1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

đại cương văn hóa việt nam

135 399 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 135
Dung lượng 1,14 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Văn hóa học với tư cách là một khoa học nghiên cứu về văn hóa ra đời vàphát triển được thúc đẩy bởi những nguyên nhân cơ bản sau: Thứ nhất, lịch sử tồn tại và phát triển của xã hội loài

Trang 1

CHƯƠNG I NHẬP MÔN VĂN HOÁ HỌC

VÀ ĐẠI CƯƠNG VĂN HOÁ VIỆT NAM

I VĂN HÓA HỌC: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

1 Sự cần thiết của Văn hóa học

Con người là chủ thể, là sản phẩm và đồng thời là “vật mang” văn hoá,với những hoạt động của mình tác động đến môi trường xung quanh dựa trênnhững chuẩn mực văn hoá được thừa hưởng từ truyền thống và giáo dục Bởivậy, để phát huy tiềm năng con người vào công cuộc phát triển xã hội nói chung

và vào việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nói riêng, cần phải tính đến các yếu tốvăn hoá mà mỗi con người đang mang trong bản thân

Văn hóa học với tư cách là một khoa học nghiên cứu về văn hóa ra đời vàphát triển được thúc đẩy bởi những nguyên nhân cơ bản sau:

Thứ nhất, lịch sử tồn tại và phát triển của xã hội loài người qua mỗi thời

đại luôn xây dựng cho mình những mẫu người lý tưởng để hướng tới Từ cuốithế kỷ XIX mẫu người lý tưởng mà nhân loại hướng tới chính là mẫu người vănhóa Từ đó đến nay “văn hóa” trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều khoahọc khác nhau Đây là một phạm trù đầy khác thường và rộng lớn Là một kháiniệm gắn liền với đời sống của tất cả mọi người, nhưng cũng hết sức khó hiểu vàđòi hỏi phải được giải thích rõ ràng hơn Không ai có thể định nghĩa phạm trùvăn hóa một cách chính xác, hay cho biết ý nghĩa “thực sự” của nó là gì Điều

đó một phần giải thích vì sao khái niệm này lại hữu ích đến thế, bởi vì khi chúng

ta nói nó là gì thì bản thân chúng ta lại tiếp tục muốn nói đến một điều gì đómang ý nghĩa to lớn hơn Bản thân từ “văn hóa” chứa đựng trong nó biết baonhiêu điều

Thứ hai, trong tiến trình lịch sử của nhân loại, các mối liên kết cộng đồng

trên cơ sở văn hoá thường tỏ ra bền vững và chịu được thử thách của thời gianhơn những mô thức liên kết khác, chẳng hạn như nhà nước hay thị trường

Nhưng trong điều kiện toàn cầu hoá, tính tuyệt đối, tối cao, tính khôngchuyển nhượng và chia cắt của chủ quyền quốc gia đang gặp phải nhiều vấn đề;

mà cụ thể là: trước áp lực của sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế, sinh thái, an

1

Trang 2

ninh, và các vấn đề chung khác nữa do toàn cầu hoá mang lại, ranh giới giữa cácquốc gia đang dần bị mờ đi

Thứ ba là nhu cầu tự khẳng định và bảo tồn cấu trúc của quốc gia - dân

tộc trước áp lực của toàn cầu hoá

Thứ tư là nhu cầu phản tư (tự khẳng định, tự bảo vệ, tự đánh giá) của các

cá thể trước tính đa dạng và bất định do toàn cầu hoá đem lại

Thứ năm là trong điều kiện toàn cầu hoá, văn hoá đang ngày càng có tiếng

nói quyết định đối với tăng trưởng kinh tế Sự gia tăng vai trò của văn hoá đốivới kinh tế có thể thấy rõ trên hai phương diện: tăng trưởng kinh tế và kinh tế trithức

Đối với Việt Nam, nghiên cứu về văn hóa là nhu cầu cấp thiết không chỉ

bởi đây là xu hướng phát triển chung của thế giới mà còn bởi - hiện nay cácnghiên cứu văn hóa mặc dù đang xuất hiện ngày một nhiều, song lại khá tảnmạn, tính hệ thống chưa cao, nặng về liệt kê mô tả, hoặc lại thiên về suy diễn

2 Bản chất của Văn hóa học

Có nhiều bộ môn khoa học cùng nghiên cứu văn hoá dưới nhiều khía cạnhkhác nhau, như dân tộc học, nhân học, xã hội học, triết học v.v Tuy nhiên, chỉ

có Văn hoá học là nghiên cứu văn hoá như một chỉnh thể tự biến đổi và phát

triển

Nghiên cứu văn hóa là một lĩnh vực rất phức tạp, đòi hỏi sự trải nghiệmhọc thuật và thực tiễn Là một trong những ngành nghiên cứu đầu tiên “khôngmang tính ngành” Bởi không có một cách tiếp cận nào có thể hy vọng hiểu hết

được các lĩnh vực của văn hóa trong một nghiên cứu Văn hóa học là một khoa học tích hợp (Integral Science), vừa nghiên cứu văn hóa nói chung, vừa nghiên cứu các hiện tượng văn hóa riêng biệt Mục đích của Văn hóa học là phát hiện ra

và phân tích tính quy luật của những biến đổi văn hóa - xã hội

Người đầu tiên đặt nền móng cho cách tiếp cận chỉnh thể trong nghiêncứu văn hoá, và là người đầu tiên đặt nền móng cho văn hoá học là Edward B

Tylor - nhà nhân học nổi tiếng người Anh (với cuốn "Văn hoá nguyên thuỷ", năm

1871) Gần 40 năm sau (năm 1909) thuật ngữ "Văn hóa học" (tiếng Đức

"Kunturkunde", tiếng Anh "Culturology") mới ra đời Người đặt ra thuật ngữ này là

Wilhelm Ostwald nhà khoa học và triết học Đức Thuật ngữ này dùng để chỉ

Trang 3

môn học mới mà ông gọi là khoa học về các hoạt động văn hóa, tức là hoạt

động đặc biệt của con người.

Leslie Alvin White (1900-1975) là người đặt nền móng cơ bản cho Văn

hoá học với những công trình lý luận về sự tiến hoá của văn hóa và nhữngnghiên cứu khoa học về văn hóa mà ông gọi là "Văn hoá học"

Trong các tác phẩm "Khoa học về văn hoá" (The Science of Culture.

1949), "Sự tiến hoá của văn hóa" (The Evolution of Culture 1959) và "Khái

niệm văn hóa" (The Concept of Culture 1973), L A White đã đặt cơ sở cho văn

hóa học với tính cách là một môn khoa học độc lập, lý giải văn hóa như một hệthống toàn vẹn, làm rõ phạm vi, nguyên tắc và đối tượng nghiên cứu của vănhóa học Nhưng vào thời điểm ấy, ý niệm về văn hoá học còn quá mới mẻ nên

Cho đến nay, Văn hóa học đã phát triển tới độ - bao hàm trong bản thânnhiều khuynh hướng khác nhau, khiến cho việc xác định đối tượng và phươngpháp của nó trở nên hết sức khó khăn

3 Đối tượng nghiên cứu của văn hóa học

a Khái niệm Văn hóa

Hiện nay còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về Văn hoá học, songcác nhà nghiên cứu đều tìm được sự thống nhất chung trong việc xác định đối

tượng của bộ môn khoa học này Theo đó, đối tượng của Văn hoá học chính là

Văn hoá Tuy nhiên sự phân hoá tiếp theo trong giới học giả chính là ở chỗ:

quan niệm thế nào là Văn hoá?

Ngay từ giữa thế kỷ, năm 1952, hai nhà văn hoá học Hoa Kỳ A Kroeber

và C Kluckholn đã thống kê được 150 định nghĩa khác nhau về văn hoá Ngày

nay số lượng các định nghĩa đó đã tăng lên rất nhiều (trên 300 định nghĩa) Nhìn

3

Trang 4

chung, có thể phân chia các định nghĩa về văn hóa thành những loại chính nhưsau1:

- Các định nghĩa miêu tả, trong đó trọng tâm được đặt vào việc liệt kê tất

cả những gì mà khái niệm văn hóa bao hàm Người tiêu biểu cho kiểu địnhnghĩa như vậy về văn hóa là E B Tylor

- Các định nghĩa lịch sử, trong đó nhấn mạnh các quá trình kế thừa xã hội, truyền thống (chẳng hạn E Sapir) Các định nghĩa kiểu này dựa trên việc giả

định về tính ổn định và bất biến của văn hóa, bỏ qua tính tích cực của con ngườitrong phát triển và cải biến văn hóa

- Các định nghĩa chuẩn mực, hướng vào quan niệm về lý tưởng và giá trị.

Chẳng hạn W Thomas coi văn hóa là các giá trị vật chất và xã hội của bất kỳ

nhóm người nào (các thiết chế, tập tục, tâm thế, phản ứng cư xử).

- Các định nghĩa tâm lý học, trong đó nhấn mạnh vào quá trình thích nghi

với môi trường, quá trình học hỏi, hình thành thói quen, lối ứng xử của conngười Chẳng hạn W Sumner và A Keller định nghĩa: "Tổng thể những sự thíchnghi của con người với các điều kiện sinh sống của họ chính là văn hóa, hay vănminh Những sự thích nghi này được bảo đảm bằng con đường kết hợp nhữngthủ thuật như biến đổi, chọn lọc và truyền đạt bằng kế thừa"

- Các định nghĩa cấu trúc chú trọng tới tổ chức cấu trúc của văn hóa R.

Linton chú trọng đến hai khía cạnh của văn hóa: "a/ Văn hóa suy cho cùng là cácphản ứng lặp lại ít nhiều có tổ chức của các thành viên xã hội; b/ Văn hóa là sựkết hợp giữa lối ứng xử mà người ta học được và các kết quả ứng xử mà cácthành tố của nó được các thành viên của xã hội đó tán thành và truyền lại nhờ kếthừa"

- Các định nghĩa nguồn gốc, trong đó văn hóa được xác định từ góc độ

nguồn gốc của nó Nhà xã hội học P Sorokin định nghĩa: "Với nghĩa rộng nhấtcủa từ, văn hóa chỉ tổng thể những gì được tạo ra, hay được cải biến bởi hoạtđộng có ý thức hay vô thức của hai hay nhiều cá nhân tương tác với nhau và tácđộng đến lối ứng xử của nhau"

- Định nghĩa của UNESCO: Gần đây, UNESCO cũng đưa ra một định

nghĩa chính thức về văn hóa: "Văn hóa phản ánh và thể hiện một cách tổng quátsống động mọi mặt của cuộc sống (của mỗi cá nhân và các cộng đồng) đã diễn

1 Phạm Khiêm Ích, Văn hoá học với sự nhận diện văn hoá thế kỷ XX, trong cuốn “Văn hoá học và văn hoá thế kỷ XX”, Sđd Tập I, tr 7-17

Trang 5

ra trong quá khứ, cũng như đang diễn ra trong hiện tại, qua hàng bao thế kỷ, nó

đã cấu thành nên một hệ thống các giá trị, truyền thống, thẩm mỹ và lối sống màdựa trên đó từng dân tộc tự khẳng định bản sắc riêng của mình"1

Việc hệ thống hoá sơ bộ các loại định nghĩa nói trên đã cho thấy tính chất

để ngỏ của khái niệm Văn hoá Sở dĩ có tình trạng này là vì văn hoá là hiệntượng bao trùm lên tất thảy các mặt của đời sống con người, khiến bất kỳ địnhnghĩa nào đưa ra cũng khó có khả năng bao quát hết được nội dung của nó Mỗiloại định nghĩa chỉ có thể thâu tóm một phương diện nào đó của văn hóa Bởivậy, cần coi các định nghĩa như những trừu tượng, và cần sử dụng những trừutượng ấy theo cách là bổ sung lẫn nhau để có thể tái hiện văn hoá như một chỉnhthể

Với tư cách là một chỉnh thể, Văn hoá mang trong nó những đặc trưng cốhữu sau:

+ Văn hóa là cái phân biệt con người với động vật; Văn hóa là đặc trưngriêng có của xã hội loài người

+ Văn hóa không được kế thừa về mặt sinh học (di truyền), mà phải có sự

học tập, giao tiếp

+ Văn hóa là cách ứng xử đã được mẫu thức hoá

b Các khái niệm tương cận: bản sắc, văn minh, văn hiến, văn vật

- Bản sắc (identity)

Bản sắc chính là văn hoá, song không phải bất cứ yếu tố văn hoá nào cũngđược xếp vào bản sắc Người ta chỉ coi những yếu tố văn hoá nào giúp phân biệtmột cộng đồng văn hoá này với một cộng đồng văn hoá khác là bản sắc

Như vậy, khái niệm bản sắc có hai quan hệ cơ bản: thứ nhất, nó là dấu

hiệu để phân biệt các cộng đồng với nhau (quan hệ bên ngoài); và thứ hai, nó chỉ tính đồng nhất mà mỗi cá thể trong một cộng đồng văn hoá phải có (quan hệ

bên trong).

Chẳng hạn chủ nghĩa thực dụng và tính hỗn dung văn hoá của người Mỹ

là dấu hiệu để phân biệt họ với những dân tộc khác trên thế giới Song đó cũng

là những dấu hiệu mà mỗi người Mỹ đều ít nhiều mang trong bản thân

1 Uỷ ban Quốc gia về thập kỷ quốc tế phát triển văn hoá: Thập kỷ thế giới phát triển văn hoá

H., Bộ Văn hóa Thông tin, 1992, tr.23

5

Trang 6

Tuỳ từng đối tượng nghiên cứu cụ thể mà bản sắc được gắn với các cộngđồng ở những quy mô khác nhau; cụ thể như: người ta có thể nói đến bản sắc

phương Đông hay phương Tây (cộng đồng văn hoá khu vực), cũng có thể nói

đến bản sắc của một dân tộc, một tộc người hay một nhóm người trong xã hội

Nếu phân kết cấu văn hoá của một cộng đồng thành các yếu tố: Chung phổ quát (mang tính nhân loại), đặc thù (mang tính khu vực) và riêng (chỉ có ở

-cộng đồng được xét đến), thì bản sắc sẽ là một tập hợp các yếu tố văn hoá độc

đáo và riêng có (tức là thuộc nhóm những yếu tố văn hoá riêng).

“Bản sắc là sự giống nhau và điểm khác biệt, về những cái mang tính

cá nhân và những cái mang tính xã hội, về việc bạn có gì chung với một số người và điều gì khiến bạn khác những người khác” (Weeks, 1990).

