1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thể loại kỳ thi chuẩn hóa

30 211 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 849,18 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhóm gồm các giáo sư đại học nắm quyền trong việc tạo dựng các câu hỏi trong đề thi song trong một số trường hợp, và đặc biệt từ năm 2000 trở đi, các giáo viên trung học cũng đồng thời đ

Trang 1

ể loại:Kỳ thi chuẩn hóa

Trang 2

Mục lục

1.1 Cơ bản 1

1.2 Kỳ thi CSAT 2

1.3 Nội dung thi 3

1.4 Số lượng thí sinh dự thi 3

1.5 am khảo 3

2 Đo lường trong giáo dục 4 2.1 Tài liệu dẫn 4

2.2 Liên kết ngoài 4

3 GMAT 5 3.1 Bài thi 5

3.1.1 Viết Phân tích 5

3.1.2 Phần toán 5

3.1.3 Phần ngôn ngữ 6

3.2 Tổng điểm 6

3.3 Yêu cầu về điểm 7

3.4 Lịch sử của GMAT 7

3.5 Đăng ký và chuẩn bị 7

3.6 Lưu ý khác 7

3.7 Xem thêm 7

3.8 am khảo 8

3.9 Liên kết ngoài 8

4 Khảo thí theo tiêu uẩn 9 4.1 Anh quốc 9

4.2 Hoa Kỳ 9

4.3 Châu Âu 9

4.4 am khảo 9

5 Nghiên cứu 10 5.1 Định nghĩa 10

5.2 Các hình thức nghiên cứu 10

i

Trang 3

ii MỤC LỤC

5.3 Lịch sử 10

5.3.1 Nghiên cứu cơ bản 10

5.3.2 Nghiên cứu ứng dụng 12

5.3.3 Xu hướng cho tương lai 13

5.4 Phương pháp nghiên cứu 14

5.5 á trình nghiên cứu 14

5.6 Công bố 15

5.7 Phương pháp nghiên cứu cho sinh viên 15

5.8 Xem thêm 15

5.9 Chú thích 15

6 Ssat 17 6.1 Viết bài luận 17

6.2 Toán 17

6.3 Từ vựng 17

6.4 Đọc hiểu 17

6.5 Chấm điểm 17

6.6 am khảo 17

6.7 Liên kết ngoài 17

7 Khung tham iếu trình độ ngôn ngữ ung của Châu Âu 18 7.1 Các mức tham chiếu chuẩn 18

7.2 am khảo 18

8 Giải thưởng Ảnh Báo í ế giới 19 8.1 Cuộc thi ảnh hàng năm 19

8.2 Người Việt Nam đoạt giải 19

8.3 Chú thích 20

8.4 Liên kết ngoài 20

9 Spelling bee 21 9.1 Nguồn gốc từ 21

9.2 Lịch sử 21

9.3 Chú thích 21

10 Tuyển diễn viên 22 10.1 Những cuộc thi tuyển diễn viên tại các quốc gia 22

10.1.1 Việt Nam 22

10.2 am khảo 22

10.3 Liên kết ngoài 22

11 Vietnam Collection Grand Prix 23 11.1 Các thí sinh và giải thưởng từ năm 2006 đến 2009 23

11.1.1 Cơ cấu giải thưởng 23

Trang 4

MỤC LỤC iii

11.1.2 Kết quả chung kết 23

11.2 Chú thích 23

11.3 Nguồn, người đóng góp, và giấy phép cho văn bản và hình ảnh 25

11.3.1 Văn bản 25

11.3.2 Hình ảnh 25

11.3.3 Giấy phép nội dung 26

Trang 5

Chương 1

CSAT

Có 12 tuần, 3 ngày, 12 giờ, 51 phút và 4 giây cho đến

khi bài thi đánh giá năng lực vào đại học năm 2018.(làm

mới)

Giấy dự thi kỳ thi đại học năm 2008

Phiếu thông báo điểm thi đại học năm 2008.

Quang cảnh trước cổng trường diễn ra kỳ thi đánh giá năng lực

vào đại học năm 2017.

CSAT (tiếng Anh: College Scholastic Ability Test,tiếng

; còn gọi tắt là Suneung (수능)) là kỳ thi chung

chuẩn hóa nhằm đánh giá năng lực để được nhận vàocác trườngđại họctại Hàn ốc từ năm 1994 Kỳ thinằm dưới sự quản lý của Viện Giáo trình và Đánh giáHàn ốc (KICE, Korean Institute of Curriculum andEvaluation).*[1]*[2]

Kỳ thi thường tổ chức vào tháng 11 nhưng tùy theonăm mà ngày thi chính thức có thể thay đổi; từ năm

1994 đến 2006, CSAT luôn được tổ chức vào ngày thứ

tư của tuần thứ ba song đến năm 2007, kỳ thi được tổchức vào ngày thứ Năm của tuần thứ hai.*[3]Vào năm

2017, do có sự thay đổi nhẹ trong số phần thi và nộidung thi nên ngày thi chính thức được hoãn lại đếnngày thứ Năm của tuần thứ ba của tháng 11

CSAT đóng góp một phần quan trọng trong nền giáodục Hàn ốc và được tin rằng sẽ quyết định tương laicủa mỗi thí sinh Vào ngày thi diễn ra, mọi hoạt độngdiễn ra tại Hàn ốc đều bắt đầu trễ hơn bình thường.Sàn chứng khoáng được mở cửa trễ hơn, học sinh họctiểu học hay bậc trung học cơ sở (cấp II) thường sẽ đượchọc trễ hơn Để hạn chế việc ùn tắc giao thông ảnhhưởng đến các thí sinh, các tuyến tàu điện và phươngtiện công cộng được mở sớm hơn và thường xuyên hơn

