy là trí thức chủ quan (tiên nhập giả vi chủ), nếu lại giầu tính bảo thủ, nặng lòng tự ái, nó dễ trở thành cố định, “học sao làm vậy” Do đó, có một số thầy lang nào đó thường hay bất đồng ý kiến với nhau
Ngày nay chúng ta nghiên cứu đông yĐông y, phần nhiều chú trọng về mặt ứng dụng các dược phương chữa theo tên bệnh, mà chưa quan tâm đến mặt nguyên lý cơ bản khoa học của đông yĐông y, không thấy rằng hai mặt đó có liên hệ hữu cơ với nhau không thể tách rời ra được Chúng tôi đề nghị các nhà đông yĐông y và tây y hiện nay có nhiều tài liệu và phương tiện, trước hết hãy nghiên cứu các học thuyết Trương Trọng Cảnh, rồi nghiên cứu các học thuyết
Trang 37của những danh y đời sau Với tinh thần khách quan phê phán, tổng kết các học thuyết, kết hợp với thực tiễn của nước nhà, chúng ta nhất định sẽ đạt được những kết quả lớn lao trong việc xây dựng nền y học Việt Nam xã hội chủ nghĩa, khoa học, toàn diện, thống nhất.
SƠ LƯỢC TIỂU SỬ CỤ THỂ NHẤT KINH
Cụ Tạ Văn Kinh sinh năm 1887, mất năm 1957, người xã Dũng Nghĩa, huyện Vũ Tiên, tỉnh Thái Bình Cụ đi thi trúng nhất trường nên quen gọi là cụ Nhất Kinh
Xuất thân trong gia đình yêu nước chống Pháp, cụ sớm giác ngộ, tham gia phpng trào Đông Du và Đông kinh nghĩa thục Năm 1913, Nguyễn Văn Tráng ở Trung Quốc về tỉnh Thái Bình mưu sát tuần phủ Nguyễn Duy Hàn, tay sai đắc lực của thực dân Pháp Trước ngày hành thích, ông Nguyễn Văn Tráng ở nhà cụ Nhất Kinh bị bắt giam cũng như đa số những người yêu nước khác Qua một thời gian giam cầm tra tấn khá lâu, không có chứng cứ cụ thể, chính quyền thực dân cho cụ về quản thúc ở làng Cụ ở nhà nghiên cứu đông yĐông y phục vụ nhân dân từ đây
Khi mới thực hành y đạo, cụ Nhất Kinh trị bệnh theo học thuyết Thời phương Về sau có ông bạn đồng nghiệp tặng cụ bộ Trung Tây Hối Thông là sách do Đường Dung Xuyên bổ chính phần chú thích của Trần tu Viên về Thương hàn luận (hồi ấy tài liệu về Kinh phương còn rất hiếm ở nước ta) Sau đó cụ Nhất Kinh chữa bệnh theo phương pháp luận chứng biện trị của Trương Trọng Cảnh Cụ lại mua một số sách thuộc loại Hoàng hán y học tùng thư là những sách
do các y gia Nhật Bản nghiên cứu Kin phương Với những sách ấy và qua quá trình kinh nghiệm lâm sàng, không bao lâu cụ đã lĩnh hội được quyết yếu và tôn chỉ của Thương Hạn Luận và Kim quy yếu lược Thiết tha với y học, cụ đã từng mua thuốc về chữa bệnh cho những người nghèo trong làng không có tiền mua thuốc Đó là thái độ nhiệt thành tìm chân lý khoa học, và cũng là thái độ nhân đạo chủ nghĩa của cụ Cụ phục vụ bệnh nhân không biệt giàu nghèo với tinh thần tận tụy vô tư
Tận tâm phát triển đông yĐông y, cụ Nhất Kinh đã mạnh dạn dùng phụ tử trong loại bệnh tam âm với liều lượng cao hơn nguyên phương trong Thương hàn luận, thu được hiệu quả trong những bệnh khó khăn và cấp cứu rất độc đáo
Liều lượng Phụ tử cao hơn nguyên phương đại khái như thế này:
• Bài Tứ nghịch thang: Nguyên phương dùng vị cam thảo nhiều gấp hai lần vị phụ tử Ngược lại cụ dùng phụ tử mười lần, cam thao chỉ độ một, hai, ba phần, tùy tưng trường hợp bệnh hoãn hay bệnh cấp