- Văn minh (civilization)

Hiện nay nhiều học giả ngoài nước nghiên cứu về văn hoá vẫn sử dụngthuật ngữ Văn hoá và Văn minh thay thế lẫn nhau Chẳng hạn, họ có thể gọi vănhoá Ai Cập là nền văn minh Ai Cập, hay văn hoá lúa nước là nền văn minh lúanước vv Điều đó đã chứng tỏ sự gần gũi của hai khái niệm này Mặc dù vậy,vẫn tồn tại những khác biệt nhất định trong cách sử dụng hai thuật ngữ nói trên

Một số học giả coi văn minh là các giá trị vật chất của văn hoá Số khácquan niệm văn minh là lát cắt đồng đại của văn hoá, tức là văn hoá được xét đếntại một thời điểm lịch sử xác định Nói tóm lại, cả hai quan niệm này đều coivăn minh chỉ là một bộ phận của văn hoá - là khái niệm được văn hoá bao chứa,xét về mặt ngoại diên Trong khi đó, số khác lại quan niệm văn hóa chỉ là một

bộ phận của văn minh (cụ thể như Toynbee coi văn hóa là lĩnh vực hoạt động

tinh thần của nền văn minh)

Trong tình huống có nhiều ý kiến khác nhau như vậy, việc phân biệt nộihàm hai khái niệm này tuỳ theo văn cảnh là điều cần thiết Chúng tôi cho rằng,khi đặt trong quan hệ dẫn đến các yếu tố khác như: kinh tế, chính trị, xã hội,người ta thường sử dụng thuật ngữ văn hoá và văn minh với một nội dung giốngnhau Khi vấn đề được bàn đến trong nội bộ ngành văn hoá học, thì văn hoá vàvăn minh có sự phân biệt; cụ thể là:

+ Văn minh dùng để chỉ trình độ phát triển cao của một nền văn hoá Việc

xác định “cao” hay “thấp” dựa vào hai tiêu chí cơ bản là: tính duy lý và tính phổ

biến của nền văn hoá ấy.

Trang 7

+ Tính duy lý thể hiện ở mức độ tách khỏi giới tự nhiên của con người, được biểu đạt thông qua hệ thống các đồ vật xã hội (vật chất), và hệ thống các chuẩn mực, các tri thức (tinh thần).

+ Tính phổ biến thể hiện ở tình trạng, các cá thể trong cộng đồng văn hoá được xét đến đều hoạt động dựa trên các hệ thống nói trên (tính đồng nhất văn

hoá cao); và những hệ thống chuẩn mực ấy có ảnh hưởng mạnh đến các nền văn

hoá khác

Chính vì mang tính duy lý và phổ quát, nên văn minh còn được dùng đểchỉ trạng thái tiến bộ chung cho các cộng đồng người ở mọi cấp độ: từ địaphương, nhà nước, khu vực, cho đến nhân loại

Ở cấp độ chung nhất (toàn nhân loại), văn minh (Civilization) được hiểu

là sự tổng hoà những thành quả vật chất và tinh thần của loài người trong quátrình cải tạo thế giới; là thước đo của tiến bộ xã hội và mức độ khai hoá của conngười Khi loài người tách mình khỏi giới động vật thì cũng là bước khởi đầucủa văn minh

Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất, nền văn minh nhân loại đã

có quá trình phát triển từ thấp lên cao: văn minh tiền công nghiệp, công nghiệp,hậu công nghiệp vv

- Văn hiến văn vật

Văn hiến và văn vật là những thuật ngữ đặc trưng của văn hoá phươngĐông Văn hiến dùng để chỉ những giá trị tinh thần do những người có tài đức

chuyển tải (Văn = văn hoá, hiến = hiền tài) Văn vật là truyền thống văn hoá tốt

đẹp được thể hiện thông qua một đội ngũ nhân tài và hiện vật trong lịch sử

4 Các phương pháp nghiên cứu cơ bản của văn hóa học

Tồn tại các phương pháp chung và các phương pháp chuyên ngành trongvăn hoá học

a Phương pháp chung

- Phương pháp hệ thống – chỉnh thể

Hệ thống là một hiện thực được cấu thành bởi những yếu tố phụ thuộc lẫnnhau và bởi những tương tác giữa chúng, dựa trên một phương thức tổ chức nhấtđịnh

7

Trang 8

Trong một hệ thống, bao giờ cũng tồn tại một số yếu tố nổi trội và có ảnhhưởng chi phối các yếu tố còn lại Tuỳ theo vị thế của mình trong cấu trúc của

hệ thống, mỗi yếu tố sẽ phải đảm nhiệm những chức năng nhất định

Đến lượt mình, vị thế của mỗi yếu tố lại bị quy định bởi sức mạnh nội tạicủa nó - cái năng lực gây ảnh hưởng đến các yếu tố khác, cũng như năng lựcchuyển hoá các yếu tố khác thành bộ phận tòng thuộc Nhờ sức mạnh của sự phụ

thuộc và chi phối lẫn nhau mà các yếu tố gắn kết với nhau tạo thành chỉnh thể.

Do đó, hệ thống không phải là tập hợp của các đơn vị riêng lẻ (units), mà là thể

thống nhất của những yếu tố phụ thuộc lẫn nhau

Phương pháp Hệ thống – chỉnh thể trong nghiên cứu văn hóa đòi hỏi phải

ứng xử với các hiện tượng văn hóa như những thành tố nằm trong hệ thống lớn,

và truy tìm ý nghĩa của chúng chính là trong bối cảnh lớn đó, chứ không cắtđoạn chúng theo địa giới hành chính hay phân giới địa lý

Nhà sử học người Anh Arnold Toybee – người có ảnh hưởng lớn đối với

giới nghiên cứu lịch sử và xã hội học đương thời, ngay từ thập kỷ 70 (thế kỷ

XX), đã cho rằng: chỉ có các nền văn hoá - văn minh mới đủ tư cách giữ vai trò

là những thực thể trọn vẹn của lịch sử, và do đó mới có đủ tư cách trở thànhnhững đối tượng nghiên cứu độc lập; còn quốc gia – dân tộc thì không như vậy.Khó có thể hiểu nổi lịch sử cũng như văn hoá của một quốc gia, một dân tộc -một khi đã tách ra khỏi nền văn hoá mà chúng đang tham dự với tư cách là thànhtố

Dưới nhãn quan "chỉnh thể", mỗi yếu tố cấu thành hệ thống chỉ có giá trị

và có đầy đủ ý nghĩa khi được xét đến trong hệ thống ấy và trong mối tươngquan của nó với những yếu tố khác cũng đang cấu nên hệ thống nói trên

Do đó, một nền văn hóa được xác định không phải bởi vì người ta khoanhvùng nó bằng những đường biên nhân tạo; hoặc bởi người ta định danh cho nó;

mà bởi các yếu tố cấu thành nó không phải là một tập hợp các hiện tượng hỗnloạn; trái lại, chúng liên kết với nhau để tạo ra một "lôgíc nội tại" Dưới sự chiếusáng của lôgíc nội tại ấy, mỗi thành tố khôi phục lại ý nghĩa biểu trưng chânchính của mình - như sự thống nhất trong tính đa dạng

Và cũng dựa trên quá trình nảy sinh, phát triển, tiêu vong của "lôgíc nộitại", các nhà nghiên cứu văn hóa đề cập đến sự sinh thành, hưng thịnh và suyvong của các nền văn hóa, chứ tuyệt nhiên không dựa vào quá trình sinh tồn đơn

lẻ của các hiện tượng văn hóa (cultural phenomena)

- Giao lưu - tiếp biến văn hóa (acculturation)

Trang 9

Giao lưu - tiếp biến văn hoá là phương pháp nghiên cứu văn hoá dựa trên

lý thuyết các trung tâm và sự lan toả văn hoá hay còn gọi là thuyết khuếch tán

văn hoá với các đại biểu như F Rasel, L Frobenius, F Giabner, W Schmidt, G.

Elliot Smith, W Riers

Thuyết này cho rằng, sự phân bổ của văn hoá mang tính không đồng đều;văn hoá tập trung ở một số khu vực sau đó lan toả ra các khu vực kế cận Càng

xa trung tâm, ảnh hưởng của văn hoá gốc càng giảm - cho tới khi mất hẳn (lan

toả tiên phát) Cơ chế này tạo ra các vùng giao thoa văn hoá - nơi chịu ảnh

hưởng đồng thời của của nhiều trung tâm văn hoá, và cả những “vùng tối” nơisức lan toả không với tới

Đến lượt mình các vùng giao thoa văn hoá cũng có khả năng “phát sáng”

tạo nên sự lan toả thứ phát, để hình thành nên những trung tâm văn hoá mới và

tiếp tục ảnh hưởng đến các khu vực kế cận

Thuyết lan toả văn hoá giúp lý giải vì sao trong cùng một khu vực địa lý

lại có sự tương đồng về văn hoá, và vì sao ở những khu vực giáp ranh giữa cácnền văn hoá lớn thường tồn tại các nền văn hoá hỗn dung

Cơ sở khoa học của thuyết này là những luận điểm như dưới đây:

+ Văn hoá là cái đặc trưng chỉ có ở con người xã hội, mà không phải ở cá

thể người tự nhiên Chính sự hợp quần thành xã hội của các cá thể người mới lànền tảng đích thực của văn hoá

+ Không có hoạt động, không có giao lưu thì cũng không có bản chất xãhội của con người, và do đó, cũng không thể có văn hoá

+ Chỉ trong giao lưu (diễn ra trong nội bộ cộng đồng, hoặc giữa các cộng

đồng với nhau) văn hoá mới có thể tồn tại Như vậy, giao lưu và tiếp xúc văn

hóa là sự vận động thường xuyên của văn hoá

+ Đề cập đến văn hoá cũng có nghĩa là đề cập đến tất cả các khâu của

giao lưu: từ chủ thể của giao lưu (cá nhân, cộng đồng) cho đến hoạt động giao

lưu và sản phẩm của hoạt động giao lưu ấy

Do đó, khi tiến hành nghiên cứu một nền văn hoá, nhất thiết phải xét nótrong quan hệ dẫn đến các trung tâm văn hoá kế cận hoặc các trung tâm văn hoá

đã từng có mối liên hệ với nền văn hoá ấy trong lịch sử; tức là phải xét đến quátrình giao lưu – tiếp biến dẫn đến sự hình thành và phát triển của nền văn hoá ấy

9

Trang 10

Sự thật là: xuyên suốt tiến trình lịch sử, tất cả các nền văn hoá còn tồn tạicho đến giờ, thì đều hiện thân như kết quả của quá trình giao lưu – tiếp biến.Giao lưu – tiếp biến là phương thức tồn tại của mọi nền văn hoá trên hành tinhnày

Giao lưu – tiếp biến văn hoá được hiểu là hiện tượng xảy ra khi những

nhóm người có văn hoá khác nhau, tiếp xúc lâu dài với nhau gây ra sự biến đổi

mô thức văn hóa của các bên

Trong giao lưu có thể xảy ra hiện tượng những yếu tố của nền văn hoá

này thâm nhập vào nền văn hoá kia (tiếp thu thụ động); hoặc nền văn hoá này vay mượn những yếu tố của nền văn hoá kia (tiếp thu chủ động); rồi trên cơ sở

những yếu tố nội sinh và ngoại sinh ấy mà điều chỉnh, cải biên cho phù hợp, gây

ra sự giao thoa văn hoá

Giao lưu – tiếp biến văn hoá không chỉ là một phương pháp nghiên cứu

văn hoá, mà còn là một phương pháp được văn hoá học sử dụng khá thườngxuyên khi tiến hành phân xuất kết cấu của một nền văn hoá cụ thể Với phương

pháp này, nội dung của một nền văn hoá cụ thể được phân thành: yếu tố nội sinh

và yếu tố ngoại sinh

Tuy nhiên việc phân biệt như vậy chỉ mang tính tương đối Cùng với thờigian, yếu tố ngoại sinh có thể chuyển thành yếu tố nội sinh, hoặc bị biến đổi mộtcách căn bản để trở nên phù hợp với nền văn hoá đã tiếp nhận nó Việc hấp thụNho giáo, Phật giáo của một số nước Đông Nam Á là một thí dụ về sự chuyểnhoá nói trên

- Phương pháp lịch sử (Cách tiếp cận Lịch đại)

Khảo cứu sự tiến triển của một nền (hay một hiện tượng văn hoá) theo

trục thời gian Nó đem lại bức tranh phong phú, sinh động, các tiểu tiết, các tàiliệu cụ thể liên quan đến đối tượng nghiên cứu Bên cạnh những mặt mạnh vốn

có, phương pháp này cũng gặp phải những hạn chế nhất định như:

+ Bị lệ thuộc nhiều vào các tài liệu và các di chỉ tìm được

+ Quy luật phát triển của đối tượng thường bị chèn lấp bởi các sự kiệnmang tính mảnh đoạn

+ Đối tượng tượng thường được hình dung như một tập hợp bao gồm cácbiểu hiện đa dạng hơn là một chỉnh thể có kết cấu và có lôgíc phát triển nội tại

- Phương pháp lôgíc (Cách tiếp cận Đồng đại)

Trang 11

Khảo cứu đối tượng (văn hoá) theo lát cắt đồng đại (trong không gian

đương đại) Nó có ưu điểm là cho phép hình dung về kết cấu của đối tượng cùng

với các chức năng và các yếu tố cấu thành Nó cũng vạch ra được quy luật nộitại của đối tượng, nhờ đó đối tượng được tái hiện như một chỉnh thể sống động,vận động tự thân Nó cũng giảm sự phụ thuộc của nghiên cứu vào các tài liệulịch sử

Bên cạnh đó, phương pháp này cũng có những hạn chế nhất định như: dễrơi vào tư biện, kém sinh động và thiếu các luận cứ thực chứng

Để khắc phục những nhược điểm trên, người ta thường sử dụng phươngpháp lôgic trong sự kết hợp và hỗ trợ của phương pháp lịch sử

- Thống nhất giữa lôgíc và lịch sử (Tọa độ văn hóa)

Tọa độ văn hoá là một phương pháp nghiên cứu văn hoá theo hai trục cơ

bản: không gian văn hoá và thời gian văn hoá Thông thường, không gian văn

hoá vẫn được quan niệm là vùng địa lý; còn thời gian văn hoá được xác địnhbằng niên đại lịch sử

Về thực chất, đây là phương pháp nghiên cứu mang tính tổng hợp, bởi nóbao hàm trong bản thân nhiều phương pháp hỗ trợ khác; mà cụ thể là: nó sửdụng phương pháp lôgíc, địa văn - hoá, giao lưu – tiếp biến văn hoá vv, để xácđịnh không gian văn hoá Trong khi đó, phương pháp lịch sử được sử dụng để

xác định thời gian văn hoá (tiến trình văn hoá - là kết quả của việc áp dụng

phương pháp này).