để đón thí sinh Đặc biệt vào phần thi Nghe hiểu, tất

cả các máy bay đều bị hạn chế nhằm tạo điều kiện tối

đa cho thí sinh Ngoài ra, thí sinh còn được hộ tống bởicảnh sát nếu đi trễ Trong tổng số thí sinh tham dự thihằng năm, trung bình có khoảng 20% thí sinh thi lại.CSAT được đánh giá cao trên thế giới vì tính hiệu quả

và thực tài của bài thi

1.1 Cơ bản

CSAT được bắt đầu tổ chức vào năm 1994 để thay thế

kỳ thi tuyển sinh đại học trước đó tại Hàn ốc Mụcđích việc thay thế kỳ thi này nhằm hạn chế lối học chay,học vẹt của học sinh để vượt qua kỳ thi và thay vào đókhuyến khích kĩ năng tư duy phân tích trên các lĩnhvực ngôn ngữ, toán học, tiếng Anh, môn chuyên củahọc sinh (ban đầu chỉ có các môn tự nhiên và xã hội

và từ năm 2004 đã có thêm môn nghề), ngoại ngữ thứhai và Hán tự (bắt đầu có từ năm 2000) Kỳ thi được dựtính tổ chức hai lần một năm, vào tháng 8 và tháng 111

Trang 6

2 CHƯƠNG 1 CSAT

nhưng đợt thí tháng Tám có ít thí sinh tham dự kể từ

kỳ thi tuyển sinh đại học trước đó nên khi chuyển qua

CSAT, kỳ thi chỉ được tổ chức một lần trong năm vào

tháng 11

1.2 Kỳ thi CSAT

Bài thi được xây dựng dựa trên sách giáo khoa chuẩn

của toàn quốc KICE là cơ quan duy nhất và chính thức

xây dựng bài thi, in đề thi, chấm và sửa đề thi và giám

sát quá trình xây dựng bài thi á trình xây dựng các

câu hỏi được xây dựng trên một hội đồng chung, bao

gồm 2 thành phần:

1 Các giáo sự đại học

2 Các giáo viên trung học

Nhóm gồm các giáo sư đại học nắm quyền trong việc

tạo dựng các câu hỏi trong đề thi song trong một số

trường hợp, và đặc biệt từ năm 2000 trở đi, các giáo

viên trung học cũng đồng thời được tham gia vào việc

tạo dựng các câu hỏi cho bài thi

Các câu hỏi bài thi được xem xét lại bởi các giáo viên

trung học trước khi được chính thức đưa vào bài thi

Vào năm 2012, có 696 giáo viên và giáo sự tham gia

vào quá trình xây dựng đề thi Mỗi người tham gia vào

quá trình này được trả trung bình khoảng 300 dollar

í sinh có thể chọn từ tất cả hoặc một vài môn trong

năm môn/nhóm môn trên Riêng phần thi ốc ngữ

và Toán học được chia thành hai phần: A và B í sinh

được quyền chọn phần nào để dự thi Tuy nhiên, thí

sinh chỉ được chon một phần B trong số hai môn và

việc chon môn ốc ngữ B và Toán học B bị nghiêm

3 ương nghiệp và ông tin

4 Hàng hải và Hải dương học

5 Nữ công Gia chánh và Kinh doanh

í sinh phải chọn một môn thi Tuy nhiên, thí sinh chỉđược tham gia khảo thí chỉ khi thí sinh đã hoàn thành80% thời lượng của bài thi này

Ngoài môn Ngôn ngữ Anh ra, thí sinh được quyền chọnthêm một môn ngoại ngữ thứ 2, bao gồm các môn:

Trang 7

Sau kỳ thi, hội đồng coi thi sẽ thu lại các bài thi, scan

và bắt đầu chấm Việc chấm điểm, bao gồm việc phúc

khảo và in kết quả kéo dài khoảng một tháng

Bài thi được thực hành cực kỳ nghiêm túc và các hoạt

đồng thường ngày đều phải đuơc hạn chế hoặc dời thời

gian Không thí sinh nào và giám khảo nào được mang

điện thoại di động, sách báo, thức ăn và tất cả những

thứ có thể khiến thí sinh mất tập trung Ngoài ra, việc

trao đổi giữa các giám khảo, mở cửa sổ, đứng trước bàn

thi của thí sinh đều bị nghiêm cấm Các giám kháo được

yêu cầu không được làm bất kỳ thứ gì có thể khiến cho

thí sinh phân tâm

1.3 Nội dung thi

1.4 Số lượng thí sinh dự thi

eo nghiên cứu của Viện Giáo trình và Đánh giá Hàn

ốc

• 1993 ~ 1997 (giáo trình giảng dạy thứ 5)

• 1998 ~ 2003 (Giáo trình giảng dạy thứ 6)

• 2004 ~ 2015 (Giáo trình giảng dạy thứ 7, giáo trình

Cooperation Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2013

[5] Tuy nhiên, trong năm học 2012 và 2013, chỉ có lĩnh vực

toán và ngôn ngữ được phản ánh trong nội dung của

chương trình sửa đổi năm 2007 đã được thực hiện

Trang 8

Chương 2

Đo lường trong giáo dục

Đo lường trong giáo dục (Educational measurement)

là một nhánh khoa học sử dụng việc đánh giá và phân

tích số liệu đánh giá trong giáo dục để suy ra năng lực,

trình độ của người được đánh giá (thí sinh) Đo lường

trong giáo dục có một bộ phận chồng gối với đo lường

trong tâm lý (tâm trắc học - Psychometrics)