• Bài Phục linh tứ nghịch thang: Nguyên phương có nhân sâm, cụ bỏ nhân sâm, gia quế nhục và giảm cam thảo ít hơn phụ tử, gọi là bài Phục linh tứ nghịch khứ sâm gia quế thang, chữa bệnh có công hiệu hơn nguyên phương
Trang 38“ Tâm đắcTâm đắc ”
Trước khi vào phần tâm đắcTâm đắc, chúng tôi xin phép nói sơ lược về sự nghiên cứu sách
vở, học tập sư hữu, kinh nghiệm thực tế, và những khó khăn của chúng tôi
Ngay từ khi mới khôn lớn, chúng tôi đã từng trực tiếp phục vụ bệnh nhân (người thân trong gia đình): sắc thuốc, theo dõi bệnh, có khi năm sáu tháng, có khi hàng năm, cho nên chúng tôi quen thuộc với những bài Quy tỳ Lục vị, Thập toàn đại bổ v.v , chúng tôi cũng chăm chú lắng nghe y lý của các vị lương y là người trong gia tộc hoặc là người ngoài đã tham gia chữa bệnh bà nội, bà ngoại, cha, chú chúng tôi, chung cục bệnh nhân nói trên đều bị biến chứng: hoặc phù thũng hoặc đường tiết mà qua đời Vợ tôi hồi hai mươi chín tuổi, sau khi ở cữ, người có suy nhược đôi chút, theo lời một vị lương y ăn thịt gà hầm với tam thất để chọ bổ huyết Nào ngờ ăn nhiều tam thất sinh ra suy yếu dần dần, rồi chiều chiều phát cơn trào nhiệt Các thầy thuốc đông yĐông y xem bệnh, người nay cho là bệnh âm hư phát nhiệt, người khác cho là bệnh cốt nhưng người nào cũng cho uống thuốc hàn lương mà không khỏi Thầy thuốc tây y cho là bệnh suy nhược toàn thân, chữa mãi cũng không khỏi Sau lại uống thuốc đông yĐông y, thuỷ chung vẫn
là tư âm giáng hoả Bệnh dai dẳng đến hơn một năm, bệnh nhân tạ thế với bệnh cổ trướng!
Qua thực tế ấy, khi nghiên cứu đông yĐông y, chúng tôi muốn tìm hiểu Kinh phương Bước đầu chúng tôi gặp khó khăn là các nhà chú thích Thương hàn luận từ thời Kim, Nguyên trở
về sau, phần nhiều, nếu không nói là tất cả, chú thích theo quan điểm triết học siêu hình Ngũ vận lục khí và tham gia ý kiến chủ quan của mình vào nguyên văn Trương Trọng Cảnh, khiến cho người đọc khó lĩnh hội được bản sắc của Kinh phương. Trong Hoàng Hán y học tùng thư, các y gia Nhật Bản căn cứ vào kinh nghiêm thưc tế lâm sàng, khống câu nệ vào sách vở xưa, đã khám phá được phần nào chân lý trong Thương hàn luận, giúp ích cho người học tập Kinh phương tương đối dễ kiểm tra
Tuy đã hiểu biết đôi chút về đông yĐông y, chúng tôi vẫn chưa dám thực hành trị bệnh Năm bốn mươi tuổi, chúng tôi phải nằm giường bệnh hơn một năm trời, bị bệnh thương hàn rất nặng, bệnh hiện ra phức tạp: nhiệt độ lên 40°C, mê man bất tỉnh nhân sự, phiền táo, bí đại tiểu tiện, qua giai đoạn hiểm nghèo tiếp đến ho, phù thũng, rồi phát âm thư ở nơi đáy mình tức là hải
đổ thư (nhọt ngầm trong bắp thịt ở trước hậu môn giáp với gốc ngoại nang thiên về bên trái) làm thủng niệu đạo thông ra ngoài da, khiến cho nước tiểu rỉ qua lỗ thủng ra ngoài, đau đớn như dùi vào thịt Trước khi phát bệnh âm thư, trong một thời gian, ngày nào cũng có cơn sốt rét kinh khủng Chúng tôi qua khỏi trận ốm thập tử nhất sinh ấy là nhờ cụ Nhất Kinh điều trị với những thang thuốc có từ 40g cho đến 120g phụ tử trong một thang thuốc, uống trong 24 giờ