Cũng có thể vận dụng cả chiều thứ ba để xác định tọa độ văn hoá - đó là

chiều chủ thể văn hoá Việc bổ sung như vậy là có lợi đối với các nghiên cứu về

văn hoá tộc người song lại gây trở ngại cho các nghiên cứu về văn hoá dân tộc

Sở dĩ như vậy là vì, khái niệm tộc người dùng để chỉ các cộng đồng tương

đối thuần khiết về chủng và có chung thổ ngữ Khái niệm này không nhấn mạnhnhiều đến đặc điểm quần cư về mặt địa lý Chính nhờ khái niệm này mà việc

nghiên cứu văn hoá của một số cộng đồng phát tán (thiếu vắng dấu hiệu quần

cư về địa lý) như cộng đồng Do Thái, cộng đồng người Hoa hải ngoại, hoặc các

bộ tộc du mục trở nên dễ dàng hơn

Trong khi đó, khái niệm Dân tộc (nation) lại không nhấn mạnh đến yếu tố

chủng, thậm chí là cả ngôn ngữ, mà nó chủ yếu tập trung vào mô tả cái cộngđồng nằm trong địa giới hành chính của một nhà nước và chịu sự quản lý củanhà nước ấy – tức là nhấn mạnh đến yêú tố lãnh thổ Chính vì thế mà tiêu chí

11

Trang 12

quần cư về địa lý trong khái niệm Dân tộc là dấu hiệu được ưu tiên hàng đầu.

Một dân tộc có thể chứa nhiều tộc người (ethnicities), và một tộc người có thể

hiện diện ở nhiều dân tộc khác nhau Thực trạng này đã chỉ cho thấy: Văn hoátộc người không hoàn toàn đồng nhất với văn hoá dân tộc

Bởi vậy, thông thường người ta chỉ sử dụng hai chiều là không gian vàthời gian để xác định tọa độ văn hoá dân tộc

b Phương pháp chuyên ngành

- Cách tiếp cận Địa - văn hóa

Địa – văn hoá vừa là một phương pháp dùng để nghiên cứu văn hoá theovùng địa lý, đồng thời cũng là phương pháp kiến giải các đặc điểm văn hoá dựavào điều kiện điạ lý và hoàn cảnh tự nhiên

Phương pháp này (cùng với những phương pháp khác nữa) đã góp phần

lý giải tính đồng nhất (tương đồng) văn hoá của các cộng đồng người cùng sống

trên một vùng lãnh thổ – nơi có điều kiện tự nhiên khá giống nhau

Cơ sở khoa học của phương pháp nghiên cứu văn hoá này là các luậnđiểm cho rằng:

- Bản thân con người cũng là một bộ phận của tự nhiên

- Để tồn tại và phát triển con người phải tiến hành trao đổi chất với môitrường tự nhiên

- Quá trình trao đổi chất nói trên diễn ra theo hai hướng: thích nghi với tựnhiên và cải tạo tự nhiên

- Cả hai hướng này đều tạo ra các yếu tố văn hoá; Cụ thể là: thích nghi –

in dấu trong văn hoá nhân cách, trong lối sống cộng đồng (văn hoá phi vật thể); còn biến đổi - được lưu giữ trong các đồ vật xã hội (giới tự nhiên thứ hai, theo cách nói của Marx, hay trong văn hoá vật thể).

Như vậy, có thể khẳng định rằng, môi trường tự nhiên chi phối quá trìnhhình thành và phát triển của văn hoá

-Cách tiếp cận Nhân học văn hoá

Nhân học văn hoá là một khoa học liên ngành về văn hoá Nó chủ yếu

nghiên cứu văn hoá từ hai giác độ: nhân chủng và ngôn ngữ (thổ ngữ) Điều đó

có nghĩa là các cộng đồng có cùng cội nguồn huyết thống và ngôn ngữ sẽ đượcxem là có tính đồng nhất văn hoá

Trang 13

Cùng với thời gian lịch sử, dân số trên hành tinh ngày càng tăng, điều

kiện tự nhiên ở một số vùng trên trái đất cũng thay đổi (do biến đổi khí hậu,

thiên tai, động đất, núi lửa, hoặc do con người khai thác vượt quá sức tải của môi trường), và do cả những cuộc xâm lược lẫn nhau của chính con người - đã

dẫn đến những làn sóng di cư nhân khẩu từ vùng địa lý này sang vùng địa lýkhác

Di cư đã làm thay đổi đáng kể diện mạo của thứ văn hoá vốn trước kia bịchi phối bởi hoàn cảnh địa lý Các cộng đồng di cư vẫn giữ lại những truyềnthống văn hoá cội nguồn của họ trong một bối cảnh tự nhiên mới Chính điềunày đã gây khó khăn không nhỏ cho phương pháp nghiên cứu địa – văn hoá

(Chẳng hạn, người ta đã không thể sử dụng phương pháp này đối với cộng đồng

Do Thái, hay cộng đồng người Hoa hải ngoại).

Sự phát tán các cộng đồng người đã làm cho một không gian địa lý có thểhàm chứa vô số các không gian văn hoá khác nhau Đây là nguyên nhân cơ bảnthúc đẩy văn hoá học tìm kiếm các biện pháp bổ sung và khắc phục hạn chế củađịa - văn hoá; và phương pháp nghiên cứu nhân học – văn hoá ra đời chính là đểđáp ứng nhu cầu đó

Phương pháp này xác định thực thể văn hoá chủ yếu dựa vào sự phân bố

chủng người và thổ ngữ Bằng cách gắn các phẩm chất văn hoá với chủ thể

-người (vừa là vật mang, vừa là chủ thể, vừa là kết quả của văn hoá), phương

pháp này đã giảm thiểu việc lệ thuộc vào hoàn cảnh địa lý, khi tiến hành lý giảicác hiện tượng văn hoá Nó chuyển sang xem xét văn hoá như một quá trình tựthân có khả năng tái sản xuất ra chính nó trong khuôn khổ của một cộng đồngxác định

Phương pháp nhân học – văn hoá đã lấy hai thuộc tính cố hữu và nổi trội

mà bất kỳ cộng đồng văn hoá nào cũng có, đó là chủng và thổ ngữ của chủng đểphân vùng văn hoá Chẳng hạn, với phương pháp đó người ta phân Châu Âu rathành ba nhóm văn hoá: văn hoá Slavơ, văn hoá Latinh và văn hoá Gécmanh

Đây cũng là phương pháp phổ biến và tiện dụng đối với các nghiên cứu

về văn hoá tộc người, hoặc các nghiên cứu về văn hoá dân gian

-Cách tiếp cận Tín ngưỡng - Tôn giáo

Lịch sử nhân loại tiến triển theo chiều hướng toàn thế giới Ngay từ thế kỷXVIII, F Hegel - nhà triết học vĩ đại người Đức đã phát hiện ra khuynh hướngnày và coi đây là một quy luật phổ quát của lịch sử nhân loại ông đã tiên đoán

13

Trang 14

về tính toàn thế giới của lịch sử dựa trên sự ra đời của thị trường toàn cầu (Marx Hệ tư tưởng Đức).

Trong thiên niên kỷ thứ ba này, quá trình toàn cầu hoá đang minh chứng

cho nhận định nói trên của F Hegel Toàn cầu hoá đang kiến tạo nên các hệ

thống chuẩn mực chung cho toàn nhân loại Điều đó có nghĩa là, khía cạnh văn

minh (mặt duy lý của văn hoá) đang gia tăng một cách tỷ lệ thuận với sự tiến

triển của toàn cầu hoá Chính điều này đã làm cho các nền văn hoá ngày càngtrở nên giống nhau hơn, xét từ góc độ văn minh Toàn cầu hoá đang kiến tạo nênmột nền văn minh chung toàn nhân loại và làm cho lịch sử giờ đây mang tínhtoàn thế giới hơn bao giờ hết

Trong tình huống đó, tôn giáo với bản tính phi duy lý cố hữu của nó đã

không bị biến dạng bởi tính duy lý của khoa học và công nghệ Nhờ đó, tôn giáo

đã trở thành chỗ dựa cho bản sắc văn hoá của nhiều cộng đồng trong điều kiệntoàn cầu hoá Đó chính là lý do khiến việc nghiên cứu văn hoá bằng tôn giáo trởthành một phương pháp thịnh hành trong các nghiên cứu hiện nay về văn hoá

Vả lại, phương thức nghiên cứu văn hoá bằng tôn giáo cũng đã có một bề

dày lý luận đáng nể Có thể coi Chiristopher Dawson (1889-1970) là ông tổ sáng

lập ra phương pháp nghiên cứu này Theo Chiristopher Dawson, tôn giáo khôngphải là một hình thái ý thức trừu tượng, mà là truyền thống văn hoá hay tập tụcvăn hoá Cũng theo ông thì một xã hội giầu sức sống tất có một tôn giáo, mà tôngiáo này ở mức độ rất lớn lại quyết định phương thức văn hoá của xã hội ấy Do

đó việc nghiên cứu tôn giáo trong sự thống nhất với văn hoá sẽ mở ra một cáinhìn mới, hay nói đúng hơn là cho phép đánh giá lại các vấn đề có liên quan sựphát triển xã hội

Sau đó, các học giả như Paul Tillich, Arnold Toynbee, Ernst Cassirer đãphát triển luận điểm của Chiristopher Dawson thành lý thuyết đồng nhất tôngiáo với văn hoá, và đồng nhất trên cơ sở của tôn giáo Chẳng hạn, Paul Tillichcho rằng tôn giáo là mặt tinh thần của nhân loại Nhìn từ góc độ bản thể, tôngiáo là tầng đáy của cuộc sống tinh thần nhân loại, bởi vậy nó là cái cuối cùng,

vô điều kiện, chỉnh thể và vô hạn Tôn giáo phú cho văn hoá bản thể của ýnghĩa, còn văn hoá là tổng hoà các hình thức biểu đạt của tôn giáo

Không phải ngẫu nhiên mà Samuel Huntington - một nhà phân tích chínhtrị hàng đầu hiện nay của Hoa Kỳ đã đi đến nhận định là: khi sự đối đầu lưỡngcực đã biến mất cùng với sự sụp đổ của Liên xô thì chiến tuyến tương lai sẽ là

sự đụng độ giữa các nền văn hoá (văn minh) - mà về thực chất, là sự đối đầu của

Trang 15

các tôn giáo lớn trên thế giới như Kitô giáo (Catholicism), Đông chính giáo (Eastern Orthodoxy), Do thái giáo (Judaism), Phật giáo (Buddhism), Ấn Độ giáo (Hinduism), Hồi giáo (Islamism), Nho giáo (Confucianism) Và đây cũng là

một ví dụ điển hình về việc nghiên cứu văn hoá bằng tôn giáo

Tồn tại xuyên suốt chiều dài lịch sử nhân loại, tôn giáo không ngừng tácđộng lên hai mặt của đời sống con người: cộng đồng và cá thể Ở cả hai bình

diện đó, tôn giáo đều phát huy chức năng bù đắp của mình Ngày nay, trong thời đại toàn cầu hoá, chức năng bù đắp đó chẳng những không hề suy giảm mà còn

chuyển hoá thành những hình thức và khuynh hướng mới

Chính vì thế, ngày nay giới nghiên cứu đã bắt đầu nhìn nhận tôn giáo vớimột thái độ khác trước Những ý nghĩa tích cực của tôn giáo đã được chú trọng,

và tôn giáo cũng bắt đầu được nhìn nhận như “vật mang” văn hoá

- Cách tiếp cận sử học: Sử học văn hoá

Là hệ quả của việc ứng dụng phương pháp lịch sử vào trong nghiên cứucác hiện tượng văn hoá Nó đem lại cái nhìn chi tiết về tiến trình văn hoá, quacác thời kỳ, các giai đoạn trong lịch sử Đây là một phương pháp truyền thốngthường được sử dụng khi nghiên cứu văn hoá của cộng đồng người nằm tronglòng nhà nước dân tộc

- Cách tiếp cận xã hội học ( Xã hội học văn hoá)

Sử dụng các phương pháp của Xã hội học như: định tính, định lượng,thống kê, trắc nghiệm, điền giã và phỏng vấn vào nghiên cứu các hiện tượngvăn hoá Nó vạch ra vai trò và mức độ ảnh hưởng của văn hoá đối với mỗi địaphương hay mỗi cộng đồng cụ thể trong việc thực hiện các chính sách xã hội,trong việc lựa chọn các khuynh hướng ứng xử, cũng như trong cách thức phảnứng trước những biến đổi xã hội

-Cách tiếp cận kinh tế học (Kinh tế học văn hoá)

Kinh tế học văn hoá nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố văn hoá đếnphát triển kinh tế ở các cấp độ: khu vực, địa phương Nó tập trung vào làm rõảnh hưởng của các yếu tố văn hoá đối với việc lựa chọn triết lý kinh doanh; xuhướng kinh doanh, xu hướng lựa chọn và tiêu dùng sản phẩm

II ĐẠI CƯƠNG VĂN HOÁ VIỆT NAM - MỘT NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG CỦA VĂN HÓA HỌC

15

Trang 16

1 Phạm vi nghiên cứu

Văn hoá là một khái niệm rất rộng, nên trong các nghiên cứu ứng dụng,Văn hoá học đòi hỏi phải làm rõ phạm vi nghiên cứu, trước khi bắt tay vào triểnkhai các nhiệm vụ cụ thể

Đối với Đại cương văn hoá Việt Nam, thì Văn hoá Việt Nam được hiểu là

Văn hoá của dân tộc Việt Nam – tức văn hoá của cộng đồng người sinh sống

trong phạm vi lãnh thổ của nước CHXHCN Việt Nam hiện nay Bởi vậy, việc

nghiên cứu văn hoá của từng tộc người riêng lẻ (ethnic cultures) hiện đang sinh

sống tại Việt Nam - sẽ không phải là nhiệm vụ chủ đạo của môn học này

2 Xác định đối tượng nghiên cứu

Văn hóa là một hiện thực hết sức đa dạng và cách hiểu về nó cũng rấtkhác nhau, bởi vậy, trong cuốn sách này, chúng tôi sẽ khoanh vùng đối tượng

nghiên cứu dựa trên lý thuyết phân bậc chủ thể văn hóa

Với lý thuyết này, văn hóa không còn bị hình dung như một tập hợp cáchiện tượng hỗn loạn, mà với tính hỗn loạn ấy - chỉ có phương pháp thích ứngnhất là "mô tả" Thay vì cách làm như vậy, dựa trên phẩm chất chung mang tính

cố hữu của văn hóa là gắn với tính người (hiểu theo nghĩa phân biệt với giới tự

nhiên), lý thuyết này gắn văn hóa với chủ thể - người

Đi theo hướng này, quan niệm về văn hóa không còn bị rơi vào những cựcđoan: hoặc bị hình dung như "tổng hỗn loạn"; hoặc bị quan niệm như "chất trừu

tượng"; mà trái lại văn hóa hiện hữu một cách trực quan và cụ thể trong tính

cách và đời sống của chủ thể văn hóa.