Đo lườnglà gán các con số vào các cá thể sự vật theo

một hệ thống quy tắc nào đó để biểu diễn đặc tính của

sự vật đó Cònđánh giálà đưa ra phán quyết về mức

độ giá trị hoặc chất lượng của sự vật đó Như vậy, đo

lường chỉ để thu được các con số chứ chưa phán xét

về sự vật gắn với con số đó ở mức độ giá trị hoặc chất

lượng nào; còn đánh giá là phán xét về mức độ giá trị

hoặc chất lượng của sự vật, tức là nhận định sự vật là

lớn hay bé, cao hay thấp, tốt hay xấu …ở mức độ nào

an hệ giữa đo lường và đánh giá là: đo lường nhằm

cung cấp số liệu để đánh giá, kết quả đo lường là căn

cứ để đánh giá*[1]

ao tác đo lường trong giáo dục thường là tiến hành

các bài kiểm tra trên các thí sinh bằngtrắc nghiệm

khách quan(lựa chọn trả lời) hoặctự luận(bài viết đủ

dài) rồi phân tích kết quả của các bài kiểm tra để ước

lượng rút ra các con số bằng đặc trưng cho các câu hỏi

và năng lực của thí sinh

Các lý thuyết quan trọng được dựa vào để triển khai

tính toán nhằm đo lường trong giáo dục (cũng như

trong tâm trắc học) bao gồmLý thuyết Trắc nghiệm

cổ điển(Classical Test theory - CTT), Lý thuyết Ứng

đáp Câu hỏi(Item Response eory - IRT), trong đó có

mô hình Rasch*[2] Các lý thuyết này phát triển cũng

từ chính các nhu cầu của việc đo lường trong giáo dục

Một trong các mục tiêu quan trọng của việc sử dụng

các lý thuyết nói trên vào đo lường trong giáo dục là

việc đặt các kết quả đo lường nhờ các đề kiểm tra khác

nhau triển khai ở các mẫu thí sinh khác nhau trên cùng

một thang đo để có thể so sánh các kết quả đó với nhau

y trình nói trên được gọi làso bằng(equating)

Bạn đọc có thể tìm hiểu về đo lường trong giáo dục ở

các sách giáo khoa cơ bản*[1]*[3]*[4].*[5]và sách tổng

[3] Lâm ang iệp (2010) Đo lường trong Giáo dục, Lýthuyết và Ứng dụng Nhà xuất bản Đại học ốc gia HàNội

[4] Baker, F (2001) e Basics of Item Response eory.University of Maryland, College Park, MD: ERICClearinghouse on Assessment and Evaluation[5] Lord, Fred (1980) Applications of item response theory

to practical testing problems CMahwah, NJ: LawrenceErlbaum Associates, Inc

[6] Brenman R.L (2006) Educational Measurement, 4thedition, ACE/PRAEGER series on Higher Education

2.2 Liên kết ngoài

Lý thuyết Trắc nghiệm cổ điển

Lý thuyết Ứng đáp Câu hỏi

4

Trang 9

Chương 3

GMAT

GMAT (tiếng Anh là: Graduate Management

Admission Test) được phát âm là G-mat /ˈdʒiːmæt/) là

bài thi linh hoạt được tiêu chuẩn hóa thực hiện trên

máy tính với toán và tiếng Anh để đánh giá khả năng

bẩm sinh thành công trong lĩnh vực học thuật bậc trên

đại học.Các trường về kinh tế thường sử dụng bài kiểm

tra này như là một trong nhiều tiêu chí lựa chọn đầu

vào cho chương trình quản trị kinh doanh bậc trên đại

học (như là:MBA, Master of Administration,ect.) chủ

yếu là ở Mĩ và cả một số nước nói tiếng Anh khác nữa

Bài thi được gửi qua đường máy tính đến các địa điểm

trên toàn thế giới.Ở những địa điểm quốc tế, nơi chưa

thiết lập mạng máy tính, bài thi GMAT hoặc được thực

hiện trên máy tính tại chỗ với một bảng câu hỏi giới

hạn hay là được thực hiện trên giấy (được thực hiện 1

hoặc 2 lần 1 năm) ở những địa điểm thi tại nơi đó.Như

vào tháng 12 năm 2009,lệ phí thi là 250 đô la Mĩ trên

toàn cầu

3.1 Bài thi

Bài thi đánh giá các kĩ năng về ngôn ngữ, toán, viết

phân tích, đây là những điều các thí sinh cần phải nâng

cao không ngừng trong quá trình học tập và làm việc

Người thi lần lượt trả lời các câu hỏi ở cả ba phần, và

thường có 2 lần nghỉ không bắt buộc; nói chung bài thi

diễn ra trong 4 giờ đồng hồ

Điểm có giá trị trong vòng 5 năm (như trong phần lớn

quy chế) kể từ ngày làm bài thi cho tới khi trúng tuyển

(có nghĩa là được chấp nhận, không tính cho đến ngày

nộp đơn)

Điểm tối đa có thể đạt được trong bài thi là 800 Trong

3 năm tính đến tháng 10 năm 2009, số điểm trung bình

là 538.5

Phần đánh giá viết phân tích (Analytical Writing

Assessment – AWA) là phần thi đầu tiên Tiếp đó là

phần thi toán và ngôn ngữ theo tùy chọn

3.1.1 Viết Phân tích

Đánh giá khả năng viết phân tích là phần bài thi gồm

2 tiểu luận Ở bài đầu tiên thí sinh phải phân tích 1 đề

lập luận và ở bài thứ 2 là phân tích 1 đề tài Mỗi bàitiểu luận chỉ được phép viết trong 30 phút và được chođiểm trong khoảng từ 0 đến 6.Bài viết sẽ do 2 người đọc

và lần lượt 2 người sẽ chấm điểm từ 0 đến 6 và đượclàm tròn đến 0.5,điểm trung bình đạt được là 4.1.Nếu

số điểm giữa 2 người chấm chênh 1 điểm, họ sẽ cộngtổng rồi chia trung bình, nếu sự khác biệt vượt quá 1điểm bài thi sẽ được chuyển cho người thứ 3