Thời gian ốm đau khốn khổ đó lại là cơ hội rất tốt cho chúng tôi nghiên cứu đông yĐông y
Số là trong quá trình điều trị, cụ Nhất Kinh thường giảng giải y lý, bệnh lý, mạch lý v.v cho chúng tôi nghe, vì cụ và chúng tôi đã từng thảo luận học thuật Kinh phương theo sách Hoàng Hán Y Học Tùng Thư Gặp dịp ốm, chúng tôi chăm chú lắng nghe những biến diễn trong cơ thể, mạch tượng biểu hiện hàng ngày, thể nghiệm với tài liệu trong sách, và những điều mới được nghe cụ Nhất Kinh hướng dẫn, chỗ nào chưa rõ đem hỏi cụ, thành những bài học sống ngay ở bản thân, vô hình chung, chúng tôi là đồ đệ của cụ từ đấy
Sau khi khỏi bệnh, chúng tôi liền theo cụ học kinh nghiệm lâm sàng Năm 1941, chúng tôi bắt tay vào thực hành trị liệu Không hành nghề chuyên nghiệp, bước đầu chúng tôi chữa bệnh
Trang 39cho người trong họ hàng, bạn bè quen biết, dần dà đến những bệnh nhân do người đã được chữa khỏi bệnh giới thiệu Chúng tôi phục vụ bệnh nhân ngoài giờ lao động chính của mình, cần rút kinh nghiệm thực tế, nên phải theo dõi người ốm thật chu đáo mà không lấy tiền thù lao của ai Trừ ra một thời gian vì không có công việc làm ăn khác, chúng tôi mới phải bốc thuốc chữa bệnh
để sinh sống
Vì không trực tiếp hành nghề lâu dài nên cũng bị hạn chế trong việc trị bệnh, chúng tôi ít được gặp bệnh thuộc loại tam dương, vì những bệnh tam dương hiện ra phức tạp, chẩn đoán khó khăn thì có người trong phái Thời phương không chữa được Còn như những bệnh thuộc loại Tam âm, chữa theo phương pháp Thời phương quả thật ít có công hiệu Do đó, chỉ những bệnh tam âm đã chữa ở nhiều nơi không khỏi mới đến lượt chúng tôi Và cũng do đó, chúng tôi mới được mang danh "Thầy lang phụ tử" - cũng như danh hiệu cụ Nhất Kinh lúc sinh thời - với những dư luận không chính đáng
Đại đa số bệnh nhân tới chữa bệnh, câu nói đầu tiên của họ là: Tôi nhiệt lắm Sau khi chẩn đoán, chúng tôi gặp phần nhiều là người tạng hàn Mỗi khi gặp những người ấy, thời gian phục
vụ họ kéo dài tới hàng giờ, có khi vài giờ: ghi bệnh án, biên đơn thuốc, giải thích cho họ hiểu thế nào là tạng hàn, tạng nhiệt, phương pháp điều trị ra sao (theo trình độ hiểu biết của từng người), dặn dò cách ăn uống, kiêng khem, khởi cư cho thích hợp với tính chất bệnh hàn, bệnh nhiệt (điều này rất cần cho bệnh nhân), cách sắc thuốc, uống thuốc cho hợp lý Trong thời gian đó gây được thiện cảm giữa bệnh nhân và thầy thuốc, đem lại lòng tin cho người ốm, có tác dụng tinh thần làm mau khỏi bệnh Nếu người có bệnh không biết rõ căn bệnh của mình, nay nghe người này mai nghe người khác, hoang mang lo sợ "có bệnh vái tứ phương" thì dù thuốc thang hoàn bị đến đâu cũng không mang lại hiệu quả mỹ mãn Chúng tôi cũng không quên vấn đề kinh tế, nên rất chú ý đến những bài thuốc đơn giản, rẻ tiền, mau khỏi bệnh