Thông thường, chủ thể văn hoá được phân thành: Cộng đồng và cá nhân

a Cộng đồng

- Nhân loại: Ở cấp độ chủ thể là nhân loại, văn hoá được nhìn nhận như

“cái không phải giới tự nhiên”, tức là được quy về cái phẩm chất mà chỉ conngười mới có Nhân loại là chủ thể của văn hoá - theo nghĩa rộng nhất của khái

niệm văn hoá (Culture).

+ Cộng đồng khu vực: là cộng đồng người được phân bổ trên một vùng địa lý xác định và là chủ nhân của một nền văn hoá - văn minh (Regional

culture/ Civilization).

Trang 17

+ Tộc người: Là chủ thể mang tính cộng đồng, được xác định theo sự phân bổ về chủng và thổ ngữ Gắn với tộc người là văn hoá tộc người (Ethnic

niệm rằng, mỗi cá nhân (cá thể) vừa là chủ thể, vừa là vật mang của văn hoá

cộng đồng mà anh ta tuỳ thuộc Do đó, văn hoá của mỗi cá nhân đều in dấu các

tính quy định của văn hoá - loài, bên cạnh những phẩm chất văn hoá độc đáo mà

chỉ riêng anh ta mới có Điều đó có nghĩa là giữa các cá thể vẫn tồn tại một

“mẫu số chung về văn hoá" - và cái “mẫu số chung về văn hoá" ấy được xem làvăn hoá nhân cách của một cộng đồng

Như vậy, Văn hoá nhân cách không hướng đến việc mô tả đời sống của từng cá nhân cụ thể, riêng lẻ; mà trái lại - nó luôn cố gắng tìm ra mẫu số chung

về văn hoá giữa các cá nhân đồng thuộc một nền văn hoá

Vận dụng lý thuyết phân bậc văn hoá vào xem xét chủ thể văn hoá Việt

Nam, hệ thống biểu đạt văn hoá Việt Nam (sắp xếp theo quy mô từ nhỏ đến lớn)

được xác định như sau:

- Cá nhân – và tương ứng với nó là: Văn hoá nhân cách của người Việt

Nam.

- Các cộng đồng cơ bản bao gồm làng xã, đô thị, nhà nước dân tộc; và tương ứng với chúng là các kiểu hình văn hoá: Văn hoá làng xã; Văn hoá đô thị;

Văn hoá nhà nước – dân tộc.

Bước tiếp theo là khảo sát một "thực thể - chủ thể" văn hoá theo hai mặt

cơ bản; đó là: mặt tinh thần và mặt thực tiễn Cách xem xét này không giống với

sự phân đôi thế giới thành vật chất và ý thức - như trong triết học vẫn làm Ở

17

Trang 18

đây vẫn tồn tại sự khác biệt giữa các khái niệm văn hoá vật chất với mặt thực

tiễn của văn hoá; và giữa văn hoá tinh thần với mặt tinh thần của văn hoá.

- Văn hoá vật chất là khái niệm dùng để chỉ các đồ vật/sản phẩm (hiện

hữu và mang tính hình thể) do con người tạo ra (hoặc được con người sử dụng)

để thoả mãn các nhu cầu của họ Đây là cách nhìn văn hoá như một khách thểđộc lập tương đối với con người – tức là văn hoá ở trạng thái đã được khách thểhoá

Trong khi đó, mặt thực tiễn của văn hoá lại phản ánh sự chi phối của các yếu tố văn hoá đối với hành vi ứng xử của chủ thể với thế giới xung quanh (tự

nhiên và xã hội), mà những hành vi ấy có thể nắm bắt được bằng con đường trực quan hay kinh nghiệm Bởi vậy, mặt thực tiễn của văn hoá bao hàm cả yếu

hành vi như vậy vốn được xếp vào lĩnh vực tinh thần của văn hoá.

Tóm lại, việc nhìn nhận cấu trúc văn hoá trên hai bình diện tinh thần và

thực tiễn là hệ quả của việc ứng dụng phương pháp khảo sát văn hoá gắn với

hành vi của chủ thể văn hoá

3 Sử dụng phương pháp nghiên cứu

a Phương pháp lôgíc

Để đạt được mục tiêu nói trên, Đại cương văn hoá Việt Nam vận dụng chủ yếu là phương pháp lôgic (cách tiếp cận đồng đại), còn phương pháp lịch sử (cách tiếp cận lịch đại) chỉ mang tính hỗ trợ và minh hoạ

Với phương pháp lôgíc, kết cấu văn hoá của dân tộc Việt Nam không phải

là một tổng cơ học của các văn hóa tộc người, và cũng không bị cắt lớp thànhcác tầng văn hoá theo tiến trình lịch sử kiểu như: văn hoá bản địa và văn hoá do

giao lưu – tiếp biến (cấu trúc đó là kết quả của việc ứng dụng phương pháp lịch

Trang 19

sử) Theo đó, văn hoá Việt Nam được phân xuất thành: các yếu tố phổ biến, các

yếu tố đặc thù và các yếu tố đơn nhất.

Trong khi yếu tố phổ biến mang tính toàn nhân loại; còn yếu tố đặc thù

mang tính khu vực; thì bản sắc là tổ hợp các yếu tố đơn nhất (tính không lặp lại,

tính quy định cố hữu)

Tuy nhiên cũng cần phân biệt các yếu tố đơn nhất (bản sắc) với các yếu

tố nội sinh Không phải bất cứ yếu tố nội sinh nào cũng tham gia cấu thành bản

sắc Bên cạnh đó, bản sắc có thể bao gồm cả những yếu tố là hệ quả của giao lưu– tiếp biến văn hoá Tiêu chí để xếp yếu tố văn hoá này hay yêú tố văn hoá khácvào bản sắc – chính là ở chỗ: những yếu tố ấy phải là vật mang các tính quy địnhđặc trưng cho văn hoá dân tộc

Chẳng hạn, cây cà phê được trồng ở nhiều nơi trên thế giới, song khi nói

về Brazil – người ta vẫn coi đây là đất nước của cà phê Cũng như vậy, Nhogiáo, Phật giáo hay Đạo giáo mặc dù hiện diện ở nhiều dân tộc khác nhau,song sự khác biệt chính là ở chỗ: mỗi dân tộc ứng xử, lựa chọn và vận dụng cácyếu tố của chúng theo cách riêng của mình – và cái đó chính là bản sắc, mặc dùnhững học thuyết trên tuyệt nhiên không phải là yếu tố văn hoá nội sinh Nhưvậy, Nho giáo, Phật giáo hay Đạo giáo không còn đơn thuần là các yếu tố vănhoá du nhập mà trái lại, đã trở thành “vật mang” bản sắc dân tộc

III Ý NGHĨA CỦA VĂN HÓA HỌC VÀ ĐẠI CƯƠNG VĂN HÓA VIỆT NAM

a Trang bị năng lực phản tư văn hoá

- Dù thế giới quan khoa học có quan trọng đến đâu, thì nó cũng khôngphải là cách thức chiêm ngưỡng thế giới duy nhất của con người Hơn thế,không phải trong mọi trường hợp nó đều mang tính hợp lý Đời sống tinh thầncon người như là một chỉnh thể nên không thể đóng kín chỉ trong các cấu trúclôgíc của khoa học Người ta thừa nhận rằng, không thể khử bỏ được yếu tố phi

lý trong đời sống nội tâm con người, và như thế thì phần còn lại sẽ là vươngquốc của cái phi duy lý, nơi ngự trị của Tôn giáo và Nghệ thuật - những thành tố

cơ bản của văn hoá Dưới lăng kính văn hoá, thế giới hiện ra trong con mắt chủ

thể không chỉ chỉ là Chân, mà còn là Thiện và Mỹ nữa.

- Trong một thế giới đang bị toàn cầu hoá, sự khẳng định tính cá biệt củanhân cách là rất quan trọng, để cá thể không bị hoà tan vào những chuẩn mựcchung mang tính toàn cầu đang lấp đầy không gian sống Chỉ như vậy sự độc

19

Trang 20

đáo của nhân cách mới được bảo tồn, và do đó, cá nhân mới tìm thấy ý nghĩacủa sự tồn tại “Khi nền kinh tế thế giới ngày càng thống nhất và xã hội loàingười ngày càng trở nên giống nhau, nhu cầu của một cá nhân giữ lại ý nghĩacủa mình trong một biển người đồng dạng ngày càng gia tăng”1 Để làm đượcđiều này, sự hiểu biết về bản sắc văn hoá của cộng đồng mà mình tuỳ thuộc – làmột đòi hỏi tất yếu đối với mỗi cá nhân

b Có tác dụng giáo dục và bồi dưỡng nhân cách

- Việc nhận thức và thẩm thấu các giá trị văn hoá của cộng đồng là điềukiện tiên quyết để hình thành nhân cách Nhân cách được bộc lộ qua ứng xử, qua

sự lựa chọn và cách giải quyết vấn đề mà mỗi cá nhân trong cuộc sống thườngnhật phải đối mặt Các chuẩn mực dẫn dắt hành động của cá nhân luôn là vănhoá của cộng đồng mà tại đó cá nhân sinh ra và lớn lên

- Chỉ khi ý thức được các chuẩn mực văn hoá ấy, cá nhân mới có thể chủđộng trong quá trình khẳng định nhân cách, biết loại bỏ đi những yếu tố kìmhãm và tiếp thu những yếu tố có tác dụng tích cực – phù hợp với yêu cầu pháttriển của thời đại, đồng thời vẫn giữ được diện mạo văn hoá dân tộc

c Giúp lý giải các khuynh hướng lựa chọn, cách ứng xử, cách hành động, và triết lý sống của người Việt Nam

- Việc hiểu biết về các nền văn hoá thế giới và văn hoá dân tộc, ngoài việcđem lại một cái nhìn đối sánh, còn giúp lý giải từ giác độ văn hoá, vì sao lại có

sự khác biệt trong cách ứng xử, cách giải quyết vấn đề, cách lựa chọn triết lý

sống của những cộng đồng khi đứng trước những tình huống (được giả định là)

giống nhau

- Đây là những kiến thức hết sức hữu ích cho việc hình thành nên triết lýkinh doanh, xây dựng ý thức pháp luật, định hướng tâm lý tiêu dùng, và tạo lậpphong cách làm việc sao cho có hiệu quả

- Những kiến thức này cũng giúp người học đánh giá đúng mức các cơ hộicũng như những thách thức mà thời đại đang đặt ra đối với bản sắc văn hoá dântộc.

Tài liệu tham khảo

Tài liệu tiếng Việt

1 Jonh Naisbitt, NghÞch lý toµn cÇu, Bé Tµi chÝnh, ViÖn Nghiªn cøu Tµi chÝnh, Hµ Néi, 1997,

tr.202.

Trang 21

1 Irma Adelman Năm mươi năm phát triển kinh tế chúng ta học được những

gì?; Tư duy mới về phát triển cho thế kỷ XXI Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,

4 Phạm Khiêm Ích (chủ biên) Văn hoá học và văn hoá thế kỷ XX, tập I Viện

Thông tin khoa học xã hội, Hà Nội 2001

5 Jonh Naisbitt Nghịch lý toàn cầu Bộ Tài chính, Viện nghiên cứu Tài chính,

Hà Nội, 1997

6 Phan Ngọc Bản sắc văn hóa Việt Nam Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội, 2002.

7 Zhangzhigang Tôn giáo và đời sống hiện đại, T1 Trung tâm KHXH&NV

QG, Viện TTKHXH, Hà Nội, 1997

8 Trần Ngọc Thêm Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam Nxb Tổng hợp Thành

phố Hồ Chí Minh, 2004

9 V.M Rôđin Văn hoá học Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000.

10 Phạm Thái Việt (chủ biên) Đại cương về văn hóa Việt Nam Nxb văn hóa –

Thông tin, Hà Nội, 2004

11 Phạm Thái Việt Một số nét mới của tôn giáo và nghiên cứu tôn giáo hiện

nay Sách “Tôn giáo và đời sống hiện tại”, tập IV Viện Thông tin khoa học xã

hội, Hà Nội, 2002

12 Uỷ ban Quốc gia về thập kỷ quốc tế phát triển văn hoá Thập kỷ thế giới

phát triển văn hoá Bộ Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 1992.

Tài liệu tiếng nước ngoài

1 Dawson Religion and Rise of Western Culture Image Books Edition, 1958.

2 Dawson Lời nói đầu trong Progress and Religion, NY, 1929.

3 Sammuel Huntington, The "Clash of Civilizations?" , Foreign Affairs, 1993.

4 Paul Tillich: Theology of Culture, Oxford University, Press, 1959.

5 Paul Tillich: Systematic Theology Three Volumes in One, The University ò

Chicago Press, 1967

21

Trang 22

6 Malinowski A Scientific Theory of Culture, NY, 1960.

7 Max Webber The Protestant Ethic and Spirit of Capitalism, NY, 1958.

8 Arnold Toynbee Civilizations on Trial, Oxford 1947.

9 Arnold Toynbee A Study of History, Abridgement of Volume VII-X, Oxford,

I ĐỊNH VỊ VĂN HÓA VIỆT NAM

1 Địa - văn hóa Việt nam

Trong phạm vi hẹp, đất nước Việt Nam nằm trên địa bàn cư trú của ngườiBách Việt Có thể hình dung khu vực này như một hình tam giác với cạnh đáy là

sông Dương Tử (Trung Quốc), và đỉnh là vùng Bắc trung bộ Việt Nam ngày

nay

Trang 23

Ở phạm vi rộng hơn, văn hoá Việt Nam nằm trong khu vực cư trú củangười Indonesien lục địa Có thể hình dung đây là một tam giác với cạnh đáy

vẫn là sông Dương Tử (Trung Quốc) còn đỉnh của tam giác giờ đây kéo dài tới

tận vùng đồng bằng sông Mekông

Dù rộng hay hẹp thì đặc trưng địa lý cố hữu của khu vực này vẫn là: Nhiệt

độ, độ ẩm cao (lượng mưa hàng năm lớn), và có gió mùa

Điều kiện tự nhiên quy định cho khu vực này loại hình văn hoá gắn vớinông nghiệp với những đặc điểm sau:

+ Trồng lúa nước (khác với văn hoá khô mạch của Trung Hoa – vùng

phía bắc sông Dương Tử).

+ Sống định cư và hoà hợp với thiên nhiên (khác với văn hoá gốc du

mục).