Người đọc đầu tiên là IntelliMetric, 1 chương trìnhmáy tính đặc biệt được phát triển bởi VantageLearning,chương trình này phân tích được lối viết và

cú pháp của hơn 50 đặc điểm ngôn ngữ và cấu trúc.Người đọc thứ 2 và thứ 3 là những người sẽ đánh giá vềchất lượng suy nghĩ, ý tưởng và năng lực tổ chức, pháttriển và thể hiện ý kiến của người viết cùng với sự ủng

hộ tương ứng.Trong khi chuyên gia về Viết Tiếng Anhchấm điểm thì có xuất hiện những lỗi nhỏ, và nhữngngười đánh giá thì đã được tập huấn để thông cảmhơn với thí sinh không sử dụng tiếng Anh là ngôn ngữchính

Mỗi bài tiểu luận trong phần viết phân tích đều đượcchấm trên 1 thang điểm từ 0 (tối thiểu) đến 6 (tối đa)

• 0 Bài tiểu luận hoàn toàn không thể đọc được hoặc

viết không đúng với chủ đề đã cho

• 1 Bài tiểu luận vô cùng sơ sài.

• 2 Bài tiểu luận bị hỏng nghiêm trọng

• 3 Bài tiểu luận nghèo nàn, hạn chế nghiêm trọng

• 4 Bài tiểu luận chỉ đầy đủ nội dung.

• 5 Bài tiểu luận có lập luận tốt.

• 6 Bài tiểu luận xuất sắc.

3.1.2 Phần toán

Phần thi toán bao gồm 37 câu hỏi có nhiều lựa chọn,phải hoàn thành trong khoảng thời gian 75 phút Cóhai loại câu hỏi: giải quyết vấn đề và hoàn chỉnh dữliệu Điểm của phần thi này là từ 0 đến 60 Trong hơn 3năm tính đến tháng 9 năm2009, số điểm trung bình là35.8; số điểm trên 50 và dưới 7 rất hiếm

5

Trang 10

6 CHƯƠNG 3 GMAT

Giải quyết vấn đề

Bài thi này đánh giá khả năng suy luận của thí sinh Các

câu hỏi giải quyết vấn đề có nhiều sự lựa chọn nằm

trong các lĩnh vực: số học, lượng giác cơ bản và hình

học sơ cấp Nhiệm vụ của thí sinh là giải quyết vấn đề

và tìm ra đáp án đúng giữa 5 sự lựa chọn khác nhau

Một số câu hỏi phải dùng tới máy tính để tính toán

Phần còn lại đưa ra những vấn đề đời thực mà cần đến

giải pháp toán học Con số: Tất cả các con số được sử

dụng đều là số thực

Giá trị: Các câu đố và giá trị kèm theo câu hỏi với mục

đích cung cấp các thông tin hữu ích để giải đáp đước

các câu hỏi

Hoàn chỉnh dữ liệu

Bài thi này kiểm tra khả năng suy luận qua việc sử dụng

những hướng dẫn không thông thường í sinh được

ra 1 câu hỏi với 2 dữ liệu cung cấp thông tin có thể hữu

dụng cho việc trả lời câu hỏi Sau đó thí sinh phải quyết

định duy nhất 1 dữ liệu là đấy đủ thông tin để trả lời câu

hỏi hay cả hai đều cần mới có thể trả lời câu hỏi hoặc

chưa đầy đủ thông tin để trả lời câu hỏi Hoàn chỉnh dữ

liệu là dạng câu hỏi toán duy nhất được tạo riêng cho

GMAT

3.1.3 Phần ngôn ngữ

Phần ngôn ngữ gồm 41 câu hỏi trắc nghiệm diễn ra

trong 75 phút.Có 3 dạng câu hỏi là: sửa câu, lý luận

phân tích và đọc hiểu Phần ngôn ngữ được chấm điểm

từ 0 đến 60.trong vòng hơn 3 năm tính đến tháng

10/2009,số điểm trung bình là 28; số điểm trên 44 và

dưới 9 rất hiếm

Sửa câu

Phần sửa câu đánh giá về ngữ pháp, cách dùng và

phong cách của tiếng Anh – Mĩ của người thi Trong

phần sửa câu sẽ có các câu văn bị gạch dưới một phần

hoặc toàn bộ câu đó kèm theo 5 đáp án Lựa chọn trả lời

đầu tiên chính xác như cụm từ bị gạch chân trong câu

4 sự lựa chọn còn lại chứa những cụm từ không phù

hợp với phần gạch chân Người làm bài thi được hướng

dẫn chọn câu trả lời đầu tiên nếu không có lỗi về cụm

trong câu Nếu có lỗi ở cụm gốc trong câu, người thi sẽ

được hướng dẫn chọn đáp án tối ưu trong 4 đáp án còn

lại

Các câu hỏi của phần sửa câu được thiết kế để đánh giá

trình độ của người làm bài về 3 mặt: biểu hiện chính

xác, biểu hiện hiệu quả và đúng ngôn pháp Biểu hiện

chính xác dùng để chỉ ngữ pháp và cấu trúc của câu

Biểu hiện hiệu quả đề cập đến sự rõ ràng và sự giản

lược dùng để thể hiện ý tưởng Đúng ngôn pháp đề cập

đến sự phù hợp và chính xác của các từ được lựa chọn

tham khảo ý nghĩa từ điển các từ và ngữ cảnh mà trong

đó các từ được trình bày

Lý luận phân tích

Bài kiểm tra này dung để đánh giá tư duy logic Phần tưduy phê phán đưa ra 1 lập luận và người làm bài sẽ phảiphân tích lập luận đó Các câu hỏi có thể yêu cầu ngườilàm bài phải đưa ra kết luận, để xác định các giả địnhhoặc chỉ ra các điểm mạnh yếu của lập luận.ường códạng 1 báo cáo ngắn hoặc 1 lập luận và yêu cầu đánh giá