Những bệnh nặng thuộc loại tam âm, uống thuốc ôn bổ thường xảy ra "miễn huyễn" (phản ứng) Đơn cử bệnh sốt thương hàn thuộc phạm trù bệnh Thiếu âm làm ví dụ: sau khi uống thuốc thường phát ra miễn huyễn, nhẹ thì như say say, hoặc vang váng đầu, mạnh thì trong lòng cồn cào bứt rứt, có khi trằn trọc vật vã Sau cơn miễn huyễn, bệnh nhân hoặc tư ra mổ hối, hoặc tự thổ ra cả đờm dãi, hoặc tự lợi tiểu tiện, hoặc tự đi đại tiện ra phân táo hay phân lỏng, rồi hết sốt (đôi khi có miễn huyễn mà không có bài tiết tiếp theo, đó là trường hợp bệnh nhẹ) Tùy thầy thuốc đã dự đoán và nói cho bệnh nhân biết trước, nhưng khi có miễn huyễn mà thầy thuốc có mặt vẫn làm cho người ốm vững lòng hơn
Việc thầy thuốc đến nhà người bệnh có khi đem lại lợi ích không ngờ, xin lược thuật một trường hợp để chứng minh:
Em Th chín tuổi, con trai ông Nguyễn Văn Q, ở thành phố Nam Định, bị bệnh sốt thương hàn thuộc loại bệnh Thiếu âm (đã chữa đông yĐông y, tây y), chúng tôi cho em uống bài Phục linh tứ nghịch khứ sâm gia quế thang Uống hai thang trong hai ngày, bệnh đã đỡ, đêm ngày thứ hai, bệnh nhân đau bụng vật vã suốt sáng, thổ ra một con giun Biết là bệnh nhân chuyển thành bệnh Quyết âm, chúng tôi cho em uống bài Ô mai hoàn (sắc), uống một thang trong ngày thứ ba, sáng ngày thứ tư em Th Thổ ra nước và năm con giun, đỡ đau bụng, em vẫn uống tiếp đơn hôm trước Sáng ngày thứ năm, ông Q đến nhà chúng tôi, vẻ mặt buồn rầu nói: "Đêm hôm qua, cháu
Th lìm lịm người đi, hồi lâu tỉnh lại, đến gần sáng cháu lại chết ngất cho đến bây giờ, tay chân lạnh ngắt, có lẽ cháu chết mất" Chúng tôi hỏi: "Cháu có biến chứng gì không?" - "Không, cháu không phát ra bệnh gì khác cả" Chúng tôi suy nghĩ: bệnh đã đỡ, không biến chứng mà chết, thực
Trang 40là vô lý Đến nhà ông Q, chúng tôi thấy em Th nằm như tử thi trên giường, mẹ và chị của em nằm khóc dưới đất Bước đến bên giường, chúng tôi nhận xét ngưòi em: tay chân lạnh ngắt, từ đầu đến đầu gối còn ấm, thở thoi thóp, tim đập nhè nhẹ, mạch còn phảng phất Chúng tôi xoa vuốt trên thân thể em chừng nửa giờ, người em nóng lại điều hoà, tim đập mạnh hơn, thở đều hơn Chúng tôi hỏi: "Hôm qua có cho cháu ăn gì không?" - "Có cho cháu ăn chuối, cháu đã nôn
ra hết rồi", mẹ em trả lời - "Chưa hết đâu" chúng tôi nói Mẹ em đang phân trần rằng em đã nôn
ra hết, chợt nghe tiếng nói khẽ: "Còn ăn bánh bèo nữa", đó là tiếng nói của em Th nằm đấy Khi
đó em lại kêu đau bụng Chúng tôi liền kê đơn thuốc (vẫn bài Ồ mai hoàn) Sau khi uống thuốc,
em đi ngoài và thổ ra nhiều nước, khỏi đau bụng (Nếu bệnh thuộc loại Dương minh mà ngộ thực, phát sinh trường xuất huyết thì khó lòng chữa được)
Chữa bệnh theo Kinh phương còn lạ tai lạ mắt nhiều người, do cái thành kiến ngàn xưa để lại: Dương thường cố thừa, âm thường không đủ; Bệnh tật phật sinh phần nhiều bởi hỏa nhiệt;
Uống phụ tử sinh ra điên cuồng; Uống nhiều phu tử phát sinh bệnh âm thư; Uống nhiều phụ tử sẽ
có di độc về sau; thậm chí Chữa bệnh với phụ tử là Bá đao v.v cho nên học phái Thời phương ít dung phụ tử.