+ Đề cao vai trò của phụ nữ (một đặc trưng của văn hoá thực vật, nơi chế

độ mẫu hệ dựa trên kinh tế hái lượm, trồng trọt là hình thái thống trị).

+ Sùng bái mùa màng, sinh nở (Văn hoá phồn thực – nông nghiệp).

Do nằm trong vùng địa lý này nên văn hoá Việt Nam có đầy đủ những

phẩm chất nói trên, và chúng cấu thành các yếu tố đặc thù (mang tính khu vực)

trong nội dung văn hoá Việt Nam

Bên cạnh đó, điều kiện địa lý riêng có của Việt nam cũng tạo ra những

phẩm chất văn hoá độc đáo (các yếu tố riêng thuộc về bản sắc); Đó là:

+ Ứng xử mềm dẻo, khả năng thích nghi và chịu đựng cao (ảnh hưởng

của môi trường nước).

+ Tính dung chấp cao do là đầu mối giao thông đường thuỷ và đường bộ –cửa ngõ của Đông Nam Á nên người dân thường xuyên giao lưu với khu vựcbên ngoài và tiếp thu nhiều kiến thức từ hoạt động giao lưu đó

+ Không có các công trình kiến trúc đồ sộ (ngoại trừ hệ thống đê điều và

thuỷ lợi), do là vùng đất trẻ lấn dần ra biển nên không có kết cấu bền vững và cư

dân của khu vực này thường phải sống chung với nước

+ Tồn tại nhiều loại hình nghệ thuật gắn với sông nước (chèo, rối nước,

đua thuyền ).

2 Nhân học văn hóa Việt Nam

23

Trang 24

Văn hoá Việt Nam là nền văn hoá thống nhất trong tính đa dạng Tính đa

dạng văn hoá là kết quả của sự đa dạng tộc người (hiện có 54 tộc người đang

sinh sống tại Việt Nam), trong đó tộc người Kinh (Việt) đóng vai trò chủ thể

(chiếm gần 90% tổng dân số) Bởi vậy, văn hoá Việt nam tuy đa dạng song vẫn

hướng tâm vào văn hoá chủ thể – văn hoá Việt1

Về mặt chủng, tộc người Việt (Kinh) là sự hoà huyết của các tộc người

sinh sống tại khu vực Đông Nam Á (trong một vùng lãnh thổ trải dài từ nam

sông Dương tử – Trung Quốc đến Bắc trung bộ của Việt Nam ngày nay) Đây là

một khối dân cư hùng hậu bao gồm nhiều tộc người với tên gọi chung là người

Bách Việt (Điền Việt, Dương Việt, Mân Việt, Nam Việt, Lạc Việt ) Tiếp đó,

trong suốt thiên niên kỷ thứ nhất sau Công Nguyên – còn gọi là thời kỳ Bắcthuộc, người Việt còn hoà huyết với chủng người Hán và một số chủng khác vốn

có nguồn gốc nằm sâu trong Trung Hoa Đại lục

Về mặt ngôn ngữ, ngôn ngữ phổ thông hiện nay (Tiếng Việt – của tộc người Kinh) là kết quả của quá trình hoà hợp các thổ ngữ của các tộc người

trong cộng đồng Bách Việt và quá trình Hán hoá

Về mặt lịch sử, lúc đầu ngôn ngữ của người Kinh gồm các thổ ngữ củangười Bách Việt Cùng với sự hoà huyết và chung sống, và xuất phát từ nhu cầugiao tiếp, các thổ ngữ này bị biến đổi để trở thành một thứ ngôn ngữ chung cho

cả cộng đồng; đó là ngôn ngữ Việt – Mường Các yếu tố cơ bản cấu thành ngônngữ Việt – Mường là: Môn - Khơ me, Tày – Thái

Quá trình giao lưu văn hoá với Hán ngữ, chủ yếu diễn ra vào giai đoạnBắc thuộc Trong bối cảnh đó, ngôn ngữ Việt - Mường đã hấp thụ Hán ngữ đểlàm giàu và phát triển

Cuộc giao lưu với văn hoá phương Tây – từ thời Pháp thuộc đến nay, đãđem lại cho tiếng Việt một diện mạo mới, được đánh dấu bằng sự ra đời chữquốc ngữ và một cấu trúc ngữ pháp cũng như vốn từ vựng ổn định như ngàynay

Tóm lại, văn hoá Việt Nam là văn hoá tổng hợp và hỗn dung xét từ giác

độ nhân học văn hoá.

3 Tiếp cận tôn giáo với văn hóa Việt Nam

1 Vũ Minh Giang, Nội dung của truyền thống Việt Nam, trong sách “Các giá trị truyền thống

và con người Việt Nam hiện nay”, HN, 1996 tr.16

Trang 25

Theo quan điểm của nhiều nhà nghiên cứu hiện nay, Việt Nam thuộc cộng

đồng các quốc gia Phật giáo (cùng với Lào, Campuchia, Thái Lan, Mianma ).

Cách phân loại này đã không xếp Nho giáo vào hàng tôn giáo

Một số khác coi Việt Nam nằm trong cộng đồng của các nước chịu ảnh

hưởng của Nho giáo (như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc ).

Tồn tại quan điểm thứ ba, mà chủ yếu là ở các học giả trong nước, đó làcoi tôn giáo ở Việt Nam mang tính tổng hợp - theo nguyên lý “tam giáo đồng

nguyên” (Nho, Phật, Đạo) Trong đó, Phật giáo giữ vai trò là cơ sở, chất “dung

môi” để hoà trộn hai yếu tố còn lại

Như vậy đối với Việt Nam, việc nghiên cứu văn hoá dựa trên dấu hiệu tôngiáo là rất khó khăn, do thiếu tính thuần nhất về tín ngưỡng và tôn giáo Bởi vậy,việc sử dụng lý thuyết giao lưu – tiếp biến văn hoá để nghiên cứu trong trườnghợp này là hết sức cần thiết

4 Văn hóa Việt Nam dưới giác độ giao lưu - tiếp biến

Dưới giác độ giao lưu – tiếp biến, văn hoá Việt Nam là kết quả của cáccuộc gặp gỡ văn hoá lớn trong khu vực

- Giao lưu với văn hoá Ấn: trực tiếp (lan toả tiên phát) qua đường biển Đông; gián tiếp (lan toả thứ phát) qua Văn hoá Bắc thuộc, văn hoá Chăm Pa ở

Trung Bộ và Óc Eo ở Nam Bộ

+ Giao lưu với văn hoá Trung Hoa: chủ yếu bằng con đường cưỡng chế

(bị xâm lược, đô hộ và đồng hoá).

+ Giao lưu với văn hoá Phương Tây: trong lịch sử, sự giao lưu này diễn rachủ yếu thông qua các kênh: buôn bán đường biển; sự đô hộ của thực dân Pháp,

và sau đó là đế quốc Mỹ (miền Nam Việt Nam) Ngày nay, giao lưu văn hoá với

phương Tây đã có thêm nhiều hình thức mới như: ngoại giao, du học, di cư, hộinhập quốc tế, tham dự vào mạng truyền thông – liên lạc toàn cầu, ứng dụng cácchuẩn mực kinh tế, xã hội, công nghệ mang tính quốc tế

Kết quả của việc ứng dụng sơ bộ các phương pháp nghiên cứu nói trên đãcho thấy: sự ra đời và phát triển của văn hoá Việt Nam là kết quả của quá trìnhgiao lưu ở cấp độ khu vực, châu lục và toàn cầu Văn hoá Việt Nam là kiểu vănhoá hỗn dung điển hình, do nằm tại vùng giao thoa giữa các trung tâm văn hoálớn

25

Trang 26

Chính vì đặc tính hỗn dung và tổng hợp (mà việc ứng dụng các phương

pháp nghiên cứu đều cho cùng một kết quả như vậy) nên việc xác định cấu trúc

của nền văn hoá này sẽ dễ dàng hơn nếu sử dụng phương pháp lôgic (cách tiếp

cận đồng đại) Với cách tiếp cận ấy, chúng ta sẽ tiến hành khảo sát các yếu tố

cấu thành văn hoá Việt Nam trong các chương sau

II KẾT CẤU VĂN HÓA VIỆT NAM

Dễ dàng nhận thấy trong các hình thái văn hóa gắn với chủ thể nói trên, tồntại 3 yếu tố cơ bản; đó là:

-Yếu tố phổ biến (mang tính nhân loại)

Đây là những yếu tố mang tính duy lý và phổ quát, chung cho toàn nhânloại và chủ yếu là gắn với các hệ gía trị chuẩn của văn minh công nghiệp và hậucông nghiệp

Đặc biệt trong điều kiện toàn cầu hoá như hiện nay, những chuẩn mực về

kỹ thuật, tài chính, pháp lý, các tri thức khoa học, các giá trị đạo đức và thẩm

mỹ tiến bộ đang phát tán rộng khắp thế giới để hình thành nên các chuẩn mựcứng xử chung cho mọi dân tộc Chẳng hạn như việc áp dụng các quy phạm quốc

tế về nhân quyền, về bảo vệ môi trường và phát triển bền vững, về vệ sinh dịch

tễ và an toàn thực phẩm vv, không còn là những yêu cầu riêng của một dân tộc

Xét từ giác độ văn minh, nhân loại đang kiến tạo nên một nền văn hoáchung mang tính phổ quát

-Yếu tố đặc thù (mang tính khu vực)

Cái đặc thù, theo quan điểm biện chứng, được hiểu là sự thống nhất giữatính phổ biến và tính đơn nhất Trạng thái hoà trộn giữa tính phổ biến với tínhđơn nhất trong văn hoá tạo nên những sắc thái đặc thù mang tính khu vực Sắcthái này vừa dùng để phân biệt một khu vực văn hoá này với những khu vực cònlại trên thế giới; song lại vừa dùng để xác định tính đồng nhất văn hoá trong bảnthân khu vực ấy

Theo nghĩa đó, những yếu tố đặc thù trong văn hoá Việt nam cũng chính

là những yếu tố đặc trưng của Văn hoá Đông Nam Á Đó là loại hình văn hoánông nghiệp mang tính định cư với những phẩm chất cơ bản sẽ được khảo sátsau đó

-Yếu tố đơn nhất - không lặp lại

Trang 27

Đây là những yếu tố cấu thành bản sắc văn hoá Việt Nam Và như đã xác

từ định trước, thì đây chính là đối tượng chủ đạo của Đại cương văn hoá Việt

Nam Nhưng cũng phải thừa nhận một thực tế là, cho đến nay, bản sắc văn hoá

Việt Nam vẫn còn là một vấn đề để ngỏ, do còn tồn tại nhiều ý kiến khác nhauxoay quanh chủ đề ấy

Trong tình hình đó, cuốn sách này sẽ chỉ tập trung vào những yếu tố vănhoá nào mà đã được phần đông giới học giả thừa nhận là bản sắc Nội dung chitiết của bản sắc văn hoá Việt nam sẽ được khảo sát chi tiết trong những chương

tiếp theo Với cách tiếp cận như vậy, nội dung thuật ngữ Văn hoá Việt Nam ở những phần tiếp theo của cuốn sách, về cơ bản, sẽ hàm nghĩa Bản sắc văn hoá

Việt Nam.

Chương III:

MẶT TINH THẦN CỦA VĂN HÓA VIỆT NAM

I ĐỜI SỐNG TÔN GIÁO

1.Vị trí của tôn giáo trong đời sống con người

Tôn giáo thường được hiểu là niềm tin vào những gì siêu nhiên, thiêngliêng hay thần thánh, cũng như những đạo lý, lễ nghi, tục lệ và tổ chức liên quanđến niềm tin đó Những ý niệm cơ bản về tôn giáo chia thế giới thành hai phần:

thiêng liêng và trần tục Trần tục là những gì bình thường trong cuộc sống con

người, còn thiêng liêng là cái siêu nhiên, thần thánh Đứng trước sự thiêng liêng,

27

Trang 28

con người sử dụng lễ nghi để bày tỏ sự tôn kính, sùng bái và đó chính là cơ sởcủa tôn giáo.

Vai trò của tôn giáo trong xã hội thể hiện ở một số chức năng của nó, đó

là: Chức năng tích hợp xã hội hay còn gọi là kết hợp xã hội vì tôn giáo có các

giá trị, tiêu chuẩn của nó, vì thế, những người có cùng một tôn giáo gắn bó với

nhau nhờ những giá trị và tiêu chuẩn chung ấy Chức năng thứ hai là kiểm soát

xã hội, mặc dù tôn giáo không có chức năng kiểm soát xã hội, vì xã hội đối vớitôn giáo chưa đủ "tiêu chuẩn" đáng để tôn giáo có thể xét đến, nhưng, tôn giáogóp phần kiện toàn các định chế và trật tự xã hội như một tổng thể, duy trì hiệntrạng của xã hội, giữ nguyên cấu trúc bất bình đẳng của nó cũng như củng cố lợi

ích của tầng lớp thống trị Thứ ba, là chức năng hỗ trợ xã hội vì, dù ít hay nhiều,

con người thường phải đối mặt với khó khăn, hiểm nguy, thất bại, thiên tai, bệnhtật, cái chết của những người thân và cái chết của chính bản thân mình Trongnhững lúc như thế, cuộc sống rất dễ bị tổn thương và trở nên vô nghĩa, niềm tintôn giáo giúp cho con người khỏi bị rơi vào tuyệt vọng

2 Các tôn giáo bản sắc của Việt Nam

a Phật giáo ở Việt Nam

- Khái quát về lịch sử hình thành và nội dung cơ bản của Phật giáo

Đạo Phật được hình thành ở Ấn Độ khoảng thế kỷ thứ VI TCN Người

sáng lập là Thái tử Sidharta (Tất Đạt Đa), con Vua Tịnh Phạn (một nước nhỏ

thuộc miền Nam Ấn Độ - Nepan ngày nay) Thời kỳ đó, xã hội Ấn Độ chia thành

bốn đẳng cấp1, sự phân chia này rất khắc nghiệt tạo nên nỗi khổ cho nhân dântrong xã hội Trước nỗi khổ đó, Thái tử đã ra đi tìm cách giải thoát cho mọingười khỏi mọi đau khổ, và Người đã tìm được con đường giải thoát bằng “Tứ

Diệu đế” (Bốn chân lý).