về nội dung và hình thức Các câu hỏi dạng này yêu cầuthí sinh phân tích và đánh giá lý luận trong các đoạnvăn ngắn hay các phần Đối với một số câu hỏi tất cảcác lựa chọn trả lời để có thể là câu trả lời cho câu hỏiđược đưa ra í sinh nên lựa chọn câu trả lời phù hợpnhất, không đưa ra giả định vi phạm các tiêu chẩn phổbiến như: không đáng tin, dư thừa, không thích hợphoặc không phù hợp

Đọc hiểu

Bài thi này giúp đánh giá khả năng đọc hiểu phân tích.Các câu hỏi đọc hiểu liên quan đến đoạn văn mà bạnđược cung cấp Đoạn văn đó có thể về mọi thứ, và cáccâu hỏi thường để đánh giá người làm bài hiểu đoạnvăn và thông tin trong đoan văn đó đến đâu Như têncủa bài thi này, bài thi sẽ đánh giá khả năng hiểu đại

ý và cấu trúc logic của đoạn Bài thi GMAT thường sửdụng các đoạn văn khoảng 200 đến 350 từ, xoay quanhcác chủ đề khoa học xã hội, khoa học sinh học, vật lýkhoa học và kinh doanh Mỗi đoạn văn sẽ có 3 hoặcnhiều hơn 3 câu hỏi dựa vào nội dung đoạn đó Các câuhỏi hỏi về ý chính của đoạn, điều tác giả muốn nhấnmạnh, từ đoạn văn có thể suy ra điều gì và thái độ củatác giả ra sao

3.2 Tổng điểm

Tổng điểm 3 phần khoảng 200 đến 800, 2/3 số người thiđạt điểm từ 400 đến 600,sự phân bố điểm như 1 đườngcong, với độ chênh lệch chuẩn là khoảng 100 điểm, cónghĩa là bài thi được thiết kế cho 68% thí sinh đạt điểm

từ 400 đến 600, điểm trung bình chung cơ bản là 500.Năm 2005/2006 điểm trung bình là 553

Phần thi toán và ngôn ngữ được thực hiện trên máytính Câu hỏi đầu tiên có thể khó Câu hỏi tiếp theotrong mỗi lựa chọn có thể được đưa ra theo 500 cấp độ.Nếu thí sinh trả lời đúng thì câu hỏi tiếp theo sẽ khóhơn.Nếu trả lời sai câu hỏi tiếp theo sẽ dễ hơn Các câuhỏi này được lấy từ 1 kho câu hỏi khổng lồ và gửi đếncho thí sinh phụ thuộc vào số điểm tăng giảm Các câuhỏi này luôn được cập nhật thường xuyên để tránh bịlộ