Do đó, chữa bệnh tam âm phải dùng phụ tử gây nên dư luận không chính đáng làm trở ngại cho việc chữa bệnh khá quan trọng: bệnh nhân sợ phu tử khống dám uống, cổ ngưòi uống thuốc
có phụ tử bệnh đỡ rõ ràng, vì nghe dư luận mà không dám tiếp tục uống nữa, xin dẫn chứng một trường hợp:
Bà Ngọc H ở Hà Nội, bị đau mắt đã gần hai tháng, mắt phải híp lại, chỉ mở được một lúc vào chín giờ sáng, khi đó trong thấy cái gì cũng đổi hình, đổi sắc; cơ thể suy nhược, váng đầu chóng mặt Bệnh nhân uống bốn thang thuốc mỗi thang có 16g phụ tử, mắt mở gần được như thường, tay chân đỡ giật, ngủ khá hơn Chúng tôi gia vị vào đơn thuốc hôm trước, uống ba thang nữa, mắt mở bình thường, hết hiện tượng biến hình, hiện tượng biến sắc có giảm Bệnh nhân công nhận mắt đỡ nhiều, sức khoẻ hơn lên mà không dám uống thuốc có phụ tử nữa, chỉ vì lần nào đến mậu dịch cân thuốc cũng nghe dư luận xấu về phụ tử
Trong khi còn nhiều người có thành kiến sợ phụ tử mà gặp bệnh nặng hay bệnh cấp cứu thuộc loại bệnh tam âm phải dùng phụ tử với liều lượng cao, người thầy thuốc rất khó nghĩ về việc thi trị của mình Chúng tôi xin đơn cử một trường hợp ở đây:
Thời kỳ kháng chiến chống Pháp, anh Phạm Vũ H 20 tuổi, quê ở Hà Đông, tản cư tại Thái Bình Anh H bị bệnh nục huyết, phát nhiệt 39°- 40°, ra nhiều máu cam qua đến nỗi gầy luốc mặt
đi, da vàng ỏng, mạch cực trầm vì vô lực, người suy nhược lắm (đã chữa đông, tây y) Sau khi chẩn đoán, chúng tôi nhận thấy bệnh thuộc phạm trù bệnh Thiếu âm, nếu không uống nhiều phụ
tử sẽ không cứu vãn được Nhưng bệnh "thập tử nhất sinh" này chắc gì đã chữa khỏi Chữa khỏi
đã vậy, nếu chữa không khỏi thì sao? Khi đó sẽ phát sinh vấn đề phiền phức khôn lường được Qua nhiều suy nghĩ, suy nghĩ cuối cùng là: "Thầy thuốc đứng trước bệnh nhân, không một lý do nào cho phép thầy thuốc trốn tránh trách nhiệm" Chúng tôi liền cho bệnh nhân uống bài Chấn vũ thang với 80g phu tử và gia 40g xích thạch chi May thay, hai thang thuốc ấy đã giải quyết được cơn nguy hiểm cho người bệnh Trường hợp tương tự đối với chúng tôi không phải là ít
Căn cứ vào nguyên lý cơ bản của bệnh tật, nguyên tắc phương pháp quân bình âm dương trong sáu loại bệnh hình tam dương và tam âm mà chúng tôi đã thuyết minh trên kia, kết hợp với những phát minh, sáng kiến của cụ Nhất Kinh cùng với kinh nghiệm lâm sàng của bản thân, chúng tôi suy luận và phát triển, đem áp dụng vào trị bệnh, thu được công hiệu nhiều lần, cái đó