Trong quá trình phát triển đạo Phật chia thành hai phái: Phái Tiểu thừa

(Nam tông) “Cỗ xe nhỏ” ngụ ý là chỉ chở một người Phái này chủ trương tuân

theo sát những giáo lý của Thích Ca Mâu Ni, giữ nguyên giáo luật, Phật tử chỉthờ Thích Ca Mâu Ni, chỉ giác ngộ cho bản thân mình Phái tiểu thừa phát triểnsang các nước thuộc phía nam của Ấn Độ nên gọi là Nam tông; Phái Đại Thừa

(Bắc tông): “Cỗ xe lớn” ngụ ý là chở được nhiều người Phái này không câu nệ

vào giáo lý, rộng rãi trong việc thực hiện giáo luật, thu nạp tất cả những ai muốnquy y, giác ngộ Thờ nhiều Phật, kể cả Bồ Tát Phái Đại thừa phát triển sang cácnước thuộc phía Bắc của Ấn Độ nên gọi là Bắc Tông

1 Bốn đẳng cấp: Sattria (Quí tộc), Brahhman (Tăng lữ), Vaisia (Bình dân), Suđra (Nô lệ).

Trang 29

Sau này, từ Đại thừa đã phát triển thành nhiều tông phái:

+ Thiền tông: (Dhiana - tĩnh tâm)

+ Mật tông là giai đoạn phát triển thứ 3 của Đại thừa (Đại thừa bao gồm: Bát Nhã - Duy Thức - Mật tông).

+ Tịnh Độ tông

Phật giáo được du nhập vào Việt Nam từ đầu công nguyên Vào nhữngnăm 168 – 189, Khâu-đà-la đã đến Luy Lâu, trị sở của quận Giao Chỉ và nơi đây

đã trở thành trung tâm Phật giáo đầu tiên ở Việt Nam Phật giáo được tiếp thu

thời kỳ này là Phật giáo Tiểu thừa, Phật (Bụt) được coi như một vị thần chuyên

cứu giúp người tốt, trừng phạt kẻ xấu

Đến thế kỷ thứ V, có một nhà sư tên là Bồ-đề-đạt-ma, từ Ấn Độ sang

Trung Hoa xây dựng nên một Đại thừa giáo mang màu sắc Trung Hoa (nhập

thế) và sau đó đã ảnh hưởng sang Việt Nam Các dòng Thiền du nhập sang Việt

Nam có nhiều phái: Giáo phái đầu tiên do Thiền sư Vinitaruci

(Tì-ni-đa-lưu-chi)1 sáng lập Giáo phái này thịnh vượng từ thế kỷ VI tại Việt Nam Giáo phái

thứ hai do Thiền sư Vô Ngôn Thông2 lập nên vào khoảng thế kỷ thứ IX; Giáo

phái thứ ba do một nhà sư Trung Quốc tên là Thảo Đường3 thành lập giữa thế

kỷ XI

Vào thế kỷ XIII, xuất hiện Thiền phái Trúc Lâm Mặc dù tiếp nối từ cácchi phái Vô Ngôn Thông, nhưng phái Thiền Trúc Lâm đã mở đầu và xây dựngnhư một giáo hội thống nhất, hoàn toàn Việt Nam, dứt bỏ các truyền thừa cũ cónguồn gốc từ bên ngoài, thể hiện đậm nét bản sắc văn hóa Việt Nam Người

sáng lập ra Thiền phái Trúc Lâm là Vua Trần Nhân Tông (1258-1308), năm

1299, ông chính thức xuất gia vào tu ở núi Yên Tử (tỉnh Quảng Ninh)

1 Tì-ni-đa-lưu-chi 594, cũng được gọi là Diệt Hỉ, là Thiền sư Ấn Độ sang Trung Quốc tham học, môn đệ đắc pháp của Tam tổ Tăng Xán và là người khai sáng thiền phái Tì-ni-đa-lưu-chi tại Việt Nam.

2 Vô Ngôn Thông quê Ở Quảng Châu, ông đến ở làng Phù Đổng, trụ trì ở chùa Kiến Sơ (tỉnh Bắc Ninh) Ông mất tại đấy năm 828.

3 Sách Thiền Uyển Tập Anh có ghi rằng: thiền sư Thảo Ðường thuộc truyền thống của thiền

sư Tuyết Ðậu Minh Giác ở Trung Hoa thiền sư Thảo Ðường được phong quốc sư ở Ðại Việt vào năm 1069.

3

29

Trang 30

Cuối thế kỷ XVI, nhà sư Trung Quốc tên là Thủy Nguyệt du nhập tôngphái Trung Hoa mới là Tào Động vào Miền Bắc, và truyền lại cho đệ tử ngườiViệt Nam là Tôn Diễn

Thế kỷ XVII, một phái mới được thành lập là Liên Tôn bởi một Chúa

dòng họ Trịnh Trụ sở phái này là ngôi chùa Liên Phái (Hà Nội) hiện nay

Đạo Phật phát huy ảnh hưởng rất sâu ở Việt Nam Chỉ rất ít người ViệtNam không tự cho mình là Phật tử Ngay các nhà Nho uyên thâm nhất thườngcũng không quên cầu tới nhà sư để cầu siêu cho cha mẹ mình đã khuất và đưacác vị đó đến phần mộ Chùa chiền Phật giáo nhiều vô kể, nhiều chùa trong số

đó như Hương Tích, Chiêu Thiền (chùa Láng), Tiên Lữ (chùa Trầm), Pháp Vũ ở

tỉnh Hà Nội; Phật Tích, Yên Phụ, Khuông Tự, Bút Tháp ở tỉnh Bắc Ninh, v.v ,đều là những nơi tín đồ đến lễ bái đông đảo

- Đặc trưng của Phật giáo Việt Nam

Khi Phật giáo được truyền vào Việt Nam đã được các vị thiền sư ngườiViệt Nam bản địa hóa, khiến Phật giáo hòa mình vào lòng dân tộc tạo nên mộtsắc thái đặc biệt của riêng Việt Nam, thể hiện qua các đặc trưng sau:

+ Phật giáo Việt Nam gắn bó với dân tộc Việt Nam trong cuộc đấu tranh dựng nước và giữ nước từng là cơ sở của khối đoàn kết các dân tộc

Trong cuộc đấu tranh chống sự đồng hóa của văn hóa Trung Hoa trong Xthế kỉ đầu công nguyên, người Việt Nam đã sử dụng một nền văn hóa có đủ tầm

cỡ để đối trọng lại – đó là văn hóa Ấn Độ, mà đối người Việt Nam, Phật giáo làđại diện, bởi vậy, Phật giáo Việt Nam thấm đượm chủ nghĩa yêu nước của ngườiViệt Lịch sử đã ghi nhận, thời nào, Phật giáo cũng có những đóng góp xứngđáng cho sự nghiệp bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước Bởi lẽ đó, Phật giáoViệt Nam được ghi nhận là tôn giáo luôn đồng hành cùng dân tộc “Hộ quốc, andân”, với đường hướng “Đạo pháp – Dân tộc ”

+ Tính tổng hợp

Tổng hợp là một trong những đặc tính của lối tư duy nông nghiệp, chính

vì thế tổng hợp là đặc tính nổi bật nhất của Phật giáo Việt Nam Thể hiện:

Tổng hợp giữa Phật giáo và tín ngưỡng truyền thống Phật giáo thờ Phật

trong chùa, tín ngưỡng truyền thống Việt Nam là thờ Thần trong miếu và thờMẫu trong phủ, bốn vị thần được thờ nhiều nhất là Tứ pháp: Mây-Mưa-Sấm-Chớp Tuy nhiên bốn vị thần này đã được "Phật hóa" Các pho tượng nàythường được gọi tượng Phật Pháp Vân, Phật Pháp Vũ, Phật Pháp Lôi và Phật

Trang 31

Pháp Điện, trên thực tế các tượng này hoàn toàn điêu khắc theo tiêu chuẩn củamột pho tượng Phật Nghĩa là đầy đủ 32 tướng tốt cùng 80 vẻ đẹp, mà một trongnhững nét tiêu biểu chính khuôn mặt đầy lòng từ mẫn Các hệ thống thờ phụ nàytổng hợp với nhau tạo nên các ngôi chùa "tiền Phật, hậu thần" hay "tiền Phật,hậu Mẫu" Người Việt Nam đưa các vị Thần, Thánh, Mẫu, Thành Hoàng thổđịa, anh hùng dân tộc vào thờ trong chùa Đa số các chùa còn để cả bia hậu,bát nhang cho các linh hồn đã khuất.

Tổng hợp giữa các tông phái Phật giáo, các tông phái Phật giáo Đại thừa

sau khi du nhập vào Việt Nam trộn lẫn với nhau Dòng thiền Tỳ-ni-đa-lưu-chipha trộn với Mật tông Nhiều vị thiền sư đời Lý như Vạn Hạnh, Từ Đạo Hạnh,Nguyễn Minh Không, đều giỏi pháp thuật và có tài thần thông biến hóa Thiềntông còn kết hợp với Tịnh Độ tông như là trong việc tụng niệm Phật A Di Đà và

Bồ Tát

Các điện thờ ở chùa miền Bắc có vô cùng phong phú các loại tượng Phật,

Bồ Tát, La Hán của các tông phái khác nhau Các chùa miền Nam còn có xuhướng kết hợp Tiểu thừa với Đại thừa Nhiều chùa mang hình thức Tiểu thừa

(thờ Phật Thích Ca Mâu Ni, sư mặc áo vàng) nhưng lại theo giáo lý Đại thừa;

bên cạnh Phật Thích Ca Mâu Ni còn có các tượng Phật nhỏ khác, bên cạnh áovàng còn có áo nâu, áo lam

Tổng hợp giữa Phật giáo với các tôn giáo khác, tín ngưỡng truyền thống

đã tiếp nhận Phật giáo ngay từ đầu Công nguyên Sau đó Phật giáo cùng tín

ngưỡng truyền thống tiếp nhận Đạo giáo Rồi tất cả cùng tiếp nhận Nho giáo để

làm nên "Tam giáo đồng nguyên" (cả ba tôn giáo có cùng một gốc) và "Tam giáo đồng quy" (cả ba tôn giáo có cùng một mục đích) Ba tôn giáo trợ giúp lẫn

nhau: Nho giáo lo tổ chức xã hội, Đạo giáo lo thể xác con người, Phật giáo lotâm linh, kiếp sau của con người Trong nhiều thế kỷ, hình ảnh "Tam giáo tổ sư"

với Thích Ca Mâu Ni ở giữa, Lão Tử ở bên trái, Khổng Tử ở bên phải đã in

sâu vào tâm thức mọi người Việt Nam

Ngoài ra, Phật giáo Việt Nam còn được hòa trộn với tất cả các tôn giáokhác để hình thành Đạo Cao Đài vào thập niên 1920 với quan điểm là "Thiênnhân hợp nhất" và "Vạn giáo nhất lý"

+ Kết hợp giữa đạo với đời, Phật giáo vốn là tôn giáo xuất thế nhưng khi

vào Việt Nam, Phật giáo lại mang tính nhập thế Nói đến Phật giáo Việt Nam, lẽ

dĩ nhiên không thể không nói đến quan hệ giữa Phật giáo và chính trị trong lịch

sử, như vai trò quan trọng của Phật giáo xuyên qua các triều đại xưa như Lý

-31

Trang 32

Trần, rồi đến phong trào đấu tranh chống chế độ Ngô Đình Diệm ở miền NamViệt Nam vào đầu thập niên 1960 Hiện nay, chùa Phật giáo thu hút đông đảokhách thập phương Bên cạnh đó, là hoạt động xã hội của Phật tử và các chùahoạt động giúp đỡ quần chúng, trong các lĩnh vực y tế, bên cạnh việc trợ giúpnhững người nghèo, các trẻ em mồ côi hay bị gia đình bỏ rơi Các cao tăngtham gia vào chính trường hoặc cố vấn.

+ Khuynh hướng thiên về nữ tính

Triết lý Âm dương đã ảnh hưởng nhiều đến lối tư duy của cư dân nôngnghiệp, Khi Phật giáo vào Việt Nam bắt gặp nền văn hoá âm tính đã làm choPhật giáo Việt Nam có phần thiên về nữ tính Các vị Phật Ấn Độ xuất thân lànam giới, khi vào Việt Nam bị biến thành “Phật Bà” (Phật Bà Quan âm) Ngoài

ra, người Việt Nam còn có những vị Phật riêng của mình như Man Nương Phật

Mẫu, Quan Âm Thị Kính (Quan Âm Tống Tử), Quan Âm Diệu Thiện (Phật Bà

Chùa Hương, Bà Chúa Ba).

+ Phật giáo Việt Nam là phương tiện để biểu đạt chủ nghĩa nhân đạo và tính vị tha của dân tộc Việt Nam.

Trong lịch sử chống ngoại xâm, người Việt Nam luôn phải chống chọi vớinhững kẻ thù to lớn, hung hãn Bằng lòng từ bi của Phật giáo, dân tộc ta đã thểhiện tinh thần nhân đạo “Đem đại nghĩa để thắng hung tàn, Lấy chí nhân để thaycường bạo” và lòng vị tha của dân tộc “Thể lòng trời ta mở đường hiếu sinh”

(Bình Ngô đại cáo – Nguyễn Trãi).

b Nho giáo

- Quá trình hình thành và nội dung tư tưởng cơ bản của Nho giáo

Nho gia là một trường phái triết học của Trung Hoa do Khổng tử sáng lập

ra vào khoảng thế kỷ thứ VI TCN Đến thời nhà Hán mới được gọi là Nho giáo,mặc dù về nội dung tư tưởng cơ bản không có thay đổi gì nhiều Về cơ bản, Nhogiáo không phải là một tôn giáo vì nó không đề cập trực tiếp đến lĩnh vực tinhthần hay siêu hình

Nho giáo là một học thuyết về chính trị - xã hội và con người Học thuyếtcủa Nho giáo không bàn đến những lực lượng siêu nhiên mà chỉ chú trọng đếnviệc xây dựng một xã hội có kỷ cương và mọi người trong xã hội đều được hạnh

phúc mà Khổng tử gọi là Xã hội Đại đồng, đồng thời chủ trương giáo dục, đào

tạo con người để thực hiện xã hội tương lai đó Có lẽ do tính lý tưởng và mục

Trang 33

đích tốt đẹp của Nho giáo mà cha ông chúng ta đã đối xử với Nho giáo khôngnhư một học thuyết mà như một tôn giáo.