Điểm số cuối cùng không dựa vào câu hỏi cuối cùng

Trang 11

3.5 ĐĂNG KÝ VÀ CHUẨN BỊ 7

thí sinh trả lời (tức là – độ khó của câu hỏi thông qua

sự đưa ra của máy tính) Các thuật toán sử dụng để xây

dựng số điểm phức tạp hơn thế rất nhiều í sinh có

thể mắc phải những lỗi ngớ ngẩn và trả lời sai và máy

tính sẽ nhận ra sự bất thường đó.Nếu thí sinh bỏ lỡ

câu hỏi đầu tiên thì không nhất thiết số điểm bị xuống

Ngoài ra các câu hỏi bỏ trống (không làm) thường làm

thí sinh bị thiệt nhiều hơn các câu hỏi trả lời sai Đây

là điểm tương phản chính với SAT

Tất cả điểm và hủy bỏ trong 5 năm trước sẽ ở trong báo

cáo điểm của thí sinh, Nếu có 1 sự thay đổi về chính

sách trước đó thì 3 điểm cuối cùng sẽ được giữ trong

báo cáo điểm

3.3 Yêu cầu về điểm

Nhiều trường không đưa ra điểm tối thiểu hoặc đưa ra

một con số cụ thể.Tuy nhiên các trường thường thông

báo số điểm trung bình của học viên mới của họ, số

điểm có thể được dùng để tham khảo Số điểm để vào

được các trường kinh tế hàng đầu theo các bảng xếp

hạng thì thường phải trên 600 hoặc trên dưới 700

Có thể khắc phục số điểm GMAT thấp bằng các thành

tích ấn tượng, kết quả học tập ở bậc đại học tốt, quan

trọng nhất là tiểu luận xin học có lập luận và tính

thuyết phục cao hoặc qua sự giới thiệu của 1 nhóm

3.4 Lịch sử của GMAT

Năm 1953, tổ chức có tên gọi hiện nay là GMAC

(Graduate Management Admission Council) là 1 hội

gồm 9 thành viên là các trường kinh tế, có mục đích

là phất triển 1 bài thi tiêu chuẩn để giúp các trường

kinh tế chọn được những ứng cử viên chất lượng nhập

học Trong năm đầu tiên được đưa ra, bài thi đã được ra

2,000 lần; trong những năm gần đây bài thi được ra hơn

200,000 lần mỗi năm.Ban đầu là điều kiện nhập học của

54 trường, hiện tại bài thi được sử dụng tại hơn 1,500

và 1,800 chương trình quốc tế

Sau năm 2005, GMAC hiện tại đang quản lý kì thi Vào

ngày 1 tháng 1 năm 2006,GMAC chuyển nhà cung cấp

để kết hợp vớ ACT Inc, nhắm phát triển các câu hỏi

trong bài thi và phần mền CAT và Pearson Vue, để

chuyển bài thi đến các trung tâm thi trên toàn thế giới

Ngày 32 tháng 7, GMAC đã thừa nhận 1 vụ bê bối gian

lận lien quan đến hơn 6000 người làm bài thi đã đăng

ký với trang web ScoreTop.com và có thể đã xem các

câu hỏi“sống”đang được sử dụng trong kì thi GMAT

GMAC đã đưa ra các biện pháp nghiêm khác để xử lý

bao gồm: hủy bỏ hiệu lực số điểm với những thí sinh

đó, thông báo cho những trường đã nhận điểm của họ

và cấm tham gia vào các kì thi sau Ngày 27 tháng 7,

GMAC trấn tĩnh những thí sinh tham gia rằng chỉ có

những người gian lận qua website của ScoreTop mới bị

ảnh hưởng> Tờ Wall Street Journal sau đó đua tin: có

84 người bị hủy kết quả thi từ vụ bê bối này

Cũng như để đối phó với các trường hợp đi thi hộ,GMAC sẽ triển khai PalmSecure của Fujitsu (công nghệquét tĩnh mạch lòng bàn tay) tại các trung tâm thi nămnay> Trung tâm tại Hàn ốc và kế hoạch để họ cóthể tích hợp ở tất cả các trung tâm thi vào tháng 5 năm2009

GMAC đã thông báo kế hoạch cho ế Hệ GMAT tiếptheo sẽ được đưa ra vào năm 2013 Sự khác biệt quốc tế

sẽ được xem Xét nhiều hơn nữa

3.5 Đăng ký và chuẩn bị

• í sinh có thể đăng ký thi GMAT bằng cách liên

hệ qua mạng hoặc gọi điện trực tiếp đến các trongtâm thi.Để lập biểu cho 1 bài thi thì phải có 1 cuộcgặp tại 1 trung tâm được chỉ định

• í sinh nghiên cứu các trợ giúp chuẩn bị có sẵn,

bao gồm tự học từ sách GMAT, các khóa học chuẩn

bị cho GMAT hoặc với gia sư

• Lệ phí thi 250 đô la Mĩ.

3.6 Lưu ý khác

• Máy tính không được phép sử dụng trong kì thi

GMAT Tính toán phải được thực hiện bằng tay

• Đồng hồ điện tử đeo tay có thể bị tịch thu trong

thời gian làm bài thi

• Các bài thi thử GMAT có sẵn rất nhiều.

3.7 Xem thêm

Business education

Business school

GRE(e Graduate Record Examination)

LSAT(Law School Admission Test)

Graduate Management Admission Council

Master of Accountancy

Master of Business Administration

List of admissions tests

Trang 13

Chương 4

Khảo thí theo tiêu chuẩn

Khảo thí theo tiêu uẩn (hay kiểm tra theo tiêu

uẩn) là một hình thức tiến hành thi (khảo thí) và cấp

bằng Các chứng chỉ là tiêu chuẩn quốc tế được công

nhận rộng rãi trên toàn cầu, cho phép các trường đánh

giá khả năng học cũng như tiềm năng của các em học

sinh

Tại từng quốc gia đều có một tổ chức khảo thí theo

tiêu chuẩn, có thể là nhà nước hoặc tư nhân, đứng ra

tiến hành các kỳ thi sát hạch Tại Việt Nam, kỳ thi tốt

nghiệp THPT do Bộ Giáo dục và Đào tạo thực hiện,

bằng tốt nghiệp thường chỉ có giá trị tại Việt Nam và

một số nước trên thế giới (với điều kiện học sinh học

trường PTTH nào)

Trên thế giới, chỉ có một số tổ chức khảo thí theo tiêu

chuẩn mà chứng chỉ có giá trị quốc tế, được công nhận

toàn cầu, do các yêu cầu học và kiểm tra rất ngặt nghèo

và chất lượng cao, bao gồm:

4.1 Anh quốc

Tại Anh có 5 tổ chức khảo thí được công nhận, cấp bằng

Chứng chỉ về Giáo dục Trung học Tổng quát Tuy nhiên

không phải Hội đồng nào cũng có chi nhánh quốc tế

• Hội đồng Khảo thí ốc tế Cambridge, trực thuộc

Đại học Cambridge, chuyên cấp bằng Chứng

chỉ ốc tế về Giáo dục Trung học Tổng quát

(IGCSE/GCSE) cho học sinh từ 14-16 tuổi Chứng

chỉ này cần khi xét tuyển vào học chương trình Tú

tài ốc tế (International Baccalaurean Diploma

Programme - IBDP) trong 2 năm cuối phổ thông

• Hội đồng khảo thí Edexcel.