Sách kinh điển của Nho giáo bao gồm Tứ thư và Ngũ kinh Tứ thư bao

gồm: Luận ngữ (Ghi chép lại tư tưởng của Khổng tử); Mạnh tử (Ghi chép lại tư

tưởng của Mạnh tử); Đại học (Cương lĩnh và phương pháp học của bậc Đại học); Trung dung (Cách ứng xử của người Quân tử) Ngũ kinh bao gồm: Kinh

Thi (bộ văn học cổ của Trung Hoa); Kinh Thư (Bộ sử ghi chép sự kiện từ Vua

Nghiêu đến hết nhà Chu); Kinh Lễ (ghi chép các qui định về xã hội); Kinh Xuân

thu (Lịch sử nước Lỗ từ thế kỷ thứ VIII đến thế kỷ thứ VI TCN); Kinh Dịch (quan niệm về thế giới) Các sách này đều chính thức được đưa vào dạy dỗ và

thi cử trong thời phong kiến ở cả Trung Hoa và Việt Nam

Về Chính trị - xã hội, để thực hiện xã hội đại đồng, Nho giáo đã xây dựng

một đường lối chính trị dựa trên cơ sở của đạo đức, gọi là Đức trị Để thực hiện

đường lối Đức trị, Nho giáo yêu cầu: Đối với người làm chính trị, phải thườngxuyên trau dồi, tu dưỡng đạo đức; đồng thời cần phải sử dụng các biện pháp

trong cai trị Biện pháp đầu tiên là Chính danh, nghĩa là ai ở cương vị nào phải

làm đúng nhiệm vụ của mình ở cương vị ấy để đảm bảo cho xã hội giữ được trật

tự, kỷ cương Thứ hai, người làm chính trị phải quan tâm đến vấn đề Dân, phải

lấy dân làm gốc, vì dân là đối tượng cai trị, nếu quan tâm đến đối tượng này thì

vị trí chính trị của nhà chính trị mới được lâu dài Thứ ba, phải biết dùng người

những người có tài năng và tư cách đạo đức, đồng thời cũng cần phải tiết kiệmtrong chi dùng

- Đặc trưng của Nho giáo Việt Nam 1

Mục tiêu tiếp thu Nho giáo của người Việt Nam là để giữ vững quyền độclập tự chủ của mình Bởi vậy, Nho giáo đi vào tâm thức người Việt Nam đã bịkhúc xạ qua lăng kính của chủ nghĩa yêu nước Biểu hiện của sự khúc xạ này là:

Thứ nhất, Quan niệm về "nước" của người Việt Nam khác với quan niệm

“nước”, của Khổng Tử Ở thời Khổng Tử, “nước" theo quan niệm của người

Trung Quốc là của vua, là cái mà vua có quyền cắt xẻ để ban cho các chư hầu

Đối với người Việt Nam, nước là nơi họ sinh ra lớn lên và là cái mà họ

giành giật lấy từ tay thiên nhiên (khai khẩn, trị thuỷ, lấn biển) Bởi vậy, nó

không thuộc về bất cứ ông vua nào, triều đại nào - mà của chính người dân.Điều này lý giải vì sao tầng lớp nho sỹ Việt Nam luôn phản ứng mãnh liệt trướcnhững hành vi bán nước, hại dân của những kẻ cầm quyền Trong khi đó, Ở

1Phan Ngọc Bản sắc văn hóa Việt Nam Nxb Văn học Hà Nội, 2002.

33

Trang 34

Trung Quốc, giới nho sỹ coi chuyện cắt nhượng đất đai (cùng các thần dân sinh

sống trên đó) là chuyện đương nhiên mà một ông vua có quyền làm (Ví dụ, Vua Tống nhường vùng Hoàng Hà cho người Kim).

Những khái niệm cơ bản của Nho giáo cũng bị khúc xạ qua tâm thứcngười Việt Nam và không còn nguyên nội hàm ban đầu; cụ thể như: khái niệm

"trung”, "hiếu”, "nhân", "trí" được người Việt Nam gắn với chủ nghĩa yêu nước

(Đại cáo bình Ngô của Nguyễn Trãi)

Thứ hai, Nho giáo bị khúc xạ qua tâm lý làng xã của người Việt Nam.

Con người Việt Nam trước hết là con người của cộng đồng làng xã, và "nước"cũng chỉ là sự phóng chiếu của mô hình làng xã ở quy mô mở rộng hơn mà thôi.Nhu cầu hợp quần dưới dạng làng xã của người Việt Nam xuất phát từ hoàn

cảnh tự nhiên, từ đòi hỏi tất yếu của nghề trồng lúa nước (phải có sự hợp tác

của nhiều gia đình - khác với nông nghiệp khô của văn hoá Hán) Bị qui định

bởi phương thức sản xuất, làng xã Việt Nam đã tồn tại và gìn giữ được cấu trúccủa mình trải qua hàng nghìn năm, và nó sẽ tiếp tục tồn tại chừng nào nghề canhtác lúa nước còn được duy trì Thế nên, không phải Nho giáo mà chính văn hoálàng xã mới là nền tảng của tâm thức người Việt Nam, và khi Nho giáo vào ViệtNam nó buộc phải tán sắc qua lăng kính này Biểu hiện cụ thể của sự tán sắc đólà:

+ Người dân làng xã luôn quan niệm Nho giáo là thứ học vấn của tầng lớp

cai trị và giữ thái độ “kính nhi, viễn chi" (tôn trọng mà tránh xa).

+ Người Việt Nam học đạo Nho cốt để ra làm quan, nên chỉ chú trọng đếncác quy định thi cử, mà không nhấn mạnh đến nhân sinh quan hay lối sống, hoặcđạo đức Nho giáo Những cái sau này chỉ được chấp nhận trong chừng mựcchúng không xung đột với phong tục, tập quán, hay lệ của làng

+ Các nhà nho Việt Nam không tách thành tầng lớp nho sỹ độc lập như ởTrung Hoa Trái lại, họ luôn quan niệm mình là thành viên của cộng đồng làng

xã Nếu thi đỗ thì ra làm quan cho triều đình, nếu không đỗ thì ở lại làng quêlàm nghề dạy học Bị chi phối bởi văn hoá làng xã, các nhà nho Việt Nam đã cảitiến chữ Hán thành chữ Nôm để chuyển tải văn hoá làng xã

c Đạo giáo

- Khái quát trình hình thành và những nội dung cơ bản của Đạo giáo

Khác với Đạo Nho, giữa Đạo gia và Đạo giáo cần có sự phân biệt

Đạo gia là một trường phái triết học của Trung Hoa do Lão tử sáng lập ra

Trang 35

vào cùng thời với Khổng tử nhưng tư tưởng lại hoàn toàn đối lập với Khổng tử.Nếu Khổng tử quan tâm đến việc xây dựng một xã hội mà ở đó mọi người sống

theo những qui định chung (Lễ) thì Lão tử lại chủ trương con người sống hoàn

toàn theo qui luật của tự nhiên, xóa bỏ mọi ràng buộc xã hội Vì vậy, học thuyếtcủa Lão tử chủ yếu bàn đến vấn đề Thế giới quan, ít bàn đến Nhân sinh quan

Theo quan niệm của Lão tử, Đạo sinh từ hữu, hữu sinh từ vô Hữu vô

tương sinh Đạo sinh một, một sinh hai, hai sinh ba, ba sinh vạn vật Quan niệm

thế giới được tạo ra từ Đạo mà suy đến cùng từ vô vi, vô hình, sau này đã hìnhthành đủ mọi thứ yếu tố hỗn tạp, có tính chất tôn giáo, nhưng chủ yếu là yêuthuật Một hệ thống thần linh phức tạp, gồm những thực thể phi vật chất, nhữnglực lượng tự nhiên được nhân cách hóa, những ma quỷ hình thù kỳ quái, bêncạnh đấy là những vĩ nhân thời xưa được tôn làm thần do đức hạnh của họ, vàcác Đạo sĩ đã trở thành bất tử nhờ đắc đạo, đó là Đạo giáo

Như vậy, Đạo giáo không phải do Lão tử sáng lập ra nhưng đã lấy tưtưởng về Đạo của Lão tử để đặt tên và đưa vào trong tôn giáo của mình

Đạo giáo là một tôn giáo được thành lập vào những năm đầu công nguyên

ở Trung Hoa, bao gồm hai phái: Đạo giáo phù thủy và Đạo giáo thần tiên

Đạo giáo phù thủy dùng các phép thuật, bùa ngải trừ tà, trị bệnh Đạo giáo

phù thủy hình thành vào khoảng cuối thứ II, đầu thế kỷ thứ III, ở Đất Ngô có Vu

Cát biết làm phù thủy (vẽ bùa trong nước) Sau Vu Cát là Trương Giác và

Trương Đạo Lăng

Đạo giáo thần tiên dạy tu tiên, luyện đan cầu trường sinh bất tử, có hai

nhánh là ngoại dưỡng và nội tu Đạo giáo thần tiên hình thành từ thời Đông Tấn

(236 -334) với nhân vật Cát Hồng

Theo quan niệm của Đạo giáo, vị thần tối cao điều khiển tất cả các thầnkhác, là Ngọc Hoàng Đi kèm theo Ngọc Hoàng là Nam Tào giữ sổ sinh, BắcĐẩu giữ sổ tử Hai vị này giám sát chung tất cả các sự việc và hành động củamọi người, cuối mỗi năm lại nhận tờ trình của Táo Quân, và căn cứ theo tờ trìnhnày, căn cứ vào công lao hay lỗi lầm của mọi người, mà kéo dài thêm hay rútngắn tuổi thọ của họ

Ngọc Hoàng cùng Nam Tào và Bắc Đẩu tác động đến thế gian qua trunggian của vô số thần trên trời và dưới đất Người ta cầu khấn các vị đó trong tất

cả các sự kiện của cuộc sống: sinh đẻ, bệnh tật, chết, mất đồ vật, dịch gia súc vàdịch người, hạn hán, lụt lội, đủ thứ các tai nạn, chọn đất để cất nhà, thề thốt, đi

35

Trang 36

xa,

Việc thờ cúng này lại phụ thuộc thêm những lời niệm chú, trừ tà, bùa mê,những lá bùa với những công thức ma thuật để cho tín đồ được khỏi bệnh, đượcgiàu sang, có con, được kiện Việc bán bùa, những bản viết bí ẩn bằng chữ Hánbiến dạng để đánh lạc hướng và làm khiếp sợ ma quỷ, thêm vào đấy là nhữngbiểu đồ, những chòm sao, những hình yêu thuật, rất phát đạt Các thầy bùa, thầypháp, thầy phù thủy, thầy cúng làm những thứ đó để bán cho tín đồ trong mọidịp Trong lễ tang, những bùa này được dán vào quan tài và tất cả các góc nhà.Khi có người ốm, thì người này phải đeo bùa vào khuyết áo hoặc nuốt bùa đốtthành tro

Nơi thờ của Đạo giáo gọi là đền Một trong những biểu hiện sinh độngnhất và dân gian nhất của Đạo giáo là việc thờ Chư vị, tức là thờ những thần linh

nữ và nam ở ba thế giới (Tam phủ: Thiên phủ, Địa phủ và Thủy phủ) Các nữ

thần, Thánh Mẫu chiếm ở đấy vai trò trội hơn hẳn so với các Đức ông chỉ thấy ởmột vài đền

Đạo giáo du nhập vào Việt Nam từ cuối thế kỷ thứ II Vào thời kỳ này, ởTrung Hoa thường xuyên xảy ra chiến tranh, loạn lạc, khiến rất đông người

phương Bắc chạy xuống phương Nam (vùng Giao Chỉ) để lánh nạn, trong số đó

có nhiều đạo sĩ

Các tín ngưỡng bản địa là môi trường để Đạo giáo dễ dàng thâm nhập vàođời sống của cư dân tại Giao Chỉ Chính vì thâm nhập bằng con đường đó, nênĐạo giáo với tư cách là một triết lý sống ít được người dân Việt Nam biết đến,

mà chủ yếu người ta quan niệm về nó như Đạo phù thuỷ với các bùa chú vàpháp thuật

- Đặc trưng của Đạo giáo Việt Nam

+ Đạo giáo ở Việt Nam không tồn tại biệt lập mà hoà trộn với tín ngưỡngbản địa Kết quả của sự hoà trộn đó là sự ra đời của Đạo giáo phù thuỷ được lưuhành trong nhân dân Bên cạnh việc thờ Ngọc Hoàng Thượng đế, Thái Thượng

Lão Quân, Thần Trấn Vũ, Quan Thánh Đế (những đối tượng thờ cúng của Đạo

giáo Trung Hoa), đạo giáo phù thuỷ ở Việt Nam còn lập nên các đối tượng thờ

cúng khác riêng của mình: Đức Thánh Trần (Trần Hưng Đạo), Bà Chúa Liễu (Liễu Hạnh)…

+ Ở Việt Nam Đạo giáo còn hoà trộn với Nho giáo - tạo nên triết lý sống

an nhàn, ở ẩn, không màng danh lợi của nhiều nhà Nho Việt Nam

Trang 37

II ĐỜI SỐNG TÍN NGƯỠNG

1 Khái niệm tín ngưỡng

Cũng giống như tôn giáo, hiện nay khó có thể đưa ra một định nghĩa chínhxác mà chỉ có thể tìm ra điểm chung của tín ngưỡng, tôn giáo để đi vào nghiêncứu từng tôn giáo, tín ngưỡng cụ thể

Tín ngưỡng và tôn giáo trong nhiều trường hợp được sử dụng với nghĩatương đương Ví dụ, có thể coi tín ngưỡng là hình thức sơ khai của tôn giáo.Hoặc về nội dung, tín ngưỡng và tôn giáo đều là những trạng thái tâm lý đặc biệtcủa con người bao gồm sự tôn thờ, thành kính và sợ hãi đối với những đối tượng

đã được thần thánh hoá; Và đều là hoạt động mang sắc thái tâm linh của cá nhân

và cộng đồng

Nhưng giữa tín ngưỡng và tôn giáo vẫn có sự khác biệt, thể hiện ở haiphương diện

Thứ nhất, xét về phạm vi ảnh hưởng thì tôn giáo có phạm vi ảnh hưởng

rộng, có thể mang tính quốc gia, thậm chí quốc tế, còn tín ngưỡng chỉ mang tínhđịa phương

Thứ hai, xét về nội dung và tổ chức thì tôn giáo có người sáng lập, có giáo

lý, giới luật, tầng lớp tăng lữ và cộng đồng tín đồ nên nó là hiện tượng xã hộimang tính tổ chức cao, hướng đến đời sống tâm linh siêu việt Tín ngưỡngthường gắn với đời sống trần tục một cách chặt chẽ thông qua tiềm thức cá nhân

2 Một số tín ngưỡng cơ bản của người Việt

Có thể phân chia các tín ngưỡng của người Việt Nam theo các tiêu chíkhác nhau Ví dụ, theo lĩnh vực, tín ngưỡng của người Việt Nam được phân chiathành tín ngưỡng sùng bái tự nhiên và tín ngưỡng sùng bái con người Trong tínngưỡng sùng bái con người, có thể chia thành nhiều cấp độ như sùng bái conngười trong gia đình có tín ngưỡng thờ Tổ tiên, Thổ công Trong làng xã có tínngưỡng thờ Thành Hoàng Trong nước có tín ngưỡng thờ Vua Tổ, Tứ Bất tử

Theo không gian, mỗi địa phương có những tín ngưỡng khác nhau vàđược tổ chức vào những thời gian khác nhau

Về cơ bản các, tín ngưỡng của người Việt Nam đều có những đặc điểmsau:

- Gắn bó mật thiết với thiên nhiên

- Đề cao vai trò của người phụ nữ

37

Trang 38

- Tôn trọng sự cân bằng hài hòa âm dương.