• Hội đồng khảo thí AQA (Previously, Assessment

and alifications Alliance)

• CCEA (Council for the Curriculum, Examinations

& Assessment)

• ICAAE (International Curriculum and

Assessment Agency Examinations)

• OCR (Oxford, Cambridge and RSA Examinations)

• WJEC (Welsh Joint Education Commiee)

4.2 Hoa Kỳ

Tổ chức khảo thí Educational Testing Service (ETS),được thành lập vào năm 1947, là tổ chức phi lợi nhuậnkhảo thí lớn nhất thế giới Nó có trụ sở tại LawrenceTownship, New Jersey, gần Princeton, Hoa Kỳ.ETS phát triển các bài kiểm tra tiêu chuẩn khác nhauchủ yếu ở Hoa Kỳ cho K-12 và giáo dục đại học, và nócũng quản lý việc thi quốc tế bao gồm các TOEFL (Testtiếng Anh như một ngoại ngữ), TOEIC (Test tiếng Anhgiao tiếp quốc tế), Graduate Record Examinations(GRE)chung và các môn, tại hơn 180 quốc gia, và tại hơn 9.000địa điểm trên toàn thế giới

ETS cung cấp Chứng chỉ SAT là chứng chỉ đầu vào cáctrường đại học của Hoa Kỳ

4.3 Châu Âu

• International Baccalaureate Organization (IBO),

tổ chức giáo dục quốc tế trụ sở tại Geneva, ụy

sĩ, thành lập 1968 Chứng chỉ do tổ chức này cấptương đương Bằng tốt nghiệp Trung học Tổ chứcnày có chi nhánh trên 40 quốc gia

• Baccalauréat của Pháp, do Bộ Giáo dục ốc gia

Pháp cấp Các kỳ thi vào tháng 6 được tổ chức bởicác trường trung học của Pháp hoặc các trườngtrong hệ thống tuân thủ chương trình của Pháp

4.4 Tham khảo

9

Trang 14

Chương 5

Nghiên cứu

Nghiên cứu bao gồm “hoạt động sáng tạo được thực

hiện một cách có hệ thống nhằm làm giàutri thức, bao

gồm tri thức về con người, văn hóa và xã hội, và sử

dụng vốn tri thức này để tạo ra những ứng dụng mới.”

*[1]Hoạt động nghiên cứu được dùng để thiết lập hay

xác nhận các dữ kiện, tái xác nhận kết quả của công

trình trước đó, giải quyết những vấn đề mới hay đang

tồn tại, chứng minh cácđịnh lý, hay phát triển những

lý thuyếtmới Mục đích chính yếu của nghiên cứu cơ

bản (khác với nghiên cứu ứng dụng) là thu thập dữ

kiện, phát kiến, diễn giải, hay nghiên cứu và phát triển

những phương pháp và hệ thống vì mục tiêu thúc đẩy

sự phát triển tri thức nhân loại Các hình thức nghiên

cứu bao gồm: khoa học, nhân văn, nghệ thuật, kinh tế,

xã hội, kinh doanh, thị trường… Cách tiếp cận nghiên

cứu trong những lĩnh vực khác nhau có thể rất khác

nhau

5.1 Định nghĩa

Nghiên cứu có nhiều định nghĩa khác nhau Martyn

Shuleworth cho rằng: “eo nghĩa rộng nhất, định

nghĩa của nghiên cứu bao hàm bất cứ sự thu thập dữ

liệu, thông tin, và dữ kiện nào nhằm thúc đẩy tri thức.”

*[2]Creswell định nghĩa:“Nghiên cứu là một quá trình

có các bước thu thập và phân tích thông tin nhằm gia

tăng sự hiểu biết của chúng ta về một chủ đề hay một

vấn đề.”Nó bao gồm ba bước: Đặt câu hỏi, thu thập dữ

liệu để trả lời cho câu hỏi, và trình bày câu trả lời cho

câu hỏi đó.*[3]Từ điển Trực tuyến Merriam-Webster

thì chi tiết hơn: Nghiên cứu là“một truy vấn hay khảo

sát cẩn thận; đặc biệt: sự khảo sát hay thể nghiệm nhắm

đến việc phát hiện và diễn giải dự kiện, sự thay đổi

những lý thuyết hay định luật đã được chấp nhận dựa

trên những dữ kiện mới, hay sự ứng dụng thực tiễn

những lý thuyết hay định luật mới hay đã được thay

đổi đó.”*[4]

5.2 Các hình thức nghiên cứu

Nghiên cứu khoa học dựa vào việc ứng dụng các

phương pháp khoa học, khai thác trí tò mò Hình thức

nghiên cứu này cung cấp thông tin và lý thuyết khoahọc nhằm giải thích bản chất và tính chất của thế giới

Nó có thể giúp tạo ra những ứng dụng thực tiễn Hoạtđộng nghiên cứu khoa học được tài trợ bởi các cơ quanchính quyền, các tổ chức tài trợ, và các nhóm tư nhân,bao gồm nhiều công ty Hoạt động nghiên cứu khoahọc có thể được phân loại tùy theo lĩnh vực học thuật

và ứng dụng Nghiên cứu khoa học là một tiêu chí được

sử dụng rộng rãi trong đánh giá vị thế của một cơ sởhọc thuật.*[5]

Nghiên cứu trong các ngành nhân vănliên quan đếnnhững phương pháp khác nhau, chẳng hạn chú giải vănbản cổ vàký hiệu học, và mộtnhận thức luận khác,mang tính chất tương đối luận hơn Các học giả trongcác ngành nhân văn thường không tìm một câu trả lờiđúng tối hậu cho một câu hỏi, mà khảo sát những vấn

đề và đặc điểm liên quan đến câu trả lời đó Bối cảnh

ở đây rất quan trọng, và nó có thể mang tính xã hội,lịch sử, chính trị, văn hóa, hay chủng tộc Một ví dụ

về nghiên cứu trong các ngành nhân văn là nghiên cứulịch sử, bao hàm trong phương pháp sử học Các nhà sửhọc sử dụng những tài liệu gốc và những bằng chứngkhác để khảo sát một cách hệ thống một chủ đề, và từ