- Tính dung chấp cao

Ở Việt Nam tồn tại rất nhiều tín ngưỡng, chúng tôi chỉ giới thiệu với bạnmột số tín ngưỡng cơ bản của người Việt Nam vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay

a Tín ngưỡng phồn thực (phồn là nhiều; thực là nảy nở)

Là hình thức tín ngưỡng tôn thờ sự giao hợp, sinh nở của cư dân nôngnghiệp, tồn tại ở nhiều nơi trên thế giới

Tín ngưỡng này được hình thành từ nhu cầu thiết yếu của con người, đó lànhu cầu duy trì và phát triển Con người muốn duy trì cuộc sống cần mùa màngtươi tốt; muốn phát triển sự sống, con người cần được sinh sôi

Tín ngưỡng phồn thực tồn tại dưới hai hình thức:

- Thờ sinh thực khí (sinh là đẻ; thực là nảy nở; khí là công cụ): là hình

thức tín ngưỡng đơn giản, phổ biến ở nền văn hoá nông nghiệp có ở các vùng,miền của Việt Nam Thờ sinh thực khí là thờ những công cụ có thể tạo ra được

sự sinh nở

Ở Việt Nam, sinh thực khí được thờ bao gồm cả sinh thực khí nam và nữ,khác với một số dân tộc chỉ thờ sinh thực khí nam Ví dụ: tượng đá hình nam nữ

ở Văn Điển, Sapa, nhà mồ Tây Nguyên Ở Phú Thọ, Hà Tĩnh có phong tục thờ

cúng nõ nường (nõ là cái nêm tượng trưng cho sinh thực khí nam, nường là cái

mo nang tượng trưng cho sinh thực khí nữ) Hội làng Đồng Kỵ có tục rước sinh

thực khí bằng gỗ (tượng trưng cho sinh thực khí nam) sau đó đốt thành tro rắc ra ruộng (tượng trưng cho sinh thực khí nữ), hy vọng rằng năm đó sẽ được mùa.

Ngoài ra, việc thờ sinh thực khí còn được thể hiện qua việc thờ các loại cột, cácloại hốc hay các kẽ nứt trên đá

- Thờ hành vi giao phối: tục thờ này thể hiện sự giao hợp tự nhiên giữa

giống đực và giống cái, có tác dụng kích thích sự sinh sôi nảy nở trong vũ trụ

Có thể thấy biểu hiện của hình thức tín ngưỡng này qua các di chỉ: nắp thạpđồng ở làng Đào Thịnh tỉnh Yên Bái có từ năm 500 TCN, xung quanh hình mặttrời là 4 đôi nam nữ đang giao phối, thân thạp khắc những con thuyền nối đuôinhau khiến cho 2 con rồng - cá sấu gắn ở mũi và lái của chúng chạm nhau trong

tư thế giao hoan

b.Tín ngưỡng thờ Mẫu: là một trong các hình thức của tín ngưỡng sùng

bái tự nhiên Mẫu của người Việt Nam không chỉ là các Bà, Mẹ, điểm khác biệt

Trang 39

trong tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt Nam chính là các hiện tượng tự nhiênđược nhân cách hóa thành các Bà, Mẹ

Tín ngưỡng thờ Mẫu được hình thành từ công việc sản xuất nông nghiệp,con người phải phụ thuộc vào các yếu tố của tự nhiên Chất âm tính của văn hoánông nghiệp dẫn đến kết quả trong quan hệ xã hội là lối sống tôn trọng phụ nữ

và trong tín ngưỡng là các nữ thần chiếm ưu thế Cái mà họ hướng tới là sự phồnthực nên nữ thần được thờ là các Bà, Mẹ - những người có thể tạo ra sự sinh nở

Từ đó, dẫn đến tục thờ Mẫu

Khác với Mẫu được thờ ở nhiều nơi trên thế giới, tín ngưỡng thờ Mẫu củangười Việt Nam được kết hợp với Đạo giáo thành một hệ thống mang tính thứlớp và được lưu hành trong dân gian Tín ngưỡng này cho phép hình dung về vũtrụ quan của người Việt Nam - một không gian mang thứ tự của các ThánhMẫu:1

- Thánh Mẫu Thượng Thiên (Mẫu Cửu Trùng; Cửu Thiên Huyền Nữ; ở

Huế là Thiên Mụ, Thiên Yana): cai quản Trời - mặc màu đỏ.

- Thánh Mẫu Thượng Ngàn (Lâm cung Thánh mẫu): cai quản núi rừng,

cây cối - mặc màu lam

- Thánh Mẫu Thoải (Thủy cung Thánh mẫu): cai quản sông nước - mặc

màu trắng

Gọi là Tam toà Thánh Mẫu Sau này, người Việt Nam bổ sung thêm một

vị là Thánh Mẫu Nhân phủ - cai quản con người - mặc đồ vàng - gọi là Tứ Phủ

Dưới 4 vị Thánh Mẫu là 5 ông quan thừa hành: từ quan lớn Đệ Nhất đến

Đệ Ngũ Bốn ông đầu là phái viên tương ứng với tứ toà Thánh Mẫu, riêng ông

Đệ Ngũ gọi là quan Tuần Tranh (vị Long Vương cai quản sông nước).

Thấp hơn là 4 Thánh Bà

Sau đó đến 10 ông Hoàng

Kế tiếp là 12 cô (tiên) các thị nữ của Thánh Mẫu bao gồm cô Cả, cô Hai (Đôi), cô Ba (Bơ) Ngang hàng là 4 cậu Quận phục vụ Thánh Mẫu.

Trang 40

Nơi thờ cúng các vị này là Phủ, Đền, Điện; riêng ông Lốt thờ tại Miếu.Các Mẫu có thể được thờ chung hoặc thờ riêng từng vị Ví dụ: Thánh MẫuThượng Ngàn được thờ ở Thác Bờ tỉnh Hòa Bình; Thánh Mẫu Liễu Hạnh đượcthờ ở Phủ Dầy tỉnh Nam Định, phủ Tây Hồ Thủ đô Hà Nội, đền Sòng tỉnhThanh Hóa; quan lớn Tuần Tranh được thờ ở Ninh Giang tỉnh Hải Dương; ôngHoàng Mười được thờ ở Nghi Xuân tỉnh Hà Tĩnh

Tín ngưỡng này là hiện tượng văn hoá dân gian tổng thể Gắn bó với nó là

hệ thống các huyền thoại, truyện thơ nôm, bài văn chầu, hát chầu văn, hát bóng,hầu bóng và lên đồng Mỗi nhân vật trong hệ thống tín ngưỡng thờ Mẫu đềuđược gắn với những huyền thoại Ví dụ, Thánh Mẫu Thoải là con gái của LongVương; quan lớn Tuần Tranh là đôi rắn lớn ở vùng Ninh Giang được thả xuốngsông Tranh; hoặc các ông Hoàng là con của Lạc Long Quân Trong đó hầubóng và lên đồng được xem là biểu tượng đặc thù của tín ngưỡng này, nên bạn

có thể chiêm ngưỡng hoặc tham dự vào tín ngưỡng này ở các buổi hầu bóng tạicác Đền, Phủ

c Tín ngưỡng thờ tổ tiên: là một trong hình thức của tín ngưỡng sùng bái

con người trong gia đình Con người trở thành đối tượng được thờ cúng vì ngườixưa cho rằng: con người được tạo bởi hai phần, thể xác và linh hồn Phần thểxác của con người sẽ mất đi khi con người chết vì nó là vật chất; còn linh hồncủa con người tồn tại vĩnh viễn, nên linh hồn đã trở thành đối tượng được thờcúng Linh hồn con người được chia làm hai phần: hồn và vía Phần hồn bao

gồm tinh, khí, thần (nên gọi là 3 hồn) là tinh thần thuần túy nên tồn tại vĩnh viễn; còn phần vía gắn liền với các bộ phận trên cơ thể con người (đàn ông có 7

vía, đàn bà có 9 vía) Chết nghĩa là hồn lìa khỏi xác, đi về cõi vĩnh hằng nên cha

ông ta thường quan tâm đến ngày chết hơn ngày sinh

Thờ Tổ tiên là thờ những người trong gia đình, dòng họ có công lao sinhthành, dưỡng dục ra mình Ở Việt Nam, tín ngưỡng này còn được gọi là ĐạoÔng Bà, được coi gần như tôn giáo

Tín ngưỡng này được hình thành trên cơ sở về ý thức tôn trọng cội nguồn

và đức tính hiếu thảo của người Việt Nam, đồng thời là niềm tin vào người đãkhuất luôn có mối liên hệ vô hình đối với người đang sống vẫn đi lại để thămnom, phù hộ cho con cháu

Trong gia đình người Việt Nam, bao giờ cũng có bàn thờ tổ tiên Bàn thờ

tổ tiên được đặt ở chính giữa của gian chính, nơi trang trọng nhất trong nhà Báthương của tổ tiên được đặt ở vị trí chính giữa trên bàn thờ Hiện nay, do ảnh

Ngày đăng: 29/08/2017, 09:17

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1.Nguyễn Công Bình, Lê Xuân Diệm, Mạc Đường. Văn hóa và cư dân đồng bằng sông Cửu Long. Nxb Khoa học xã hội, Thành phố HCM, 1990 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa và cư dân đồng bằng sông Cửu Long
Tác giả: Nguyễn Công Bình, Lê Xuân Diệm, Mạc Đường
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1990
2. Quỳnh Cư – Đỗ Đức Hùng. Các triều đại Việt Nam. Nxb Thanh niên, Hà Nội, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các triều đại Việt Nam
Nhà XB: Nxb Thanh niên
3. Quang Đạm. Nho giáo xưa và nay. Nxb Văn hóa, Hà Nội, 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nho giáo xưa và nay
Nhà XB: Nxb Văn hóa
4. Lê Anh Dũng. Lịch sử đạo Cao Đài. Thời kỳ tiềm ẩn 1920 – 1926. Nxb Thành phố HCM, 1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử đạo Cao Đài. Thời kỳ tiềm ẩn 1920 – 1926
Nhà XB: Nxb Thànhphố HCM
5. Ngô Văn Doanh. Văn hóa Chăm-pa. Nxb Văn hóa – Thông tin, Hà Nội, 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa Chăm-pa
Nhà XB: Nxb Văn hóa – Thông tin
6. Hoàng Cao Khải. Việt sử yếu. Nxb Nghệ An – Trung tâm nghiên cứu văn hóa Đông Tây. 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt sử yếu
Nhà XB: Nxb Nghệ An – Trung tâm nghiên cứu văn hóaĐông Tây. 1997
7. Nguyễn Văn Hầu. Nhận thức Phật giáo Hòa Hảo. Nxb Hương Sen, Sài Gòn, 1968 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhận thức Phật giáo Hòa Hảo
Tác giả: Nguyễn Văn Hầu
Nhà XB: Nxb Hương Sen
Năm: 1968
8. Đinh Gia Khánh. Đại cương về tiến trình văn hóa Việt Nam – Trong Các vùng văn hóa Việt Nam (Đinh Gia Khánh – Cù Huy Cận chủ biên). Nxb văn học, Hà Nội, 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương về tiến trình văn hóa Việt Nam – Trong Các vùngvăn hóa Việt Nam (Đinh Gia Khánh – Cù Huy Cận chủ biên)
Nhà XB: Nxb văn học
9. Nguyễn Văn Kiệm, Góp phần tìm hiểu một số vấn đề lịch sử cận đại Việt Nam. Nxb Văn hoá – Thông tin, Hà Nội, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần tìm hiểu một số vấn đề lịch sử cận đại Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Kiệm
Nhà XB: Nxb Văn hoá – Thông tin
Năm: 2003
10. Phan Huy Lê, Trần Quốc Vượng, Hà Văn Tấn, Lương Ninh. Lịch sử Việt Nam, tập 1. Nxb Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp, Hà Nội, 1991 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử ViệtNam, tập 1
Nhà XB: Nxb Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp
11. Khánh Linh. Tìm hiểu Văn hóa thế giới. Nxb Hà Nội, 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu Văn hóa thế giới
Tác giả: Khánh Linh
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 2011
12. Phan Ngọc. Bản sắc văn hóa Việt Nam. Nxb Văn học. Hà Nội, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản sắc văn hóa Việt Nam
Nhà XB: Nxb Văn học. Hà Nội
13. Sấm giảng: Sấm giảng thi văn toàn bộ của Đức Huỳnh Giáo chủ. Ban phổ thông Giáo lý Trung ương Giáo hội Phật giáo Hòa hảo ấn hành, Sài Gòn, 1966 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sấm giảng thi văn toàn bộ của Đức Huỳnh Giáo chủ
14. Thích Phụng Sơn. Những nét văn hóa của Đạo Phật. Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam, 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những nét văn hóa của Đạo Phật
Tác giả: Thích Phụng Sơn
Nhà XB: Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam
Năm: 1995
15. Hà Văn Tấn (chủ biên). Văn hóa Đông Sơn ở Việt Nam. Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa Đông Sơn ở Việt Nam
Nhà XB: Nxb Khoa học xãhội
16. Lê Mạnh Thát. Lịch sử Phật giáo Việt Nam, tập 1: Từ khởi nguyên đến thời Lý Nam Đế. Nxb Thuận Hóa, Huế, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Phật giáo Việt Nam, tập 1: Từ khởi nguyên đến thờiLý Nam Đế
Nhà XB: Nxb Thuận Hóa
17. Trần Ngọc Thêm. Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam. Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam
Nhà XB: Nxb Tổng hợp Thànhphố Hồ Chí Minh
18. Nguyễn Khắc Thuần. Việt sử giai thoại (thời Trần, thời Hồ, thuộc Minh và thời Lê sơ). Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt sử giai thoại (thời Trần, thời Hồ, thuộc Minh vàthời Lê sơ)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
19. Nguyễn Đăng Thục. Lịch sử tư tưởng Việt Nam, tập 1 – 6. Nxb Thành phố HCM, 1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử tư tưởng Việt Nam, tập 1 – 6
Nhà XB: Nxb Thành phốHCM
20. Trần Diễm Thúy. Cơ sở văn hóa Việt Nam. Nxb văn hóa –Thông tin. Hà Nội, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở văn hóa Việt Nam
Tác giả: Trần Diễm Thúy
Nhà XB: Nxb văn hóa –Thông tin
Năm: 2005

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w