đó viết ra lịch sử theo hình thức kể lại quá khứ

Nghiên cứu nghệ thuật, còn gọi là “nghiên cứu dựatrên thực hành”, có thể diễn ra khi công trình sángtạo được xem vừa là một sự nghiên cứu vừa là một đốitượng của nghiên cứu

5.3 Lịch sử

omas Kuhn, trong cuốn sách của ông Cấu trúc củacách mạng khoa học,tìm ra một lịch sử thú vị và phântích quá trình phát triển của nghiên cứu

5.3.1 Nghiên cứu cơ bản

Nghiên cứu cơ bản (hay là nghiên cứu nền tảng –

fundamental, hoặc nghiên cứu thuần túy-pure) đượcthực hiện bởi sự tò mò hoặc đam mê của nhà khoa học

để trả lời những câu hỏi khoa học Động lực để thôithúc họ là mở rộng kiến thức chứ không phải là kiếm10

Trang 15

5.3 LỊCH SỬ 11

Bức phù điêu “Nghiên cứu cầm ngọn đuốc tri thức”(1896) của

Olin Levi Warner, ở Tòa nhà Thomas Jefferson, Thư viện Quốc

hội Hoa Kỳ

lợi nhuận, do đó không có một lợi nhuận kinh tế nào

từ kết quả của nghiên cứu cơ bản

Lấy ví dụ, mục đích khoa học cơ bản là tìm câu trả lời

cho những câu hỏi đại loại như:

• Vũ trụ hình thành như thế nào? Cấu trúc của

proton, nơtron, nucleon bao gồm những gì?

• Có gì đặc biệt trong cấu trúc gen di truyền của loài

ruồi giấm?

Phần lớn các nhà khoa học cho rằng những hiểu biết

một cách cơ bản, nền tảng về tất cả các khía cạnh củakhoa học là thiết yếu cho phát triển Nói một cách khác,nghiên cứu cơ bản đặt nền tảng cho nghiên cứu ứngdụng tiếp bước Nếu coi Nghiên cứu cơ bản là bước đitrước thì sự tiếp nối ứng dụng có thể chính là từ kết quảnghiên cứu này

Nghiên cứu cơ bản có vai trò quan trọng như thế nàotrong quá khứ?

Chúng ta đã được biết đến nhiều ví dụ mà ở đó nghiêncứu cơ bản đã đóng vai trò quan trọng trong sự tiến bộcủa khoa học Dưới đây là một vài ví dụ tiêu biểu

Sự hiểu biết của chúng ta về Gen và di truyền học đạtđược là do thành quả to lớn trong việc nghiên cứu Đậu

Hà Lan của thầy tu Gregor Mendel vào những năm

1860 và các thí nghiệm về ruồi giấm của nhà bác họcT.H Morgan những năm đầu thế kỷ 20 Việc sử dụngđậu Hà Lan, ruồi giấm - những sinh vật có cấu trúcđơn giản sẽ dễ làm thí nghiệm hơn so với các dạngsống cao hơn Ngày nay loài ruồi giấm vẫn được sửdụng trong nghiên cứu khoa học (ví dụ đề án HumanGenome Project –Dự án về Gen người)DNA đang đượcxem như “chìa khóa cuộc sống” Ngày nay, cấu trúcxoắn ốc của cặp DNA đã được giảng dạy trong cáctrường trung học, nhưng vào đầu những năm 1950, cấutrúc của DNA mới được xác định Bằng cách tập hợp

dữ liệu từ các nghiên cứu cơ bản của các nhà khoa họckhác, James Watson và Francis Crick đã khám phá racấu trúc tạo nên phân tử DNA vào năm 1953 Việc xácđịnh được cấu trúc của DNA là chìa khóa quan trọng

để chúng ta hiểu được cách thức hoạt động của DNA.Ngày nay, rất nhiều thiết bị điện tử (ví dụ: đài radio,máy phát điện…) được phát triển từ nghiên cứu cơ bảncủa nhà bác học Michael Faraday vào năm 1831 Ông

ta khám phá ra nguyên lý điện từ trường, đó là mối liên

hệ giữa điện và từ

Tại viện nghiên cứu cao cấp về nguồn sáng LBNL, tia X

đã được sử dụng để dò bên trong mẫu vật liệu rất nhỏ.Nhưng hiểu biết của chúng ta về tính chất của tia X đãđược bắt đầu với những nghiên cứu cơ bản của WilhelmRontgen vào năm 1895

Năm 1931, Earnest O Lawrence đã phát minh ranguyên lý đầu tiên của máy gia tốc, đó là thiết bị chophép các nhà khoa học gia tốc cho các nguyên tử đơntới tốc độ rất lớn Không lâu sau đó, phòng thí nghiệmquốc gia Lawrence Berkeley (LBNL) đã được thành lập.Hàng loạt các nghiên cứu cơ bản tại LBNL đã khám phá

ra nhiều loại đồng vị phóng xạ Một số đồng vị nhưcacbon-14, cobalt-60, hydrogen-3 (tritium), iôt-131, vàtecneti-99�sau đó đã trở thành các công cụ nghiên cứuquan trọng cho các nhà khoa học trong các lĩnh vựcsinh học, cổ sinh vật, và khảo cổ học, hoặc hỗ trợ đắc lựctrong việc điều chế vacxin chống lại bệnh tật Nghiêncứu về đồng vị phóng xạ tại LBNL cũng đã bao gồm cảviệc tạo ra 15 nguyên tố nặng Albert Ghiorso, ngườiđồng phát minh tiếp 12 nguyên tố nặng, đã giải thíchrằng quá trình tìm kiếm các nguyên tố mới do con

Ngày đăng: 31/08/2017, 13:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w